1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Trái cây nhiệt đới

106 1,7K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trái cây nhiệt đới
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trái cây nhiệt đới

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Lời giới thiệu ……….… 2

Một số loại quả nhiệt đới ……… 3

1 Dứa……….……… 6

2 Xoài ……….20

3 Chôm chôm……….29

4 Nhãn……… 33

5 Vải………39

6 Chuối……….44

7 Đu đủ……….61

8 Ổi………68

9 Sầu riêng……….73

10 Mít……….… 83

11 Na(mãng cầu)……… …89

12 Măng cụt……… …98

Tài liệu tham khảo……… ……102

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU

Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, trải dài vĩ tuyến từ vĩ độ 8o bắc đến vĩ độ 23o 22’ bắc với khí hậu nhiệt đới gió mùa; lại có nhiều cao nguyên và vùng núi caonhư Sapa (Hoàng Liên Sơn), Tam Đảo (Vĩnh Phú ), Đà Lạt (Lâm Đồng) với khí hậu mang sắc thái ôn đới Vì tính đa dạng của khí hậu và thổ nhưỡng nên thực vật nói chung, rau quả nói riêng của nước ta rất phong phú : nhiệt đới , cận nhiệt đới , ôn đới Rau quả của nước ta có quanh năm, mùa nào thức nấy rải rác khắp nơi hoặc tập trung thành từng vùng chuyên canh, để tiêu thụ tại chỗ hoặc cung cấp cho các thành thị, khu công nghiệp, cho xuất khẩu và chế biến công nghiệp

Dưới đây xin trình bày một số loại rau quả đặc trưng của vùng nhiệt đới được sử dụng nhiều trong chế biến thực phẩm và xuất khẩu

Trang 3

MỘT SỐ LOẠI QUẢ NHIỆT ĐỚI

Bảng 1: Một số loại quả nhiệt đới

Chuối rẻ quạt Ravenala

madagascariensis

Trang 4

Dứa mập Pandanus odortissimus - - 9 III - VIII THU, AND

Nhãn rừng Dimucarpus fumatus

-Nhãn mã lai Dimocarpus longan

-Nhãn mọi Nam Bộ

var.obtusus

Bảng 2 : Bảng chú thích họ

Họ (ký hiệu) Họ (tên khoa học) Họ (tên Việt Nam)

STRELI Strelitziaceae M Thiên điểu (chuối rẻ quạt)

D – ngành hạt kín, lớp 2 lá mầm

Trang 5

M – ngành hạt kín, lớp 1 lá mầm

Trang 6

Bảng 3: Bảng chú thích vùng

Thiên-HuếIII Đồng bằng sông

V Duyên hải miền

Minh

VIII Đồng bằng sông

Cửu Long

Bảng 4: Bảng chú thích công dụng của cây

AND Ăn được ( lá, thân, củ, hoa, quả…)

Trang 7

1 Dứa :

Dứa là một loại quả nhiệt đới hàng đầu, rất được ưa chuộng ở phương Tây, và cùng với xoài dứa được mệnh danh là” vua hoa quả “ Dứa có đủ những đặc tính của một loại quả ngon theo tiêu chuẩn của người phương Tây : mùi thơm mạnh, hấp dẫn, độ ngọt cao và luôn đi đôi với một độ chua không bao giờ thiếu Theo thống kê vào khoảng 1986 -1988, sản lượng dứa thu hoạch hàng năm đứng vào hàng thứ 6 trên thế giới Tại Việt Nam nghề trồng dứa ngày càng phát triển, dứa được sử dụng ngày càngnhiều và đa dạng Những người nội trợ xem dứa như một gia vị để nấu canh, hay trongnhững món xào, dứa cũng là một loại quả ăn tươi rất có giái trị Trong chế biến công nghiệp người ta sử dụng dứa để sản xuất các loại nước quả, kẹo, bánh, mứt dứa

Năng suất:1986-1988: 10.354.000 tấn/năm; đứng thứ 6 sau nho, quả có múi ,

chuối, táo, xoài

Diện tích gieo trồng ở Việt Nam:

- 1976: 16800 ha

- 1990: 44000ha

Sản lượng (1990): 467.851 tấn (miền Nam 424.326 tấn) với năng suất:

- Miền Nam: 144 tạ/ha

- Miền Bắc: 46 tạ/ha

1.1 Nguồn gốc :

Dứa thuộc họ Bromeliaceae sống chủ yếu ở Mỹ Latinh nhất là Brazil Trong họ có nhiều cây khí sinh ( sống trong không khí), có rễ khí sinh, dễ dàng hút sương, mưa nhỏ và các chất hòa tan trong đó.Trên thế giới, dứa được trồng ở tất cả các nước nhiệt đới và một số nước á nhiệt đới có mùa đông ấm, tập trung nhất là ở Ha-oai(33%sản lượng thế giới), Thái Lan (16%), Braxin (10%), và Mêhicô (9%) Ở miền Bắc Việt Nam, dứa có nhiều ở Vĩnh Phú, Hà Bắc, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, ThanhHóa và Nghệ An

- Nhóm Tây Ban Nha (Spanish) : trái lớn hơn dứa Queen, mắt quả to và sâu.Thịt quả vàng nhạt, có chỗ trắng, vị chua, ít thơm nhưng nhiều nước hơn dứa hoa Dứa ta, dứa mật, thơm thuộc nhóm này Nhóm này có chất lượng kém nhất, được trồng lâu đời và tập trung ở khu vực Liễn Sơn (Tam Dương,Vĩnh Phú)

Trang 8

- Nhóm Caien (Cayenne) : Quả lớn nhất, mắt phẳng và nông Thịt quả kém vàng, nhiều nước, ít ngọt và kém thơm hơn dứa Queen Dứa độc bình, thơmtây thuộc nhóm này Vì phù hợp với chế biến công nghiệp, nhóm Caien được trồng ở hầu hết các vùng dứa lớn trên thế giới (Thái Lan, Haoai, Philippin ……), nhưng lại rất ít thấy ở Việt Nam.

Bảng 2: Vùng trồng – đặc tính chung của các giống thuộc 3 nhóm dứa trồng chủ yếu ở Việt Nam :

Nhóm Cayenne (1) Nhóm Spanish (2) Nhóm Queen (3)Vùng trồng chính Tất cả các vùng

trồng trên thế giới :Haoai, Philippines, Thái Lan cả ở các vùng trồng nhóm 2 và 3

Vùng biển Caribe, Cuba, Puerto Rico, Mehico, Malausia

Nam Phi, Uùc, đảo Réunion

- Chồi cuống

- Chồi nách

- Có giống có chồi cuống, có giống không

- Có vài chồi nách

Số lượng và kích thước chồi cuống thay đổi tùy giống

- Có vài chồi nách

Số lượng chồi cuống thay đổi (thường ít phát triển)

Có rất nhiều chồi nách ở một số giống như Natal Queen – Victoria

rộng

- Thường chỉ có gai

ở ngọn lá

- Chân lá, nơi không có lục tố màu lục nhạt

- Dài và hẹp

- Thường có gai nhưng cũng có giống không hoặc

ít gai.Chân lá nơi không có lục tố màu lục hơi đỏ

- Ngắn và hẹp

- Rất nhiều gai và gai cong dạng móc câu Chân lá nơi không có lục tố màu hồng hơi đỏ

Cuống quả( chiều dài so với chiều dàiquả)

Tương đối ngắn Dài hơn ở nhóm

Cayenne

Tương đối ngắn

Trang 9

- Mắt

- Màu vỏ khi chán

- Thịt Vẽ dáng khi chín Độ xới

Màu sắc

- To và bẹt

- Vàng da cam

Ít nhiều trong Không xơ Vàng nhạt

- To hơn cayenne

- Vàng hơi đỏ

Ít nhiều trong Xơ

ngọt bằng Cayenne Không chua bằng CayenneĐường kính lõi Trung bình To hơn ở Cayenne Bé hơn ở CayenneBệnh héo (Vin) và

tuyến trùng

Rất mẫn cảm - Chịu bệnh Vin

- Không mẫn cảm với tuyến trùng

- Ít mẫn cảm hơn với Cayenne với bệnh héo

Cách sử dụng quả một cách thích đáng

- Làm đồ hộp

- Xuất tươi

- Tiêu thụ nội địa

- Chủ yếu để xuất tươi

- Tiêu thụ nội địa

Thân cây dứa hình búp măng, dài 20 – 30 cm tùy giống và điều kiện canh tác Lá dứa che kín thân cây nên khó trông thấy được Thân cây chia làm 2 phần :

- Thân trên mặt đất : tương đối non mềm

- Thân ngầm : già hơn, có nhiều mầm có thể dùng để nhân giống.Thân to mập biểu hiện cây sinh trưởng khỏe, thân dài và nhỏ thì cây sinh trưởng kém, năng suất thấp, chồi mọc ra cũng yếu

1.3.2 Lá dứa :

Lá mọc dày và thao hình xoắn ốc, lá hẹp dài giống hình lưỡi kiếm Lá dứa phân bố đều, xòe ra bốn phía theo hình hoa thị, có thể hứng những giọt mưa nhỏ và cảgiọt sương Cấu trúc này của dứa rất thích hợp cho việc phun các loại phân khoáng lên lá, không qua bộ rễ phát triển dưới đất

Lá dày, biểu bì nhiều chất sáp cứng, có khả năng chống hạn Số khí khổng là

60 – 70 /mm2 chứng tỏ cây dứa tiết nước ít, và khí khổng chỉ mở vào ban đêm khi nhiệt độ thấp, nên nước mất đi cũng ít

Lá nhiều hay ít và lớn hay nhỏ là tùy mỗi giống dứa

Trang 10

Lá dứa dài từ 85 – 200 cm, rộng từ 4 – 10 cm Mỗi cây có khoảng từ 20 lá trở lên Giống dứa hoa mỗi cây có khoảng 10 – 50 lá, dứa ta và dứa độc bình mỗi cây có

60 – 80 lá

Lá màu xanh nhạt, xanh vàng, xanh pha đỏ hay xanh thẫm Viền lá có gai ngắn ( loại có gai) hoặc không có gai ( loại không có gai nhưng ở đầu lá có một ít gai) Mỗi lá có một lớp phấn trắng

Số là càng nhiều, phiến lá rộng và dày, màu xanh đậm là cơ sở cho quả to, năng suất cao do đó cần bảo vệ lá.Trong sản xuất thường căn cứ vào số lá hữu hiệu ( lá hoàn chỉnh) trên cây để xử lý axetylen, rút ngắn thời gian sinh trưởng

1.3.3 Rễ dứa :

Rễ cạn mọc từ thân ngầm dưới đất ra Rễ dứa nhỏ, dài thường chia ra nhiều rễ nhỏ khác Rễ ăn xuống đất sâu hay cạn là tùy theo tình hình đất Thông thường dài đến 70 – 80 cm, sâu 17 – 30 cm, nhưng nhiều nhất là ở độ sâu từ 20 – 25 cm

Nhiệt độ và ẩm độ trong đất ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của rễ Rễ dứa phát triển tốt ở nhiệt độ 21 – 35oC Khi nhiệt độ lên đến 30 – 31oC thì rễ dứa phát triển nhanh nhất Độ nhiệt xuống đến 15 – 16oC thì rễ dứa sinh trưởng chậm chạp, xuống tới 7oC hoặc cao tới 43oC thì rễ dứa ngừng sinh trưởng

Từ tháng 2 – 3 rễ dứa bắt đầu mọc, từ tháng 4 – 8 nắng mưa nhiều nên rễ mọc mạnh nhất, đến tháng 10 – 11 yếu dần và đấn tháng 12 – 1 thì rễ dứa ngừng sinh trưởng

Đất tơi xốp, thông thoáng thì rễ dứa phát triển tốt nhất Nếu úng nước, thiếu không khí, rễ dứa bị thối sẽ làm cho lá úa vàng và tàn lụi Đất chặt cứng, nhiều sét rễ dứa không phát triển được

Sau khi trồng, rễ sẽ từ thân ngầm dâm ra, khi cây lớn dần, ở các nách lá cũng mọc rễ Loại rễ này lúc mới ra bị gốc lá cản trở nên chỉ mọc quanh thân cây, khi gốc lá thối đi thì mới đâm xuống đất Nên khi trồng dứa bóc vài ba lá ở dưới gốc, rễ mọc nhanh và mạnh hơn

1.3.4 Hoa :

Hoa dứa là một loại hoa chùm Mỗi một chùm hoa có rất nhiều hoa nhỏ, bọc quanh một cuống hoa chung Giống độc biønh trung bình mỗi chùm có 100 – 150 hoa nhỏ Các giống dứa ta và dứa hoa trung bình mỗi chùm có 40 – 150 hoa Số hoa ( sau này là mắt dứa) càng nhiều thì trọng lượng quả càng lớn Khi cây dứa đã ra hoa thì số mắt sẽ cố định, không tăng thêm nữa Vì vậy bón phân đầy đủ và hoàn thành trước giai đoạn phân hóa mầm hoa có tác dụng quyết định đối với trọng lượng quả và năng suất dứa

Hoa ở phía dưới nở ra trước và dần lên phía trên Mỗi một hoa nhỏ là một hoa đầy đủ Có tai hoa màu xanh, cánh hoa màu tím, sáu nhị đực và một nhị cái Nếu thụ phấn sẽ phát dục thành hạt Tất cả chùm hoa ( dù có thụ phấn hay không) phát dục thành quả dứa

Thời gian từ lúc ra hoa cho đến khi quả chín của giống dứa hoa từ 120 – 150

Trang 11

tháng thì ra hoa Nếu trồng bằng chồi ngẩm mọc lên, thời gian ra quả sẽ sớm Trồng bằng chồi ngọn ra quả chậm.

Hiện nay trên thế giới đã áp dụng có kết quả cách dùng các chất hóa học như 2,4D , đất đèn xử lý nõn dứa khiến ra hoa, quả sớm hơn thường lệ Dứa có thể ra hoa quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào tháng 3

1.3.5 Quả dứa :

Quả dứa là một quả kép Khi quả chín, vỏ quả từ màu tím thẫm trở sang tím xanh, dần dần một vài hàng nhỏ ở phía dưới biến vàng và sau cùng toàn cả quả đều màu vàng hay màu vàng đỏ

Quả lớn hay nhỏ, hình dạng màu sắc cũng tùy theo mỗi giống dứa mà khác nhau

Cùng một giống dứa nhưng nhiệt độ cao hay thấp, thời gian sinh trưởng dài ngắn, cây mạnh hay yếu cũng ảnh hưởng đến quả lớn nhỏ khác nhau Quả dứa sinh trưởng trong thời kỳ nhiệt độ cao, độ ẩm lớn thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn thời kỳkhô hạn và rét

Quả dứa lớn nhất có thể dài đến 30 cm hay hơn, đường kính 19 – 20 cm và nặng trên 10 kg

1.3.6 Chồi dứa :

Trên thân, ở nách một số là có chồi Cấu tạo của chồi cũng giống như thân, có trục giữa, có lá, có rễ khí sinh Chồi dính với thân bằng một cấu tạo giống như một cáimỏ, lắc mạnh có thể khỏi thân Chồi có đủ các cơ quan của một cây mới, có thể dùng để nhân giống thay cho hạt và còn tốt hơn hạt

- Chồi ngọn ( chồi quả, chồi đỉnh) :mọc ra ở đầu quả dứa Thường mỗi quả chỉ có một ngọn mọc thẳng đứng Cũng có khi 2, 3 ngọn hay nhiều hơn Dứa nhiều ngọn là dứa không tốt, cây bị biến dị Trong sản xuất không lấy chồi trên những cây thoái hóa này để phân giống Trồng chồi ngọn sinh trưởng đồng đều, ra hoa và thu hoạch đồng loạt, quả to Nhưng chồi ngọn dễ bị thối gốc, nên trước khi trồng phải xử lý bằng thuốc và đưa vào vườn giâm

- Chồi cuống : mọc ra ở gốc quả, chỗ quả và cuống tiếp nhau hay mọc ở trêncuống quả Số chồi này nhiều hay ít là tùy theo mỗi giống, thường có từ 2,3cho đến 7 -8 chồi Trồng chồi cuống thì sinh trưởng khá đồng đều, quả tương đối to

- Chồi nách : mọc từ giữa các nách lá của thân cây (ở trên mặt đất) Loại chồi này tương đối lớn nhất Trồng chối nách tỉ lệ sống cao, sinh trưởng nhanh nhưng không đồng đều

- Chồi ngầm (chồi đất) : từ thân ngầm dưới đất mọc lên, loại này tương đối gầy nhỏ hơn loại trên Thường không dùng chồi ngầm để nhân giống

1.4 Điều kiện sinh trưởng :

1.4.1 Nhiệt độ :

Trang 12

Dứa là cây nhiệt đới nên thích nhiệt độ cao Nhiệt độ thích hợp nhất là nhiệt độ bình quân hàng năm từ 21 – 27oC, nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất không dưới

15oC và tháng cao nhất không quá 35oC Nếu nhiệt độ quá cao, nhất là khi gặp trời ấm, ngoài việc không có lợi cho việc tích lũy chất khô, quả dứa còn dễ bị mặt trời dọi hỏng Nhiệt độ quá thấp gây ảnh hưởng xấu đến quả và lá

Rễ yêu cầu nhiệt độ cao hơn thân,lá hay quả Từ 15 – 16oC rễ bắt đầu sinh trưởng mau và từ 29 – 31oC là nhiệt độ thích hợp nhất Từ 40oC trở lên sinh trưởng củarễ sẽ bị ngừng trệ hoặc rễ sẽ chết

- Cây dứa yêu cầu độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 75 % trở lên

1.4.3 Aùnh sáng :

Vườn dứa có đủ ánh sáng thì năng suất tăng, hàm lượng đường cao, vỏ quả bóng đẹp, thích hợp cho việc xuất khẩu quả tươi và chế biến Thiếu ánh sáng thì năngsuất sẽ giảm, vị chua và hàm lượng đường thấp, vỏ quả có màu xám tối Nhưng ánh sáng quá mạnh sẽ gây rám quả, lá ngả màu vàng đỏ

Các giống dứa hoa và dứa độc bình cần ánh sáng nhiều hơn Trái lại, các giống dứa ta và dứa mật lại cần có cây cao to như lim, trám che bóng mát thưa thớt Nói chung cây dứa cần ánh sáng tán xạ

1.4.4 Đất :

Cây dứa không kén đất, đất tơi xốp và thoát nước nhanh đều có thể trồng dứa

Ở sườn đồi, đồng ruộng hay những nơi có các loại cỏ tạp , nhiều cây cỏ mọc, rừng nonđều có thể trồng được dứa

Nơi đất trũng không thoát nước, đất chặt cứng, phù sa quá nhỏ, đất có nhiều Mn, vôi đều không thích hợp để trồng dứa

Đấtb trồng dứa tốt nhất là đất cát pha, đất đỏ mới khai phá, đất sâu, nhiều chất màu và có đủ chất sắt, độ pH từ 4,5 – 5% là thích hợp nhất

Trang 13

- Lân chỉ cần thiết trong giai đoạn phân hóa hoa.

- Magie có tác dụng làm tăng năng suất, tăng sức chống rét cho cây

Trong sản xuất thường bón phân theo tỉ lệ NPK là 2 :1: 3

1.5 Thành phần hóa học của quả:

Về thành phần hóa học, dứa có 72 – 88 % nước, 8 – 18,5 % đường, 0,3 0,8% axit, 0,25 – 0,5% protein, khoảng 0,255 muối khoáng Đường dứa chủ yếu (70%) là sacaroza, còn lại là glucoza Axit chủ yếu của dứa là axit citric (65%), còn lại là axit malic (20%), Axit tatric (10%), axit xucxinic (3%) Họ dứa nói chung, dứa quả nói riêng có enzime thủy phân là Bromelin Từ lâu nhân dân ta đã biết dùng dứa để làm nắm chóng ngấu, làm mềm thịt Khi ăn dứa ta thấy rát lưỡi là do Bromelin Trong dứa có vitamin C 15- 55 mg%, vitamin A 0,06 mg%, vitamin B1 0,09 mg%, vitamin B2 0,04 mg%

-Bảng 3:Thành phần hóa học của một số giống dứa

Giống dứa, nơi trồng Độ khô

Thành phần hóa học của dứa cũng như các loại rau quả khác thay đổi theo giống, độ chín, thời vụ, địa điểm và điều kiện trồng trọt

Bảng 4: Sự thay đổi thành phần hóa học của dứa hoa Phú Thọ theo tháng thu hoạch

Tháng thuhoạch Độ axit% Axit hữu cơtự do (%) Đường tổng số Độ khô% Vitamin Cmg% Chỉ sốđưòng/axit

Trang 14

Đã từ lâu nhân dân ở vùng dứa Tam Dương (Vĩnh Phú ) đã thu hoạch dứa ta bằng cách đạp gốc, vụ chứa này thường được gọi là dứa chiêm Do rải vụ dứa như thế nên sản xuất và chế biến dứa đều có lợi Tuy nhiên đối với các tỉnh phía bắc, do nhiệt

Trang 15

quả thu hoạch trong tháng này có chất lượng rất kém, không có lợi về mặt kinh tế – kỹ thuật Đối với các tỉnh từ Thuận Hải trở vào, vì nhiệt độ không khí trong tháng nàykhông thấp nên dứa vẫn cho phẩm chất tốt.

1.6.1 Độ chín thu hoạch :

Theo Viện Khoa học Nông Nghiệp miền Nam , người ta đánh giá độ chín của theo 6 mức sau đây :

1) Độ chín 4 : 100% vỏ trái có màu vàng sẫm, trên 5 hàng mắt mở

2) Độ chín 3 : Khoảng 4 hàng mắt mở, 75 – 100% vỏ quả có màu vàng tươi

3) Độ chín 2 : 3 hàng mắt mở,25 – 75 % vỏ quả có màu vàng tươi

4) Độ chín 1: quả vẫn còn xanh (bóng), một hàng mắt mở

5) Độ chín 0: quả vẫn còn xanh(sẫm), mắt chưa mở

Trong qui trình ở các nông trường, quả thường được thu hoạch khi độ chín tại ruộng là 1 và 2, sẽ có màu sáng đẹp, khoảng 4 – 8 ngày sau ăn tươi và chế biến đều tốt Quả ở độ chín 3,4 tại ruộng dễ dàng bị hỏng sau khi thu hoạch ( do bảo quản và vận chuyển)

1.6.2 Kỹ thuật thu hái :

Phải nhẹ nhàng, tránh làm bầm giập, gãy ngọn hoặc gãy cuống Cắt quả kèm theo 1 đoạn cuống dài 2 – 3cm Vết cắt phải phẳng, nhẵn, không được dập cuống Thuhoạch vào ngày tạnh ráo, tránh thu hoạch lúc đang mưa

Sau khi hái để nhẹ nhàng vào bao bì, hay giỏ, thúng tre và chuyển sang thùng gỗ chở đi Giữa các quả nên độn vật mềm để tránh cọ sát

1.6.3 Tiêu chuẩn dứa quả tươi dùng cho xuất khẩu, chế biến công nghiệp.

1) Chỉ tiêu cảm quan :

Bảng 6: Các chỉ tiêu cảm quan

Các chỉ tiêu Yêu cầu kỹ thuậtTrạng thái bên

ngoài - Quả dứa phải có hình dáng phát triển tự nhiên, còn nguyên vẹn chồi ngọn( trừ dứa ta) và cuống Chồi ngọn chiếm 25% so

với khối lượng toàn quả Cuống quả cắt bằng, dài 2-3cm

- Không được làm dập, xước và gãy cuống

- Quả dứa phải tươi sạch, không bị ướt, không bầm giập, không có vết thối

Trạng thái bên trong Thịt quả phải cứng chắc, không còn nhớt, không được ủng hoặc khô nước, không bị thâm lõi.Mùi vị Quả dứa bắt đầu có mùi thơm nhẹ, vị hơi ngọt: không được phép

có mùi úng, mùi rượu

Độ chín thu hoạch - Độ chín 1 : Vỏ quả đã chuyển sang xanh nhạt, hai hàng mắt

phía gốc đã kẽ vàng Thịt quả không còn nhớt và có màu phớt vàng, chiếm diện tích so với mặt cắt ngang không nhỏ hơn 1/3

Trang 16

đối với dứa mùa hè, không nhỏ hơn ½ đối với dứa mùa đông.

- Độ chín 2: Vỏ quả đã có 1 – 3 hàng mắt, phía gốc chuyển sangmàu vàng, thịt quả có màu vàng trên mặt cắt ngang

- Độ chín 3 : Các hàng mắt từ gốc đến ngang nửa quả đã chuyểnsang màu vàng, thịt quả đã có màu vàng

- Độ chín 4 : các hàng mắt từ gốc đến quá nửa quả (2/3 quả) có màu vàng, thịt quả màu vàng

2) Chỉ tiêu về khối lượng :

Bảng 7: các chỉ tiêu về khối lượng

Đặc cấp Loại 1 Loại 2 Loại 3 Riêng giống dứa hoa

Nam bộ chưa có tiêu chuẩn phân loại

1.7 Một số biến đổi và sâu bệnh :

Dứa là loại quả không có đỉnh đột phá hô hấp nên không thể thu hoạch khi cònxanh như các loại quả khác mà phải thu hoạch lúc quả chín Do đó dứa sau khi thu hoạch rất dễ bị dập , gãy cuống, làm ảnh hưởng đến chất lượng

Mặt khác dứa cũng như các loại trái cây nhiệt đới khác rất nhạy cảm với nhiệt độ Nếu nhiệt độ quá cao, làm quả dứa bị héo, mềm, và màu không còn tươi Dứa bị

“ cảm lạnh” do tác dụng của nhiệt độ thấp Mức độ cảm lạnh tùy theo nhiệt độ, độ chín của quả, giống dứa… Dứa xanh bị cảm lạnh ngay ở nhiệt độ 9 – 10oC, còn dứa chín ở 4 -6oC Khi bị “cảm lạnh” dứa bị nâu đen ở lõi và lan dần ra phía ngoài

Dứa rất chóng hỏng do hô hấp yếm khí Nếu bảo quản dứa trong kho kín , ẩm nước thì rất dễ làm thối dứa.Việc thả dứa trên mương ( tập quán thu hoạch dứa ở miềnNam) làm cho dứa chóng bị úng

Ngoài ra, dứa sau khi thu hoạch còn bị một số bệnh do vi sinh vật và sâu bệnh gây ra

1) Rệp dứa : hại lá dứa, quả dứa Sau khi thu hoạch quả, phun thuốc tùng hương ( nhựa thông), nước thuốc lào để tiêu diệt

2) Bệnh thối mắt do Fusarium moniliforme, Penicillium funiculosum, chúng làm

mắt dứa bị thối nâu, rồi lan ra toàn quả, làm cho quả thối nhũng và rất khó quan sát từ bên ngoài, do đó rất khó chữa mà chỉ tránh bằng cách hướng vụ thuhoạch vào các tháng không bị bệnh (tháng 5-6 hoặc tháng 10-11)

Trang 17

3) Bệnh khô mắt do nhiễm nhiều thứ vi khuẩn chưa xác định rõ Vi khuẩn chui vào quả từ khi khai hoa Các mô bị bệnh có màu từ đỏ gỉ sắt đến nâu hoặc đen, các mô tiếp cận thì rắn đanh lại.

Bệnh rất khó phòng trừ, thường phá hoại vào các tháng nóng nhất Dứa Queen

ít bị hơn dứa Cayenne

4) Bệnh thối do Thielaviopsis paradoxa (dạng trưởng thành là Ceratoslonella paradoxa) xâm nhập qua vết cắt , chỗ giập Đây là bệnh chủ yếu của dứa trong

quá trình vận chuyển, bảo quản

Bệnh phát hiện qua mùi thơm dịu đặc biệt, bốc ra từ chỗ quả bị thối và qua màu xám hay đen ở chỗ đó Nấm phát triển mạnh ở 25 – 27oC (trong 24h lan ra được 4cm), giảm ở 12oC và ngừng hẳn ở 7oC

Người ta còn phát hiện các thứ bệnh do Cuvrulia eragres tidits, C maculan, Pseudomonas ananas, Niigrospora spbaenca, Botryodiplodia sp,.

Các biện pháp phòng tránh:

- Không làm dứa sây sát, giập;

- Sát trùng vết cắt, chỗ giập, và sát trùng các dụng cụ cắt;

- Đóng gói, cất giữ xa nguồn bệnh;

- Rút ngắn thời gian từ lúc thu hoạch đến lúc đưa vào kho lạnh;

- Vận chuyển quả bằng xe lạnh ở 11 – 13oC

Các xưởng đóng gói phải giữ sạch sẽ Phế thải phải lấy khỏi xưởng trong ngày và vứt ở xa Sát trùng thường xuyên dụng cụ cắt gọt, bàn ghế, đồ đựng bằng cách đun dung dịch formadehit 3 – 5%, sàn nhà bằng dung dịch vôi clorua có nồng độ 20mg clo/l

Sát trùng cuống quả bằng:

- Nhúng trong dung dịch : Topsin – M 0,2%; Shirlan (natri xalixilamit) 1%; Dowcide A (natri octofenlfenat) 1%; 2,4,5 – T 0,05%;

- Bôi hỗn hợp axit benzoic (1 phần ) và bột hoạt thạch (talc)

1.8 Bảo quản :

1.8.1 Bảo quản nơi sản xuất:

Thu hoạch xong vận chuyển luôn về lán , không được chất đống ngoài nắng Lán phải cao thoáng, sạch Nền lán, dao, sọt phải sát trùng bằng focmon nồng độ 3

– 5% để tiêu diệt nấm thối Thielaviopsis paradosa.

1.8.2 Bảo quản dứa xuất khẩu dạng tươi :

Chọn quả lành lặn, vắt bỏ lá bắc ở gốc quả, cắt bằng cuống cách gốc quả 2 – 3cm Chải hoặc xử lý diệt rệp sáp Đóng gói nhanh, đưa vào kho mát giữ độ nhiệt 7 –

8oC, độ ẩm 85 – 90% Thời gian từ lúc thu hoạch cho đến khi đưa vào kho mát không quá 24 giờ về mùa hè và không quá 36 giờ về vụ đông xuân

Độ nhiệt thích hợp cho việc vận chuyển dứa xuất khẩu tươi là 7 – 8oC, độ ẩm

85 – 90% Vận chuyển bằng tàu lạnh hoặc xà lan lạnh

1.8.3 Bảo quản dứa dùng làm nguyên liệu chế biến :

Trang 18

Thu hoạch xong đưa nhanh vào kho mát giữ độ nhiệt 10 – 12oC đối với dứa còn xanh và 7 – 8oC đối với dứa bắt đầu chín, độ ẩm trong kho 85 – 90% Thời gian bảo quản dứa xanh 3 – 4 tuần lễ và dứa chín 2 – 3 tuần lễ.

Chưa có kho mát thì thu hoạch dứa lúc mới mở mắt (vụ hè ), phun lên mặt quả dứa dung dịch NAA (Anfa naptalen axetic axit) nồng độ 150ppm, cất trữ được hơn 4 tuần lễ

1.8.4 Tồn trữ dứa :

Mấy năm gần đây, việc sử dụng bao PE chuyên dùng để bảo quản trái cây đang được thương mại hóa Có nhiều bao PE chuyên dùng : Loại đính màng bán thấm ( cửa sổ thẩm thấu) của Nga, loại có các điểm thẩm thấu như peakfresh của Úc …

Màng peakfresh là màng PE có ẩn nhập các hạt chất khoáng ( lấy từ các hang dơi) có tính chất đặc biệt Màng này hút thu được etylen nên làm cho quả lâu chín, lâulão hóa; cho phép thải các khí như CO2, NH3 và duy trì độ ẩm cao nên quả tươi lâu, không héo vì mất nước và không bị hô hấp yếm khí Sự tạo các hạt nước đọng của màng này cũng ít hơn màng PE thường

Cách dùng bao peakfresh như sau :

- Làm lạnh sơ bộ dứa trước khi cho vào bao

- Sau khi cho dứa vào bao, ép không khí ra càng nhiều càng tốt, dán kín miệngtúi

- Để riêng từng túi theo độ chín, giống, loại

- Tồn trữ trong kho lạnh ở nhiệt độ và độ ẩm theo yêu cầu

Với dứa xanh nhiệt độ tồn trữ là 11 – 13oCVới dứa chín nhiệt độ tồn trữ là 7 – 9oCĐộ ẩm tương đối 85 – 90 %

Bằng cách trữ như vậy có thể kéo dài thời gian tồn trữ lên gấp đôi

Bao peakfresh đã dùng có thể sử dụng lại sau khi đã rửa và lau khô

1.9 Một số ứng dụng :

Dứa là một loại quả quý ở vùng nhiệt đới và có giá trị kinh tế cao Quả dứa có hương vị ngọt pha chua, được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường thế giới

Trong nước dứa có 12 – 15% đường, 0,5 – 0,8 % axit Cứ 100 g nước dứa có 8,5 mg vitamin C, 0,3mg Caroten, một ít vitamin B1, B2, PP Trong nước dứa còn có men bromelin gồm nhiều enzim phân giải protein có tác dụng kích thích tiêu hóa Ngoài ra dứa còn chứa các chất vôi, lân, sắt …cũng giúp cho sự tiêu hóa ( Chất bổ củadứa tập trung ở ngoài vỏ)

Quả dứa ngoài sử dụng để ăn tươi còn dùng làm nguyên liệu chế biến đồ hộp, mứt dứa, kẹo dứa, rượu vang, nước giải khát, điều chế axit citric và men Bromelin

Cứ 1 tấn quả dứa sau khi ép nước, còn lại bã chế biến ra được 30 kg thức ăn khô cho gia súc Bã dứa sau 1 năm ủ chứa 1,27% đạm, 0,08 %kali, 0,18% canxi, dùng làm phân bón rất tốt

Sau khi thu hoạch, toàn bộ thân lá và chồi ( khoảng 60 tấn/ha) đưa vào nhà

Trang 19

Bảng 8:Thành phần cacù bộ phận của cây dứa

Lá dứa có thể dùng để lấy sợi dệt vải, làm giấy

Trên thị trường thế giới, dứa được trao đổi chính ở dạng đồ hộp làm từ nhómCaien.Việt Nam muốn phát triển việc xuất khẩu sản phẩm dứa phải đổi giống tậptrung Caien ở các vùng đồi , thay đổi thiết bị, công nghệ và bao bì

Bảng 9:Đặc điểm công nghệ của một số giống dứa

Giống dứa, nơi trồng Khối

lượng quả, g

Chiều caocm

Đường kính quảcm

Vỏ dàycm

Mắtsâucm

Đường kính lõicm

Trang 20

MỘT SỐ HÌNH ẢNH QUẢ DỨA

Trang 21

NƯỚC ÉP DỨA

2 Xoài :

Xoài là cây ăn quả nhiệt đới quan trọng ở nước ta, đựoc trồng phổ biến ở nhiều vùng để lấy quả, làm bóng mát, cây cảnh và che phủ đất trồng xói mòn Quả xoài chín có màu sắc hấp dẫn, ăn ngọt, mùi thơm ngon được nhiều người ưa thích, và được xem là một loại quả quý Quả xoài giàu vitamin nên xoài ngoài ăn tươi còn có rất nhiều ứng dụng như làm đồ hộp, mứt, nước giải khát, rượu Ngoài ra một số bộ phận khác cũng có thể được sử dụng nhiều dược và hóa học

Trên thế giới hiện nay có 87 nước trồng xoài với diện tích khoảng 1,8 – 2,2 triệu ha Vùng châu Á chiếm 2/3 diện tích trồng xoài thế giới, trong đó đứng đầu là Aán Độ (chiếm gần 70% sản lượng xoài trên thế giới, 9,3 triệu tấn), Thái Lan, Pakistan, Philippin…

Với thế mạnh về sản lượng và phẩm chất thơm ngon nên xoài cùng với dứa được đánh giá là “vua của các loại quả”û

2.1 Nguồn gốc :

Cây xoài thuộc chi Mangifera loài M.indica Họ Đào lộn hột ( Anacardiaceae)

Trong chi Mangifera có tới 41 loài ( Mukherjee, 1949) có thể tìm thấy rải rác khắp các nước vùng Đông Nam Á, trong đó chỉ có xoài là được trồng rộng rải nhất

Xoài gốc ở Đông Bắc Ấn Độ, Bắc Myanmar, ở vùng đồi núi chân dãy Hymalaya và từ đó lan đi khắp thế giới, sớm nhất sang Đông Dương, Nam Trung Quốc và các nước khác miền Đông Nam Á Từ thế kỉ thứ 16 khi người Bồ Đào Nha tìm ra đường biển sang Viễn Đông thì xoài được mang đi trồng khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới và cả ở các vùng bán nhiệt đới như Florida, Israel

2.2 Phân loại :

Ở Việt Nam, xoài có rất nhiều giống xoài, có giống thu hoạch vào tháng 4(xoài ở Nam Bộ) hoặc vào tháng 7 (xoài ở Cam Ranh,Yên Châu) Ngoài ra còn có 1số loại xoài dại như :

- Muỗm: quả nhỏ hơn xoài, vị chua

- Quéo: quả dẹt, đầu cong như có mỏ, vị chuaNhững loại quả này đều có mùi nhựa thông rõ, chất lượng thua xoàinhiều.Loại này thường mọc rải rác ở các vùng miền Bắc

Dưới đây là một số giống xoài tương đối phổ biến ở nước ta:

- Xoài cát (Hòa Lộc) : một trong những giống xoài có tiếng nhất ở miền Nam,đặc biệt là xoài cát Hòa Lộc, xuất xứ từ Cái Bè (Tiền Giang) và Cái Mơn(Bến Tre) Trái to màu vàng khi chín, trọng lượng 350 – 500 g, hạt nhỏ thịtdày và vàng, thơm và ngọt Nhưng hơi khó vận chuyển và xuất khẩu do vỏmỏng và dễ bị dập nếu chuyên chở không cẩn thận

Trang 22

- Xoài cát (cát đen, cát trắng) : hơi nhỏ trái hơn xoài Hòa Lộc nhưng cũng cóphẩm chất ngon và cho năng suất cao.

- Xoài thơm :Trồng nhiều ở Tiền Giang, Đồng Tháp, cần Thơ Trọng lượng tráitrung bình 250 – 300 g, vỏ trái có màu xanh sẫm (Thơm đen) hay vỏ màu nhạthơn ( Thơm trắng) Quả vừa, vị ngọt, hương rất thơm

- Xoài Bưởi ( xoài “ghép”) : là một dạng xoài hôi, trái hơi giống xoài Cátnhưng nhỏ hơn, trọng lượng trái trung bình từ 250 – 350 g Xuất xứ từ vùngCái Bè (Tiền Giang) Vỏ trái dày nên có thể vận chuyển xa dễ dàng Mùi hôicủa trái giảm dầnkhi tuổi cây càng già Giống này cho phẩm chất kém vì thịtnhão, hơi lạt và hôi

Ngoài ra còn có 1 số giống khác cũng xuất hiện nhiều trong thị trường trongnước như : xoài Thanh Ca ( quả vừa, thơm ngon), xoài Tượng ( quả to, chua, ăn xanhchấm muối ớt), xoài mủ (quả nhỏ, mùi mủ)

2.3 Đặc tính thực vật :

- Cây xoài có thể cao đến 40 m, nhưng thường cao 10 -15m, có tán lớn và có thể sống đến 100 năm Trồng đất cao hay đồi núi rễ có thể mọc sâu đến 9m , đất thấp mọc tới thủy cấp

- Lá non ra trên các chồi mới, mọc đối xứng, một chùm từ 7 -12 lá Tùy thuộc vào giống mà lá non có màu đỏ tím, tím, màu hồng phơn phớt nâu Lá già màu xanh đậm Một năm có 3 -4 đợt chồi tùy theo giống, tuổi cây, khí hậu thời tiết và tình hình dinh dưỡng Cây non ra nhiều đợt chồi hơn so với cây đang có quả hay cây già Có khi trên 1 cây phía bên nàythì ra lộc mới còn phía bên kia thì ngừng sinh trưởng Lá non phát triển đủ kích htước vào khoảng 2 tuần sau khi mọc, nhưng khoảng 35 ngày sau khi mọc thì lá mới chuyển lục hoàn toàn Mỗi lần ra lá như vậycành xoài dài thêm ra khoảng

50 – 60 cm

- Xoài trồng từ hột sẽ ra hoa sau 6 -8 năm, cây thấp chỉ ra hoa 3 – 5 năm Tại đồng bằng sông Cửu Long, xoài ra hoa từ tháng 12 – 3 dương lịch Phát hoa mọc ở ngọn các nhành đã phát triển đầy đủ trong năm trước

- Hoa xoài nhỏ, màu trắng hồng, nở thành chùm, phần lớn là hoa đực và hoa lưỡng tính với tỷ lệ hoa lưỡng tính chiếm 1 -36% (tùy giống) Hoa lưỡng tính thường nằm ở ngọn phát hoa, hoa nhỏ, có 5 cánh, 5 đài hoa màu xanh và một bầu noãn có tiểu noãn Hoa đực có 5 nhị đực gồm 1 có phấn và 4 bất phấn, phấn dính , khó tung

- Hoa xoài thường thụ phấn chéo, nhờ côn trùng hơn là nhờ ong mật để đậu trái.Mỗi chùm chỉ có vài trái trưởng thành và chín Tỷ lệ thụ phấn cao khi trời nóng và khô

- Trái xoài hình tròn đến hơi dài Vỏ trái chín có màu vàng đến đ3 Hột có vỏ cứng, bên trong chứa 2 tử diệp và phôi (mầm bột) Các giống xoài ở Việt Namthường đa phôi, mang 2 – 12 phôi vô tính và có thể có 1 hoặc không phối hữu

Trang 23

tính Nhờ đó, hột xoài gieo thường có 1 – 5 cây con và thường vô tính (giống mẹ), nếu có cây hữu tính thì cũng yếu ớt, dễ bị lấn át.

2.4 Điều kiện sinh trưởng :

2.4.1 Khí hậu :

- Xoài có thể chịu đựng được nhiệt độ từ 4 – 10oC đến 46oC, nhưng tốt nhất ở 24-27 oC và nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất không dưới 15oC Nhiệt độ cao gây hại cho sự sinh trưởng của cây, nếu ẩm độ cao

- Xoài có khảø năng chịu hạn cao, nhưng xoài cũng rất cần nước để cho sản lượng cao Lượng mưa ít nhất 1000-1200 mm vào mùa mưa và mùa nắng khoảng 50 – 60 mm rất thích hợp cho xoài ra hoa, kết trái Trồng xoài cần có

1 mùa khô cho cây phân hóa mầm hoa được thuận lợi

- Yêu cầu cung cấp đủ ánh sáng cho xoài

- Xoài có thể mọc được ở độ cao dưới 1200 m, nhưng tốt nhất từ 600 m trở xuống Trồng càng cao, xoài trổ hoa càng muộn, cứ lên cao 120 m ( hay tăng

1o vĩ độ) thì cây trổ hoa trễ hơn 4 ngày

2.4.2 Đất :

- Xoài mọc tốt trên nhiều loại đất, nhưng tốt nhất là đất cát hay thịt pha cát, thoát thủy tốt, có thủy cấp không sâu quá 2,5 m So với những cây ăn trái nhiệt đới khác, xoài có lẽ là loại cây chịu úng tốt nhất Đất nhẹ, kém màu mỡ giúp cây dẽ cho nhiều hoa và đậu trái; trong lúc đất màu mỡ, đủ nước chỉ giúp cây phát triển tốt, nhưng cho ít trái

- Xoài chịu được pH từ 5,5 – 7 Đất chua ( pH  5 ) làm cây phát triển kém

- Có thể cung cấp thêm phân vi lượng ( có chứa Cu, Mn, Zn, Mg) vào giai đoạn

ra lá non để cây phát triển tốt

2.5 Thành phần hóa học của quả:

Xoài chứa 76-80% nước, 11-20% đường, 0.2-0.54% axit (khi xanh có thể đạt3.1%), 3.1 mg% caroten, 0.04% vitaminB1, 0.3% vitamin PP, 0.05% vitaminB2,13% vitamin C Axit của xoài chủ yếu là axit galic

Quả xoài đặc biệt giàu Vitamin A và C Quả xoài lúc xanh ít vitamin A nhưngnhiều Vitamin C hơn khi chín

Ở Mỹ, Alice Thompson (1924) so sánh xoài với tào bom thì thấy xoài có nhiềuchất khô hơn (17,2 g trong 100 g phần ăn được so với 14,96 g) nhiều đường hơn (13,2

Trang 24

Bảng 10:Thành phần hóa học của xoài

Xoài hái xong phải vận chuyển đến gần nơi tiêu thụ, rấm cho chín, khoảng 5

-7 ngày sau khi rấm màu vàng xuất hiện trên quả, thịt mềm, lúc này đem bán hay chế biến là thích hợp

Nhúng vào nước nóng 50 – 53oC trong 15 phút là phương pháp xử lý rất tốt, tiến hành ngay sau khi hái, để giảm tỷ lệ thối khi rấm chín

2.6 Một số biến đổi và sâu bệnh :

2.6.1 Ruồi đục trái :

Do ruồi trái cây Dacus dorsalis gây ra Aáu trùng (giòi) không chỉ làm hại trái

mà còn làm hạn chế khả năng xuất khẩu xoài sang các nước khác ( do kiểm dịch gắt gao của các nước nhập)

Ruồi có kích thước hơi nhỏ hơn ruồi nhà, có màu nâu vàng, chân màu vàng, ngực có hai sọc vàng, cánh không màu

Ruồi cái đục vỏ trái ( lúc trái già) và đẻ trứng dưới lớp vỏ Trứng nở thành giòinhỏ, nằm bên trong ăn phá thịt trái Trái bị giòi thường do bội nhiễm nên bị lên men, thối rữa và rụng đi Giòi chui vào đất và hóa nhộng

2.6.2 Bệnh thán thư nấm :

Do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra Là bênh quan trọng nhất,

thưòng gây hại vào mùa mưa hoặc những lúc đêm có sương Nấm bệnh tấn công cànhnon, lá, hoa, trái Trên trái, bệnh lúc đầu chỉ tạo các chấmnâu nhỏ, sau đó phát triển thành cácđốm thối đen lõm xuống vỏ trái, làm trái bị chín háp hoặc hư hỏngkhi tồn trữ ( nếu nhiễm muộn)

Trang 25

Cách phòng trị : Xịt Benlate 0,1%, Copper-B 0,25% hay Mancozeb từ khi hoa nở đến 2 tháng sau 7 ngày/ lần; sau đó 1 tháng/lần đối với cây Trái sau khi thu hoạch ngâm trong nước nóng 52-55oC trong 15 phút, hoặc ngâm trong nước nóng rồi sau đó ngâm thêm 3 phút trong dung dịch 2 -4% NaB407 rồi vớt ra.

2.6.3 Bệnh thối trái, khô đọt :

Bệnh do nấm Diplodia natalensis Bệnh thường tấn công trái trong giai đoạn

tồn trữ hay vận chuyển, làm thối phần thịt trái nơi gần cuống hoặc nơi vỏ trái bị trầy trụa Trái hái klhông chừa cuống rất dễ bị xâm nhập và lây lan chỉ sau 2 -3 ngày ( nhất là khi gặp điều kiện ẩm)

Cách phòng và trị :

- Phòng bệnh trên trái bằng cách tránh làm bầm dập, rụng cuống trái khi hái

- Phun Benlate 0,01%, Copper-B 0,1% với lượng 10l/ cây vào 2 tuần trước khi hái

- Trái sau khi hái được xử lý bằng cách nhúng nước ấm (55oC) chứa Benlate 0,06-0,1% cũng rất hiệu quả để ngừa cả bệnh thối trái và thán thư Cũng có thể nhúng cuống hoặc cả trái vào thuốc gốc đồng hay dung dịch Borax (hàn the) pha loãng 0,6%

2.6.4 Bệnh cháy lá:

Bệnh do nấm Macrophoma mangiferae, gây hại cả lá, nhánh, trái Đốm lúc đầu

nhỏ như đầu kim, vàng, dần dần lớn có màu nâu nhạt, sau đó nâu đậm, viền màu tím sậm hơi nhô Phần giữa vết bệnh có màu xám tro với những vết đen là những ổ nấm Trên trái, đốm bệnh tròn úng nước, sau đó lan nhanh làm thối trái Bệnh lây lanh nhờ nước mưa

Phòng trị bệnh : Cắt bỏ, tiêu hủy các cành lá bệnh để giảm nguồn lây lan Phun Copper-Zinc, Copper-B, Benomyl khi thấy cần

2.6.5 Bệnh đốm lá :

Bệnh do nấm Pestalotia mangiferae tấn công cả lá và trái qua vết thương hay vùng tiếp xúc Trên trái, bệnh làm thành vùng nhiễm có màu đen, vùng bị bệnh nhăn nheo

Bệnh thường nhẹ, có thể không cần trị Nhung khi cần, có thể phun Zinc, Copper-B hay Benomyl…

Copper-2.6.6 Bệnh phấn trắng :

Bệnh do nấm Oidium mangiferae gây ra, gây hại trong điều kiện nóng ẩm( cómưa hay sương đêm) Bệnh thường phát triển từ hoa rối lây lan dần Thường hoa bị nhiễm trước khi thụ phấn và trái còn rất nhỏ đã bị nhiễm Trái sẽ bị biến dạng, méo mó, nhạt màu và bị rụng

Phòng trị bằng cách : phun bột lưu huỳnh định kỳ 10-15 ngày/lần ( nồng độ 0,2%)

Trang 26

Từ khi quả đậu cho đến khi quả chín cần có một thời gian 90 – 120 ngày tùy giống Không nói tới xoài trái vụ, thời gian chín tập trung từ tháng 4 đến tháng 6, ở miền Nam chín sớm hơn

2.7.1 Độ chín thu hoạch của xoài :

Để đánh giá độ chín của quả xoài có thể dựa vào những tiêu chuẩn sau : Hình dáng và màu sắc :

- Quả non thì dẹt và đầu núm thẳng 1 hàng màu xanh tối Nếu dùng dao

cắt thẳng thì thịt quả non màu trắng

- Quả già thì vai quả vượt xa đầu núm, quả phồng lên, chiều dày tăng

lên, vỏ quả màu nhạt và vàng dần., thịt quả già màu vàng da cam

- Khi màu vàng da cam đã hiện ra ngoài vỏ và phảng phất có mùi

thơmthì quả đã đạt chín tối đa

- Đợi khi quả đã bắt đầu vàng, thịt đã mềm mới hái thường khó bán và

vận chuyển đi xa Phải quan sát xoài tại cây, nếu vai quả đã ngang bằng với núm chỗ quả tiếp xúc với cuống hoặc cao hơn một chút, màu quả đã sáng ra thì hái là vừa Dấu hiệu sắp chín là có vài quả sắp chín, tự rụng

Tuổi quả tính từ ngày hoa nở Ví dụ ở Phillipin hái sớm nhất là 81 ngày sau khi hoa nở Đối với người Aán Độ, hái quả khi tuổi quả đạt 105 – 115 ngày

Phân tích độ đường, độ chua, tỷ lệ chất tan (bằng chiết quang kế cầm tay), tối thiểu độ Brix phải đạt 7% mới thu hái, phân tích độ chua của quảnếu > 2,5% thì không hái

Tính tỷ trọng : Khi tỷ trọng đạt 1,01 – 1,02 là lúc hái thích hợp nhất Cách làm đơn giản nhất là ngâm quả xoài trong nước, những quả chìm và lơ lửngtrong nước là quả đã già có thể thu hái được

Cũng như nhiều loại quả khác xác định thời gian hái phải căn cứ vào mục đích sử dụng : Nếu dùng tại chỗ không phải mang đi quá xa thì đợi chín vàng trên cây, lúc này quả đạt chất lượng cao Nếu phải mang đi xa ( đến nơi chế biến hoặc xuất khẩu ) thì phải hái sớm hơn

2.7.2 Kỹ thuật thu hái

Có 2 cách để hái xoài:

- Trèo lên cây để bẻ , cắt xoài.

- Sử dụng dụng cụ thu hái :sào, dao

Không nên bẻ quả sát núm mà bẻ trên một chút để lại một đoạn cuống vì bẻ sát thì sẽ chảy nhựa làm đen quả Nên hái quả vào những ngày khô ráo, cắt quả vào lúc trời râm mát Nếu hái vào ngày mưa thì khả năng bảo quản và vận chuyển quả sẽ kém

Trang 27

Ở maylaysia, xoài được thu hoạch khi bắt đầu chuyển mã và bảo quản trong môi trường có nồng độ 02 thấp (2%), 150C trong 5tuần sau đó đưa vào điều kiện bình thường để quả tiếp tục chín Kết quả của biện pháp này là không những tỷ lệ hap hụt trong quá trình bảo quản không đáng kể mà còn làm tăng đáng kể hàm lượng đường tổng số trong quả chín so với bảo quản trong điều kiện thường (21% 02) nhờ quá trình hô hấp của quả bị ức chế.

2.7.3 Vận chuyển :

Quả hái về nên cho vào phòng bảo quản để 1 ngày cho quả ổn định hô hấp, sau đó lau sạch và phân loại Nếu phải chở đi xa, có cho xoài vào sọt tre hoặc hòm cactông, hay hòm gỗ xếp thnàh từng lớp, tối đa không quá 5 lớp Ở đáy sọt (hay hòm gỗ) lót một lớp rơm hay giấy xốp, giữa các lớp xoài lại lót thêm 1 lớp giấy mỏng, từngquả cần được bọc 1 lớp giấy mỏng

Trong thực tiễn sản xuất & thương mại ở Việt Nam, để có thể vận chuyển xoài

đi xa, người ta thường thu hoạch quả lúc còn xanh.Sau đó, kèm theo với các thùng, sọtxoài xanh, người ta đặt các goí nhỏ chứa đất đèn Trong thời gian vận chuyển, đất đènsẽ giải phóng etylen làm chín quả Tuy nhiên , những quả gần gói đất đèn thường quá chín, mã xấu, quả ở xa hoặc chín loang lỗ hoặc còn xanh Có thể khắc phục hiện tượng này bằng cách xử lý sau vận chuyển cho xoài xanh bằng dung dịch ethrel 0,2 – 0,5%, xoài sẽ chín đồng loạt sau 3 – 5 ngày, cho mã quả đẹp và chất lượng

2.8 Bảo quản :

Thời gian tồn trữ là yếu tố quan trọng quyết định pphương tiện vận chuyển và thị trường xuất khẩu Thời gian này thay đổi tùy giống, nhiệt độ và biện pháp tồn trữ Nếu trữ ở 30oC thời gian này chiếm khoảng 15 ngày ( ở trái thu hoạch già) Nhiệt độ cao, không khí khô và gió làm trái mất nước và giảm thời gian tồn trữ

Có thể trữ trái 1 tháng nếu xoài được thu hoạch già ở nhiệt độ tồn trữ tốt nhất (khoảng 7 – 10oC, độ ẩm 85-90%) Cũng với điều kiện đó với trái xanh có thể trữ đến

2 tháng, sau đó lấy quả ra ở điều kiện bình thường, thúc quả chín, quả vẫn giữ được màu sắc và phẩm chất tươi ngon Nhiệt độ quá thấp sẽ làm trái bị dập do lạnh

Cánh trữ tốt nhất là đặt mỗi trái xoài trong bọc nylon kín (túi PE) ( dày 0,05 – 0,08 mm) ở 10oC trong 3 tuần, sau đó lấy ra khỏi bọc và trữ ở 22oC trong 1 tuần thì xoài vừa chín tới

Để kéo dài thời gian tồn trữ, kết hợp với việc trữ ở nhiệt độ thấp là nhúng xoàivào trong sáp nung chảy có trộn thêm một chất điều hòa sinh trưởng (MH), hoặc sáp có thêm thuốc trừ nấm, để trong túi PE có chọc lỗ cũng có thể làm xoài chín chậm lại.Chú ý là xoài chín cây đã mềm rồi thì không bảo quản được lâu

2.9 Một số ứng dụng :

Xoài được sử dụng rất nhiều trong đời sống Quả xoài chủ yếu ở dạng ăn tươi Ngoài ra trong CNTP xoài được sử dụng để chế biến thành nhiều chế phẩm như nước xoài, nectar xoài (cô đăïc), chutney (xoài xắt từng miếng trộn với đường dấm ) xuất khẩu còn dễ dàng hơn xuất quả tươi

Trang 28

Ngoài việc trồng lấy quả, xoài còn có nhiều công dụng khác như :

- Cây xoài lá dày, xanh quanh năm nhiều bóng râm, là cây cảnh và cây che bóng mát tốt ở những vùng nhiều nắng hay bị hạn

- Hoa xoài nở rộ với số lượng rất nhiều cung cấp nhiều mật cho người nuôi ong,có thể làm thực phẩm cho người và cũng là một dược phẩm

- Hạt xoài có chứa nhiêù tanin, có thể làm thuốc trị giun sán, bệnh ỉa chảy, xuấthuyết nội

- Ở một số nơi, lá xoài được dùng làm thức ăn gia súc phụ

Một số sản phẩm chế biến:

Sản phẩm chế biến từ xoài rất đa dạng Xoài chín, xoài xanh đều có thể chế biến

Ở Việt Nam, mới chỉ sản xuất nước xoài đóng hộp nhưng ở Aán Độ đã bán rất nhiều các chế phẩm khác từ xoài

1 Từ xoài chín :+ Nước xoài : bóc vỏ, tách thịt khỏi hạt bằng máy, pH được điều chỉnh đúng 4 rồi đóng hộp khi cón nóng sôi Có thể cho thêm 100 mg axit ascorbic cho 100 g nước xoài

+ Nectar nước xoài : thêm nước, thêm đường điều chỉnh về độ Brix 20o với 0,3% 1 axit thực phẩm

+ Bột xoài : sấy khô nước xoài ở 65oC với áp lực 67,5 mm thủy ngân rồi nghiền Cũng có thể chế rượu vang từ xoài chín nhưng phải chọn giống thcíh hợp

2 Từ xoài xanh :+ Xoài miếng giữ trong nước muối : Nước muối nồng độ 15% trong khi bảo quản Có thể cho thêm 1% CaCl2 cho rắn thêm

+ Bột xoài xanh (amchur) : phơi khô, nghiền thành bột Rất giàu vitamin C+ Nước sốt xoài (chutney) : chế từ xoài xanh còn tươi, hoặc những miếng xoài xanh xắt nhỏ, giữ trong nước muối, thêm đường muối dấm và nhiều loại gia vị

Trang 29

MỘT SỐ HÌNH ẢNH QUẢ XOÀI

Trang 30

Bảng 11:Diện tích, sản lượng chôm chôm ở một số nước.

Nước Diện tích (ha) Sản lượng(tấn) Ghi chú

Maylaysia 20.000 Ko có số liệu Số liệu 1984

Một số nước khác cũng đã trồng thử nhưng diện tích chưa nhiều, ví dụ : Nam Phi, Madagaxca, Puerto – Rico

Việt Nam không được tính trong bảng vì chưa có số liệu cung cấp cho FAO, nhưng diện tích hiện nay khoảng gần 10000 ha trong đó chỉ riêng 2 tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre đã có 5000 ha còn lại ở Đồng Nai

Sản lượng vải trên cả thế giới đạt chưa tới 300.000 tấn trong khi chỉ riêng sản lượng chôm chôm của Thái Lan đã đạt gần nửa triệu tấn, chứng tỏ sản xuất chôm chôm có nhiều điều kiện thuận tiện

Chôm chôm ngoài việc ăn tươi, còn có thể chế biến đặc biệt chế biến đồ hộp Hạt rang làm thuốc chống mất ngủ, hay ép lấy dầu Chôm chôm cũng có nhiêù ứng dụng trong ngành y học, gỗ chôm chôm có thể dùng cho xây dựng

Trong loài chôm chôm người ta phân biệt 3 loài phụ : var.lappceum đặc điểm

chủ yếu là lá phình ra ở nửa phía trên, gân chính có lông thưa, dài gân phụ rất cong; var.pallens lá phình ra ở giữa và ở nửa dưới gân chính nhẵn không có lông, gân phụ

chỉ hơi cong và var.xanthioides gân chính chỉ có lông ngắn.

Sau đây xin giới thiệu một số giống chủ yếu được trồng ở miền Nam Việt Nam :

Trang 31

- Chôm chôm Java : có nguồn gốc từ Indonesia, gồm có loại gai ngắn và dai Loại gai ngắn được trồng phổ biến hơn vì vận chuyển chậm héo, quả màu đỏ, ngọt , thơm, mọng nước, thịt quả tróc Loại gai dài có màu đỏ nhạt, quả hơi hẹp, phẩm chất kém hơn Đặc tính chính là cùi không dính với hạt nhưng khi bóc ra bao giờ cũng dính theo vỏ ngoài của hạt làm giảm chất lượng, khi ăn tươi cũng như khi chế biến Quả nặng 30 – 40 g.

- Chôm chôm Xiêm: quả rất to, khi chín màu đỏ sẫm, ăn rất ngọt, thịt giòn, trócnhưng quả dễ bị ép

- Chôm chôm nhãn : Nguồn gồc ở Indonesia, quả có mùi nhãn, quả tròn kích thước nhỏ hơn các giống khác, 2 bên có rãnh dọc kéo dài từ đỉnh quả xuống đáy quả giống như hai phần úp lại Vỏ dày, cứng, gai ngắn khi chín có màu xanh vàng hay đỏ Thịt dày nhiều nước rất ngọt, tróc vỏ Quả nhỏ, nặng 15 –

20 g

- Chôm chôm ta : quả tròn, nhỏ khi chín có màu vàng đến nhạt, thịt quả mỏng, không tróc, ngọt có vị chua, hương vị không ổn định Không trồng nhóm này với qui mô công nghiệp

3.3 Đặc tính thực vật :

- Cây cao trung bình khoảng 10 -15m Có cây cao đến 25m Tán cây rộng khoảng 2/3 ciều cao, hình dạng tán cây thay đổi tùy giống Nhánh non có lôngnâu Lá kép có 2 – 4 cặp lá chét xếp xen kẽ hay hơi đối nhau, hình bầu dục, dài 5 – 20cm, rộng 3 – 10 cm

- Hoa chôm chôm có 3 loại cùng trên một cây : hoa đực, hoa cái và moat ít hoa lữơng tính Tỷ lệ các loại hoa trên cây thay đổi tùy giống, tùy mùa Lúc hoa nở nhụy có khả năng tiếp nhận hạt phấn rong vòng 48h Thời gian hoa nở trong vườn có thể kéo dài trong vòng 24h Tỷ lệ đậu trung bình chỉ đạt 1 -3%, và trên một chùm lúc thu hoạch có khoảng 12 – 13 quả

- Khoảng 3 ngày sau khi hoa nở hoàn toàn thì quả phát triển Từ khi thụ tinh đến lúc thu hoạch quả, tùy theo giống và thời tiết khí hậu, trung bình khoảng

100 – 120 ngày

- Quả chôm chôm có trọng lượng từ 20 – 60 g trong đó vỏ chiếm 40 – 60%, hột

4 – 9%, thịt quả 30 – 58% Quả chín thì chuyển sang màu vàng hoặc đỏ, tùy giống Quả kết thành chùm, mỗi chùm có vài ba đến 10 – 12 quả Thịt quả khichin có màu trắng trong đến trắng ngà Hạt có khả năng nảy mầm sớm vì vậy nếu chậm thu hoạch sẽ làm quả kém phẩm chất

3.4 Điều kiện sinh trưởng :

3.4.1 Nhiệt độ:

Chôm chôm không chịu được rét Dưới 10oC sinh trưởng chậm lại, 40oC được coi là giới hạn hoạt động cao nhất Nhiệt độ thấp tác động ít tới sự ra hoa của chôm chôm

Trang 32

3.4.2 Mưa :

Lượng mưa hàng năm và sự phân phối mưa ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và hình thành mầm hoa, phát triển của quả Mưa nhiều trước thời gian chôm chôm thường ra hoa sẽ có hại vì kích thích ra lá Mưa nhiều khi quả sắp chín quả sẽ

bị nứt, đôi khi giảm sản lượng đến 50% Nhưng nếu iùt nước thì quả sẽ nhỏ

Lượng mưa hàng năm khoảng 2000 mm phân bố đều trong năm là tốt

3.4.3 Gió & ánh sáng :

Có hại đặc biệt khi gió mạnh Gió khô làm cho rìa lá cháy, khi có quả thì gai quả nhanh chóng chuyển màu nâu và khô đi Nói chung cây chôm chôm cần kín gió

Chôm chôm rất mẫn cảm với ánh sáng Những quả mọc ngoài tán khi chin vỏ có màu đẹp, phẩm chất quả ngon hơn những quả mọc trong tán

3.4.4 Đất :

Chôm chôm ưa đất thịt pha cát, tầng canh tác dày, giàu dinh dưỡng và thoát nước tốt Cây rất sợ úng Độ pH 4,5 – 6,5, nếu pH cao hơn nữa sẽ dẫn tới đói Fe và Znlàm cho lá vàng, cây còi cọc

3.5 Thành phần hóa học của quả:

Phân tích thành phần dinh dưỡng trên 100g phần ăn được cho thấy :Nước 82,1g; protein 0,9g; chất béo 0,3g; tro 0,3g; glucoza 2,8g; fructoza 9,9g; axit xitric 0,31g; niacin 0,5; canxi 15mg; kali 140 mg; Fe 0,1 -2,5mg; vitamin C 70mg; thiamin 0,01mg; ribotlavin 0,07mg

Chôm chôm cung cấp nhiều đường và các loại vitamin

Chính xác hơn nữa có thể dựa vào thành phần sinh hóa của nước trong cùi Chất hòa tan, đo bằng một chiết quang kế khi chín là 17 – 21% Độ chua (TA) tính bằng axit xitric khoảng 0,55% và pH từ 4 đến 5

Không nên hái quả quá chín vì vỏ quả sẽ có màu đỏ bầm, cùi quả bị đục, khô và cứng hơn bình thường, phẩm chất kém

Xác định thời gian chín chính xác khó vì trên 1 cây, từ quả chín trước nhất đến quả chín sau cùng mất tới 1 tháng Thu hoạch 1 lần, cả cây hoặc cả vườn khi khi quả có độ chín khác nhau tiết kiệm được lao động nhưng ảnh hưởng lớn đến chất lượng vàthường người ta thu hoạch nhiều lượt , quả chín hái trước Ở Việt Nam, hái cả chùm nhưng ở Thái Lan, Philippin có nơi hái và bán từng quả riêng lẻ để có sự đồng đều cần thiết

Một vườn chôm chôm thừơng hái làm nhiều lần, cách nhau 3 -7 ngày hay hơn

Trang 33

Năng suất quả tươi trên cây thay đổi tùy giống, tuổi cây và điều kiện chăm sóc Cây 3 tuổi có khả năng cho 10 – 20kg quả, 6 năm tuổi: 30 – 100kg, 9 năm: 55 – 200kg, 12 năm: 85 – 300kg, 21 năm: 300 – 400kg quả /cây

3.7 Bảo quản :

Ở độ nhiệt 25oC, khi bảo quản trong môi trường tự nhiên, trọng lượng quả chôm chôm giảm đi nhanh Đó là vì mất nước nhiều, đặc biệt đ diện tích của các gai quả rất lớn so với thể tích Trọng lượng mất đi sau 5 -8 ngày từ 22% đến 255 tùy giống chôm chôm Độ nhiệt càng cao, trọng lượng mất đi càng nhiều Bảo quản trong túi polyetylen (PE) trọng lượng mất đi ít hơn, nhưng nếu nhiệt độ vẫn cao thì hoạt động gây hư, thối của vi khuẩn rất mạnh

Nếu không đóng gói và ở nhiệt độ tự nhiên chỉ sau 72h hoặc ít hơn, quả mất nước và đen lại Ở độ nhiệt 8oC, bảo quản được 6 ngày Để trong túi PE kín kết hợp với nhiệt độ thấp có thể bảo quản được 18 ngày Tăng nồng độ C02 trong túi tới 7% và

ở độ nhiệt 8oC quả không còn thở nữa và có thể bảo quản được tới 30 ngày

Trong thực tế nên bảo quản ở độ nhiệt khoảng 10oC trong túi PE có đục lỗ, quảcòn tốt , không đổi màu sau 10 ngày và sau 12 ngày trong túi PE kín

3.8 Một số ứng dụng :

Cũng như vải nhãn, chôm chôm ngoài việc ăn tươi còn có thể chế biến đặc biệt chế biến đồ hộp ( cùi ngâm trong nước đường), nhưng phải có những giống thích hợp ( hạt nhỏ, vỏ mỏng, cùi dày, thịt chắc khi chế biến giữ được màu sắc hương vị ) hoặc có thể chế biến thành xirô

Hạt chôm chôm rang lên có thể ăn được nhưng hơi bị đắng và gây ngủ, do đó dùng làm nguyện liệu để chế biến socolat Cũng có thể ép dầu, dầu chôm chôm ăn được, hoặc dùng trong công nghiệp

Chôm chôm cũng có công dụng về mặt y dược , quả có thể dùng làm thuốc giun, rễ nấu với nước làm thuốc hạ sốt, lá dùng để đắp lên chỗ sưng và vỏ cây dùng trị bệnh sưng lưỡi

Gỗ nặng, rắn, bền có thể dùng làm vật liệu xây dựng tuy nhiên dễ nứt

Trang 34

4 NHÃN

Nhãn thuộc giống Euphoria họ Sapindaceae Giống Euphoria có 7 loài Nhãn cùng họ với cây vải, chôm chôm, phổ biến là giống Euphoria longana

4.1 Nguồn gốc cây nhãn:

Nhãn có nguồn gốc từ Ấn Độ Trên thế giới Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn lớn nhất và có sản lượng cao nhất Nhãn còn được trồng ở Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Philippin Sau thế kỉ 19 nhãn được nhập vào trồng ở các nước Âu Mỹ, châu Phi, Ôtxtrâylia trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới

4.2 Phân loại :

Ở Việt Nam, nhãn có rất nhiều loại:

Nhãn lồng: quả thường to hơn các giống nhãn khác Trọng lượng trung bìnhquả đạt từ 11-12g/quả, kích thước quả khá đều Cùi nhãn bóng nhẵn, hạt nâu đen.Tỉ lệ cùi/quả đạt trung bình là 2,67%, cao hơn các giống nhãn trừ nhãn cùi điếc Quả chín ăn giòn ngọt, vỏ quả dày

Nhãn bào hàm: quả to bằng nhãn lồng, trọng lượng trung bình là 11-13g/quả Trôn quả hơi vẹo, vai quả gồ ghề, cùi dày, khô, ít nước, ăn có vị ngọt nhạt, phẩm chất quả kém hơn nhãn lồng

Nhãn cùi: trọng lượng quả từ 7-11 g/quả, quả hình cầu hơi dẹp, vỏ dày màu vàng nâu, không sáng, ít nước, độ ngọt và hương thơm kém nhãn lồng và nhãn đường phèn, cùi dày khoảng 4,7 mm Tỉ lệ cùi/quả đạt 58% Tiêu biểu cho giống này là nhãn Hưng Yên (thị xã và vùng chung quanh), đặc biệt là nhãn Phố Hiến xưa kia dùng để tiến vua(gọi là nhãn tiến) Nhãn cùi chủ yếu dùng để sâý khô làm long nhãn

Nhãn đường phèn: màu sắc vỏ quả và kiểu chùm quả tương tự nhãn lồng, song quả tròn hơn và nhỏ hơn nhãn lồng Trọng lượng trung bình từ 7-12g/quả Vỏ quả màu nâu nhạt, dày, giòn, hàm lượng nước trong cùi nhiều hơn nhãn lồng Cùi tương đối dày, trên mặt cùi có một u nhỏ như cục đường phèn Tỉ lệ cùi/quả là 60% Quả ăn thơm, có vị ngọt đậm đà, chín muộn hơn nhãn cùi từ 10-15 ngày

Nhãn nước: quả to trọng lượng trung bình là 6,15g/quả, hạt to, vỏ mỏng, cùimỏng, vị ngọt Độ dày cùi là 2,7 mm, tỉ lệ cùi/quả là 31% Hàm lượng đường trong quả thấp 11,7% Loại nhãn này thường để sấy khô để làm long nhãn

Nhãn cùi điếc : giống nhãn này có đặc điểm giống nhãn cùi song hạt của nó rất bé (trung bình là 0,6 g/hạt), trọng lượng trung bình của quả là 8,6 g/quả Tỉ lệ cùi/quả là 74,7%

Nhãn thóc: hay nhãn trơ, nhãn cỏ Giống nhãn này có đặc trưng cơ bản giống nhãn nước Trọng lượng quả trung bình đạt 5,23g/quả Tỉ lệ cùi/quả rất thấp chỉ27,4% Đây là loại quả có phẩm chất kém nhất trong các loại nhãn

Trang 35

Nhãn tiêu da bò(nhãn tiêu Huế): trọng lượng quả trung bình là 10g/quả, tỉ lệ cùi/quả khoảng 60% Cùi dày, hạt nhỏ, ráo nước, độ ngọt vừa phải, ít thơm Khi chín có màu vàng da bò sẫm hơn.

Nhãn xuồng cơm: được xếp hạng nhất trong cuộc thi cây ăn quả do cục khuyến nông khuyến ngư tổ chức Quả trên chùm to, đều nhưng không sai, cùi dày màu vàng, ít nước nhưng ngọt và thơm hơn tiêu da bò, dùng để ăn tươi là chính , ở giữa cuống và quả có một rãnh nhỏ, hai bên đầu nhô lên giống như chiếc xuồng nên gọi là tiêu xuồng

Nhãn long tiêu đường: quả cùi dày, nhiều nước ngọt, thơm, cùi quả đều, dùng để ăn tươi là chủ yếu

Nhãn long: trọng lượng quả trung bình là 15g, vỏ quả màu vàng sáng hoặc vàng ngà có đường ráp vỏ Hạt màu đen đa số có đường nứt ở vỏ Cùi quả mềm, mỏng, tỉ lệ cùi/quả là 30%, nhiều nước ăn ngọt và thơm, ít dùng để ăn tươi mà để sấylà chính

Nhãn giồng da bò: trồng nhiều trên đất cát giồng ở huyện Vĩnh Long, Vũng Tàu, Tiền Giang, Long Hải Quả khi chín có màu da bò hoặc vàng sáng, cùi dày, dai, tỉ lệ cùi/quả khoảng 65%, ít thơm Nhãn giồng da bò tuy ăn không ngon song có ưu điểm thích nghi với vùng đất xấu, đất có ảnh hưởng mặn

4.3 Đặc tính thực vật:

Về hình thái nhãn rất giống vải và chôm chôm, cây cao từ 5-10 m, trái tròn đều và mọc thẳng khi trồng Vỏ thân thường sần sùi, gỗ thì giòn hơn, lá có cuống, có 4-9 cặp lá chét xếp hơi đối nhau trên trục của nó Hoa có 2 loại: hoa lưỡng tính và hoađực.Các loại hoa phát triển gối lên nhau trên một phát hoa, hoa đực nở trước hoa lưỡng tính nở sau, cuối cùng hoa đực lại nở Thời gian nở một hoa là 3-4 ngày Phát hoa mọc ở đầu ngọn cành, không mang lá thẳng và có những que nhỏ phân nhánh với góc độ dài đến 30 cm, hoa nhỏ có màu vàng nâu lợt, có 5-6 cánh hoa Nhị đực có lông

tơ, nhưng không có bao phấn, bầu noãn chia hai, có khi chia 3 phần Trái thuộc loại quả hoạch màu xanh từ lúc còn non, khi chín có màu vàng đục, chùm trái có thể mang đến 80 trái Vỏ trái láng mỏng và dai Cơm trái có màu trắng trong, ít dính vào hạt Hạt tròn đen kích thước tuỳ theo giống

4.4 Điều kiện sinh trưởng:

 Nhãn cần rất nhiều ánh sáng, nếu ánh sáng chiếu được vào bên trong tán lá cây sẽ phát triển tốt và thường sai quả Ánh sáng giúp cho quả đậu tốt, vỏ quả bóng láng và hương vị thêm ngọt

 Lượng mưa hàng năm thích hợp cho nhãn là 1000-2000 mm, cây cần nhiều nước nhất vào thời kì đậu quả và ở giai đoạn phát triển của quả

 Cây nhãn ưa đất cát pha, đất thịt nhẹ, nhưng ít thích hợp trên đất thịt nặng, đất quá ẩm ướt, pH thích hợp là 4,5-6

Trang 36

 Nước ta từ Bắc tới Nam ở đâu cũng trồng được nhãn.Tuy nhiên do đặc điểm của khí hậu và đất đai khác nhau nên từng địa phương hình thành những dạng hình nhãn với những đặc điểm ít nhiều khác nhau.

 Nhãn chịu nóng và chịu rét khá hơn vải, nhiệt độ bình quân năm

21-270C là thích hợp cho cây nhãn sinh trưởng và phát triển Để cho cây phân hoá mầm hoa được tốt mùa đông cần có một thời gian có nhiệt độ thấp

4.5 Thành phần hoá học của quả :

Quả nhãn có hàm lượng cacbonhydrat cao Nhãn chứa sinh tố C(acid ascorbic) C6H8O6 là yếu tố tham gia vào quá trình oxy hoá khử trong cơ thể con người Lượng sinh tố C trong nhãn từ 20-60mg% Ngoài ra, trong thành phần quả nhãn còn có protein và các khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể Độ ngọt nhãn cao, hợp khẩu vị, độ Brix nhãn cao từ 22-23%, ít thấy ở các quả khác Trong phần ăn được của nhãn có giá trị calo cao do chứa nhiều đường, khá giàu khoáng chất

Bảng4.1 :Thành phần hoá học của 100g nhãn tươi và sấy khô

Thành phần Nhãn

tươi

Nhãn khô

 Sâu đục gân lá: bướm cái đẻ trứng trên các cành, lá nhãn non Sâu nở

ra ăn phá bằng cách đục vào gân chính của lá, làm đứt nghẽn mạch nhựa của lá, lá không phát triển được hoặc bị méo mó.Triệu chứng lá bị cháy khô đầu trông giống lá

bị bệnh

 Phòng: tỉa cành để các đợt ra lộc được tập trung hơn dễ kiểm soát Phun thuốc tronggiai đoạn cây ra hoa đợt non bằng các loại thuốc như: Fenbis, Sagomicin, Cymbus

 Sâu đục trái: thành trùng hoạt động vào ban đêm, ban ngày chúng nấp

ở nơi tối hoặc dưới lá cây kí chủ Cả thành trung đực và cái đều ăn mật hoa Sâu có thể gay hại từ khi trái còn nhỏ đến sắp thu hoạch, nặng nhất là khi trái ban đầu có

Trang 37

cơm.Trái non bị sâu đục thường biến dạng, khô và rụng, trái lớn nếu bị hại sẽ kém phẩm chất.

 Phòng: vệ sinh vườn sạch sẽ, cắt tỉa cành sau thu hoạch, dùng bẫy đèn với ánh sángđen để bẫy sâu trưởng thành, có thể bao trái Có thể phun: Voninam, Fenbis, Karate, Polytrin, Cymbus…

 Bọ xít: là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên nhãn vùng đồng bằng sông Cửu Long, gây hại chủ yếu vào giai đoạn cây ra đọt non, làm rụng hoa, rụng trái, chết các cành của phát hoa, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và sinh trưởng của cây

 Phòng: tỉa cành ở các đợt ra hoa và đợt non, dùng vợt bắt bọ trưởng thành vào sáng sớm Phun thuốc khi thấy mật độ bọ xít cao, có thể dùng các loại thuốc: Voninam, secsaigon, Fastac, Serga… theo liều lượng khuyến cáo tên bao bì

 Rệp sáp: có khả năng sinh sản cao, có thể gây hại trên lá, cành, hoa trái Cả sâu con và trưởng thành đều chít hút nhựa cây Trong quá trình gây hại, chúngthải ra mật kích thích nấm bồ hóng phát triển lá làm giảm khả năng quang hợp của cây, trái làm giảm giá trị thương phẩm Ngoài ra vết thương do rệp sáp giúp các loại nấm bệnh khác dễ dàng xâm nhập

 Phun nước vào rửa trôi rệp, tỉa bỏ những trái bị nhiễm ở giai đoạn đầu để tránh sự tăng mật độ rệp sáp Phun thuốc khi thấy mật độ rệp cao bằng các loại thuốc:

Pyrinex, Fenbis, Supracide, Admire, D-C tron plus Khi phun có thể kết hợp với chất bám dính để tăng hiệu quả của thuốc

Ngoài ra nhãn còn bị các sâu bệnh hại sau:

 Bệnh thối trái do nấm Phytophthora

 Bệnh phấn trắng do nấm Oidium

 Bệnh đóm bồ hóng do nấm Meliola sp

 Bệnh khô cháy hoa do nấm Phyllostica sp hoặc Pestalotia sp

4.7 Thu hoạch:

Ở miền Bắc nhãn chín vào trung tuần tháng 7 cho đến hết tháng 8 Ở miền Nam nhãn chín rãi rác hơn suốt từ tháng 6 đến cuối năm Khi chín vỏ nhãn không đổi màu rõ rệt nên người ta đánh giá dựa vào các tính chất sau:

 Màu sắc vỏ: khi chín vỏ quả chuyển từ màu nâu hơi xanh, mặt quả xù

xì sang màu nâu sáng, mặt quả nhẵn Nắm bàn tay nếu còn xanh thì quả rắn ,khi chín thì quả mềm do vỏ quả mỏng hơn, cùi nhiều nước hơn

 Bóc vỏ xem hạt: quả xanh thì hạt trắng vàng hoặc nâu nhạt, quả chín thì hạt nâu đen và khi màu hạt chuyển sang màu nâu đen đến chín còn vài tuần lễ nữa Khi chín, cùi nhãn nhiều nước có mùi thơm, vị ngọt và đây là chỉ tiêu rõ ràng nhất Nhưng quả chín để lâu trên cây thì rụng, do đó phát hiện quả nguyên vẹn mà bị rụng thì có thể thu hoạch được Nên hái quả vào buổi sáng hoặc buổi chiều tránh buổitrưa quá nóng Hái cả chùm không nên để lại cuống quả ảnh hưởng đến việc ra hoa quả năm sau Dùng thang 3 chân hoặc trèo lên cây lấy câu liềm kéo cành nhãn

Trang 38

ñaât Haùi quạ xong khođng neđn ñeơ ngoaøi naĩng maø neđn cho vaøo choê rađm, neâu chöa chuyeơn ñi kòp thì neđn rại moûng ra, khođng neđn xeâp thaønh töøng ñoâng quạ seõ bò haâp hôi choùng hoûng.

4.8 Bạo quạn:

 Traùi nhaõn khođng chín sau thu hoách ,coù theơ ngót theđm ñođi chuùt nhöng muøi keùm ñi Sau khi haùi xuoâng, tưa boû caùc quạ beônh vaø caùc quạ bò thöông cô giôùi

 Xöû lyù hoaù chaât ñeơ bạo quạn:

Duøng Benlate vôùi noăng ñoô 0,1%, nhuùng quạ vaøo dung dòch roăi vôùt ra, hong khođ

ôû nôi rađm

 Bao goùi:

Sau khi xöû lyù baỉng hoaù chaât coù theơ cho vaøo tuùi giaây, hoôp carton, hoaịc sót tre, hoøm goê thöa ñeơ bạo quạn Trong ñoă ñöïng neđn loùt giaây polyetylen daøy 0,02 mm ñeơ choâng aơm

Moêi tuùi coù theơ chöùa 10-15 kg quạ; cuõng coù theơ chia thaønh nhöõng tuùi nhoû moêi tuùi 1 kg, 10-15 tuùi ñoùng trong moôt hoøm carton hay sót tre

 Bạo quạn lánh quạ töôi:

Ñeơ giöõ cho quạ ñöôïc töôi lađu, sau xöû lyù vaø bao goùi cho vaøo kho lánh caøng nhanh caøng toât Ñeơ trong ñieău kieôn nhieôt ñoô 5-100C Neâu phại vaôn chuyeơn ñeân thò tröôøng thì coù theơ duøng phöông tieôn lánh ôû nhieôt ñoô tređn 100C

Neâu muoân giöõ quạ moôt thôøi gian sau ñeơ cheâ bieân thì neđn bạo quạn trong ñieău kieôn nhieôt ñoô thaâp hôn, khoạng 3-50C vaø ñoô aơm khođng khí tređn 90% Trong ñieău kieôn nhö vaôy coù theơ bạo quạn ñöôïc trong 10-15 ngaøy Khi ñem quạ ra khoûi kho lánh ñeơ cheâbieân toât nhaât phại laøm nhanh vaø khođng keùo daøi quaù 4 tieâng ñoăng hoă sau khi ñöa ra khoûi kho lánh ñeơ khođng ạnh höôûng ñeân chaât löôïng ñoă hoôp

4.9 Moôt soâ öùng dúng:

 Long nhaõn :nhaõn ñem saây khođ cho cuøi ñen lái, coù muøi thôm ngon, aín nhö möùt coøn ñöôïc gói laø long nhaõn Nhaõn saây khođ ñoøi hoûi nhieău kinh nghieôm, kó thuaôt saây phại thuaăn thúc Yeđu caău nhaõn ñem saây phại ít nöôùc, voû moûng Nhaõn saây phại coù ñoô chín toât Quạ nhaõn sau khi haùi ñöôïc röûa, ngađm nöôùc ñeơ loái boû quạ hoûng, quạ chöa ñụ ñoô chín Sau ñoù ngöôøi ta cho nhaõn vaøo trong moôt caùi gioû laĩc baỉng tre, goê, mađy… troôn theđm ít ñaât caùt roăi laĩc ñeău ñeơ voû moûng deê saây Saây nhaõn trong loø moêi mẹ khoạng

250 kg Saây khoạng 2 laăn, laăn ñaău saây khoạng 24 h ñạo ít nhaât 3 laăn Saây baỉng cụi khođ vaø löûa phại ñeău, saây xong laăn 1 laẫy ra ñôïi khoạng 48 h Phađn ít nhaât 2 loái, roăi tieâp túc saây laăn 2 Thôøi gian saây laăn 2 töø 6-8 h tuyø kích thöôùc nhaõn laăn naøy phại ñeơ löûa thaôt ñeău vaø thöôøng xuyeđn kieơm tra vì nhaõn raât deê chaùy Nhaõn saây phại khođ neâu khođng raât deê bò nhieêm vi sinh vaôt

 Nhaõn ñoùng hoôp: nhaõn thöôøng ñoùng hoôp vôùi nöôùc ñöôøng Nhaõn ñoùng hoôpcoù tính chaât gaăn gioâng nguyeđn lieôu Nhaõn ñoùng hoôp yeđu caău thòt nhaõn phại daøy, tư leô khoâi löôïng côm/traùi cao, ñoô Brix cao Nhaõn sau khi haùi boû cuoâng, röûa sách, roăi taùch

Trang 39

lấy phần thịt Sau đó ngâm thịt nhãn vào trong dung dịch CaCl2 để thịt nhãnh không bịmất màu, săn chắc mà không mềm nhũng Sau đó chần nhanh để loại bỏ bọt khí rồi rót dung dịch siro đường vào Dịch sirô có độ Brix khoảng 25% gồm đường

Saccharose, acid citric và chất bảo quản Nhiệt độ rót sirô khoảng 900C, rồi thanh trùng ở nhiệt độ 900C trong 15 phút

 Nhãn còn được chế biến nhiều món ăn ngon và bổ dưỡng như chè hạt sen nấu với nhãn, cocktail nhãn, nhãn chế biến cùng với khoai mỡ, hay táo… người ta còn làm siro nhãn và rượu từ nhãn

MỘT SỐ HÌNH ẢNH QUẢ NHÃN

Trang 40

NHÃN XUẤT TƯƠI KẸO NHÃN

5.2 Phân loại:

Trong sản xuất hiện nay thường gặp 3 nhóm chính:

Vải chua: cây mọc khoẻ, quả to trọng tượng trung bình 20-50g, hạt to Tỉ lệăn được chiếm 50-60%, là loại chín sớm Điều dễ phân biệt là chùm hoa vải chua từ cuống đến các nụ hoa có phủ một lớp lông màu đen Vải chua ra hoa đậu quả đều và năng suất ổn định hơn vải thiều

Vải nhỡ: cây to hoặc trung bình, tán cây dựng đứng, lá to Chùm hoa có độ dài và lớn trung gian giữa vải chua và vải thiều, có lông màu đen nhưng thưa hơn vải chua, trong số đó cũng có cây chùm hoa có lông màu trắng Quả bằng quả vải chua loại nhỏ, hạt to, phẩm chất quả kém hơn vải thiều Khi chín vỏ quả vẫn có màu xanh,

ở đỉnh quả có màu tím đỏ, ăn ngọt, ít chua

 Vải thiều: còn gọi là vải Tàu Nhân giống bằng chiết cành nên các đặc tínhvề sinh học, kinh tế tương đối ổn định, có độ đồng đều cao, dễ nhận dạng Tán cây hình tròn bán cầu, lá nhỏ, phiến lá dày, bóng phản quang Để có thể ra hoa được đòi hỏi mùa đông nhiệt độ thấp Chùm hoa và nụ có màu trắng, quả nhỏ hơn vải chua, trung bình nặng 25-30g, hạt nhỏ hơn vải chua Tỉ lệ ăn được cao 70-80% Chín muộn hơn vải chua

Gần đây có nhập một số giống vải Trung Quốc: quế vị, hoài chi, hắc điệp, tam nguyệt hồng, phi tử tiếu, đại tạo

Ngày đăng: 29/10/2012, 17:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn.Vụ khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm.“ Tên cây rừng Việt Nam”. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội – 2000
[2] Vũ Công Hậu “ Trồng cây ăn quả ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng cây ăn quả ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1996
[3] Nguyễn Văn Siêu “Kỹ thuật trồng chuối, dứa, gấc, đu đủ”. Nhà xuất bản Nông nghieọp – 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng chuối, dứa, gấc, đu đủ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nôngnghieọp – 1960
[4] Tôn Thất Trình “ Tìm hiểu về các loại cây ăn quả có triển vọng xuất khẩu”. NXB Noõng nghieọp – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về các loại cây ăn quả có triển vọng xuất khẩu
Nhà XB: NXB Noõng nghieọp – 1996
[5] Lê Thanh Phong, Dương Minh, Võ Thanh Hoàng “ Cây xoài”. Nhà xuất bản Noõng nghieọp – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây xoài
Nhà XB: Nhà xuất bản Noõng nghieọp – 1996
[6] Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Trọng Khiêm, Cù Xuân Dư “ Sổ tay kỹ thuật trồng cây ăn quả”. Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật trồng cây ăn quả
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1978
[7] Lê Thanh Phong, Dương Minh, Võ Thanh Hoàng “ Kỹ thuật trồng nhãn”. Nhà xuất bản Nông nghiệp -1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng nhãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp -1996
[8] Tủ sách bạn nghe đài “Chuyên đề cây ăn trái”. Nhà xuất bản Nông nghiệp TPHCM – 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề cây ăn trái
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp TPHCM – 1997
[9] Nguyễn Thành Hội, Dương Minh, Võ Thanh Hoàng “ Cây đu đủ”. Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đu đủ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1996
[11] Sài Gòn giải phóng. Mục “Khoa học và đời sống” – 02/01/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và đời sống
[13] Nguyễn Văn Siêu, Đặng Xuân Nghiêm, Lê Văn Căn “Kỹ thuật trồng mít”. Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng mít
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp – 1960
[14] Vũ Công Hậu “ Trồng mãng cầu”. Nhà xuất bản Nông nghiệp TPHCM – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng mãng cầu
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp TPHCM – 1996
[12] Ts Trần Văn Chương”Công nghệ bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch”. Tập 1. Nhà xuất bản văn hoá dân tộc Hà Nội – 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Bảng chú thích công dụng của cây - Trái cây nhiệt đới
Bảng 4 Bảng chú thích công dụng của cây (Trang 6)
Bảng 3: Bảng chú thích vùng - Trái cây nhiệt đới
Bảng 3 Bảng chú thích vùng (Trang 6)
Bảng 3:Thành phần hóa học của một số giống dứa - Trái cây nhiệt đới
Bảng 3 Thành phần hóa học của một số giống dứa (Trang 13)
Bảng 5:Sự thay đổi thành phần hóa học của dứa Victoria nhập nội theo  độ chín - Trái cây nhiệt đới
Bảng 5 Sự thay đổi thành phần hóa học của dứa Victoria nhập nội theo độ chín (Trang 14)
Bảng 9:Đặc điểm công nghệ của một số giống dứa - Trái cây nhiệt đới
Bảng 9 Đặc điểm công nghệ của một số giống dứa (Trang 19)
Bảng 8:Thành phần cacù bộ phận của cây dứa - Trái cây nhiệt đới
Bảng 8 Thành phần cacù bộ phận của cây dứa (Trang 19)
Bảng 13:Thành phần hóa học một số giống - Trái cây nhiệt đới
Bảng 13 Thành phần hóa học một số giống (Trang 45)
Bảng 17: Diện tích và năng suất chuối - Trái cây nhiệt đới
Bảng 17 Diện tích và năng suất chuối (Trang 48)
Bảng 21:Thành phần hóa học của đu đủ - Trái cây nhiệt đới
Bảng 21 Thành phần hóa học của đu đủ (Trang 63)
Bảng 24: Thành phần dinh dưỡng của ổi tính trên 100g phần ăn được - Trái cây nhiệt đới
Bảng 24 Thành phần dinh dưỡng của ổi tính trên 100g phần ăn được (Trang 71)
Bảng 25: Những nước trồng nhiều sầu riêng nhiều nhất - Trái cây nhiệt đới
Bảng 25 Những nước trồng nhiều sầu riêng nhiều nhất (Trang 75)
Bảng 26: Những giống phổ biến - Trái cây nhiệt đới
Bảng 26 Những giống phổ biến (Trang 76)
Bảng 27: Thành phần dinh dưỡng - Trái cây nhiệt đới
Bảng 27 Thành phần dinh dưỡng (Trang 79)
Bảng 30: Thành phần hoá học của mãng cầu xiêm và mãng cầu ta (trong 100g phần ăn - Trái cây nhiệt đới
Bảng 30 Thành phần hoá học của mãng cầu xiêm và mãng cầu ta (trong 100g phần ăn (Trang 97)
Bảng 31: Aûnh hưởng của kích thước đến chất lượng quả - Trái cây nhiệt đới
Bảng 31 Aûnh hưởng của kích thước đến chất lượng quả (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w