Giáo dục là một khoa họcgiáo dục I - Khách thể, đối tượng nghiên cứu và các nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học: Khách thể nghiên cứu KTNC là vật mang đối tượng nghiên cứu, là nội chứa
Trang 1Giáo dục là một khoa học
giáo dục
I - Khách thể, đối tượng nghiên cứu và các nhiệm vụ
nghiên cứu của giáo dục học:
Khách thể nghiên cứu (KTNC) là vật mang đối tượng nghiên cứu, là nội chứa đựng những câu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm câu trả lời
Hiện tượng giáo dục – với tư cách là một hoạt động xã hội rộng lớn, gồm nhiều phạm vi khác nhau, từ trong gia đình đến nhà trường và cả những tác động không chính thống từ những quan hệ cộng đồng…đến quá trình hình thành những giá trị con người nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống xã hội
KTNC của giáo dục học : hiện tượng giáo dục
Khoa học :” Hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học, khác với tri thức kinh nghiệm
- Tri thức kinh nghiệm(TTKN) là những hiểu biết được tích lũy một cách thực tiễn – tự phát từ trong đời sống hàng ngày, từ đó con người có được những hình dung thực tế, biết cách phản ứng trước tự nhiên và ứng xử trong quan
hệ xã hội.TTKN chỉ mang tính khái quát bậc thấp, chỉ phản ánh những dấu hiệu bên ngoài ,chưa đi sâu vào bản chất.Tuy nhiên TTKN luôn là một cơ sở khách quan cho sự hình thành các tri thức khoa học
Trang 2- Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, là sản phẩm của loại hoạt động nhận thức đặc biệt được định hướng theo những mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học
- Tri thức khoa học giáo dục là sự tống kết, khái quát hóa những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên rời rạc để trừu tượng hóa thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chất
* Tiêu chí để nhận biết một bộ môn khoa học :
- Có đối tượng nghiên cứu xác định
- Có hệ thống lý thuyết
- Có một hệ thống phương pháp luận Ngoài 3 tiêu chí trên thì còn có tiêu chí là có mục đích ứng dụng, có một lịch sử nghiên cứu Nhưng trong nhiều trường hợp người nghiên cứu chưa biết trước mục đích ứng dụng và không phải bộ môn khoa học nào cũng có lịch
sử phát triển
Giáo dục học là một khoa học trong các khoa học giáo dục
Lý luận giáo dục học là một hệ thống trí thức khái quát ở các cập độ lý luận và được cụ thể hóa ở các phạm trù, khái quát, khái niệm, các quy luật, nguyên tắc lý luận, các học thuyết, quan điểm học thuật
Đối tượng nghiên cứu của giáo dục học là quá trình dạy học và giáo dục,
nhằm hình thành và phát triển nhân cách của người học theo một mục đích giáo dục xác định.Nói cách khác, đối tượng nghiên cứu của giáo dục học chính là nghiên cứu cac mặt quá trình của các hiện tượng giáo dục, nhằm phát triển bản chất, các quy luật của quá trình tác động chủ đích nhằm hình thành và phát triển nhân cách phù hợp với những yêu cầu phat triển xã hội
Quá trình giáo dục là quá trình xã hội hóa nhân cách có tổ chức và có mục đich, vận động, và biến đổi liên tục, thể hiện sự tương tác giữa nhà giáo
Trang 3dục và người được giáo dục, nhằm tạo thuận lợi cho người được giáo dục tiếp thu, lĩnh hội hệ thống tri thức…phù hợp với mục đích giáo dục xác định, góp phần phát triển nhân cách người được giáo dục
Theo quan điểm cấu trúc – hệ thống, quá trình giáo dục ( theo hàm nghĩa rộng) bao gồm hai quá trình bộ phận, có mối liên hệ thống nhất biện chứng với nhau, là quá trình dạy học và quá trình giáo dục ( theo nghĩa hẹp)
Quá trình giáo dục theo nghĩa rộng : quá trình tác động hình thành và phát triển nhân cách về mọi mặt
Quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp : góp phần thực hiện mục đích của quá trình giáo dục toàn diện, tác động hình thành ở người được giáo dục chủ yếu vầ những mặt giá trị xã hội
Qúa trình dạy học : góp phần thực hiện mục đích của quá trình giáo dục toàn vẹn, tác động hình thành ở người được giáo dục chủ yếu về mặt trang bị một hệ thống tri thức và phát triển các năng lực trí tuệ
Ngoài hai yếu tố chủ chốt là nhà giáo dục và người được giáo dục , trong
hệ thống của quá trình quá trình giáo dục – dạy học còn bao gồm các thành tố
cơ bản sau :
+,Mục tiêu giáo dục – dạy học +, Nội dung giáo dục – dạy học +, Phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức +, Kết quả của tác động giáo dục – dạy học
+, Môi trường giáo dục – dạy học
• Nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học :
Nghiên cứu phát triển hệ thống lý luận giáo dục học : nghiên cứu bản thân của các quá trình giáo dục và các hiện tượng giáo dục, tìm kiếm các mô hình giáo dục – dạy học, các quan điểm phương pháp luận và hoàn thiện các phương pháp nghiên cứu,các lý thuyết giáo dục hiện đại…
Trang 4Nghiên cứu triển khai và ứng dụng hệ thống lý luận khoa học nhằm cải tạo thực tiễn giáo dục : khảo sát thực trạng giáo dục, phát hiện nguyên nhân và dựa trên các cơ sở lý luận khoa học giáo dục đề xuất các chính sách, biện pháp…nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thực tế của một hệ thống giáo dục đối với sự phát triển cá nhân và sự phát triển xã hội
Nghiên cứu dự báo giáo dục : Nghiên cứu các xu thế, xu hướng phát triển của giáo dục nói chung hoặc của một hệ thống giáo dục cụ thể
Tuy nhiên việc phân định các nhiệm vụ nghiên cứu giáo dục trên đây cũng chỉ mang tính tương đối
II - Một số khái niệm cơ bản của giáo dục :
Với tư cách là một khoa học giáo dục con người, giáo dục học bao gồm một hệ thống các khái niệm đặc thù và được phân chia thành các nhóm như sau
a)- Các khái niệm cơ bản :
* Giáo dục : theo nghĩa rộng thì đó là quá trình xã hội hóa nhân cách, được
tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động và mối quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm giúp mỗi cá nhân tiếp thu được những kiến thức xã hội -lịch sử của loài người, từ đó phát triển sức mạnh bản thân sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội
Theo như chúng ta được biết thì có hai loại hình giáo dục Thứ nhất là
giáo dục không chính thống, là loại hình giáo dục trong gia đình và xã hội, nó
không có quy mô hay tổ chức rõ ràng nhưng lại góp phần quan trọng trong việc hình thành nền tảng đạo đức và phẩm chất của mỗi con người Loại hình thứ 2
là giáo dục chính thống, hay chính là nền giáo dục trong nhà trường Nó bao
gồm 3 yếu tố cơ bản không thể thiếu, đó là: người giáo dục, người được giáo dục và môi trường giáo dục Và quá trình giáo dục này được thực hiện thông
Trang 5qua hoạt động có tổ chức của hệ thống giáo dục quốc dân, do những người có chuyên môn được xã hội phân công
Ở đây chúng ta có nhắc đến quá trình xã hội hóa nhân cách, hay cũng có
thể gọi là quá trình hình thành con người Đó là một quá trình bao gồm tất cả
các mặt về sinh học,tâm lí xã hội và giáo dục, diễn ra do ảnh hưởng của cả nhân tố bên trong( bẩm sinh, di truyền,…) và nhân tố bên ngoài( hoàn cảnh tự nhiên, xã hội) Nó chịu ảnh hưởng của cả các tác động tự phát, ngẫu nhiên và cả các tác động có mục đích, có tổ chức Do đó mà từ những giá trị xã hội , mỗi cá nhân có thể hình thành nên nhân cách riêng của mình. > Qúa trình hình thành con người là một hoạt động xã hội rộng lớn chứ không riêng của hệ thống giáo dục quốc dân
* Giáo dục, theo nghĩa hẹp thì được hiểu là quá trình tác động giúp người
được giáo dục tiếp nhận và chuyển hóa tích cực các chuẩn mực xã hội, từ đó hình thành ý thức, thái độ và hệ thống hành vi phù hợp với các mục tiêu giáo dục Thế mạnh của quá trình giáo dục này là hình thành lí tưởng, niềm tin, thái độ, thông qua các sinh hoạt tập thể, các hoạt động chính trị- xã hội, ngoài nhà trường
* Dạy học hay quá trình dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục(nghĩa
rộng), là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp người học nắm vững một hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, được quy định bởi một kế hoạch, hay một chương trình nhất định Từ đó hình thành một trình độ học vấn hay trình độ chuyên môn nghề nghiệp, phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo yêu cầu của một mục tiêu xã hội cụ thể Đó chính
là nội dung của dạy học
* Giáo dưỡng : là mặt nội dung của dạy học, là sự trau dồi các kiến thức, kĩ
năng đã được hệ thống hóa thành một trình độ học vấn của người học và chủ yếu là trong quá trình dạy học ở các trường học
Trang 6* Tự giáo dục : là sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện cá nhân về mọi mặt để hoàn
thiện bản thân phù hợp với các yêu cầu của mục đích giáo dục
* Giáo dục lại : cũng là một bộ phận của giáo dục, có mục tiêu và chức năng
điều chỉnh, uốn nắn những sai lạc không phù hợp với các chuẩn mực xã hội
* Giáo dục hướng nghiê ̣p
Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường, xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp học sinh tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội Mục tiêu chung của giáo dục hướng nghiệp nhằm phát triển và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nhiệp; giúp học sinh hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề; định hướng cho học sinh đi vào những lĩnh vực mà xã hội có yêu cầu Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp bao gồm định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề
* Giáo dục cộng đồng
Theo UNESCO thì giáo dục cộng đồng được xem như là một tư tưởng, một cách làm mới mẻ nhằm xây dựng mối quan hệ bền vững, gắn bó giữa giáo dục với các quá trình xã hội, với đời sống và lợi ích của cộng đồng Đó là cách thức tốt và có hiệu quả nhằm tạo ra những điều kiện, cơ hội để thực hiện sự công bằng xã hội, tạo lập nền tảng cho sự phát triển và sự ổn định của xã hội Giáo dục cộng đồng được hiểu là giáo dục cho tất cả mọi người, là áp dụng cho mọi người trong xã hội Nói một cách cụ thể hơn giáo dục cộng đồng là quá trình biến đổi các loại trường học thành các trung tâm giáo dục và câu lạc bộ văn hóa cho mọi lứa tuổi Nếu thực hiện thành công đường lối giáo dục cộng đồng, xã hội sẽ là một trường học khổng lồ, trong đó giáo dục trở thành một động lực phát triển trực tiếp và quan trọng nhất của toàn xã hội
* Giáo dục thường xuyên
Giáo dục thường xuyên được hiểu là một hệ thống giáo dục nhằm mục đích tạo cơ hội giáo dục liên tục, thường xuyên, thoả mãn nhu cầu học tập suốt đời của mọi thành viên trong xã hội, giúp họ thích ứng với sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học - kỹ thuật, tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước
* Công nghê ̣ giáo dục
Sự tác động mạnh mẽ, sâu sắc và thường xuyên của khoa học kỹ thuật vào nền sản xuất đại công nghiệp làm nảy sinh một khái niệm khoa học chuyên
biệt: công nghệ Đối với nền sản xuất ra của cải vật chất công nghệ là một khoa
học chuyên nghiên cứu cách thức xử lý, chế tác, biến đổi trạng thái, tính chất, hình dáng của nguyên vật liệu (hay bán thành phẩm) thành sản phẩm Nó phát
Trang 7hiện ra các qui luật cơ, lý, hóa có thể vận dụng vào các quá trình sản xuất ra của cải vật chất nhằm nâng cao chất lựơng, hiệu quả, năng suất
Một trong những xu thế của thời đại mới là đầu tư công nghệ phát triển Khi đầu tư trong lĩnh vực giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, xu thế chung
là đầu tư theo chiều sâu Việc đầu tư dạy học theo chiều sâu thực chất là đầu tư công nghệ dạy học Theo nghĩa hẹp, công nghệ dạy học là việc sử dụng những phát minh, những sản phẩm công nghiệp hiện đại về thông tin và các phương
tiện kỹ thuật vào dạy học Theo nghĩa rộng, công nghệ giáo dục là khoa học về
giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích đào tạo đề ra đồng thời
tiết kiệm được sức lực của thầy và trò (UNESCO).
b)- Các nhiệm vụ của giáo dục : bao gồm giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ, lao động, hướng nghiệp,…
c)- Các bậc học : bao gồm từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông cho đến
giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục người lớn
d)- Loại hình , phương thức giáo dục : gồm có giáo dục chính quy, không
chính quy, phi chính quy, giáo dục thường xuyên, giáo dục nhà trường, gia đình
và giáo dục xã hội…
Ngoài những khái niệm trên còn có một số khái niệm khác cũng đã gia nhập vào hệ thống giáo dục học, với nội hàm mang tính chất đặc thù như: nhân cách và phát triển nhân cách,nhân tố xã hội và nhân tố sinh học, xã hội hóa con người, Đó là triết học, văn hóa học, xã hội học và tâm lí học
III - Cấu trúc của giáo dục học và mối quan hệ với các khoa học khác :
a) Mối quan hê ̣ của Giáo dục học với các khoa ho ̣c khác
Triết học: Là khoa ho ̣c về các qui luâ ̣t chung nhất của sự phát triển tự
nhiên, xã hô ̣i và tư duy con người, là nền tảng cho sự phát triển Giáo du ̣c ho ̣c
Trang 8Triết ho ̣c cung cấp các quan điểm phương pháp luâ ̣n và các qui luâ ̣t cho viê ̣c nghiên cứu sự vâ ̣n đô ̣ng và phát triển của giáo du ̣c
Xã hội học: Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường xã hô ̣i đối với con
người và quan hê ̣ con người, va ̣ch ra những đă ̣c điểm phát triển kinh tế- văn hóa, xã hô ̣i và ảnh hưởng của chúng đến sự hình thành nhân cách con người Từ đó giúp Giáo dục học giải quyết những vấn đề về mu ̣c đích, nô ̣i dung giáo du ̣c
Sinh lý học thần kinh: Muốn nghiên cứu về sự phát triển của con người,
Giáo dục học phải dựa vào các phát hiê ̣n, các kiến thức của sinh lý ho ̣c thần kinh như: sự phát triển của hê ̣ thống thần kinh, các đă ̣c điểm của hê ̣ thần kinh…
Tâm lý học lứa tuổi, Tâm lý học sư phạm, Tâm lý học xã hội có vai trò
rất quan tro ̣ng đối với viê ̣c nghiên cứu và phát triển của Giáo dục học
Lý thuyết thông tin, điều khiển học, tin học ngày càng được nghiên cứu và
ứng du ̣ng rô ̣ng rãi trong Giáo dục học
……
Ngược lại, các thành tựu lí luận trong giáo dục học cũng có vai trò liên
môn tạo nên các giá trị, cơ sở khoa học của nhiều bộ môn
b) Các chuyên ngành của giáo dục học : gồm 2 chuyên ngành chủ yếu là:
* Giáo dục học đại cương :- Các vấn đề chung
- Lý luận dạy học
- Lý luận giáo dục
- Lý luận tổ chức và quản lí trường lớp
* Giáo dục học chuyên ngành:
- Theo ngành và bậc học thì chúng ta sẽ có: giáo dục học mầm non, giáo dục học phổ thông, giáo dục học nghề nghiệp, giáo dục học đại học,…
- Theo loại hình, chuyên ngành đào tạo thì ta có: giáo dục học quân sự, giáo dục học y học,…
- Theo lĩnh vực thì ta có : giáo dục học đặc biệt, giáo dục học người lớn, lịch sử giáo dục, giáo dục học so sánh, giáo dục học bộ môn, quản lý giáo dục, kinh tế giáo dục,…
Trang 9Như vậy ta thấy cấu trúc của giáo dục học cũng khá là phức tạp và là một ngành khoa học vô cùng quan trọng vì nó có sự liên hệ chặt chẽ với hầu hết các ngành khoa học căn bản trong hệ tthông các ngành khoa học
IV.Phương pháp nghiên cứu của giáo dục học.
Như ta dã biết trong phần trước một trong các tiêu trí để nhận biết một bộ môn khoa học đó là có một hệ thống phương pháp luận.Trong phần này ta sẽ tìm hiểu một số phương pháp nghiên cứu của GDH.Và các phương pháp này cũng chỉ ở mức độ tổng quát
A CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.Cơ sở phương pháp luận.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghiã duy vật lịch sử là phương pháp luận của giáo dục học XHCN
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc, quan điểm kế thừa – phát triển… chỉ đạo sự lựa chọn vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2.Làm rõ một số khái niệm.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) : là hình thức cơ bản thứ 3 của
chủ nghĩa duy vật do C.Mác và Ph.Ănghen xây dựng vào những năm 40 của thế
kỷ 19 và sau đó đươc Lênin phát triển.CNDVBC không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn tại mà còn là công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong XH cải tạo hiện thực
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại của khoa học Nó cho ta thấy rằng do sự phát triển của LLSX mà từ chế độ sinh hoạt XH này đã nảy sinh và phát triển lên như thế nào một chế độ sinh hoạt XH khác cao hơn
- Quan điểm hệ thống cấu trúc yêu cầu khi nghiên cứu phải xem xét các đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ,trong những trạng thái
Trang 10vận động và phát triển,trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể để tìm ra bản chẩt và quy luật vận động của đối tượng Và hệ thống là 1 tập hợp các yếu tố nhất định có mối quan hệ biện chứng với nhau để tạo thành một chỉnh thể ổn định và có quy luật tổng hợp
- Quan điểm kế thừa – phát triển : khi nghiên cứu một vấn đề ta nên kế thừa
những điểm hay điểm mạnh của những nghiên cứu trước,lược bỏ những điều không dúng và phát triển những điều cao hơn
B.CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa vào các cơ sở phương pháp luận ta chia thành các phương pháp sau :
1.Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu lý luận khoa học giáo dục thực hiện theo 2 bước :
+ Thu thập thông tin lý luận các quan điểm lý thuyết giáo dục… ,nguồn tài liệu : tạp chí KH, sách…
+ Các tài liệu được xử lý bằng tư duy khoa học ( phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa…) để từ đó khái quát thành hệ thống tri thức, những lý thuyết giáo dục mới có vai trò tiền đề
- Nghiên cứu một sự kiện phức tạp
+ Đề xuất một giả thuyết.Trong giả thuyết thông tin có tính giả định
+ Chứng minh giả thuyết.Bằng suy luận hay thực nghiệm để khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết
- Nghiên cứu một hiện tượng giáo dục phức tạp
Thực tế nhiều hiện tượng giáo dục phức tạp nếu như ta nghiên cứu trực tiếp thì sẽ gặp khó khăn về một số mặt nào đó,tuy nhiên khi sử dụng phương pháp mô hình thì đơn giản hơn nhiều.(Mô hình là hình ảnh mô phỏng các mối liên hệ cơ cấu-chức năng giữa các yếu tố của đối tượng nghiên cứu)
VD: Đối với môn quang hình học khi nghiên cứu về thấu kính thay vì phải sử dụng
thấu kính thật quan sát đường đi của tia sáng rất phức tạp,ta có thể dùng phương