1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG

28 252 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái niệm và vai trò của tiền lương, tiền công, tiền thưởng
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 61,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những nước phát triển tiền lương tối thiểu vẫn cho phép họ có được điều kiện học hành vui chơi giải trí, điều đó có nghĩa là thể lực và trí lực của họ được tăng cường và mở rộng hơn trướ

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG

I KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG, TIỀN THƯỞNG.

1 Khái niệm.

Lịch sử Việt Nam cũng đã trải qua những bước thăng trầm, biến đổi để từng bước khẳng định vị thế của mình về mọi mặt ở cả trong và ngoài khu vực Trong những khoảng thời gian khác nhau gắn liền với những chế độ xã hội khác nhau mà tiền lương được quan niệm khác nhau, được hiểu khác nhau và bản chất thực tế cũng khác nhau.

Trước đây trong nền kinh tế Xã hội Chủ nghĩa thì “Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân, biểu hiện bằng tiền, được Nhà nước trả cho người lao động một cách có kế hoạch, căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà người đó đã cống hiến cho xã hội”.

Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì “tiền lương là giá cả của sức lao động được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động

và người sử lao động phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.

Như vậy theo thời gian tiền lương được định nghĩa khác nhau, song dù định nghĩa theo kiểm nào thì tiền lương luôn có những cái chung nhất, cụ thể nhất, “Tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền của những gì mà người lao động nhận được căn cứ vào số lượng và chất lượng sức lao động mà họ đã bỏ ra Từ

đó cũng có thể quan niệm rằng: tiền lương là giá cả hàng hoá sức lao động, giá

cả này được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người mua và người bán Tiền lương đã trở thành giá cả của một loại hàng hoá đặc biệt là hàng hoá sức lao động và điều này đã được kiểm chứng trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay, cụ thể:

+ Người lao động có sức lao động, có quyền tự do về thân thể của mình, nhưng vì không có vốn và tài sản gì khác ngoài sức lao động của mình, nên anh

ta muốn tồn tại thì phải cho thuê (bán) sức lao động của mình.

+ Người sử dụng lao động có vón, có tài sản, nhưng lại thiếu sức lao động, do đó phải đi thuê, mua sức lao động.

Khi đó dẫn tới một sự trao đổi “mua – bán” sức lao động thông qua một hợp đồng lao động Sau quá trình làm việc người lao động nhận được một khoản thu nhập liên quan đến kết quả lao động của mình gọi là thù lao, hay được nhận công lao động.

Tiền công theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các hình thức bù đắp hao phí lao động mà doanh nghiệp trả cho người lao động, sau khi họ làm việc cho doanh nghiệp Bao gồm có tiền lương, tiền thưởng, cùng các hình thức trả tiền khác như phúc lợi xã hội, bảo hiểm, phụ cấp, trợ cấp Sát thực hơn “tiền công lao động là lượng tiền mà người chủ doanh nghiệp (đơn vị) đồng ý trả và

Trang 2

người lao động đồng ý chấp nhận trong mối quan hệ với việc đem khả năng lao động của mình ra hoàn thành các công việc nhất định.

Trong thực tế “tiền công” cần được phân tích sâu xa hơn và phải được phân chia thành:

Tiền công danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người bán sức lao động.

Tiền công thực tế: biểu hiện qua số ượng hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ mà họ mua được thông qua tiền công danh nghiã.

Qua đó cho thấy tiền công danh nghĩa không những liên quan đến tiền công thực tế mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào sự biến động của giá cả hàng hoá

và công việc phục vụ mối quan hệ này có thể được thể hiện qua công thức:

ITCTT = GC

TCDN

II

Trong đó:

ITCTT: chỉ số tiền công thực tế

ITCDN: Chỉ số tiền công danh nghĩa

IGC: Chỉ số giá cả.

Từ công thức trên cho thấy: Nếu chỉ số giá cả tăng lên đồng thời chỉ số tiền công danh nghĩa không đổi thì sẽ làm giảm tiền công thực tế, điều đó sẽ ảnh hưởng tới sức mua của công nhân.

2 Vai trò của tiền lương trong nền kinh tế thị trường

a Chức năng thước đo giá trị:

Tiền lương là giá cả của sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, do đó tiền lương có chức năng thức đo giá trị và được dùng làm căn cứ để xác định đơn giá trả lưoưng, đồng thời là cơ sở để điều chỉnh giá cả sức lao động khi giá cả tư liệu sinh hoạt biến động.

Sức lao động có thể phân chia làm hai loại hình lao động cơ bản là lao động cơ bắp và lao động trí tuệ, mỗi loại hình lao động có những đặc trưng và đặc điểm khác nhau do đó tiền lương khi thực hiện chức năng thước đo giá trị của mình cũng phải có sự điều chỉnh và phân biệt khác nhau Cụ thể như sau:

Lao động cơ bắp: là loại hình lao động chủ yếu sử dụng sức khoẻ, không cần có trình độ chuyên môn cao, không qua đào tạo mà vẫn có thể làm việc được Người có sức khoẻ tốt, nhanh nhẹn có khả năng hoàn thành được khối lượng công việc nhiều hoặc công việc nặng nhọc hơn thì trả lương cao hơn, còn những người làm những công việc nhẹ hoặc làm ít thì hưởng lương thấp Tuy nhiên trong thực tế hiện nay với loại hình lao động này ở nước ta, chức năng thước đo giá trị của tiền lương chưa thật sự phản ánh chính xác, nhiều khi còn mang tính tương đối đại khái Nguyên nhân chủ yếu là bởi vì một phần những người lao động cơ bắp thường an phận với mức lương của mình học

Trang 3

thường chỉ cố gắng để hoàn thành công việc để nhận một khoản lương cố định hàng tháng để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt hiện tại của họ.

Lao động trí tuệ: Với hình thức lao động này chức năng thước đo giá trị của tiền nghề, thâm niên công tác theo chức vụ chức danh nắm giữ.

Hiện nay ở nước ta khi đề cập tới vấn đề này còn nhận thấy một sự bất cập rất lớn Cụ thể: Với các doanh nghiệp Nhà nước tiền lương thường thấp hơn so với các công ty tư nhân, Công ty TNHH, Công ty Liên doanh này Công ty nước ngoài Nếu nhìn từ góc độ này thì thước đo giá trị sức lao động có sự chênh lệch rất lớn, song để bù lại các doanh nghiệp tạo cho người lao động một sự ổn định lâu dài, đây chính là cái giá phải trả chọ đánh đổi này.

b Vai trò tái sản xuất sức lao động

Trong quá trình lao động, sức lao động bị hao mòn dần cùng với quá trình tạo ra sản phẩm Muốn duy trì khả năng làm việc lâu dài cho người lao động, cần phải bù đắp lại sức lao động đã hao phí, tức là cần tái sản xuất sức lao động mới với quy mô mở rộng hơn sức lao động đã hao phí như Mác đã nói

“Sức lao động của một người chỉ tồn tại trong con người sống đó và để phát triển và duy trì đời sống của mình con người phải tiêu dùng một số lượng nhất định, vì vậy muốn cho quá trình sản xuất được tiếp tục, sức lao động cũng phải được tái sản xuất liên tục”.

Các quốc gia khác nhau đều có những mức tiền lương khác nhau, mức lương tối thiểu quy định thường là hình thức, biểu hiện của tái sản xuất giản đơn, nó là mức lương trả công lao động thấp nhất để đảm bảo cho người lao động có một mức sống tối thiểu ở các nơi khác nhau mức sống tối thiểu cũng khác nhau, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, chỉ số giá

cả, vị trí địa lý … từ đó cũng có thể thấy được khái niệm “Mức sống tối thiểu” chỉ có tính chất tương đối, nó chỉ đúng trong một phạm vi hẹp, còn khi mở rộng ra thì không còn phù hợp nữa Chẳng hạn ở nước ta với những vùng nông thôn thì mức sống tối thiểu được hiểu là đủ cơm ăn áo mặc, nhưng ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thì mức sống tối thiểu không chỉ dừng lại ở cơm ăn áo mặc, mà phải là ăn ngon mặc đẹp Mở rộng hơn ra phạm vi toàn cầu thì một số nước phát triển như Mỹ, Pháp… thì mức sống tối thiểu của họ phải làm đảm bảo cuộc sống, đồng thời có đủ điều kiện học hành, có khả năng vui chơi giải trí từ một đến hai lần trong năm Trong trường hợp này mức lương tối thiếu không đơn thuần là tái sản xuất giản đơn nữa mà nó còn mang tính chất xã hội sâu sắc, địa diện cho khả năng, cũng như trình độ phát triển của các quốc gia.

Tiền lương là một phạm trù thuộc về lĩnh vực quan hệ sản xuất, do đó tiền lương hợp lý sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển và ngược lại nó sẽ kìm hãm sản xuất Tái sản xuất không chỉ đơn thuần là sản xuất lặp lại như cũ mà nó cần được tái sản xuất mở rộng hơn, tức là thoả mãn đầy đủ hơn những nhu cầu vạat phẩm tiêu dùng cho người lao động để họ không những duy trì sức lao động mà còn tạo ra thể lực và trí lực cao hơn ở

Trang 4

những nước phát triển tiền lương tối thiểu vẫn cho phép họ có được điều kiện học hành vui chơi giải trí, điều đó có nghĩa là thể lực và trí lực của họ được tăng cường và mở rộng hơn trước nó sẽ góp phần tăng nhanh và mạnh hơn trong việc tái sản xuất sức lao động.

Trong nền kinh tế hàng hoá, sức lao động là một trong những yếu tố thuộc chi phí đầu vào của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn cho tái sản xuất sức lao động của xã hội diễn ra một cách bình thường, cần khôi phục và tăng cường sức lao động cá nhân để bù lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất Tiền lương là một trong những tiền đề vật chất có khả năng đảm bảo tái sản xuất sức lao động trên cơ sở bù lại sức lao động đã hao phí Vì vậy các yếu tố cấu thành tiền lương phải đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người lao động, đồng thời trong sử dụng lao động không được trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định Nước ta hiện nay mức lương tối thiểu được áp dụng là 210000đ/tháng cho một người lao động, tuy nhiên khi các doanh nghiệp khi

áp dụng tuỳ theo loại hình hoạt động kinh doanh mà có hình thức điều chỉnh cho phù hợp trên cơ sở vẫn đảm bảo tuân thủ các quy định của Nhà nước.

c Vai trò điều phối lao động

Một trong những ưu điểm của nền kinh tế thị trường là tạo ra sự phối hợp, hợp lý hoá các nguồn lực thông qua hệ thống thị trường Sự ra đời của hệ thống thị trường lao động mà trong đó sức lao động chính là hàng hoá, tiền lương được coi là giá cả hàng hoá, sức lao động đã tạo nên một thế cân bằng cung cầu nhất định giữa những công việc và các vùng khác nhau Người lao động chỉ đồng ý bán sức lao động của mình khi họ nhận được một mức tiền công nhất định hoặc thoả mãn một nhu cầu nhất định nào đó Do đó với một mức tiền lương nhất định thì cũng chỉ có một số lượng nhất định nào đó Do đó với một mức tiền lương nhất định thì cũng chỉ có một số lượng nhất định những người lao động làm việc, bởi xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của công việc phù hợp với khả năng của họ cũng như mong muốn có thể có mức tiền lương tương xứng với khả năng làm việc Song chính những điều đó sẽ góp phần tích cực vào quá trình điều phối lao động Chẳng hạn có những công việc độc hại nguy hiểm, hoặc có thể có yêu cầu trình độ cao, do đó chỉ có một số lượng nhất định những người lao động có thể sẵn sàng làm việc trong những điều kiện lao động như thế này, ngược lại những công việc đơn giản phù hợp với những người lao động cơ bắp có mức lương thấp, khi đó những người có trình độ cao lại không thích làm việc.

Nước ta hiện nay chính sách tiền lương đãi ngộ cho những người làm việc ở khu vực vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số …, nếu làm việc ở đây

họ có thể nhận được thêm phụ cấp từ 10% đến 100% tiền lương cấp bậc của

họ, phần phụ cấp này nhằm giúp những người làm việc tại đây có cuộc sống ổn định hơn trong những điêù kiện đi lại và sinh hoạt khó khăn đây cũng là một chính sách khuyến khích mọi người làm việc tại những khu vực này Có thể

Trang 5

thấy những chính sách phụ cấp hiện này của nhà nước ta rất đa dạng: như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, phụ cấp lưu động, phụ cấp đắt đỏ… tất cả những chính sách này đều nhằm một mục đích chung nhất là hợp lý hoá chính sách tiền lương cũng như sự điều phối lao ,động.

d Vai trò tạo động lực thúc đẩy sản xuất

Trong hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực cơ bản, nó biểu hiện trên nhiều dạng, có lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất, lợi ích trước mắt

và lâu dài, có lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và công đoàn xã hội Tuy vậy, lợi ích cá nhân người lao động là động lực trực tiếp và tiền lương có thể tạo động lực vật chất trong lao động Vì vậy, khi người lao động làm việc đạt hiệu quả cao phải được trả lương cao hơn Tiền lương phải đảm bảo khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả lao động, tiền lương phải khuyến khích người lao động có tài năng, khuyến khích lao động sáng tạo góp phần điều phối và ổn định lao động xã hội Mặt khác cần phát huy vai trò tiền thưởng và các khoản phụ cấp, đó là sự thể hiện chức năng kích thích Cụ thể:

- Tiền lương theo cấp bậc: Phần tiền lương này tương đối ổn định và thường thay đổi sau khoảng thời gian từ hai đến ba năm, phần tiền lương cơ bản này phụ thuộc rất lớn vào tay nghề, trình độ chuyên môn của người lao động Muốn tiền lương cơ bản cao người lao động hải không ngừng hoàn thiện mình nâng cao năng suất lao động tăng cường khả năng sáng tạo trong công việc đồng thời cũng phải hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình để được thay đổi nâng bậc lương.

- Phụ cấp: Đây là phần ngoài lương để đảm bảo cao hơn những nhu cầu đòi hỏi, cũng như đảm bảo công bằng hơn cho người lao động đồng thời thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp, của xã hội đối với từng loại hình lao động làm việc nặng nhọc khác nhau.

- Tiền thưởng: có thể nói tiền thưởng là động lực thúc đẩy người lao động làm việc chỉ đứng sau tiền lương cấp bậc, trong một chừng mực nhất định nào đó nó còn có ý nghĩa rất lớn bởi nó đánh dấu một kết lao động mà có thể nhìn thấy một cách rõ ràng, đồng thời bổ xung thêm những động lực mà tiền lương cấp bậc không thể đảm đương hết Hiện nay trong nền kinh tế thị trường yếu tố tiền thưởng càng khẳng định vị trí đúng đắn của nó trong vai trò tạo động lực cho người lao động.

e Thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp

Một chế độ tiền lương thoả đáng đối với từng đối tượng, khuyến khích người lao động hăng say làm việc và thu hút những người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, sẽ luôn là một chiến lược quan trọng của Công ty Bởi điều đó là một trong những nhân tố quyết định trực tiếp tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Chẳng hạn khi một doanh nghiệp trả lương thoả đáng cho người lao động để họ không ngừng nâng cao năng suất lao động luôn phát huy những sáng kiến cải tiến kỹ thuật sẽ thúc

Trang 6

đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển còn ngược lại khi sự công bằng và sự thoả đáng ở mức tối thiểu cũng không được đáp ứng sẽ không tạo được động lực cho người lao động và sẽ cản trở quá trình phát triển sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn hiện nay, nhân tố con người lại càng được hết sức chú ý vì họ sẽ chính là những người tạo nên nhiều bước nhảy mới cho doanh nghiệp, để duy trì sức mạnh cạnh tranh trong thời kỳ mới này, mà muốn làm được điều đó thì một phần rất lớn phụ thuộc vào chính sách tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp.

h Chức năng bảo hiểm

Bảo hiểm là nhu cầu thiêng liêng trong lao động Chức năng bảo hiểm của tiền lương đảm bảo cho người lao động chẳng những duy trì được cuộc sống hàng ngày diễn ra bình thường, trong thời gian còn khả năng lao động và đang làm việc, mà còn có khả năng dành lại một phần tích luỹ dự phòng cho cuộc sống mai sau, khi họ hết khả năng lao động hoặc chẳng may gặp rủi ro bất trắc trong cuộc sống.

Khi đời sống xã hội càng phát triển, nhu cầu của người lao động tăng cao thì chức năng bảo hiểm càng được người lao động chú ý, nó không còn thuần tuý là thoả mãn một mức sống tối thiếu mà nó tạo dựng lòng tin, sự đảm bảo cuộc sống của họ và gia đình họ trong những trường hợp thiết yếu như khi ốm đau, bệnh tật …

Sự vận động của xã hội là muôn hình muôn vẻ, và ngày một tăng cao, các gia đình có xu hướng tăng cường vui chơi giải trí, đồng thời có nguồn tiết kiệm nhiều hơn, điều đó càng củng cố lòng tin cho người lao động có tiền lương, có nguồn chi phí và bảo đảm cuộc sống cho họ.

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương chịu sự chi phối của nhiều nhân

tố như: điều kiện kinh tế xã hội, luật lao động, thương lượng tập thể, thị trường lao động, vị trí địa lý, giá sinh hoạt tưng vùng, khả năng tài chính của doanh nghiệp v.v… từ đó cũng cho thấy trách nhiệm to lớn của những người làm nhiệm vụ quản lý nguồn nhân lực, bởi lẽ họ cần phải nghiên cứu một cách chi tiết và tỉ mỉ sự ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới tiền công của người lao động, từ đó đảm bảo tính công bằng cho những người lao động Cụ thể được biểu hiện qua sơ đồ sau:

B

ả n thân công vi ệ c

(Độ phức tạp của vị trí công việc)

Xã h ộ i v th à ị tr ườ ng lao độ ng

- Sự phát triển của nền kinh tế xã hội

- Chi phí sinh hoạt

- Lương trung bình trên thị trường lao động của ng nh à …

B

ả n thân ng ườ i lao độ ng

- Khả năng kiến thức tay nghề

Trang 7

- Thâm niên v m à ức độ trung th nh à

- Tiềm năng cá nhân

Trang 8

a Xã hội và thị trường lao động

+ Nhu cầu lao động: Lực lượng lao động thừa hay thiếu là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn tiền công của người lao động Cụ thể khi lực lượng lao động dư thừa, tỷ lệ thất nghiệp cao thì tiền công lao động có xu hướng giảm dần tới mức tối thiểu, người lao động lo mất việc làm phải không ngừng cố gắng thoả mãn những yêu cầu khắt khe trong công việc, còn khi lực lượng lao động khan hiếm thì những người lao động có nhiều cơ hội tự do lựa chọn những công việc thích hợp và có mức lương thoả đáng Với doanh nghiệp

họ phải nâng cao mức lương để kích thích, thu hút người lao động về phía doanh nghiệp mình.

+ Chi phí sinh hoạt: người lao động khi làm việc họ cần mức lương phù hợp, đáp ứng những yêu cầu về vật chất và tinh thần, đồng thời phải đáp ứng được chi phí sinh hoạt tối thiểu của họ Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu cho sinh hoạt ngày càng gia tăng, có nghĩa là họ mong muốn thu nhập của họ cũng gia tăng theo sự phát triển của xã hội.

Trang 9

+ Xã hội: Tiền lương chịu ảnh hưởng rất mạnh của chỉ số giá trên thị trường, cụ thể khi giá cả trên thị trường tăng sẽ làm cho tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống, do đó nếu muốn tiền lương thực tế không thay đổi thì tiền lương danh nghĩa cũng phải tăng lên theo.

Tiền lương được dùng để tái sản xuất sức lao động, sức lao động lại tạo

ra tiền lương mới, đây được coi như một vòng tuần hoàn trong quá trình luân chuyển trao đổi Tuy nhiên nếu xét trong một khoảng thời gian đủ lớn, nó được thể hiện thông qua sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nhu cầu đời sống sinh hoạt tăng cao hơn trước, thì tiền lương giai đoạn sau phải lớn hơn giai đoạn trước.

Trong đó:

TLi: Tiền lương ở một thời điểm T’i+1: Tiền lương ở thời điểm i + 1 Theo sơ đồ này TLi+1 > TLi

+ Luật pháp: chính sách tiền lương phải theo quy định của Nhà nước, theo các giai đoạn khác nhau mà Nhà nước có những quyết định khác nhau về tiền lương, thường là có sự thay đổi tăng mức lương tối thiểu, bên cạnh đó có thể có thêm những chính sách mới tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể thay đổi mức lương tối thiểu của mình.

b Bản thân người nhân viên

Bản thân người lao động quyết định chủ yếu tới mức lương, bởi lẽ mỗi người lao động được đào tạo khác nhau, có khả năng, trình độ, kinh nghiệm cũng như thâm niên công việc khác nhau Cụ thể.

+ Khả năng hoàn thành công việc: Người lao động khi tham gia làm việc

họ có những kỹ năng nhất định cho phép họ hoàn thành một khối lượng công việc nhất định Những người có thể hoàn thành công việc một cách nhanh chóng, kết quả cao, có kiến thức sâu rộng, tay nghề vững chắc sẽ tạo dựng cho

họ có thể có được những lương cao hơn so với mức lương chung của xã hội,

mà cụ thể hơn đó là một thời gian, một lượng hao phí về cả trí tuệ lẫn tài sản

để đảm bảo cho họ có một bước đi vững chắc trong công việc.

ở nước ta hiện nay trong phạm vi khuân khổ của các doanh nghiệp Nhà nước, những người có trình độ khác nhau thì có những hệ số lương khác nhau Chẳng hạn người tốt nghiệp đại học có hệ số lương khởi điểm là 1.78 còn những người tốt nghiệp cao đẳng các trường trung học thì hệ số lương thấp hơn.

+ Kinh nghiệm và thâm niên công tác: Hiện nay trong mọi lĩnh vực hoạt động đều không thể phủ nhận yếu tố kinh nghiệm, bởi nó sẽ góp phần không nhỏ trong việc tăng cường hiệu quả lao động Hiện nay ở nước ta kinh nghiệm được thừa nhận được gắn liền với thâm niên công tác, người có thâm niên công tác nhiều lương cao và ngược lại.

Trang 10

Thực tế hiện nay những cán bộ công nhân viên làm việc trong doanh nghiệp Nhà nước thường từ hai đến ba năm thì được xét duyệt tăng lương một lần, đây cũng là một điểm mạnh của chính sách tiền lương, bởi nó tạo dựng thêm lòng trung thành của cá nhân đối với doanh nghiệp.

+ Tiềm năng nhân viên và các yếu tố khác: Người lao động không chỉ được quan tâm đến những khả năng hiện tại mà họ còn được chú ý tới cả những tiềm năng lâu dài, lòng trung thành … tuy nhiên nhân tố này thường thường chưa được áp dụng hoàn toàn trong các doanh nghiệp Nhà nước mà chủ yếu mới chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp tư nhân và các Công ty nước ngoài.

c ảnh hưởng của doanh nghiệp

+ Chính sách tiền lương của doanh nghiệp: Trong mỗi doanh nghiệp đều

có chính sách riêng về tiền lương Doanh nghiệp có thể trả lương cao hơn mức lương tối thiểu vì các mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh lương cơ bản thì trong mỗi doanh nghiệp thì bên cạnh lương cơ bản có có các khoản cộng thêm như tiền thưởng, phụ cấp … những khoản này tổng hợp lại làm tăng mức thu nhập của người lao động Một doanh nghiệp có thể trả lương cao để thu hút lao động, thu hút những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tay nghề, nhưng cũng có thể trả lương thấp khi nhu cầu lao động của họ không cao.

+ Khả năng tài chính của Công ty: Mỗi doanh nghiệp đều có sức mạnh tìa chính riêng, khả năng chi trả cũng khác nhau, khi các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thu được lợi nhuận họ sẵn sàng trả lương cao hơn thông qua các hệ

số hoàn thành nhiệm vụ và tiền thưởng, nhưng ngược lại khi làm ăn không có hiệu quả thì các phần thưởng hoàn thành nhiệm vụ các khoản tiền thưởng khác sẽ bị cắt giảm.

+ Các yếu tố khác: Bên cạnh các chính sách tiền lương và khả năng tài chính của doanh nghiệp, thì tiền lương còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác từ bên trong doanh nghiệp như tiềm năng phát triển, bầu không khí văn hoá, loại hình doanh nghiệp … những nhân tố này cũng tác động không nhỏ tới mức lương của doanh nghiệp ở cả hiện tại cũng như trong tương lai.

d Bản thân công việc

Mỗi công việc đều có những yêu cầu đòi hỏi khác nhau, độ phức tạp khác nhau, do đó mức lương cho các loại hình công việc cũng khác nhau Có những công việc yêu cầu thời gian làm việc dài, có trình độ cao, yêu cầu kỹ thuật rất khắt khe, nhưng cũng có những công việc chỉ mang tính thủ công thuần tuý, do vậy yêu cầu đòi hỏi của những nhà quản lý phải có sự kết hợp với các nhà kỹ thuật để định mức chi trả lương cho từng người lao động một hợp lý.

4 ý nghĩa của tiền công và tiền lương

+ Tiền công: Tiền công quyết định địa vị xã hội của người lao động, là động lực chủ yếu để thút người lao động, tiền công bao hàm ý nghĩa rộng hơn tiền lương.

Trang 11

+ Tiền lương: Có ý nghĩa rất lớn không chỉ với người lao động mà còn với cả doanh nghiệp Cụ thể:

* Đối với người lao động: Tiền lương là phần thu nhập chủ yếu của người lao động, là phương tiện để duy trì sự tồn tại và phát triển của người lao động cũng như nhu cầu cuộc sống của gia đình họ Tiền lương ở một góc

độ nào đó là một bằng chứng cụ thể thể hiện giá trị của người lao động, thể hiện uy tín và địa vị của họ trong xã hội Từ đó người ta có thể tự đánh giá được giá trị của bản thân mình và có quyền khi có tiền lương cao, đồng thời tiền lương còn là một phương tiện để đánh giá mức độ đối xử của doanh nghiệp với người lao động đã bỏ sức lao động cung cấp cho doanh nghiệp.

* Đối với doanh nghiệp: Tiền lương là một khoản chi phí bắt buộc, do đó muốn nâng cao lợi nhuận, hạ giá thành sản phẩm thì các doanh nghiệp phải biết quản lý và tiết kiệm chi phí tiền lương Tiền lương cao là một phương tiện rất hiệu quả để thu hút lao động có tay nghề cao và tạo ra lòng trung thành của người nhân viên đối với doanh nghiệp Đồng thời tiền lương còn là một phương tiện kích thích động viên người lao động tạo nên sự thành công và hình ảnh đẹp đẽ của doanh nghiệp trên thị trường.

II CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG, TIỀN THƯỞNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

1 Các chế độ tiền lương hiện nay của nước ta

1.1 Tiền lương tối thiểu

a Khái niệm.

Nhu cầu tối thiểu là nhu cầu thiết yếu, cơ bản tối thiểu về các mặt ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, đồ dùng, hưởng thụ văn hoá xã hội, giao tiếp xã hội, bảo hiểm xã hội và nuôi con nhằm duy trì cuộc sống và làm việc Từ đây ta có khái niệm về mức sống tối thiểu: “Mức sống tối thiểu là mức độ thoả mãn các nhu cầu tối thiểu, trong những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, đó là mức sống thấp chỉ đảm bảo cho con người một thân thể khoẻ mạnh và một nhu cầu văn hoá tối thiể, dưới mức sống đó con người không đảm bảo nhân cách cá nhân”.

Vậy: “Mức lương tối thiểu là số lượng tiền chi dùng để trả cho người lao động làm những công việc giản đơn nhất trong xã hội trong điều kiện và môi trường lao động bình thường, chưa qua đào tạo nghề, đó là số tiền đảm bảo cho người lao động có thể mua được các tư liệu sinh hoạt và tiêu dùng thiết yếu cho tái sản xuất sức lao động cá nhân và dành một phần để bảo hiểm tuổi già và nuôi con.

Tình hình tiền lương tối thiểu của Nhà nước ta qua các giai đoạn như sau:

* Năm 1960 tiền lương tối thiểu là Lmin = 27đ/tháng

* Năm 1985 tiền lương tối thiểu là Lmin = 220đ/tháng

* Năm 1989 tiền lương tối thiểu là Lmin = 22500đ/tháng

* Năm 5/1993 tiền lương tối thiểu là Lmin = 120.000đ/tháng

* Năm 1/1997 tiền lương tối thiểu là Lmin = 144.000đ/tháng

Trang 12

* Năm 1/2000 tiền lương tối thiểu là Lmin = 180.000đ/tháng

* Năm 6/2001 tiền lương tối thiểu là Lmin = 210.000đ/tháng

b ý nghĩa của tiền lương tối thiểu.

- Mức lương tối thiểu là nền tảng của chính sách tiền lương là công cụ

ổn định xã hội trên cơ sở đảm bảo ổn định đời sống người lao động.

- Là công cụ để điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, nhất là giữa những người lao động và những người sử dụng lao động.

- Là căn cứ để xác định các lương cấp bậc và các chế độ lương thưởng khác.

- Đảm bảo cho người lao động làm việc giản đơn cũng có thể bù đắp được sức lao động và dành một phần để nuôi con và bảo hiểm tuổi già.

- Mức lương tối thiểu Nhà nước quy định là cơ sở pháp lý đảm bảo đời sống người lao động.

1.2 Chế độ tiền lương cấp bậc

a Khái niệm.

Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định về tiền lương của Nhà nước để các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp, Công ty dựa vào đó để trả lương trả công cho người lao động theo chất lượng, điều kiện lao động khi

họ hoàn thành một công việc nhất định Chế độ tiền lương cấp bậc được áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp Nhà nước, là cơ sở để các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vận dụng khi xác định mức tiền công thoả thuận cho người lao động trong quan hệ thuê mướn lao động.

b Y nghĩa.

- Chế độ tiền lương theo cấp bậc là cơ sở, căn cứ để xếp bậc lương cho người lao động.

- Chế độ tiền lương cấp bậc là cơ sở để tính bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế tính các khoản phụ cấp làm thêm, phụ cấp làm đêm, phụ cấp khi ngừng việc, tiền lương ngày hội họp, học tập, ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ cuối năm …

- Chế độ tiền lương cấp bậc tạo khả năng điều chỉnh tiền lương giữa các ngành nghề một cách hợp lý giảm bớt tính chất bình quân trong trả lương.

- Chế độ tiền lương cấp bậc khuyến khích người lao động không ngừng học tập nâng cao trình độ của bản thân Chế độ tiền lương theo cấp bậc là cơ

sở để phân công bố trí lao động và tổ chức lao động hợp lý.

c Các tiêu chuẩn cấu thành tiền lương cấp bậc.

c.1 Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật

Là văn bản quy định về mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của người công nhân, ở một bậc nhất định nào đó phải yêu cầu hiểu biết ở một mức độ nhất định về mặt lý thuyết cũng như thực hành Cụ thể gồm hai loại tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật.

+ Tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất của các nghề chung

+ Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật theo ngành

Trang 13

Như vậy tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là thước đo trình độ lành nghề của công nhân, có liên chặt chẽ với mức độ phức tạp của công việc và nó gồm có hai nội dung cơ bản sau:

* Cấp bậc công việc

* Cấp bậc công nhân

Trong đó số bậc kỹ thuật của nghề nào đó phải bằng số bậc kỹ thuật của công nhân nghề ấy, và cấp bậc công việc chính là cơ sở quan trọng để xây dựng tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật công nhân.

* Thang lương là một hệ thống thước đo thống nhất của nhà nước, dùng đánh giá chất lượng lao động của các loại lao động theo cấp bậc từ thấp đến cao, tương ứng tiêu chuẩn cấp bậc nghề của công nhân.

Mỗi thang lương có từ một đến bốn nhóm mức lương

+ Nhóm mức lương phản ánh điều kiện lao động, và tính chất phức tạp của lao động.

+ Các bậc lương trong thang lương.

+ Các hệ số lương phù hợp với các bậc lương.

Hệ số lương là hệ số so sánh chỉ rõ mức lương của công nhân bậc nào được trả cao hơn mức lương bậc một (hoặc mức lương tối thiểu bao nhiêu).

* Bảng lương: Là một bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa những người lao động cùng nghề theo từng chức danh nghề nghiệp Kết cấu của bảng lương gồm có:

+ Chức danh nghề hay tên gọi của nghề

+ Số bậc lương của bảng: Số bậc nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp và điều kiện lao động của nghề.

+ Mức lương trong bảng thể hiện bằng một số tiền cụ thể cho mỗi chức danh nghề và theo từng bậc phức tạp của nghề.

Trang 14

Trong mọi quá trình lao động tập thể đều tồn tại sự cần thiết của hiệp tác lao động, từ đó đòi hỏi phải tách lao động quản lý quá trình sản xuất ra khỏi lao động chung để làm chức năng chỉ đạo điều hoà, phối hợp những hoạt động cá nhân nhằm đạt kết quả chung một cách có kế hoạch.

Chế độ tiền lương chức vụ – chức danh là hệ thống thước đo thống nhất

do Nhà nước quy định và hướng dẫn, dùng để đánh giá chất lượng lao động của công nhân viên chức, là cơ sở để người sử dụng lao động xác định tiền lương phù hợp với chức danh nhiệm vụ, trình độ của viên chức.

Chế độ tiền lương hiện nay có ba đặc điểm.

+ Mức lương được quy định rõ cho mỗi chức danh chức vụ trong quá trình đảm nhận công việc phải có đủ tiêu chuẩn về chức vụ, văn hoá, chuyên môn.

+ Mức lương này chú ý đến quy mô của từng đơn vị, tầm quan trọng của từng vị trí và trách nhiệm của nó.

+ Cở sở để xếp lương: đối với công nhân viên chức Nhà nước tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn, đối với nhân viên quản lý doanh nghiệp tiêu chuẩn xếp hạng trong doanh nghiệp.

Tiền lương chức vụ chức danh được thể hiện thông qua thang bảng lương, tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức – tiêu chuẩn xếp hạng trong doanh nghiệp, mức lương tối thiểu.

+ Phụ cấp độc hại: Hình thức này áp dụng cho những người phải làm việc trong những môi trường độc hại ảnh hưởng tới sức khoẻ, đâycũng chính

là một hình thức đãi ngộ thêm dành cho những người phải làm việc trong những điều kiện khó khăn và khắc nghiệt Hệ số phụ cấp gồm 5 mức: 0.1, 0.2, 0.3, 0.3, 0.4, so với lương tối thiểu.

+ Phụ cấp đắt đỏ: Hình thức này được áp dụng với những nơi có chỉ số giá sinh hoạt cao mức giá cả bình quân của cả nước từ 10% trở lên Phụ cấp này gồm có các mức như sau 0.1, 0.2, 0.25, 0.3 so với mức lương tối thiểu.

+ Phụ cấp làm đêm: áp dụng đối với những người lao động phải làm thêm vào những ca đêm từ 22 giờ đến 6 giờ sáng, loại phụ cấp này được chia làm hai loại.

Với những người làm đêm không thường xuyên, một tháng không quá 4 buổi thì phụ cấp này bằng 30% tiền lương cấp bậc, còn với những người làm thêm thường xuyên, một tháng từ bốn buổi trở lên thì được hưởng phụ cấp bằng 40% tiền lương cấp bậc hoặc chức vụ.

Bên cạnh những loại hình trợ cấp cơ bản nói trên người lao động còn có nhiều hình thức trợ cấp khác tuỳ theo hình thức phát sinh mà có những chế độ

Ngày đăng: 18/10/2013, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w