1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích

170 1,5K 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới thiệu phân tích chi phí và lợi ích
Tác giả Allen S. Bellas, Richard O. Zerbe
Người hướng dẫn Lê Thủy
Trường học Chưa có thông tin
Chuyên ngành Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
Thể loại Sách
Năm xuất bản Chưa có thông tin
Thành phố Chưa có thông tin
Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh Lợi ích và Chi phí Sau khi đã tính toán được hay ít nhất là đã liệt kê ra được các chi phí và lợi ích, chúng ta phải so sánh chúng với nhau để xác định xem giá trị hiện tại Net P

Trang 1

Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích Allen S Bellas và Richard O Zerbe

Phiên dịch: Lê Thủy

1.1 Mục đích của cuốn sách

Mục đích của cuốn sách là nhằm đưa ra các chỉ dẫn rõ ràng và tương đối đơn giản cho việc tiến hành một cách chuẩn xác các phân tích lợi ích-chi phí (Cost-Benefit Analysis ~ CBA) đối với các dự án đã và đang được đề xuất triển khai Hay nói một cách khác, mục đích của cuốn sách là nhằm giúp độc giả có thể nhìn nhận một cách phê phán các CBA họ gặp phải trong quá trình làm việc hay nghiên cứu Đúng là chúng ta nên tin tưởng rằng tất cả các nghiên cứu đều được tiến hành một cách có trách nhiệm và chuẩn xác Song những nghiên cứu hiện hành thể hiện những khác biệt lớn về cấp độ chất lượng Cuốn sách không đưa ra những thảo luận thấu đáo về các khái niệm, kỹ thuật CBA mà chỉ tóm lược những điểm quan trọng nhất của một nghiên cứu CBA Tuy nhiên, những kỹ thuật được phác thảo ở đây sẽ giúp các bạn thực hiện được những phân tích một cách chuẩn xác Bất kỳ ai có kiến thức tốt về kinh tế học đều có thể tiếp cận được với cuốn sách này

Một ưu điểm lớn của CBA là nó cung cấp cho ta một khung mục đích mà trong đó chúng ta có thể thảo luận, sửa chữa và bổ sung Rủi ro lớn nhất xảy ra khi dữ liệu cứng lại có xu hướng bị coi là dữ liệu mềm Cần phải lưu ý chú trọng đúng mức đến các tác động chưa được số lượng hóa hay được số lượng hóa một cách thô sơ Để làm được điều này chúng ta nên coi CBA như một công cụ hỗ trợ cho quá trình thương thuyết và đưa ra quyết định thay vì coi bản thân nó là quá trình ra quyết định

Không nên coi CBA là một quá trình bí hiểm Một cách đơn giản, CBA là quá trình chúng ta tính toán giá trị của tất cả các đầu vào và đầu ra của một dự án rồi sau đó lấy hiệu số của đầu ra trừ đi đầu vào Đôi lúc, chúng ta có thể sử dụng một số quy trình phức tạp để xác định giá trị của một mặt hàng chưa được xác định mức giá song các khái niệm cốt lõi của CBA thì tương đối đơn giản

Độc giả nên nhận biết một điều rằng CBA không phải là công cụ duy nhất để đánh giá một dự án Một dự án có thể được đánh giá dựa trên một cơ sở nào đó khác hơn

là lợi ích ròng mà dự án đó đem lại Đôi khi phương thức này lại được ưa thích hơn

Có nhiều dự án vẫn được thông qua nhằm thúc đầy một quá trình chính trị nào đó ngay cả khi phân tích lợi ích ròng của dự án đưa ra kết luận là không nên tiến hành

dự án Trong phân tích CBA, có thể có những giá trị không được số số lượng hóa hay không thể được số số lượng hóa Điều này đồng nghĩa với việc một dự án tuy không vượt qua được một cuộc kiểm tra CBA nghiêm ngặt song vẫn có vẻ là đáng để triển khai Tuy nhiên, xu hướng chung cho thấy các kết quả thu được qua CBA dù sao cũng buộc những người muốn đưa ra quyết định trái ngược có nghĩa vụ phải tìm cách biện chứng cho quyết định của mình Vì lý do này, các chính trị gia thường phản đối CBA vì họ cảm thấy rằng những phân tích kiểu này có thể sẽ hạn chế các khả năng lựa chọn của họ Dù sao thì ít nhất CBA cũng cho phép ta tính toán chi phí rõ ràng cho những dự án không qua được kiểm tra CBA hay các dự án mà các mục tiêu đề ra lớn hơn so với những gì mà theo CBA dự án có thể đạt được

Trang 2

1.2 CBA là gì

Phân tích lợi ích chi phí là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết định xem đây có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có nên cho triển khai các dự án được đề xuất hay không Phân tích lợi ích chi phí cũng được dùng để đưa

ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều các đề xuất dự án loại trừ lẫn nhau Người

ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của dự án Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào và các đầu ra Cơ bản

mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn, dự án đó

sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai

Những dự án mà phân tích CBA xếp vào loại đáng được triển khai là những dự án cho đầu ra có giá trị lớn hơn đầu vào đã sử dụng Trong trường hợp phải chọn một dự án trong số nhiều dự án được đề xuất, CBA sẽ giúp chọn được dự án đem lại lợi ích ròng lớn nhất Cũng có thể dùng CBA để đánh giá mức độ nhạy cảm của các đầu ra trong

dự án đối với rủi ro và bất chắc

Mặc dù ý tưởng thì đơn giản song trong thực tế sẽ có nhiều khó khăn để có thể tiến hành được một CBA có chất lượng Chỉ đơn giản là việc xác định đâu là chi phí, đâu là lợi ích cũng đã đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc kỹ lưỡng Cũng có thể có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề này Trong khi một số đầu vào, đầu ra có thể có các mức giá phổ biến và ổn định thì một số khác lại có mức giá biến đổi trong quá trình triển khai dự án Và có thể có một số đầu vào, đầu ra không được đưa ra buôn bán trên thị trường Điều này khiến cho chúng ta cần phải đưa ra những phương pháp định giá khác nhau

CBA mặc định rằng tất cả các mặt hàng đều có một giá trị tiền tệ nhất định Điều này là cần thiết trong việc so sánh giữa đầu vào và đầu ra để quyết định xem liệu một dự án có khả thi về mặt kinh tế hay không Trong khi chúng ta có những kỹ năng thích hợp để quy ra tiền với phần lớn các mặt hàng thì chúng ta khó có thể làm như vậy với một số mặt hàng nhất định Ví dụ như không khí trong lành và sức khỏe tốt đều rất đáng quý song sẽ là một thách thức lớn để có thể xác định chính xác lợi ích ròng của một chương trình mang lại không khí trong lành và sức khỏe tốt cho mọi người Tuy nhiên, ta có thể xác định được một khoảng chi phí nào đó mà nếu chi phí của chương trình nằm trong khoảng đó thì chương trình là có giá trị và ngược lại

Cần phải nhận thấy một điều rằng người ta đưa các quyết định liên quan đến các dự

án không chỉ đơn thuần dựa trên cơ sở CBA Các tính toán chính trị và xã hội nằm ngoài CBA có thể có tầm quan trọng ít nhất là ngang bằng với các lợi ích kinh tế trong việc quyết định có nên triển khai dự án hay không Điều này đúng nhất là trong trường hợp đưa ra các quyết định công Lúc đó, các tài nguyên thường được phân bổ dựa trên các lý do khác chứ không phải là hiệu quả kinh tế Những vấn đề công bằng, bình đẳng trong các trường hợp này có thể sẽ thế chỗ cho thậm chí là những nguồn lợi ròng lớn về kinh tế Nhưng ít nhất cũng có thể hy vọng rằng một CBA có thể tác động tới quyết định của một người còn đang do dự hay có thể đưa chúng ta đến với lựa chọn tối ưu giữa các dự án có tác động chính trị, xã hội tương tự như nhau

1.3 Các bước tiến hành CBA

Phân tích lợi ích chi phí có thể được nghĩ đến như một quá trình vận hành trong đó có một số bước nổi bật Không phải phân tích nào cũng yêu cầu phải thực hiện đầy đủ

Trang 3

tất cả các bước đi này Một dự án ngắn hạn sẽ không đòi hỏi phải chiết khấu lợi ích trong tương lai Một dự án đã triển khai nhiều lần có thể sẽ không gặp phải rủi ro hay bất chắc Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, để cân nhắc có nên triển khai một dự án hay không hay nên chọn triển khai dự án nào giữa các dự án được đề xuất, chúng ta cần bám theo các bước sau:

1 Làm rõ vấn đề chỗ đứng/vị thế

Khi bắt đầu một phân tích, cần phải chỉ rõ nghiên cứu này là do ai làm, chi phí ai phải chi, lợi ích ai được hưởng Chúng ta luôn phải rõ ràng và nhất quán trong việc giải quyết những vấn đề này cũng như trong việc tính toán lợi ích và chi phí cho những người/nhóm người khác nhau

2 Xác định những phương án thay thế

Một phân tích cần phải nêu rõ được dự án hay các dự án là đối tượng xem xét Chúng

có loại trừ lẫn nhau hay không Cần phải đưa được các lựa chọn thay thế tương ứng vào phân tích Mốc chuẩn để so sánh là lựa chọn không tiến hành dự án Song đó có thể chỉ là một cơ sở để so sánh Ví dụ như trong thảo luận về Đập Tellico, chính quyền Thung lũng Tennesee đã không so sánh được việc xây đập với một lựa chọn thay thế khác là tận dụng dòng chảy của con sông để vận hành một chiếc tuốc-bin phát điện Những thiếu sót kiểu này không phải là hiện tượng hiếm khi xảy ra Khi chúng ta thay đổi quy mô, thời hạn thực hiện của một dự án, chúng ta có thể có được những thay thế thích ứng Ví dụ như, một chương trình tiêm chủng có thể không qua được kiểm nghiệm CBA ở quy mô toàn quốc song lại có thể vượt qua kiểm nghiệm CBA đối với một vùng có tỷ lệ mắc bệnh cao liên quan đến loại vắcxin sẽ được tiêm chủng

3 Đưa ra các Giả định

Giả định là một phần thiết yếu của một phân tích Có thể giả định này tốt hơn giả định kia Cũng có thể dùng giả định cho hàng loạt các yếu tố số lượng hàng, chi phí, điều kiện thị trường, thời hạn hay các mức lãi sất Trong một phân tích được tiến hành một cách có trách nhiệm, những giả định này được nêu một cách rõ ràng Nếu

có thể chúng được phân bổ cho những nguồn lực đáng tin cậy Nếu đưa ra một diện giá trị giả định thì phải có quy định rõ ràng về diện giá trị được đưa ra

4 Lập danh sách các Tác động của mỗi Dự án Thay thế

Nên liệt kê các tác động tiềm tàng của mỗi dự án một cách đầy đủ nhất có thể Có thể liệt kê tác động của một hay nhiều dự án cụ thể được xem xét cũng như tác động của các lựa chọn thay thế: giữ nguyên hiện trạng hay không triển khai bất kỳ dự án nào

Điều quan trọng là tiến hành số lượng hóa các tác động nếu có thể Để đánh giá chuẩn xác một dự án đòi hỏi phải biết được lượng đầu vào và đầu ra cần có Khi không thể số lượng hóa được một tác động thì ít nhất ta cũng phải đề cập đến tác động đó Một dự án hạn chế quyền tự do cá nhân nên đề cập đến tác động này ngay

cả khi không có nỗ lực nào được đưa ra để định giá quyền tự do cá nhân

5 Quy các Giá trị Cụ thể cho những Tác động này

Trang 4

Có thể quy mỗi tác động này ra một giá trị tiền tệ nhất định nếu có thể.

6 Xử lý các Tác động Không được Số lượng hóa

Cần phải kiệt kê rõ ràng bất kỳ tác động nào chưa được quy ra giá trị vật chất cụ thể Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể cân nhắc giữa chúng với những chi phí và lợi ích đã được định giá cụ thể

Một cách tiếp cận với các lợi ích phi số lượng hóa là tính toán xem các lợi ích này lớn đến mức độ nào thì đủ để đảo ngược các kết quả của CBA Thông thường người ta có thể đưa ra một đánh giá chung chung về việc những lợi ích này có khả năng đảo ngược quyết định hay không Bằng cách xem xét rõ ràng những tác động như vậy theo cách này, chúng ta sẽ tránh được tình trạng lâm vào phân tích bị chi phối bởi các dữ liệu cứng

Ví dụ như, khi cân nhắc một dự án hạn chế quyền tự do cá nhân, có thể dùng các lợi ích và chi phí khác để tính mức lợi ích ròng của dự án đó, bỏ qua bất kỳ một cân nhắc về quyền tự do cá nhân nào Sau đó, có thể dành cho độc giả quyền tự quyết định xem những lợi ích ròng khác có đủ để bù đắp hạn chế về quyền tự do cá nhân hay không, việc tiến hành dự án có phải là một quyết định đúng đắn hay không

7 Chiết khấu giá trị tương lai để có được giá trị hiện tại

Đối với phần lớn các dự án, cần phải tính chi phí và lợi ích được chiết khấu tại những thời điểm khác nhau Người ta thường thực hiện điều này bằng cách sử dụng biện pháp chiết khấu lũy thừa (exponential discounting) để tính giá trị hiện tại của chi phí lợi ích Rất khó để có thể lựa chọn được một mức lãi suất chiết khấu đúng Tuy nhiên, nhiều tổ chức nghiên cứu đưa ra những mức lãi suất chuẩn dùng cho các phân tích

8 Xác định và lý giải độ bất chắc

Có lẽ khiếm khuyết hay gặp nhất trong phân tích CBA là thất bại trong việc xử lý rủi

ro và bất chắc Bất chắc có thể tiềm ẩn trong nhiều khía cạnh của dự án Phải xác định được đầy đủ nguyên nhân gây ra các bất chắc này một cách đầy đủ nhất có thể Chẳng hạn như kinh phí dự toán cho một công trình xây dựng, điều kiện thời tiết bất

ổn khiến cho các hoạt động ngoài trời trở nên khó khăn hơn hay mức tăng trưởng dân số dẫn đến mật độ sử dụng các thiết bị tiện dụng tăng lên

Nên nỗ lực trong việc nhận thức được rủi ro hay bất chắc của dự án Có thể dùng cách đơn giản như đưa ra một phân tích độ nhạy cảm Phân tích này sẽ tính toán giá trị của dự án theo những kết quả dài hạn khác nhau Cũng có thể dùng cách phức tạp hơn như phân tích các lựa chọn thực Phân tích này cố tìm cách tính được giá trị chính xác của dự án có tính đến yếu tố rủi ro

9 So sánh Lợi ích và Chi phí

Sau khi đã tính toán được (hay ít nhất là đã liệt kê ra được) các chi phí và lợi ích, chúng ta phải so sánh chúng với nhau để xác định xem giá trị hiện tại (Net Present Value ~ NPV) của dự án có thể mang giá trị dương không Nếu đang xem xét lựa chọn giữa nhiều dự án thì dự án có mức NPV cao nhất là dự án sẽ được chọn

Trang 5

10 Tiến hành phân tích sau khi dự án kết thúc

Khi có thể, nên tiến hành phân tích sau khi hoàn thành dự án nhằm đưa ra định hướng cho các giám đốc dự án, xác định giá trị của phân tích gốc nhằm cải thiện các phân tích và các dự án được tiến hành sau này

1.4 Quy đổi ra Giá trị bằng Tiền

CBA sử dụng các giá trị tiền mặt để so sánh các loại hàng hoá với nhau Được gán cho mỗi đầu vào và đầu ra của dự án, các giá trị này đại diện cho tầm quan trọng của đầu vào và đầu ra trong phân tích Nếu tổng giá trị của đầu ra lớn hơn tổng giá trị của đầu vào thì dự án được coi là đáng được tiến hành vì lúc đó độ quan trọng tổng thể của đầu ra đối với xã hội lớn hơn độ quan trọng tổng thể của đầu vào Tuy việc gán các giá trị thực cho các đầu vào, đầu ra rồi so sánh chúng với nhau là cần thiết song đây cũng là một quá trình gây nhiều tranh cãi Cần phải có một độ cẩn trọng và tinh tế nhất định khi tiến hành quá trình này

Nhiều loại đầu vào và đầu ra là các mặt hàng thường xuyên được buôn bán trên thị trường với mức giá chung phổ biến và có thể đoán trước được Giá trị của các đầu vào như lao động, bê tông, thép, máy tính, xăng dầu hay các đầu ra như điện có thể được xác định dựa trên mức giá thị trường, có điều chỉnh trong một số trường hợp nhất định

Các đầu vào và đầu ra khác không được trao đổi trực tiếp nên rất khó có thể được định giá Chẳng hạn như khoảng thời gian đi lại mà một dự án xây dựng đường cao tốc tiết kiệm được, giá trị của dịch vụ thuỷ lợi do một dự án xây đập mang lại hay tình hình sức khoẻ của cộng đồng được cải thiện thông qua việc xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải Giá trị cho các loại hàng hoá này phải được ước tính thông qua những tính toán gián tiếp, phức tạp và tương đối chủ quan Thường thì phương hướng hành động thích hợp nhất là tìm ra và sử dụng các mức giá dự kiến đã được đưa ra trong các nghiên cứu trước đây

Mục đích của cuốn sách này là nhằm tìm ra được các mức giá trị thị trường và phi thị trường cho một loạt các mặt hàng khác nhau Cuốn sách cũng đưa ra chỉ dẫn phải xử

lý thế nào với hàng loạt các loại giá trị tiềm tàng và phức tạp trong phân tích của bạn

1.5 Cơ cấu Thời gian của Chi phí và Lợi ích

Phần lớn các dự án được điều hành trong một khoảng thời gian nhất định Khi tiến hành phân tích CBA bạn nên xác định xem khi nào thì chi phí và lợi ích sẽ thay đổi Đâu là múi thời gian cuối cùng cho phân tích của bạn nếu không phải là của toàn bộ

dự án

Ví dụ như một con đường cao tốc được mở trong vòng ba năm, đưa vào sử dụng lâu dài và tiến hành những bảo dưỡng cần thiết năm năm một lần Cứ sau một khoảng thời gian nhất định thì chi phí xây dựng và bảo dưỡng mới xuất hiện trong khi lợi ích

mà con đường đem lại là liên tục Có thể lợi ích này càng ngày càng tăng khi dân số của một vùng tăng Con đường có thể tồn tại vĩnh viễn Song theo chỉ dẫn hành chính thì khi đánh giá dự án có thể chỉ cần tính đến lợi ích dự án đem lại trong vòng hai mươi năm đầu tiên

Trang 6

Nhìn chung, có một thực tế vẫn được thừa nhận đó là các mức chi phí, lợi ích trong tương lai có giá trị thấp hơn chi phí lợi ích hiện tại.[1] Chính vì vậy, việc khấu trừ chi phí lợi ích tương lai bằng cách sử dụng một mức lãi suất nào đó và cách khấu trừ theo số mũ là một thông lệ được chấp nhận Tuy có nhiều cơ quan quy định cụ thể mức hay các mức lãi suất được nhiều nhóm, nhiều cơ quan khác nhau dùng hay đồng tình song quyết định khó nhất gặp phải trong quá trình này vẫn là xác định mức lãi suất thích hợp.

1.6 Phân tích độ Nhạy cảm (Sensitivity analysis)

Bất kỳ một dự án nào đều gắn với hàng loạt các con số được đề xuất khác nhau Chúng là ước tính khối lượng vật liệu và lao động cần thiết, mức giá của các đầu vào này, số người hưởng lợi cuối cùng, giá trị quy đổi của việc họ sử dụng sản phẩm làm

ra, mức lãi suất thích hợp dùng để khấu trừ chi phí và lợi ích của dự án Các con số này đều có nguy cơ bị dự đoán sai Người ta cũng rất dễ lâm vào tình trạng không thể nhất trí về một con số dự kiến nhất định Câu trả lời có trách nhiệm nhất cho việc

có hàng loạt những giá trị ước tính hay gợi ý là đưa ra những tính toán dựa trên nhiều kịch bản khác nhau rồi thảo luận những thay đổi trong từng kịch bản tạo ra tác động gì trong phân tích độ nhạy cảm Điều này có nghĩa là nên chỉ rõ việc thay đổi các mức giá trị khác nhau có tác động như thế nào đến đánh giá dự án Ví dụ, nếu phí xây dựng thực tế cao hơn mức phí dự đoán là 10% thì lợi ích ròng của dự án thay đổi như thế nào? Nếu dùng một mức lãi suất cao hơn để khấu trừ các chi phí và lợi ích tương lai thì liệu dự án còn được mong đợi nữa hay không? Nếu như giá trị cho các lợi ích của một dự án mang lại cho tình hình sức khoẻ ở mức thấp chứ không phải

ở mức cao trong miền lợi ích ước tính thì giá trị của dự án thay đổi như thế nào?

Một cách tiếp cận thường gặp là tính toán khả năng tốt nhất, xấu nhất và các khả năng trung bình Phân tích này có nghĩa là thoạt đầu tính toán NPV của một dự án bằng cách dùng các mức giá trị ước tính tối đa hoá giá trị của dự án, rồi dùng các mức giá trị ước tính tối thiểu hoá giá trị của dự án và cuối cùng là dùng các mức giá trị trung gian Điều này sẽ cho các nhà hoạch định chính sách ý tưởng về tính không chắc chắn của dự án cũng như tầm quan trọng của tính không chắc chắn này có thể

Cuốn sách này sẽ cung cấp cho bạn nhiều thông số tham khảo về các nguồn lực khác nhau được dùng làm đầu vào, đầu ra của dự án, các giá trị gắn liền với chúng, mức lãi suất đề xuất trong khấu trừ, độ co dãn cung và độ co dãn cầu Chúng tôi cũng đưa ra những tham khảo về việc định giá các loại hàng hoá ít được trao đổi trên thị trường và tập trung vào các kỹ thuật và các giá trị do các nhà nghiên cứu khác đưa ra

Tuy danh sách các nguồn lực được đưa ra không phải là một danh sách hoàn chỉnh song ít nhất nó cũng đem lại cho độc giả một xuất phát điểm trong việc tìm ra các

Trang 7

mức giá trị cần thiết để phân tích một dự án hay đánh giá một cách phê phán một nghiên cứu hiện tại.

1.8 Cơ cấu của Cuốn sách

Nội dung của cuốn sách được sắp xếp theo thứ tự cần có khi tiến hành một nghiên cứu

Chương hai bàn đến vấn đề vị thế, hay giá trị của ai sẽ được đưa vào phân tích Điều này sẽ tác động cách thức xử lý những chi phí khác nhau trong dự án Song quan trọng hơn, nó sẽ quyết định chi phí nào, lợi ích nào được đưa vào trong phân tích

Phần lớn các đầu vào và đầu ra được trao đổi trên các thị trường Giá trị của chúng

có thể được xác định dựa trên các mức giá thị trường và phân tích cung cầu cơ bản Chương ba bàn đến lý thuyết về các thay đổi phúc lợi xã hội mà một dự án mang lại Chương bốn và năm mô tả các phương pháp xác định giá trị của đầu vào, đầu ra được trao đổi trên thị trường với mức giá phổ biến

Nhiều loại hàng hoá không được trao đổi trực tiếp trên thị trường Hai chương tiếp theo bàn đến các cách tiếp cận với việc định giá những loại hàng hoá kiểu đó

Chương sáu mô tả các kỹ thuật trong đó có các giá trị bóng (shadow values) Chương bảy bàn đến phương pháp định giá phát sinh (contingent valuation method)

Một khi đã xác định được giá trị của đầu vào, đầu ra, chúng ta còn cần phải thực hiện thêm một số bước trong việc chuẩn bị một phân tích Chương tám đưa ra cơ chế khấu trừ, chỉ dẫn trong việc lựa chọn mức lãi suất phù hợp trong việc khấu trừ chi phí lợi ích tương lai Chương chín bàn đến phân tích độ nhạy cảm và phân tích rủi ro Phân tích này đặc biệt quan trọng đối với các trường hợp các chi phí lợi ích là bất ổn

Cuối cùng, chương mười đưa ra những tài liệu tham khảo bổ ích cho các độc giả trong việc chuẩn bị và đánh giá các phân tích trong đó có nêu nguồn gốc của các mức giá, lãi suất, độ co dãn ước tính và số lượng thị trường

Một số nghiên cứu điển hình sẽ khép lại cuốn sách Các nghiên cứu này mô tả việc ứng dụng các kỹ thuật này vào các vấn đề thực tế

Tham khảo

Portney and Weyant (1999)

Trang 8

Bài giảng 3: Tổng Kết Hợp Về Thời Gian

Dr Allen Bellas

Phương Hạnh dịch

Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian [1]

Chủ đề này là về chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai để phản ánh quan điểm rằng những thứ trong tương lai sẽ có ít giá trị hơn hiện tại

Ví dụ, nếu một cộng đồng sắp có một bệnh viện mới, miễn là những thứ khác cũng giống nhau, người dân sẽ có thể mong muốn thà có bệnh viện hôm này còn hơn một năm sau mới có nó Giá trị bệnh viện mới hiện nay lớn hơn giá trị bệnh viện mới một năm sau

Vậy bệnh viện hiện nay có giá trị nhiều hơn bao nhiêu? Câu hỏi này được trả lời bằng

Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian.

Tỷ lệ ưu tiên thời gian là tỷ lệ mà người dân sẵn sàng từ bỏ tiêu dùng hiện nay để đổi chác lấy thêm tiêu dùng một khoảng thời gian (thông thường là một năm kể từ bây giờ)

Hoặc, tỷ lệ ưu tiên thời gian là tỷ lệ phần trăm mà theo đó, giá trị của một hạng mục

bị giảm bớt đi nếu một người phải chờ thêm một khoảng thời gian nữa mới lấy được

nó (thông thường là một năm)

Nếu mọi người trong cộng đồng đồng ý sẽ trả $100 triệu để có bệnh viện mới ngay bây giờ nhưng chỉ trả $95 triệu để có nó một năm sau, thì tỷ lệ ưu tiên thời gian ngụ

ý của họ là xấp xỉ khoảng 5% Nghĩa là, mỗi năm họ phải chờ để có được cái gì đó sẽ làm giảm giá trị của cái đó đi khoảng 5%

Sử Dụng Chiết Khấu Trong Thực Tế

Dẹp tất cả những mối quan tâm này sang một bên, hãy giả sử rằng bạn có tỷ lệ lãi suất nào đó để áp dụng trong chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai Trong nhiều trường hợp thực tế trên thế giới, con số này sẽ đơn giản được ấn định sẵn cho bạn

Phương thức đúng để đánh giá một dự án là nhìn vào giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng Nếu giá trị hiện tại ròng (NPV) là dương, thì dự án là đáng để thực hiện Nếu có hai dự án cùng độc quyền lẫn nhau thì nên triển khai dự án có NPV lớn nhất

Công Thức Tính Giá Trị Hiện Tại Ròng

Giá trị hiện tại ròng là giá trị hiện tại của lợi nhuận trừ đi giá trị hiện tại của chi phí

Trang 9

Giá trị hiện tại ròng của dự án (cũng được biết đến như là giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng) có thể được biểu diễn như một tổng của các lợi nhuận ròng trong mỗi giai đoạn

trong đó chúng ta chấp nhận chung rằng:

và n là phạm vi quy hoạch hay đánh giá dự án

Nhìn chung, chúng ta cũng tin rằng một tỷ lệ không âm [2] nên được áp dụng để chiết khấu tương lai, để mà

Một điều kiện tiên quyết để xác định giá trị hiện tại ròng là quyết định qua khoảng thời gian nào dự án sẽ được đánh giá Một số dự án có tuổi thọ nhất định, và dễ dàng xác định được khoảng thời gian nào để đánh giá chi phí và lợi nhuận của chúng Những dự án khác sẽ có chi phí và lợi nhuận trong một khoảng thời gian không hạn định và buộc phải quyết định khoảng thời gian bao lâu để đánh giá dự án

Nếu dự án sẽ không có chi phí và lợi nhuận sau N năm, thì giá trị hiện tại bằng

trong đó :

Bt là lợi nhuận trong thời gian t

Ct là chi phí trong thời gian t

i là tỷ lệ lãi suất chiết khấu

Nếu dự án sẽ để lại một số tài sản nhất định sau N năm, giá trị của tài sản đó là giá trị cuối cùng của dự án Giá trị cuối cùng có thể là giá trị của những thứ vật chất, hoặc nó cũng có thể là giá trị dự tính của giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng trong tương lai của dự án vượt ra ngoài khoảng thời gian đang được xem xét rõ ràng:

Trang 10

trong đó :

Bt là lợi nhuận trong thời gian t

Ct là chi phí trong thời gian t

i là tỷ lệ lãi suất chiết khấu

TN là giá trị cuối cùng, giá trị của cái sẽ được để lại sau quãng thời gian N

VD: Một dự án không có giá trị cuối cùng

Khoảng thời gian

Lợi nhuận

0 300 300 300Chi phí

450 100 100 100Lợi nhuận ròng

-450 200 200 200Nếu tỷ lệ lãi suất bằng 10% thì giá trị hiện tại của dự án có thể được tính toán là

Cho nên, do NPV > 0, đây là một dự án tốt đáng để thực hiện

Tuy nhiên, nếu dự án này được thẩm định lại với tỷ lệ chiết khấu là 20%, chúng ta có

Cho nên, với tỷ lệ chiết khấu cao hơn, đây là một dự án tồi không nên thực hiện

Trang 11

Nói chung, do hầu hết các dự án có chi phí và lợi nhuận ban đầu sau một khoảng thời gian nào đó, khi tỷ lệ chiết khấu tăng lên, số lượng dự án tốt sẽ giảm đi.

Dưới đây là biểu đồ mô tả dự án nói trên diễn biến như thế nào tại các mức tỷ lệ lãi suất khác nhau:

Tỷ Lệ Thực Tế với Tỷ Lệ Danh Nghĩa

Chênh lệch giữa tỷ lệ lãi suất thực tế (TT) và tỷ lệ lãi suất danh nghĩa (DN) chính là

tỷ lệ lạm phát (LP) Sử dụng tỷ lệ nào phụ thuộc vào bản chất chi phí và lợi nhuận liên quan đến một dự án

Mối quan hệ giữa tỷ lệ lãi suất thực tế, tỷ lệ lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát là:

Ví dụ, nếu tỷ lệ lãi suất danh nghĩa là 30% và tỷ lệ lạm phát là 20%, thì tỷ lệ lãi suất thực tế là

Tính xấp xỉ, thông thường có thể chấp nhận được để nói rằng

thực tế = danh nghĩa - lạm phát

Công thức này sẽ càng đúng khi tỷ lệ lạm phát nhỏ Tất nhiên, có những thời điểm

và địa phương nơi tỷ lệ lạm phát không nhỏ

Trang 12

VD: danh nghĩa=450%, lạm phát=440%

i=(1+4.50)/(1+4.40) - 1 = 0.0185 hay 1.85%, không phải là 10%

Nếu chi phí hay lợi nhuận được biểu thị bất biến bằng đồng đôla hoặc dưới dạng hàng hoá và dịch vụ (thông thường là trường hợp), thì những giá trị này sẽ đợc điều chỉnh cho lạm phát và chỉ có tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất thực tế mới cần được bao gồm trong tỷ lệ bạn áp dụng

Nếu chi phí hay lợi nhuận được biểu thị bằng các số tiền đôla danh nghĩa, thì lạm phát sẽ ảnh hưởng đến giá trị của chúng và, do vậy, lạm phát nên được bao gồm trong tỷ lệ chiết khấu, có nghĩa là tỷ lệ danh nghĩa nên được sử dụng

Tỷ Lệ Chiết Khấu Xã Hội, hay Nên Sử Dụng Tỷ Lệ Nào?

Chi phí và lợi nhuận liên quan đến một dự án điển hình thường phát sinh tại những thời điểm khác nhau Quan trọng là việc có thể so sánh các chi phí và lợi nhuận phát sinh tại những thời điểm khác nhau

Thực hiện điều này trong một nền kinh tế đơn giản, có một người và có hai giai đoạn

là tương đối dễ Một người sẽ có vài cơ hội tiêu dùng giữa hai giai đoạn và sẽ tối đa hoá độ thoả dụng tiêu dùng giữa hai giai đoạn Tỷ Lệ Thay Thế Biên (Marginal Rate

of Substituion ~ MRS) sẽ bằng với Tỷ Lệ Chuyển Đổi Biên (Marginal Rate of

Transformation ~ MRT) và đây sẽ là tỷ lệ lãi suất phù hợp để áp dụng tính chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai

Trang 13

Nhìn từ góc độ quan điểm xã hội, tồn tại một đường biên các xác suất tiêu dùng liên quan đến mức tiêu dùng giai đoạn này với mức tiêu dùng giai đoạn tiếp theo Độ dốc của đường cong này là Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Xã Hội (Social Opportunity Cost Rate ~ SOCR).

Xã hội cũng sẵn sàng từ bỏ tiêu dùng hiện tại để đổi lấy đầu tư dẫn đến tiêu dùng lớn hơn trong tương lai Sự sẵn lòng này được thể hiện bởi độ dốc của đường cong đẳng dụng xã hội, độ dốc của đường cong này là Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Của Xã Hội (Societal Rate of Time Prefence ~ SRTP)

Nếu tất cả các thị trường đều hoàn hảo, chúng ta có sự cân bằng liên thời gian xã hội (societal intertemporal equilibrium):

Tại một điểm giống như X, tỷ lệ chi phí cơ hội xã hội SOCR bằng với tỷ lệ ưu tiên thời gian của xã hội SRTP, do đó tỷ lệ mà tại đó xã hội có thể trao đổi cái này lấy cái kia giữa mức tiêu dùng hiện tại và mức tiêu dùng tương lai chính xác bằng với tỷ lệ mà

nó muốn để trao đổi giữa hai thứ và đó là tỷ lệ mà tại đó mức tiêu dùng tương lai nên được chiết khấu tương xứng với mức tiêu dùng hiện tại

Nếu xã hội có một khoản tiền tại một điểm giống như Z, thì xã hội nên giảm mức tiêu dùng hiện tại để nhằm tăng mức tiêu dùng tương lai bởi vì chi phí biên của mức tiêu dùng hiện tại (xét về mức tiêu thụ tương lai dự tính trước) lớn hơn tỷ lệ biên mà tại đó xã hội sẵn lòng để trao đổi giữa hai thứ

Xét từ góc độ cá nhân, có một tỷ lệ ưu tiên thời gian của cá nhân (Private Rate of Time Preference ~ PRTP) biểu hiện cho tỷ lệ mà tại đó mọi người sẵn sàng thực hiện trao đổi thoả hiệp biên giữa mức tiêu dùng hiện tại và mức tiêu dùng tương lai

Trang 14

Những cá nhân này có cơ hội đầu tư vào các thị trường tín dụng trong đó có một tỷ

lệ chi phí cơ hội cá nhân (Private Opportunity Cost Rate ~ POCR) mà tại đó những nguồn lực hiện tại có thể được đầu tư để đổi lấy mức tiêu dùng tương lai Tỷ lệ này chính là độ dốc của đường thẳng ngân sách liên thời gian và cũng là tỷ lệ lãi suất

Một người có một khoản tiền T trong khoảng thời gian 0 sẽ lựa chọn để tiết kiệm một chút trong số đó (∆C0) để nhằm có mức tiêu dùng trong khoảng thời gian 1

Do đó, một lần nữa, nếu thị trường hoàn hảo thì độ dốc của đường cong đẳng dụng

cá nhân (PRTP) sẽ bằng với độ dốc của đường cong đẳng dụng xã hội (SRTP) và chúng sẽ bằng với độ dốc của đường hạn chế ngân sách liên thời gian của cá nhân (POCR) và độ dốc của đường giới hạn khả năng tiêu dùng (SOCR) Tuy nhiên, điều này không phải như thế

Nếu chúng ta có hiệu dụng năng động (dynamic efficiency), thì tỷ lệ thay thế biên liên thời gian của các cá nhân sẽ bằng với tỷ lệ chuyển đổi biên liên thời gian của họ Điều này tương ứng với việc nói rằng tỷ lệ này sẽ bằng nhau giữa tất cả các cá nhân Nói cách khác, tỷ lệ mà mọi người mong muốn trao đổi mức tiêu dùng giữa hai khoảng thời gian bằng với tỷ lệ mà tại đó họ có thể trao đổi thoả hiệp

Chúng ta có thể phân biệt giữa tỷ lệ cá nhân và tỷ lệ xã hội

Trong những thị trường vốn hoàn hảo :

Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Cá Nhân (PRTP) = Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Cá Nhân (POCR)Đối với tổng thể xã hội

Trang 15

Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Xã Hội (SRTP) = Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Xã Hội (SOCR)

Có rất nhiều lý do giải thích tại sao điều này có thể không đúng như vậy

1 Những thị trường vốn có hoàn hảo không? Nghĩa là, PRTP=i=POCR hay không?

Có thể ở những thành phố lớn có nhiều khoản tiền lớn, nhưng không phải ở những thị trường có số lượng hạn chế những phương tiện tài chính hay ngân hàng

Những người tiêu dùng tiết kiệm được thêm nhiều tiền cho đến khi tỷ lệ ưu tiên thời

gian của họ bằng với tỷ lệ lãi suất họ có thể kiếm được từ các khoản tiền tiết kiệm

của mình (PRTP=itiền tiết kiệm ) trong khi đó các thể chế tài chính tiến hành cho vay bổ

sung cho đến khi chi phí cơ hội của họ bằng với lợi nhuận họ thu lại được từ các

khoản cho vay đó (POCR=ikhoản cho vay )

Nếu itiền tiết kiệm= ikhoản cho vay thì tính hiệu dụng năng động có giá trị Điều này không đúng, nhưng đối với hầu hết người dân ở Mỹ và ở một số nước phát triển khác, điều này có thể gần sát Đối với những người sống ở các thị trấn hay các nước nhỏ không

có các thể chế tài chính vững chắc, đó có thể không phải là một phép xấp xỉ hợp lý Nghĩa là, tỷ lệ lãi suất áp cho các khoản vay có thể cao hơn nhiều tỷ lệ lãi suất mọi người nhận được từ tiền tiết kiệm của mình

Trên thực tế, đối với các thể chế tài chính đang hoạt động, có thể đúng là POCR=ikhoản cho vay > PRTP=itiền tiết kiệm

(TQ hiệu đính: vì các thể chế tài chánh và ngân hàng kiếm lời,tỷ lệ lợi nhuận cho vay lớn hơn tỷ lệ tiền tiết kiệm họ phải trả cho bà con Trong những thành phố có nhiều thể chế tài chánh cạnh tranh, thì hai tỷ lệ này sai biệt rất ít, như 6.5% và 5.7% Còn

ở những thị trấn nhỏ, tỷ lệ mượn nợ thì cao, trong khi tỷ lệ tiền tiết kiệm thì quá thấy, hay không đáng kể)

2 SRTP=PRTP hay không?

Có thể không Nhìn chung, người ta cho rằng SRTP < PRTP

Chúng ta không quan tâm đúng mức đến các thế hệ tương lai

Mọi người đều cận thị, thiếu kiên nhẫn một cách vô lý

Trang 16

Nếu các thế hệ tương lai là "một hàng hoá công cộng", thì những thị trường tư nhân

sẽ cung cấp hàng hoá đó không đủ (TQ hiệu đính: thế hệ tương lai không chỉ con ruột của mình, mà là tất cả mọi người đồng lứa tuổi con của mình Bao nhiêu người trong chúng ta lo cho con nhà hàng xóm)

3 POCR=SOCR hay không?

Không nếu có thuế đánh vào lợi nhuận biên thu từ được việc bán các khoản đầu tư hay tài sản POCR là tỷ lệ sau thuế trong khi SOCR là tỷ lệ trước thuế, hay

POCR = (1-t)SOCR

Do đó POCR < SOCR

Kết quả của tất cả những điều này là chúng ta có thể kết luận rằng:

SRTP < PRTP < POCR < SOCR

Do vậy, vì SRTP nhỏ hơn SOCR, chúng ta có thể đang đầu tư/tiết kiệm quá ít

Nếu bạn, vì một lý do nào đó, có tất cả những con số này, thì SRTP là tỷ lệ nên được

áp dụng để chiết khấu lợi nhuận ròng từ một dự án

(TQ hiệu đính: PRTP là Tỷ Lệ Ưu Tiên Thời Gian Cá Nhân, và thường thì tỷ lệ này nhỏ hơn Tỷ Lệ Chi Phí Cơ Hội Xã Hội ~ SOCR)

Nói chung, các tỷ lệ lãi suất thị trường (mà có thể bằng với các tỷ lệ chi phí cơ hội cá nhân) sẽ quá cao Điều này có nghĩa là các tỷ lệ đó sẽ chiết khấu tương lai quá nhiều, hoặc gắn giá trị quá thấp cho các chi phí và lợi nhuận tương lai

Các Thất Bại của Thị Trường Ngăn Cản Tính Hiệu Dụng

Năng Động

Một loạt các thất bại của thị trường được chỉ rõ để phân biệt giữa hai tỷ lệ lãi suất dễ thấy, POCR và PRTP cũng như giữa hai tỷ lệ khó nhận thấy hơn nhưng lại tồn tại về mặt lý thuyết là SRTP và SOCR Trong số những thất bại của thị trường này bao gồm:

1 Thuế đánh vào thu nhập doanh nghiệp

Thuế đánh vào thu nhập doanh nghiệp làm giảm mức lợi nhuận mà những cá nhân đi vay có thể hoàn trả cho những nhà đầu tư của họ từ (như trình bày trong Hình 10.3)

rz xuống i

2 Thuế đánh vào thu nhập từ tiền lãi hay đầu tư

Thuế đánh vào thu nhập từ tiền lãi hay đầu tư làm giảm lợi nhuận sau thuế của các

cá nhân thu được từ tiền tiết kiệm của họ từ i (là mức mà người đi vay đã trả sau khi

đã đóng thuế cho lợi nhuận của mình) xuống (như trình bày trong Hinh 10.3) pz

Trang 17

3 Thiếu sự tham gia của các thế hệ tương lai

Do các thế hệ tương lai vẫn chưa thực sự bày tỏ bất kỳ quan điểm nào, nên chúng ta không biết chúng muốn chúng ta đánh giá như thế nào mức tiêu dùng của chúng tương ứng với mức tiêu dùng của chúng ta Nếu chúng muốn mức tiêu dùng của mình được đánh giá nhiều hơn mức hiện nay chúng ta đang làm, thì tác động sẽ là làm cho đường cong đẳng dụng xã hội thẳng hơn, làm cho điểm tối ưu không phải là

X mà là điểm gì đó giống Y hơn

4 Rủi Ro và Tính Bấp Bênh

Các dự án tư nhân phải hoàn trả lại một tỷ lệ phần trăm hơi cao hơn một chút cho các nhà đầu tư của mình do một thực tế là có những rủi ro liên quan đến mỗi dự án Xét từ góc độ xã hội, có một số lượng đủ lớn những dự án đầu tư tiềm năng đối với rủi ro tránh được hoàn toàn

Để xem xét kỹ hơn các vấn đề tỷ lệ lãi suất, hãy xem xét biểu đồ dưới đây được trình bày lại từ sách của Boardman et al Cung và cầu ban đầu là D0 và S0, và chúng bị giảm xuống là DI và SS do thuế đánh vào lợi nhuận doanh nghiệp và thu nhập tiền lãi Tại điểm cân bằng mới, tỷ suất lợi nhuận từ các khoản đầu tư của doanh nghiệp

là rz trong khi tỷ lệ mà các hộ gia đình nhận được từ tiền tiết kiệm là pz

Một dự án của chính phủ cần khoản vay rất lớn sẽ làm tăng nhu cầu về tín dụng tới mức DI' đồng thời kéo theo làm tăng tổng số tiền tín dụng trên thị trường Cho vay chính phủ được cấu thành bởi mức tăng về tiết kiệm của các hộ gia đình (tương đương với mức giảm về tiết kiệm của các hộ gia đình) và mức giảm về đầu tư tư nhân Mức tăng của tiết kiệm hộ gia đình được định giá theo đường cong cung, S0,

Trang 18

trong khi mức giảm về đầu tư tư nhân được định giá theo tỷ lệ chi phí cơ hội cá nhân, rz.

Năm Giải Pháp Đề Xuất

Có năm giải pháp đối với các vấn đề nên áp dụng tỷ lệ chiết khấu nào được đề xuất trong phần văn bản:

1 Sử dụng tỷ suất lợi nhuận trước thuế từ các khoản đầu tư cá nhân (rz)

• Nếu chính phủ dự định sắp huy động tiền cho một dự án, thì dự án đó nên làm tốt

ít nhất cũng bằng mức mà một dự án đầu tư khu vực tư nhân sẽ làm

• Các tỷ lệ tư nhân bao gồm phí bảo hiểm rủi ro có thể không thích hợp trong bối cảnh khu vực công cộng với số lượng đủ lớn các dự án có thể

• Tỷ lệ hiệu dụng ở đây là khoảng 8%

2 Sử dụng tỷ suất lợi nhuận sau thuế từ các khoản đầu tư cá nhân (pz)

• Đây là tỷ lệ mà tại đó các cá nhân thoả hiệp đổi cái này lấy cái kia giữa mức tiêu dùng hiện tại và mức tiêu dùng tương lai, do đó có thể đó cũng là một tỷ lệ xã hội thích hợp

• Tỷ lệ này khiến người ta hơi khó hiểu một chút do các cá nhân thực tế phải đối mặt với hàng loạt các tỷ lệ lãi suất sau thuế

• Các cá nhân hiện nay đang sống có thể không chú trọng nhiều lắm về phúc lợi của các thế hệ tương lai

Trang 19

• Tỷ lệ hiệu dụng ở đây là khoảng 2%, mặc dù muốn phân tích độ nhạy tốt sẽ cần phải cân nhắc các tỷ lệ từ 0% đến 4%.

3 Sử dụng tổ hợp rz, pz và tỷ lệ vay dài hạn i của chính phủ (khoảng 4%) trong đó mức giảm về đầu tư được chiết khấu với tỷ lệ cao nhất là rz và mức giảm về tiêu dùng được chiết khấu với tỷ lệ thấp hơn là pz

• Tổ hợp này thật thú vị, nhưng có thể quá phức tạp để áp dụng thực sự

4 Sử dụng giá bóng của vốn

• Giá bóng của vốn[3] là giá trị của một đơn vị đầu tư vốn Việc này mang lại một dòng lợi nhuận rz lợi tức hưởng suốt đời mà giá trị hiện tại của nó, được chiết khấu với tỷ lệ pz chính là giá bóng của vốn,

• Đây có vẻ gì đó là một phiên bản đơn giản hoá của giá bóng của vốn, và cuốn sách kết thúc bằng việc gợi ý một giá trị bằng khoảng 2

• Về cơ bản, để sử dụng giá này, hãy nhân các mức thay đổi của đầu tư khu vực tư nhân phát sinh bởi dự án với giá bóng của vốn, cộng với các mức thay đổi của tiêu dùng cá nhân và sau đó tính chiết khấu áp dụng tỷ lệ pz

• Một lần nữa, giá này thực sự quá phức tạp để áp dụng

5 Sử dụng các tỷ lệ chiết khấu theo thời gian giảm dần

• Đây là một gợi ý khá thực tế Về cơ bản, bạn nên áp dụng tỷ lệ chiết khấu thấp hơn (có thể bằng 0 hoặc thậm chí âm) để tính chiết khấu các năm xa nữa trong tương lai

• Điều này cho phép bạn tránh được những kết quả lúng túng như một giá trị hiện tại tương đối nhỏ gắn với sự huỷ diệt của thế giới sau này, ví dụ là 500 năm (ở mức 2%,

Trang 20

Trong thực tế, nếu bạn tiến hành các nghiên cứu chi phí - lợi nhuận trong một thế giới thực, có thể bạn sẽ được cho một tỷ lệ chiết khấu để áp dụng mà có thể có hoặc không có ý nghĩa gì cả Dự án bạn đang phân tích có thể quá tốt hoặc quá tồi đến mức mà tỷ lệ áp dụng để tính chiết khấu các chi phí và lợi nhuận tương lai có thể không tạo nên bất kỳ sự khác biệt nào cả.

Nếu là như vậy, việc thử hàng loạt các tỷ lệ và báo cáo các kết quả thu được của bạn cho tất cả sẽ giúp bất kỳ ai đọc báo cáo của bạn có ý niệm về các kết quả quả của bạn nhạy cảm như thế nào đối với các thay đổi về tỷ lệ chiết khấu được áp dụng

Đây cũng là một cách tốt để đánh giá tác giả của báo cáo có trách nhiệm đến mức nào.

Cuối cùng, cách đây một trăm năm, nhiều người dân ở nước Mỹ phải sống trong những căn nhà với sàn nhà bẩn thỉu và không có hệ thống ống nước trong nhà Cách đây năm trăm năm, điều kiện sống thậm chí còn tồi tệ hơn thế nhiều Nếu các bậc tiền bối tổ tiên của chúng ta có cơ hội làm cho cuộc sống dễ chịu hơn một chút nào

đó so với chúng ta, và nếu tôi, với tư cách là một người dân thuộc về tương lai đầu thế kỷ 21 có điều gì để nói về điều đó, tôi sẽ khuyến khích họ tiến lên và thực hiện ngay cơ hội này (TQ hiệu đính, chúng ta là thế hệ tương lai của các vị tiền bối, và đời sống của các vị tiền bối 100 trước rất là khó khăn, chúng ta không có quyền đòi hỏi các vị tiền bối phải nghĩ cho thế hệ tương lai là chúng ta Vậy thế hệ tương lai của chúng ta là bậc con cháu chúng ta, có quyền đòi hỏi chúng ta hy sinh hay

không???)

Các Kiểu PCC Khác Nhau

Phương thức đúng đắn để xác định xem nếu một dự án đáng để thực hiện là hãy nhìn vào Giá Trị Ròng Hiện Tại NPV Nếu bạn phải lựa chọn giữa hai hoặc nhiều hơn các

dự án độc quyền lẫn nhau, thì hãy lựa chọn dự án có NPV cao nhất

Tuy nhiên cũng có những chỉ số khác Đó là tỷ lệ chi phí/ lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận nội hoàn

Tỷ Lệ Chi Phí/ Lợi Nhuận (B/C):

Đây là giá trị hiện tại của lợi nhuận chia cho giá trị hiện tại của chi phí Nếu B/C > 1, thì dự án nên được thực hiện

Tỷ Suất Lợi Nhuận Nội Hoàn (Internal Rate of Return ~ IRR):

Đây là tỷ lệ lãi suất mà khiến cho NPV=0 Tỷ suất lợi nhuận nội hoàn được so sánh với tỷ lệ tới hạn i Nếu IRR > i, thì dự án nên được thực hiện

Trong khi NPV luôn cho những câu trả lời đúng, thì B/C và IRR lại không như vậy

B/C sẽ xác định chính xác các dự án đáng để thực hiện, nhưng IRR sẽ chỉ làm được điều này nếu dòng lợi nhuận ròng là thông thường, nghĩa là nếu lợi nhuận ròng bắt đầu âm và sau đó chuyển sang dương và giữ ở mức dương

Cả B/C và IRR sẽ không cần thiết phải lựa chọn chính xác trong số một vài các dự án độc quyền lẫn nhau

Trang 21

Các Vấn Đề Với B/C

1 Có thể được vận dụng bằng cách thay đổi các phân loại chi phí và lợi nhuận Hơi ngẫu nhiên khi coi một thứ gì đó là chi phí dương hoặc lợi nhuận âm và ngược lại Việc thay đổi này sẽ làm thay đổi B/C đã tính toán, nhưng sẽ không ảnh hưởng tới quyết định về việc liệu dự án có đáng để thực hiện hay không Điều này sẽ chỉ làm thay đổi các so sánh giữa các dự án

2 Quy mô tỷ lệ bị bỏ qua khi tính toán B/C, vì vậy bạn không thể nói gì nếu bạn đang tìm kiếm một dự án lớn hay một dự án nhỏ

Đập Nước Nhỏ có tỷ lệ chi phí/lợi nhuận cao hơn, nhưng Đập Nước Lớn lại có giá trị

hiện tại ròng lớn hơn

Cách B/C sẽ lựa chọn Đập Nước Nhỏ, mặc dù nó tạo ra tỷ lệ lợi nhuận ròng nhiều hơn

và là dự án đáng thực hiện hơn

Tại sao B/C được áp dụng thường xuyên như vậy?

1 Nó có thể giúp bạn có khái niệm hiểu về biên sai số (margin error) có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định

Trang 22

2 Đồng thời, các kỹ sư thích những con số phi đo lường và B/C không sự đo lường

Nó không được thể hiện bằng đồng đôla hay bảng Anh hay bất kỳ cái gì tương tự Nó đơn giản chỉ là một con số thô

Tỷ Suất Lợi Nhuận Nội Hoàn

IRR là tỷ lệ chiết khấu mà làm cho Giá trị Hiện tại Ròng NPV = 0

Nếu IRR > i thì đây là dự án nên được thực hiện

Nếu i=0.01 (1%) Giá trị Hiện tại Ròng NPV là âm, thâm chí dù IRR > i

Tuy nhiên, trong trường hợp này, IRR lớn hơn i=0.01 và do vậy, nó cho kết quả sai

2 Nó không có quy mô tỷ lệ Nó không cho phép bạn nói bất kỳ điều gì về dự án lớn đến mức nào

3 IRR có thể cho nhiều hơn một kết quả nếu dòng lợi nhuận là không thông

thường

VD:

Trang 23

Lợi nhuận ròng

hàm ý rằng hoặc r=1.00 hoặc r=2.00

4 Khi lựa chọn giữa hai dự án, IRR thậm chí không cho bạn kết quả đúng

Hãy xem xét hai dự án độc quyền lẫn nhau, A và B Mỗi dự án có một số chi phí ban đầu và lợi nhuận tương lai, và kết quả là, Giá Trị Hiện Tại Ròng NPV của mỗi dự án này sẽ giảm khi tỷ lệ chiết khấu áp dụng tăng

Chúng ta có thể tưởng tượng biểu đồ NPV của hai dự án này được biểu diễn như một hàm tỷ lệ chiết khấu áp dụng:

Việc IRR của dự án A nhỏ hơn IRR của dự án B là không liên quan Dự án nào được

ưu đãi hơn tuỳ thuộc vào tỷ lệ lãi suất áp dụng để tính toán NPV Với các tỷ lệ thấp hơn, dự án A là tốt hơn trong khi với các tỷ lệ cao hơn thì dự án B là tốt hơn

Trang 24

Xem Xét Các Loại Lợi Nhuận

Một xem xét bổ sung là, nếu tính hiệu dụng năng động không đạt được, thì giá trị biên mức tiêu dùng của xã hội có thể nhỏ hơn giá trị biên mức đầu tư Về bản chất, nếu có ý kiến mạnh mẽ rằng chi phí hay lợi nhuận có thể bị lệch so với mức tiêu dùng hay mức đầu tư, thì đáng để đo những giá trị này khác nhau và thay đổi trong tính toán Giá Trị Hiện Tại Ròng NPV

Ví dụ, nếu người ta cho rằng mức đầu tư bổ sung có giá trị 20% nhiều hơn mức tiêu dùng bổ sung, thì bất kỳ lợi nhuận hay chi phí nào làm tăng hoặc giảm mức đầu tư

sẽ được đo là 20% nặng hơn so với những lợi nhuận hay chi phí làm ảnh hưởng đến mức tiêu dùng

Câu hỏi: Phương trình 6A.7 (trang 147) cho rằng, "Nếu lợi nhuận ban đầu B1 tăng vô hạn định với một tỷ lệ cố định g và nếu tỷ lệ lãi suất bằng i, thì PV (giá trị hiện tại) được tính bằng … ":

Tính trung bình theo hàng năm cũng được áp dụng rất nhiều trong trường hợp các chi phí của dự án biến đổi qua một năm Nếu mỗi năm dự án cần thiết phải thực hiện lại dự án, thì đơn giản chỉ cần nhìn vào chi phí và lợi nhuận trong một năm là cách tiếp cận hợp lý có cơ sở để phân tích dự án

[1] Rate of Time Preference

[2] non-negative rate

[3] shadow price of capital

[4] Annualization

Trang 25

Bài giảng 2: Đánh giá Lợi nhuận và Chi phí khi tồn tại Giá

Thị trường

Dr Allen Bellas

Phương Hạnh

Đánh giá Lợi nhuận và Chi phí

Khó có thể miêu tả đầy đủ những cái gì sẽ là chi phí và lợi ích của một dự án Bạn phải liên hệ giá-trị (value) nào đó với những chi phí và lợi ích để có thể so sánh chúng với nhau Không có các giá-trị (value) tiền tệ, bạn chỉ so sánh quản cam với quả tào, hay điện tử với con người Và đó là việc so sánh không đồng thể; không đúng!!!

Trong một thế giới hoàn hảo, mọi thứ được trao đổi buôn bán trong một thị trường hiệu quả hoàn hảo với rất nhiều cạnh tranh, không có ngoại ứng, không bị đánh thuế, không có các chương trình trợ giá của chính phủ hay hạn chế nhập khẩu hoặc bất kỳ điều gì tương tự Mức sẵn lòng chi trả biên cho một loại hàng hoá sẽ bằng với chi phí cơ hội của sản xuất Một thị trường như vậy sẽ đem lại cho chúng ta

• Không công ty có cổ phiếu thị trường quá quan trọng

• Không có ngoại ứng

• Không thuế

• Không có hàng hoá không trao đổi

• Không những dự án "lớn" làm giá biến đổi

Với một thế giới tuyệt vời như thế giới này, nhưng thực tế thì khác Chúng ta phải xử

lý đánh giá hàng hoá bán ra bởi các hãng độc quyền đã tạo ra ngoại tác, bị đánh thuế, không được trao đổi buôn bán và thực hiện điều này trong ngữ cảnh của một

dự án có thể dẫn tới những thay đổi mạnh mẽ về chi phí đầu-vào và chất lượng hàng hoá cuối cùng cung cấp ra thị trường Đánh giá những điều này thật là quá khó.Nếu có thể liệt kê ra những vấn đề tiềm ẩn, chúng có thể bao gồm

1 Hàng hoá chịu thuế

2 Hàng hoá được cung cấp bởi các hãng nghiên cứu giá mà đối với họ, giá không ngang bằng với chi phí biên

3 Hàng hoá mà việc sản xuất hay tiêu thụ chúng sinh ra những ngoại tác

4 Hàng hoá chịu thuế Pigouvian với hy vọng giải quyết việc ngoại tác

Trang 26

5 Hàng hoá được bán với một mức giá không phải là mức lợi nhuận tối đa hay để tống tháo hết trên thị trường

6 Hàng hoá phát miễn phí cho ai đến trước

7 Hàng hoá không có thị trường tiêu thụ

8 Hàng hoá chỉ có thị trường gián tiếp, và chỉ một số người thực sự tham gia vào những thị trường này

Hai quy tắc cơ bản là:

1 Khi dự án giảm số lượng đầu-vào có sẵn cho những người khác, hãy áp dụng sự sẵn lòng chi trả của họ (như được thể hiện bởi đường cầu) như là một giá-trị (value)

2 Khi dự án tăng số lượng đầu-vào mà thị trường phải sản xuất, hãy áp dụng chi phí biên là giá-trị (value) của đầu-vào cần bổ sung

Đánh Giá Chi Phí và Đầu-vào của Dự Án

Một dự án sẽ tăng nhu cầu về đầu-vào của mình Dự tính chi phí cho tập hợp những đầu-vào này sẽ phụ thuộc vào bản chất của thị trường mà trong đó chúng được giao dịch buôn bán Chúng ta sẽ bắt đầu với một vài trường hợp đơn giản hơn và sau đó tiến tới các tình huống thử thách hơn

Điển hình, chúng ta sẽ giả sử rằng đường cung và cầu gần như là đường thẳng để dễ tính toán hơn Điều này có thể không đúng, nhưng nó là phép xấp xỉ tốt và nó gợi lại câu chuyện cười xa xưa về một nhà kinh tế tìm kiếm chìa khoá của mình

1 Cung co giãn, thị trường lớn hay dự án nhỏ

Nếu đường cung cho một đầu-vào co giãn một cách hoàn hảo hoặc nếu số lượng cầu của dự án là rất nhỏ so với thị trường và không có thuế hay những ngoại tác, và giá bằng với chi phí biên, thì giá của hàng hoá có thể đơn giản được coi như là chi phí Chi phí đầu-vào sẽ bằng với số lượng được sử dụng nhân với giá

VD: Một dự án sẽ dùng tới 100 gallons xăng dầu, bốn cuộn băng keo và 20 giờ lao

động phổ thông sẽ không gây tác động đến bất kỳ thị trường nào trong số những thị trường này, do vậy giá thị trường hiện tại sẽ định giá chi phí của những đầu-vào này

VD: DDT được giao dịch buôn bán trên những thị trường lớn của thế giới với mức giá

ổn định là $40/tấn, tính ổn định đó là do một thực tế là các nhà máy sản xuất sữa bột nhân tạo cho trẻ em có thể được chuyển đổi qua thành sản xuất DDT (và ngược lại) chỉ nhanh chóng qua một đêm Một dự án phun thuốc toàn bộ khu vực phía tây Washington với hy vọng ngăn chặn sự lây nhiễm bệnh sốt rét sẽ sử dụng một lượng lớn DDT, nhưng bởi vì cung là co giãn cơ bản hoàn hảo, cho nên giá sẽ không tăng lên

Trang 27

2 Cung không co giãn

Nếu đương cung đầu-vào là không co giãn một cách hoàn hảo (ví dụ, giống như cung

về đất đai), thì việc áp dụng nó trong một dự án sẽ làm giảm một cách hiệu quả số lượng có sẵn cho những sử dụng khác Điều này sẽ làm dịch chuyển đường cong cung dịch sang bên trái, làm giá tăng lên Do vậy, sẽ có 2 mức giá Một giá sẽ là mức trước khi mua đầu-vào cho dự án và giá kia sẽ là mức sau khi mua đầu-vào cho dự án

Ví dụ, có thể giành được đất đai theo 2 cách: mua hẳn hoặc thu hồi đất bằng quyền chính phủ lấy tài sản riêng vào việc công sau khi đã đền bù thoả đáng

Nếu chính phủ mua đầu-vào trong một thị trường, thì bạn nên áp dụng mức trung bình 2 giá để định giá đất đai sử dụng cho dự án Điều này giả định rằng các đơn vị

đã mua sẽ được mọi người định giá thấp nhất cho các sử dụng khác Trong trường hợp này, nếu đầu-vào được mua với giá hậu dự án ( p2 hơn là p1 ), các khoản chi tiêu

sẽ phóng đại chi phí thật của đầu-vào

Khi mua đất, chi phí có thể sẽ là (q - q')p2 Số tiền này không liên quan đến phân tích chi phí - lợi nhuận đúng cách thức

Chi phí đúng cho đất sử dụng sẽ là

Trang 28

Nếu đầu-vào được lấy dưới dạng quyền chính phủ (lấy tài sản riêng vào việc công sau khi đã đền bù thoả đáng), thì không bảo đảm rằng các đơn vị có giá-trị (value) thấp nhất sẽ được sử dụng Có thể có trường hợp tịch thu đất đai của một người mà

họ rất yêu quý ngôi nhà, vườn tược của mình, hoặc đơn giản giá-trị (value) đúng của

nó quy ra tiền tại điểm mà đường cầu cắt với trục tung

Nghĩ về vấn đền này theo cách khác, hãy coi mỗi điểm trên đường cong cầu về đất đai trong khu vực là mức định giá biên của một người về lô đất nhỏ mà họ đang sở hữu Một số người định giá lô đất của họ gần bằng với giá thị trường (có những điểm trên đường cong cầu gần bằng giá thị trường) trong khi những người khác định giá cao hơn nhiều (có những điểm trên đường cong cầu gần trục tung)

Kết quả là, giá thị trường hiện tại không nhất thiết phải là một chỉ số biểu thị giá-trị (value) các đơn vị được sử dụng trong trường hợp đất được thu hồi bằng quyền chính phủ (lấy tài sản riêng vào việc công sau khi đã đền bù thoả đáng) Định giá đất sử dụng là số trung bình của p và p' (có thể được chính thức chấp nhận như là "giá-trị (value) thị trường công bằng") sẽ dẫn đến một giá-trị (value) quá thấp

Trong trường hợp này, khó có thể phỏng đoán giá-trị (value) thích hợp của đất sử dụng Một phỏng đoán hợp lý cho mỗi đơn giá có thể là số trung bình của giá-trị (value) thị trường và giá dự trữ (giá-trị (value) biên cao nhất áp dụng cho đất trong khu vực) Tổng giá-trị (value) đất đai sử dụng khi đó sẽ là

Trang 29

VD: Uỷ ban Sân vận động Ballard Stadium đang thu dụng đất để xây mới sân vận

động mang tên Whirlydome tại Ballard Kết quả của việc họ mua đất, giá đất tại Ballard sẽ tăng lên từ $2.3M lên $2.8M / một mẫu SVĐ Whirlydome sẽ cần tới 20 mẫu đẩt

Nếu uỷ ban mua đất từ những người sẵn sàng bán, thì nên định giá đất ở mức là

, bất chấp thực tế là họ sẽ có thể trả tới

$56 triệu để mua đất

Nếu uỷ ban thu hồi đất thông qua quyền chính phủ, thì giá-trị (value) này sẽ quá thấp

3 Đường cung dốc đi lên và dự án lớn

Nếu đường cung dốc đi lên, thì chi phí đầu-vào sẽ xảy ra 2 trường hợp Cầu tăng do

có dự án sẽ làm tăng số lượng đầu-vào cung cấp cho thị trường, bên cạnh đó lại làm giảm số lượng nhu cầu của những khách hàng không phải là dự án Kết quả là, giá-trị (value) hàng hoá tiêu thụ bởi những người khác bị giảm cũng như chi phí cung cấp số lượng bổ sung cho dự án bị tăng lên

Mức giảm trong tiêu dùng tư nhân phải được định giá theo giá-trị (value) biên gốc ban đầu hoặc đường cong cầu Mức tăng về chi phí để sản xuất nhiều đầu-vào hơn phải được định giá theo chi phí biên hoặc đường cong cung

Đầu-vào phải được định giá là số trung bình của p1 và p2 nhân với số lượng dùng cho

dự án

Trang 30

VD: Một dự án sẽ sử dụng 1500 đơn vị hàng hoá với cầu được tính bằng

Qd=6500-(3P/2) và cung được tính bằng Qs=(P/2)-500 Hãy tính chi phí đầu-vào này

Giá ban đầu là 3500 và số lượng ban đầu là 1250

Đường cầu mới là Qd'=6500+150-4(P/2) = 8000 - (3P/2)

Giá mới là 4250 và số lượng mới là 1625

Mức tiêu dùng cá nhân, không phải là dự án sẽ giảm từ 1250 đơn vị (trước khi có dự án) xuống còn 125 đơn vị (trong thời gian thực hiện dự án)

Giá-trị (value) đúng tính cho đầu-vào này là

4 Dự án nhỏ chịu thuế

Nếu có doanh thu đơn thuần từ thuế do chính phủ quy định, vấn đề có nên bao gồm

số tiền thuế trong chi phí đầu-vào tuỳ thuộc vào việc liệu chính phủ có vị trí trong trong bản phân tích hay không Nếu chính phủ có, thì số tiền nộp thuế chỉ đơn thuần

là bước chuyển đổi từ cơ quan thực hiện dự án sang chính phủ và đó không phải là chi phí, vì vậy chi phí đầu-vào chỉ là giá không bao gồm thuế Trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, đó gọi là chi phí sản xuất biên

Trang 31

Vì vậy, nếu một thị trường là cạnh tranh đầy đủ, giá mà nhà cung cấp nhận được (PRBS) có thể bằng xấp xỉ sát với chi phí biên, nếu chính phủ có vị trí trong bản phân tích, đây là chi phí thực để áp dụng cho đầu-vào.

Mặt khác, nếu chính phủ không có vị trí trong bản phân tích, thì số tiền nộp thuế chính là chi phí và phải được tính là như vậy Do đó, giá bao gồm thuế hay giá mà người tiêu dùng phải trả (PPBC) phải được áp dụng như là chi phí đầu-vào

5 Dự án nhỏ sử dụng đầu-vào được cung cấp bởi một hãng độc quyền

Nếu hàng hoá sử dụng trong dự án được cung cấp bởi một ngành công nghiệp không

bị cạnh tranh (ví dụ bởi một hãng độc quyền), thì giá trả cho hàng hoá đó có thể cao hơn chi phí biên (MC) Sự chênh lệch giữa giá và chi phí biên (MC) chính là thu nhập

mà nhà cung cấp thu được từ việc bán một đơn vị đầu-vào, do vậy nảy sinh thêm một câu hỏi là liệu số tiền bổ sung thêm (Giá - Chi phí biên) là sự chuyển đổi hay là chi phí Nếu nhà cung cấp có vị trí trong bản phân tích, thì số tiền phải trả thêm đó chỉ đơn thuần là bước chuyển đổi và chi phí biên sản xuất mới là chi phí của hàng hoá Nếu nhà cung cấp không có vị trị trong bản phân tích, thì số tiền Giá trừ đi Chi phí biên (P-MC) là một phần của chi phí và toàn bộ giá là chi phí của đầu-vào

VD:

Kết hợp #4 và #5: Một dự án nhỏ sử dụng đầu-vào chịu thuế và được cung cấp bởi một hãng độc quyền

1 Tưởng tượng dự án sẽ sử dụng một số lượng nhỏ xăng dầu Giá xăng dầu là

$1.40/gallon, bao gồm tiền thuế $0.40/gallon Tuy nhiên, thị trường xăng dầu không

có cạnh tranh , và chi phí biên sản xuất là $0.80 Chi phí phù hợp áp cho một gallon xăng dầu sẽ tuỳ thuộc vào việc liệu chính phủ và các nhà cung cấp xăng dầu có vị trí trong bản phân tích hay không

Trang 32

Chính phủ và các Công ty Dầu lửa $0.80

Các Công ty Dầu lửa $0.80 + $0.40 = $1.20

2 Tưởng tượng một dự án bị yêu cầu phải sử dụng lao động thành viên công đoàn,

và lao động này chịu thuế thu nhập Mức lương phổ biến trong khu vực dành cho lao động không tham gia công đoàn là $8/giờ trong khi lương dành cho lao động thành viên công đoàn là $10/giờ và tỷ xuất đánh thuế thu nhập là 25% do công ty thuê lao động chi trả Nếu chính phủ có vị trị trong bản phân tích, thì thuế sẽ không bao gồm trong chi phí

Vị trí trong bản phân tích Chi phí

Chính phủ và Công đoàn $ 6.00/giờ ($8 x (1-0.25))

Chính phủ $ 7.50/giờ ($10 x (1-0.25))

Công đoàn $ 8.00/giờ

Không ai cả $10.00/giờ

6 Những dự án lớn trên các thị trường chịu thuế

Nếu có đơn thuần thu nhập từ thuế (không phải những ngoại tác) đánh vào đầu-vào, thì giá hiện hành bao gồm thuế thể hiện mức sẵn lòng chi trả biên và khu vực bên dưới đường cầu phải được sử dụng để đánh giá những giảm sút trong tiêu thụ không thuộc dự án trong khi chi phí biên sản xuất (hoặc khu vực bên dưới đường cong cung) phải được sử dụng để đánh giá chi phí sản xuất bổ sung Mức thuế phải trả cho đầu-ra (output) bổ sung đơn giản là một bước chuyển đổi, và do vậy, không được bao gồm trong phân tích

Biểu đồ này thể hiện minh hoạ rõ nhất cho nguyên tắc là

1 Khi dự án giảm số lượng đầu-vào sẵn có cho những người khác, hãy áp dụng mức sẵn lòng chi trả của họ (như được thể biện bởi đường cong cầu) như là một giá-trị (value)

2 Khi dự án tăng số lượng đầu-vào mà thị trường phải sản xuất, hãy áp dụng chi phí biên làm giá-trị (value) đầu-vào bổ sung

Hình bình hành trên khu vực "Chi phí cho phần sản xuất tăng thêm" (The cost of increased production) là mức thuế phải nộp cho các đơn vị bổ sung được sản xuất và

nó không được bao gồm như là một chi phí bởi vì nó đơn giản chỉ là một bước chuyển đổi

Trang 33

VD: Một dự án sẽ sử dụng một lượng lớn thuốc lá để xây dựng một chiếc cầu Thuốc

lá xì gà chịu mức thuế là $1.00/bao và một tỷ bao thuốc lá sẽ được sử dụng để thi công cây cầu Kết quả của việc xây cầu là giá xì gà bao gồm thuế sẽ tăng từ $2.00 lên $2.30 mỗi bao và dự kiến mức tiêu thụ của những người tiêu thụ cá nhân sẽ giảm đi 200 triệu bao Vậy nên áp mức giá nào cho đầu-vào này?

Câu trả lời là mức giảm sút trong tiêu thụ cá nhân (200 triệu bao) nên được định giá bằng số trung bình của 2 mức giá bao gồm thuế, hay bằng $2.15 Mức tăng trong sản xuất (800 triệu) nên được định giá không bao gồm thuế là bằng $1.15 Tổng chi phí của đầu-vào sẽ là $430M + $920M=$1350M

Tổng chi phí để mua số xì gà này, bao gồm cả tiền thuế, sẽ là $2.30*1 tỷ = $2300 triệu, nghĩa là lớn hơn rất nhiều chi phí thực tế nên được áp dụng trong phân tích chi phí - lợi nhuận Nếu thuế không được bao gồm trong con số này, tổng chi phí sẽ là

$1300 triệu, cũng là không đúng

7 Thuế liên quan đễn những ngoại ứng: Thuế Pigouvian

Nếu có một mức thuế bằng với thiệt hại biên từ một ngoại ứng, thì giá bao gồm thuế nên được áp dụng để tính cả mức giảm trong tiêu thụ và chi phí cho đầu-ra (output)

bổ sung, do vậy chi phí đầu-vào sẽ được mô tả như sau:

Trang 34

VD: Chi phí cho Chăm sóc Y tế

Chi phí chăm sóc y tế chiếm tỷ phần rất lớn trong Tổng Sản Lượng Nội địa (GDP) Tuy nhiên, thước đo thích hợp tỷ phần của toàn bộ sản lượng chăm sóc y tế thực sự

là chi phí biên của thực hiện chăm sóc y tế Trên thực tế, nếu giá và chi phí biên không bằng nhau trong lĩnh vực chăm sóc y tế, thì mức chênh lệch (lợi nhuận của người cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế) chỉ là một bước chuyển đổi từ người tiêu dùng sang người sản xuất và, nếu cả hai đều có vị trí trong bản phân tích, thì thực sự không nên bao gồm nó như là một phần của chi phí chăm sóc y tế ở nước Mỹ

VD: Chế độ quân dịch

Nước Mỹ hiện nay không thực hiện chế độ quân dịch, nên chính phủ phải thuê người phục vụ trong quân ngũ Do những người này được thuê thông qua các thị trường lao động phù hợp, nên mức lương trả cho họ là thước đo chi phí cơ hội thời gian của họ

và có thể là thước đo phù hợp chi phí lao động của họ như là đầu-vào của sản lượng quốc phòng Nếu thay vào đó tồn tại chế độ quân dịch mà theo đó, mọi người bị bắt buộc phải phục vụ trong quân ngũ, thì số tiền trả họ cho việc phục vụ bắt buộc sẽ có thể ở mức đánh giá thấp hơn chi phí cơ hội cho việc phục vụ quân ngũ của họ Xét từ quan điểm của Bộ Quốc phòng, chế độ quân dịch có thể làm giảm chi phí cho quốc phòng, nhưng xét về quan điểm xã hội, nó chắc chắn sẽ làm tăng chi phí quốc

phòng

Bài tập trên lớp

1 Hãy vẽ biểu đồ về một dự án lớn mua đầu-vào của hãng độc quyền

2 Hãy vẽ biểu đồ về một dự án lớn mua đầu-vào mà việc sản xuất đầu-vào đó dẫn đến một ngoại tác âm

Trang 35

3 Hãy vẽ biểu đồ về một dự án lớn mua đầu-vào mà việc sản xuất đầu-vào đó dẫn đến một ngoại tác dương.

Đánh giá đầu-ra (output) của dự án

Một dự án sẽ làm tăng mức cung đầu-ra (output) tương ứng với mức trước khi có dự

án Việc đánh giá giá-trị (value) đối với xã hội của những đầu-ra (output) này sẽ phụ thuộc vào bản chất của thị trường trong đó chúng được giao dịch buôn bán

Điển hình, chúng ta sẽ giả định đường cung và cầu gần như là đường thẳng nhằm giúp việc tính toán dễ dàng hơn

1 Cầu co giãn hay một dự án nhỏ

Nếu cầu co giãn một cách hoàn hảo hoặc nếu số lượng được cung cấp bởi dự án là rất nhỏ so với thị trường, thì đúng là chỉ sử dụng giá thị trường như là giá-trị (value) đầu-ra (output)

2 Cung không co giãn một cách hoàn hảo

Nếu cung không co giãn một cách hoàn hảo và dự án làm tăng cung với một đường cong cầu dốc đi xuống, thì giá-trị (value) đầu-ra (output) là khu vực bổ sung bên dưới đường cong cầu Lợi nhuận được tính bằng số trung bình của 2 giá p1 và p2

Trong khi không thể biết chắc chắn giá sau khi thực hiện dự án là bao nhiêu, có thể

dự tính được mức giá đó nếu bạn biết dự án sẽ lớn như thế nào so với thị trường và

độ co giãn về giá cầu là bao nhiêu

Trang 36

Ví dụ, nếu độ co giãn về giá cầu là -1.2 và dự án sẽ làm tăng số lượng cung cấp cho thị trường thêm 10%, thì sẽ hợp lý để giả địng rằng giá sẽ giảm đi 12%.

3 Cung dốc đi lên (một dự án lớn)

Nếu cung dốc đi lên, thì một lần nữa, giá áp dụng để đánh giá đầu-ra (output) bổ sung là số trung bình của hai giá Giá-trị (value) đầu-ra (output) của dự án bằng giá-trị (value) của đầu-ra (output) bổ sung (qtotal-q0) cộng với số tiền tiết kiệm chi phí nhờ mức giảm trong sản sản hàng hoá không thuộc dự án (q0-qpriv)

Bạn nên lưu ý rằng dự án sẽ làm tăng tổng cung và làm giảm giá thị trường Kết quả của việc giảm giá thị trường này sẽ làm giảm đầu-ra (output) của các nhà cung cấp không thuộc dự án, có thể có nghĩa là một vài người trong số họ bị vỡ nợ phá sản

Một lần nữa, phải lưu ý rằng sản xuất tư nhân sẽ giảm từ q0 trước khi có dự án xuống là qpriv sau khi có dự án Phía bên tay trái của khu vực này là lợi nhuận từ việc tiết kiệm chi phí nhờ mức giảm trong sản xuất tư nhân (mà sẽ có thể được đền bù bằng chi phí của dự án) Phía bên tay phải là giá-trị (value) áp dụng cho đầu-ra (output) bổ sung nảy sinh do có dự án

VD: Tưởng tượng cho cung và cầu đối với một hàng hoá theo phương trình QD2P và QS=P-700 và dự án sẽ sản xuất ra sản lượng đầu-ra (output) là 300 đơn vị hàng hoá này để bán trong một thị trường thông thường Giá-trị (value) của đầu-ra (output) này là bao nhiêu?

Trang 37

=2000-Mức giá cân bằng ban đầu được tính là

Giá-trị (value) đầu-ra (output) bằng số trung bình của hai giá, là $850/đơn vị Đối với 300 đơn vị thì sẽ là $255,000

4 Những dự án lơn trong một thị trường chịu thuế

Nếu hàng hoá sản xuất ra thông thường là chịu thuế, thì sản lượng đầu-ra (output)

bổ sung sẽ được tính theo đường cầu trong khi mức giảm của cung tư nhân sẽ được tính theo đường cong cung, không bao gồm thuế

Trang 38

5 Hỗ trợ giá và những thứ khác

Nếu hàng hoá do một dự án sản xuất ra được hưởng hỗ trợ giá từ chính phủ, thì giá thực sự chẳng nói lên điều gì với bạn về giá-trị (value) của sản lượng đầu-ra (output) Một vài người có thể nói rằng một phỏng đoán tốt là 0, đặc biệt nếu chính phủ mua

số dư thừa với mức giá hỗ trợ và cất chúng đi trong một hang động nơi nào đó

Bài tập

Hãy vẽ theo số liệu cho như sau

1 Giá-trị (value) sản lượng đầu-ra (output) của một dự án lớn khi mức tiêu thụ sản phẩm đầu-ra (output) đó dẫn đến ngoại tác âm

2 Giá-trị (value) sản lượng đầu-ra (output) của một dự án lớn khi có cung cấp độc quyền sản phẩm đầu-ra (output) đó

Đánh Giá các Sản Lượng Đầu-Ra Được Phân Phối Phi Thị Trường

Nếu đầu-vào và đầu-ra (output) được mua và phân phối thông qua một thị trường đích thực, thì giá thị trường là chỉ số tin cậy phản ánh giá-trị (value) Tuy nhiên, nếu chúng được lấy vào miễn cưỡng hoặc bán rẻ cho không, thì giá không phản ánh một chỉ số chính xác

Nếu lấy đầu-vào thông qua quyền chính phủ (lấy tài sản riêng vào việc công sau khi

đã đền bù thoả đáng) thì giá thị trường sẽ thấp hơn giá-trị (value)

Trang 39

Nếu đầu-ra (output) được bán rẻ cho không, thì giá thị trường sẽ cao hơn giá-trị (value).

Về cơ bản, nếu bạn lấy hay phân phối đầu-vào hoặc sản phẩm thông qua các hình thức phi thị trường và sau đó áp dụng giá-trị (value) thị trường để tính toán, thì giá-trị (value) thị trường sẽ khiến cho dự án trông có vẻ tốt đẹp hơn thực tế Điều này mục tiêu tìm kiếm trong các nghiên cứu mà bạn phê bình

Một chút thực tế khó chịu là, nếu đầu-ra (output) được đánh giá dựa trên mức sẵn lòng chi trả, việc bán các sản phẩm đầu-ra (output) cho những người giàu sẽ làm tối

đa hoá giá-trị (value) lợi nhuận Ví dụ, nếu dự án đang đề cập đến là một dự án về xây dựng nhà và các đơn vị nhà ở thành quả sau đó được bán hoặc cho thuê cho những người bỏ thầu giá cao nhất, thì lợi nhuận của dự án sẽ đạt mức cao nhất.Tuy nhiên, điều này không thể giải quyết phúc lợi xã hội ở mức cao nhất

Hãy xét xem một dự án dự định sẽ xây dựng 20 ngôi nhà cho người có thu nhập thấp

ở Seattle Tiền thuê điển hình cho một đơn vị nhà tương tự trong khu vực là

$700/tháng Dự án này thể hiện mức tăng không đáng kể về số lượng các ngôi nhà trong khu vực, và ngoài ra, các đơn vị nhà sẽ để dành cho những người được lựa chọn thuê với mức thuê là $300/tháng Vậy những đơn vị nhà này nên được định giá bao nhiêu?

Thế đấy, nếu các đơn vị nhà được thuê theo đúng toàn bộ giá thị trường, chúng sẽ được định giá là $700 Điều này sẽ tối đa hoá lợi nhuận ròng của dự án, bởi vì đầu-ra (output) sẽ được bán cho những người có mức sẵn lòng chi trả cao nhất Tuy nhiên, đây không phải là cách các lợi nhuận sẽ được phân bổ

Trang 40

Bởi vì có một vài nguyên tắc phân bổ khác, chúng ta thực sự không thể nói chắc chắn rằng những người thực tế đã lấy căn hộ sẽ định giá chúng như thế nào Chúng

ta chỉ có thể phỏng đoán rằng, nếu họ vẫn chưa thuê được nhà trong khu vực, thì họ

sẽ định giá nhà ở mức thấp hơn $700 (mức trước đây) nhưng cao hơn $300 (mức giá

họ sẽ phải trả) Kết quả là, mức giá-trị (value) trung bình, ví dụ là $500 có thể là một phỏng đoán tốt

Điều này không phải để nói rằng tất cả các sản phẩm được sản xuất bởi các dự án công cộng cần phải được bán trên thị trường Nó có thể là những người nhận được căn hộ theo một số hệ thống phân bổ lựa chọn có tầm quan trọng xã hội biên lớn hơn hoặc thu nhập độ thoả dụng biên lớn hơn so với của những người có căn hộ theo phân bổ thị trường Nếu đúng là trường hợp này, và nếu sự chênh lệch về tầm quan trọng xã hội là đủ lớn, thì phúc lợi xã hội (hơn là lợi nhuận ròng) có thể lớn hơn nếu hàng hoá được tạo ra bởi dự án được phân phối theo phương án thay thế lựa chọn Tất nhiên, điều này giả định trước mức độ tin tưởng về cơ cấu phân phối thay thế

Định Giá Đầu-Ra (Output) thông qua Thị Trường Thứ

Cấp (secondary market)

Về mặt lý tưởng, bạn nên định giá trực tiếp đầu-ra (output) của một dự án Có nghĩa

là, bạn nên nhìn vào số tiền mọi người sẵn sàng trả cho nó Tuy nhiên, nếu không có cách nào tốt hơn để làm điều này, bạn có thể buộc phải định giá đầu-ra (output) hay lợi nhuận của dự án tại thị trường thứ cấp (secondary market) Đó là, bằng cách đánh giá các thu nhập bổ sung từ giao dịch buôn bán tại một thị trường thứ cấp phát sinh từ dự án đang được thực hiện

Nó có thể là trường hợp mà dự án không thực sự sản xuất ra bất kỳ đầu-ra (output) nào, nhưng thay vào đó giúp làm giảm chi phí cho các nhà cung cấp tư nhân tại thị trường thứ cấp Giá-trị (value) của dự án sẽ chính là các thu nhập bổ sung từ giao dịch buôn bán trên thị trường những loại hàng hoá mà chi phí của chúng đã được giảm:

Ngày đăng: 17/10/2013, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình bình hành trên khu vực &#34;Chi phí cho phần sản xuất tăng thêm&#34; (The cost of  increased production) là mức thuế phải nộp cho các đơn vị bổ sung được sản xuất và  nó không được bao gồm như là một chi phí bởi vì nó đơn giản chỉ là một bước chuyển - Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
Hình b ình hành trên khu vực &#34;Chi phí cho phần sản xuất tăng thêm&#34; (The cost of increased production) là mức thuế phải nộp cho các đơn vị bổ sung được sản xuất và nó không được bao gồm như là một chi phí bởi vì nó đơn giản chỉ là một bước chuyển (Trang 32)
Hình 4-4 minh hoạ một công ty độc quyền với đường chi phí cận biên MC của việc  cung cấp một đầu-vào - Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
Hình 4 4 minh hoạ một công ty độc quyền với đường chi phí cận biên MC của việc cung cấp một đầu-vào (Trang 76)
Hình 4-2 mô tả tác động của một dự án lớn lên thị trường một đầu-vào bị đánh thuế. - Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
Hình 4 2 mô tả tác động của một dự án lớn lên thị trường một đầu-vào bị đánh thuế (Trang 94)
Hình 4-3 mô tả tác động của một dự án đối với thị trường của một đầu-vào mà việc  sản xuất đầu-vào này tạo ra tác động ngoại ứng tiêu cực - Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
Hình 4 3 mô tả tác động của một dự án đối với thị trường của một đầu-vào mà việc sản xuất đầu-vào này tạo ra tác động ngoại ứng tiêu cực (Trang 98)
Hình WW-1 mô tả các tác động của một thay đổi trong mức tiêu dùng lên độ thoả  dụng cá nhân - Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
nh WW-1 mô tả các tác động của một thay đổi trong mức tiêu dùng lên độ thoả dụng cá nhân (Trang 116)
Hình vẽ này mô tả quá trình định giá cho chương trình muối. Cho một người 1000  đơn vị muối chỉ có giá trị thực là $500 nếu không thể bán lại được số muối này - Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
Hình v ẽ này mô tả quá trình định giá cho chương trình muối. Cho một người 1000 đơn vị muối chỉ có giá trị thực là $500 nếu không thể bán lại được số muối này (Trang 120)
Bảng III. So sánh giữa KH và AM *, Các Giá trị Hiện tại của Được và Mất - Giới Thiệu Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích
ng III. So sánh giữa KH và AM *, Các Giá trị Hiện tại của Được và Mất (Trang 137)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w