1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Bài tập lớn quản trị doanh nghiệp

31 2,1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Lớn Quản Trị Doanh Nghiệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Doanh Nghiệp
Thể loại Bài Tập Lớn
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 191 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc UNIDO định nghĩa vềcông nghệ như sau: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sửdụng các kết quả nghiên cứu và

Trang 1

Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) định nghĩa vềcông nghệ như sau: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sửdụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp.

Còn đối với Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) địnhnghĩa: Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu

và thông tin Nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiets bị và phương pháp sử dụngtrong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin

Như vậy, nếu như định nghĩa của UNIDO nhằm nhấn mạnh vtinhs khoa học làthuộc tính của công nghệ và khía cạnh hiệu quả của công nghệ khi xem xét việc sử dụngcông nghệ cho mục đích nào đó thì định nghĩa của ESCAP lại được coi là một bướcngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ

Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra một định nghĩa khái quát nhất về công

nghệ như sau: Công nghệ là sự ứng dụng thành quả khoa học kỹ thuật nhằm biến đổi tất

cả những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành đầu ra.

Hiện nay, loài người đang chứng kiến những thay đổi to lớn trong tất cả các lĩnhvực của đời sống, mà xuất phất điểm của nó chính là sự phát triển, tiến bộ không ngừngcủa khoa học và công nghệ Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải nhanh chóng nắm bắt vàứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, kinhdoanh Vì các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao sẽ có lợi thế trong các cuộc cạnhtranh Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phải tạo được một lợi thế mạnh trên thịtrường bằng những sản phẩm có năng lực làm thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng về cả số

Trang 2

lượng, chất lượng, kiểu dáng, tính thẩm mỹ của sản phẩm và quan trọng hơn là phải cónăng lực thỏa mãn người tiêu dùng cao hơn Muốn vậy doanh nghiệp cần nắm được cácyếu tố quan trọng khi áp dụng công nghệ.

và vận hành bởi con người

- Phần con người (Humanware): Muốn máy móc, trang thiết bị hoạt động được thì phảicần có con người Con người ở đây có thể là người sử dụng, vận hành nhưng cũng có thể

là người chế tạo hoặc cải tiến ra máy móc…Con người trong công nghệ được hiểu lànăng lực của con người về công nghệ như: kỹ năng, kinh nghiệm, sự sang tạo, khả nănglãnh đạo,…Con người không những làm cho máy móc, trang thiết bị phát huy hết khảnăng của chúng mà còn đóng vai trò chủ động trong toàn bộ công nghệ Tất nhiên, conngười chịu sự chi phối của thông tin và tổ chức

- Phần thông tin (Inforware): Thông tin được coi là sức mạnh của công nghệ Thông tintrong công nghệ thể hiện ở tri thức được tích lũy trong công nghệ thông qua những kháiniệm, lý thuyết, các phương pháp, các thông số, cacsss công thức, bí quyết,…Nhờ nhữngtri thứ này mà con người rút ngắn được thời gian và sức lực khi giải quyết các công việc

có liên quan đến công nghệ Điều quan trọng là những thông tin này phải thường xuyênđược cập nhật và gắn liền với công nghệ vì đối với cùng một công nghệ nhưng nếu sửdụng lượng kiến thức khác nhau sẽ tạo ra được những sản phẩm khác nhau

- Phần tổ chức (Orgaware): Phần này được coi là động lực của công nghệ Bất kỳ một hệthống nào cũng cần phải có một tổ chức để điều hành hoạt động của hệ thống Công nghệcũng vậy, nó cần phải có một bộ phận chịu trách nhiệm phối hợp các thành phần còn lạicủa công nghệ với nhau nhằm đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả nhất Phần tổ chức giúpcho việc quản lý, lập kế hoạch, tổ chức bộ máy nhân lực, kiểm soát các hoạt động biến

Trang 3

đổi,…Phần tổ chức phụ thuộc vào tính phức tạp của các phần thiết bị, thông tin trongcông nghệ và bản than nó cũng có thể thay đổi theo thời gian.

2 Đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp

2.1 Thực chất của việc đổi mới công nghệ

- Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, việc lựa chọn những phương

án công nghệ mới phù hợp có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao đang ngày càng trở nênquan trọng và cần thiết không chỉ riêng các doanh nghiệp mà còn mở rộng đến toànngành

- Theo quan điểm phổ biến và hiện đại trên thế giới: Đổi mới công nghệ là việc thay thế các thiết bị lạc hậu đang có bằng thiết bị hiện đại, thay thế cho quy trình sản xuất mới hiện đại hơn, tiến bộ hơn quy trình đang áp dụng Sự thay đổi này kéo theo đồng

thời quá trình biến đổi về chất của các yếu tố khác trong công nghệ, như: nâng cao nănglực sản xuất của người lao động, đổi mới biện pháp quản lý tổ chức các yếu tố công nghệ,

xử lý các thông tin nhằm cải tiến hoặc sản xuất ra các sản phẩm mới có khả năng đáp ứngnhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Có thể nói, đổi mới công nghệ là sự hoànthiện không ngừng các yếu tố của công nghệ dựa trên những thành tựu khoa học kỹ thuậtnhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đáp ứng tốt nhất nhu cầu người tiêudùng

* Một số phương thức đổi mới công nghệ như sau:

- Công nghệ truyền thống đang có của ngành, doanh nghiệp được cải tiến hiện đại hóa dần dần để từng bước đổi mới công nghệ hiện có lên trình độ tiên tiến, hiện đại.

- Kết hợp việc cải tiến hiện đại hóa với tự nghiên cứu để phát triển công nghệ mới, thay

thế cho công nghệ cũ lạc hậu đang được áp dụng

- Nhập và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại từ nước ngoài, thông qua các kênh đầu

tư trực tiếp nước ngoài của các công ty đa quốc gia, nhập máy móc thông tin qua hợp táckinh doanh trên cơ sở hợp đồng, trả dần vốn qua bao tiêu sản phẩm, mua các lixăng sangchế, nhận hỗ trợ của các hang thiết bị,…Đây là phương thức chuyển giao mang lại hiệuquả có tính chất đột biến

Trang 4

2.2 Sự cần thiết của đổi mới công nghệ

- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong những thập niên gần đây đã mở ra cho loàingười những khả năng vô cùng to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là việc ứng dụng

nó trong đời sống của con người Song song với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cáccông nghệ mới cũng liên tiếp ra đời để phục vụ cho đời sống và sản xuất

* Đối với một quốc gia:

- Công nghệ là yếu tố cơ bản của sự phát triển ở mỗi quốc gia Đổi mới công nghệ gópphần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển đangcần động lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tiến bộ khoa học công nghệ,đổi mới công nghệ là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Nhờđổi mới công nghệ mà cơ sở vật chất kỹ thuật của cả nền kinh tế được cải thiện một cáchđáng kể

Dưới tác động của đổi mới công nghệ, cơ cấu ngành sẽ đa dạng, phong phú và phức tạphơn Đổi mới công nghệ sẽ tạo ra nhiều ngành mà trước khi đổi mới không có Các ngànhyêu cầu hàm lượng kỹ thuật cao sẽ phát triển nhanh hơn các ngành nghề truyền thống vớihàm lượng khoa học thấp Đổi mới công nghệ sẽ góp phần làm tăng chất lượng sản phẩmđồng thời cũng làm tăng tính cạnh trnah của sản phẩm trên thị trườn, góp phần thúc đẩytiêu thụ, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một quốc gia

- Về mặt xã hội: Đổi mới công nghệ giúp tạo ra nhiều việc làm mới Vì mỗi một côngnghệ sau khi ra đời thường tạo công ăn việc làm cho một số lao động nhất định Nhữnglao động này thông qua đào tạo nâng cao về kiến thưc, tay nghề để có thể sử dụng hiệuquả công nghệ đó

* Đối với doanh nghiệp:

+ Đổi mới công nghệ là động lực thúc ddaayrdoanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh trênthị trường

- Đổi mới công nghệ sẽ làm cho chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên, đáp

ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng Và khi chất lượng sản phẩm, dịch vụtăng lên sẽ tạo ra được uy tín với khách hàng về sản phẩm của mình Thậm chí chỉ cầnnhắc đến tên sản phẩm là khách hàng đã có một ấn tượng tốt về chất lượng của sản phẩm

đó Như vậy, đổi mới công nghệ sẽ tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị

Trang 5

trường Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường khi mà các doanh nghiệp không ngừngnâng cao chất lượng sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu khách hàng Và nếu doanh nghiệpkhông chịu đổi mới công nghệ thì sẽ không có khả năng cạnh tanh trên thị trường,

- Đổi mới công nghệ còn làm tăng năng suất lao động Khi ứng dụng các công nghệ

hiện đại vào sản xuất sẽ giảm bớt được hoa phí lao động trên một sản phẩm, hạ giá thành

và làm cho sản phẩm có thể cạnh tranh được trên thị trường

+ Đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp mở rộng được thị trường trong nước, đồng thời

dễ dàng xâm nhập vào thị trường nước ngoài

- Khi đổi mới công nghệ làm cho số lượng và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng lêntương ứng Điều này sẽ làm cho lượng hàng hóa được tieu thụ cũng tăng lên, nhờ đó màdoanh nghiệp có thể mở rộng được thị trường Đối với thị trường nước ngoài, một thịtrường có thể nói là rất khó tính, nếu doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu về chấtlượng và mẫu mã, bao bì thì việc xâm nhập vào thị trường đó sẽ có rất nhiều thuận lợi.Doanh nghiệp có thể tạo dựng được uy tín lâu dài trren thị trường này nhờ việc duy trìchất lượng của sản phẩm

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ

- Mặc dù nhận thức được rõ vai trò và sự cần thiết của đổi mới công nghệ, nhưng khôngphải bất cứ ngành nào, doanh nghiệp nào, quốc gia nào muốn là có thể thực hiện đượcngay Bởi đổi mới công nghệ được xét ở nhiều căn cứ, trong đó trước tiên là phải xuấtphát từ mục tiêu kinh tế, xã hội tạo cho ngành trong từng thời kỳ Ngoài ra, còn phải căn

cứ vào trình độ công nghệ hiện có của bản thân doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh củacác đối thủ khác, xét về mặt công nghệ

- Có thể xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ từ 4 góc độ sau đây:

2.3.1 Đường lối chính sách của nhà nước

- Đường lối, chính sách của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ có ảnhhưởng rất lớn tới sự phát triển công nghệ của một quốc gia và quá trình đổi mới của từngdoanh nghiệp Đường lối, chính sách về công nghệ được thể hiện rất rõ ở chính sách côngnghệ của mỗi quốc gia Nó quy định khung pháp lý cho sự phát triển công nghệ của chính

Trang 6

nước đó thông qua cách thức phát triển công nghệ - đây là nền tảng cho các hoạt động cóliên quan đến công nghệ.

+ Đường lối, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện đổimới công nghệ bằng các chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách mở cửa, ngoạithương hay chính sách thuế,…

+ Thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ

+Tổ chức đào tạo nhằm nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ khoa học kỹ thuật

2.3.2 Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải đổi mới công nghệ Tuynhiên, việc đổi mới công nghệ lại phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.Đối với những doanh nghiệp khác nhau thì có phương hướng, biện pháp, mục đích đổimới công nghệ cũng khác nhau Chúng ta có thể xem xét 2 nhân tố ảnh hưởng đến doanhnghiệp nhiều nhất liên quan đến đổi mới công nghệ

đề liên quan, doanh nghiệp mới có thể tiến hành được những bước tiếp theo

+ Hai là, năng lực công nghệ

- Năng lực công nghệ được hiểu là tập hợp những nguồn lực tự nhiên, nguồn lực conngười và khả năng biến những nguồn lực đó thành hàng hóa Năng lực công nghệ củamột quốc gia quyết định việc sử dụng công nghệ, triển khai, thay đổi công nghệ

- Một doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao là một doanh nghiệp có một đội ngũ cán

bộ kỹ thuật cũng như nhân công giỏi Doanh nghiệp có thể nhanh chóng nắm bắt và làmchủ các công nghệ mới, đồng thời có thể cải tiến công nghệ nhập sao cho phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình Nếu một doanh nghiệp có năng lực công nghệ

Trang 7

thấp thường gặp phải nhiều khó khăn khi triển khai, áp dụng công nghệ vào sản xuất và

do đó hiệu quả đổi mới công nghệ sẽ thấp

2.3.3 Nhu cầu của sản phẩm và sự cạnh tranh trên thị trường

- Một sản phẩm nào cũng vậy, chúng không thể tồn tại lâu trên thị trường nếu nó khôngluôn được đổi mới Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu và thị hiếu của khách hàngngày càng cao Họ muốn sử dụng những sản phẩm đẹp hơn, tốt hơn, bền hơn nhưng giá

cả thì lại phải chấp nhận được Những sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của ngườitiêu dùng sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi thị trường Chính vì thế doanh nghiệp luônphải tìm cách để đáp ứng nhu cầu thị trường và một trong cách hiệu quả nhất đó chính làđổi mới công nghệ

- Bên cạnh đó, sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ cạnh tranh sẽ ảnh hưởng rất lớnđến việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Hiện nay, mỗi doanh nghiệp kinh doanhtrên thị trường đều phải chịu sự cạnh tranh của nhiều đối thủ, không chỉ trong nước màcòn nước ngoài Do đó, các doanh nghiệp luôn phải không ngừng nâng cao chất lượngsản phẩm của mình để có thể chiến thắng đối thủ khác Đổi mới công nghệ hiệu quả thìdoanh nghiệp mới tạo ra những sản phẩm mới mà thị trường có thể chấp nhận được.2.3.4 Khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

- Trước khi tiến hành đổi mới công nghệ, doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên cứuthị trường để tìm kiếm những sản phẩm thích hợp, phải xem xét khả năng tiêu thụ sảnphẩm đó trên thị trường như thế nào Điều này sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sau khi sảnxuất ra sản phẩm có thể tiêu thụ được nhanh chóng và đem lại hiệu quả cao cho doanhnghiệp

II THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TRUYỀN THÔNG TẠI VIỆT NAM

l Sự phát triển công nghệ thông tin - truyền thông trên thế giới

Công nghệ thông tin - truyền thông, mạng Internet đã làm cho khoảng cách trênthế giới ngày càng trở nên nhỏ bé Tri thức và thông tin không biên giới sẽ đưa hoạt độngkinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Sự hội

tụ công nghệ viễn thông - tin học - truyền thông quảng bá đang diễn ra mạnh mẽ trên

Trang 8

phạm vi toàn cầu và dẫn đến sự hình thành những loại hình dịch vụ mới, tạo ra khả năngmới và cách tiếp cận mới đối với phát triển kinh tế xã hội.

Cuộc cách mạng thông tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắcđến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, đưa xã hội loài người chuyểnmạnh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế trithức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ,

xử lý và trao đổi thông tin

Xu thế biến đổi to lớn đó đang đặt ra cho mọi quốc gia những cơ hội và thách thứchết sức to lớn Nắm bắt cơ hội, với ý chí và quyết tâm cao, có sự chỉ đạo trực tiếp củaĐảng và Chính phủ chúng ta có thể tận dụng tiềm năng công nghệ thông tin - truyềnthông để chuyển dịch nhanh cơ cấu nhân lực và cơ cấu kinh tế xã hội theo hướng xâydựng một xã hội thông tin, kinh tế dựa trên tri thức, góp phần quan trọng rút ngắn quátrình hiện đại hoá đất nước

Về vấn đề này, GS.TSKH Seungtaik Yang - cố vấn công nghệ thông tin của BộBưu chính, Viễn thông cũng đã khuyến nghị Việt Nam: '' Công nghệ thông tin- truyềnthông phải được hiểu như một cơ sở hạ tầng của tất cả các công nghệ trong thế kỷ 2l cũngnhư máy móc có vai trò như vậy trong thế kỷ 20 Trong thế kỷ 21, điều tất yếu là tất cảcác ngành phải chấp nhận công nghệ thông tin-truyền thông như là phương tiện chính đểđảm bảo hiệu quả, năng suất và tính cạnh tranh Do đó, ứng dụng công nghệ thông tinvào các ngành là điều cốt yếu và là vấn đề cấp bách phải làm càng sớm càng tốt Không

có bất kỳ một lý do nào để trì hoãn ''

Công nghệ thông tin phải trở thành nhân tố chủ chốt góp phần giải phóng tiềmnăng của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức tạo ra năng suất và hiệu quả trong các doanh nghiệp,làm giầu những ý tưởng mới và phát triển ngày càng nhiều các giá trị mới

2 Tình hình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam

2.1 Tình hình ứng dụng và phát triển nói chung của CNTT tại Việt Nam

Ngay từ những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ 20, trong lúc nền kinh tế củaViệt Nam còn chậm phát triển, mạng viễn thông hoàn toàn sơ khai và rất lạc hậu, ViệtNam đã quyết định đi thẳng vào kỹ thuật số thông qua con đường mở rộng hợp tác quốc

tế, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu công nghệ mới để phát triển và mở rộng mạng viễn

Trang 9

thông, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực tương ứng Đến nay, Việt Nam đã xây dựngđược mạng viễn thông rộng khắp có công nghệ hiện đại Theo thống kê của Liên minhViễn thông quốc tế ITU trong giai đoạn 1998-2003, tăng trưởng thuê bao điện thoại cốđịnh của Việt Nam (20,3%) cao hơn nhiều so với mức trung bình của ASEAN (8,9%) vàtrong giai đoạn 2001-2003 tốc độ tăng trưởng mật độ người sử dụng Internet của ViệtNam (123,4%/năm) cao nhất trong khu vực ASEAN Tính đến đầu tháng 9 năm 2004,tổng số thuê bao điện thoại (kể cả cố định và di động) hiện có trên mạng là 9.084.278 (Diđộng 42,27%, và cố định 57,73%) đạt mật độ 11,21 máy/100 dân; l.436.417 thuê baoInternet (trong đó có 20.000 thuê bao băng rộng ở 26 tỉnh, thành phố); Mật độ người sửdụng Internet là 6,55%; Dung lượng kênh Internet quốc tế đạt l.253 Mbit/s; Tỉ lệ số xã cóđiện thoại là 96,27%.

Một số ngành kinh tế trọng yếu như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, du lịch, viễnthông, hàng không đã có nhiều thành công do ứng dụng công nghệ thông tin Khoảng50% doanh nghiệp đã ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất kinh doanh vàdịch vụ Trên 30% doanh nghiệp có kết nối Internet, 10% có trang Web để phục vụ kinhdoanh, tiếp thị trong nước và quốc tế ứng dụng công nghệ thông tin đã tương đối phổbiến trong hệ thống các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, tại một số địa phương, trongquốc phòng và an ninh Hơn 50% bộ, ngành và hơn 80% tỉnh, thành phố trực thuộc đã cótrang Web, 3 tờ báo điện tử và hàng chục trang tin điện tử các loại cùng với việc truyềntín hiệu truyền hình số qua Internet góp phần đáng kể vào công tác thông tin, tuyêntruyền và đối ngoại Các trang tin điện tử của Đảng và Quốc hội được cập nhật thông tinthường xuyên, chiếm được sự quan tâm của cả trong và ngoài nước

Công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam phát triển với tốc độ trung bình 25%năm Tổng giá trị công nghiệp công nghệ thông tin năm 2003 vào khoảng 1,65 tỷ USD.Trong đó, ước tính giá trị công nghiệp phần cứng máy tính đạt khoảng 850 triệu USD,công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông đạt khoảng 180 triệu USD, công nghiệp điện tửđạt khoảng 500 triệu USD, doanh thu sản phẩm và dịch vụ phần mềm đạt khoảng 120triệu USD Công nghiệp nội dung thông tin đang hình thành và phát triển, phục vụ ngàycàng có hiệu quả mọi đối tượng trong nhân dân

Trang 10

Công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin đã có những chuyển biến tích cực,góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động với tỷ lệ lao động tri thức ngày càng cao Tính đếnnăm 2004 đã có 62 cơ sở bậc đại học, 101 cơ sở bậc cao đẳng, 108 cơ sở bậc trung họcchuyên nghiệp thực hiện đào tạo chính qui về công nghệ thông tin và 69 cơ sở đào tạo phichính qui ở các trình độ khác nhau Chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng về công nghệthông tin-truyền thông bình quân hàng năm tăng 50%, số sinh viên sau đại học tăng 30%.100% trường đại học, cao đẳng, 93,48% trường trung học phổ thông đã nối mạngInternet.

Những kết quả ban đầu đạt được trong hoàn cảnh kinh tế của nước ta trong giaiđoạn chuyển đổi tuy còn ở mức thấp nhưng đã được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao.Trong những đánh giá tổng thể gần đây về mức độ sẵn sàng cho một xã hội kết nối mạng,hay chiến lược phát triển một đất nước điện tử, Việt Nam đã được coi là một đất nước cótiềm năng phát triển công nghệ thông tin-truyền thông hơn Lào, Campuchia, Mianma,Indonesia và nhỉnh hơn cả Phillippines nước có thu nhập bình quân 3500 USDngười/năm

2.2 Những bước tiến nổi bật về ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong các doanh nghiệp Việt Nam.

Tuy việc ứng dụng công nghệ thông tin ở các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiềuhạn chế, bất cập Tuy nhiên, đã có những doanh nghiệp ứng dụng thành công và bước đầuđem lại những thành quả rất đáng khích lệ Sau đây là những dẫn chứng cụ thể về một sốdoanh nghiệp đã ứng dụng thành công công nghệ thông tin vào quá trình sản xuất kinhdoanh

VIETCOMBANK NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH TRONG HỘI NHẬP BẰNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Tại hội nghị Giám đốc năm 2002 của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhận xét: Vietcombank hiện là ngân hàng Việt Nam đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin ( CNTT), đã tạo ra nhiều dịch vụ mới theo tiêu chuẩn quốc tế, có khả năng cạnh tranh cao như dịch vụ thẻ tín

Trang 11

dụng, thẻ rút tiền tự động, hệ thống ngân hàng bán lẻ, ngân hàng điện tử Từ nâng cao năng suất đến cung cấp các sản phẩm ngân hàng chất lượng cao.

Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT, ngay từ năm 1987, chương trình tinhọc hoá ngân hàng của Vietcombank đã được triển khai Ông Lê Đắc Cù - Chủ tịch Hộiđồng quản trị Vietcombank cho biết, ban đầu việc áp dụng công nghệ mới chỉ làm thayđổi thao tác nghiệp vụ từ thủ công sang bằng máy, có ý nghĩa nâng cao năng suất laođộng, nhưng về sau, mỗi dịp đưa công nghệ mới vào vận hành là mỗi lần ngân hàng nângcao được cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại và cũng là dịp để Vietcombank đưa ra các sảnphẩm ngân hàng chất lượng cao phục vụ khách hàng Năm 1993, Vietcombank áp dụngmạng thanh toán liên ngân hàng nội bộ Tháng 4-1994, tiếp tục áp dụng hệ thống quản lývốn tập trung trong toàn hệ thống Tới tháng 3-1995, Vietcombank trở thành ngân hàngViệt Nam đầu tiên áp dụng hệ thống thanh toán viễn thông toàn cầu (Swift Alliance) Vớibước chuyển mình đột phá này, Vietcombank đã được xếp vào một trong số ít các ngânhàng trên thế giới đạt tỷ lệ 98% điện thanh toán đủ điều kiện xử lý tự động theo tiêuchuẩn của các ngân hàng Mỹ, giúp Vietcombank duy trì thị phần thanh toán quốc tế 30%của cả nước liên tục trong nhiều năm

Không dừng ở đó, tháng 8-1999, Vietcombank đưa vào ứng dụng hệ thống Ngânhàng bán lẻ VCB Vision 2010 Theo bà Nguyễn Thu Hà - Phó Tổng giám đốcVietcombank - đây là hệ thống "lõi" làm nền tảng để phát triển một loạt dự án công nghệngân hàng theo định hướng tổng thể đến năm 2010, cung cấp cho khách hàng nhiều dịch

vụ chất lượng cao như quản lý vốn tự động (Sweep), chuyển tiền tự động (AFT), trảlương tự động, gửi tiền một nơi rút nhiều nơi , đồng thời hỗ trợ các dịch vụ trực tuyến,giúp khách hàng "giao dịch một cửa"

Đi đầu trong công nghệ thẻ và ngân hàng điện tử

Tháng 5-2002, việc khai trương hệ thống ngân hàng trực tuyến (VCB-Online) và

hệ thống máy rút tiền tự động ATM (với khoảng 100 máy trên toàn quốc) đã mang lạitầm vóc mới về công nghệ ngân hàng được áp dụng tại Vietcombank Hai hệ thống này

hỗ trợ cho nhau, mang lại cho khách hàng nhiều tiện ích khi mọi giao dịch ngân hàngđược thực hiện tức thì (Real time), không cần phải qua một khâu trung gian nào Khách

Trang 12

hàng có thể tự thực hiện các giao dịch như xem tài khoản, chuyển khoản, rút tiền tại cácmáy ATM gần nhất để sử dụng các dịch vụ tự động hoá có tính chính xác và bảo mật cao.Trong khi đó, hệ thống giao dịch tự động (Connect 24) cho phép khách hàng giao dịch ởbất cứ đâu Đối với những khách hàng cần tiết kiệm thời gian và thích sử dụng công nghệcao, dịch vụ VCB – Online sẽ giúp khách hàng thực hiện giao dịch ngay tại công ty haynhà của mình thông qua hệ thống E – Banking hoặc mạng Internet Thống đốc Ngân hàngNhà nước Lê Đức Thúy đánh giá, việc triển khai 2 dịch vụ này của Vietcombank đã đánhdấu bước phát triển mới về “chất” trên con đường hiện đại hóa công nghệ ngân hàng ViệtNam

Không chỉ đi đầu về ngân hàng điện tử, ngay từ những năm1996 - 1997,Vietcombank đã thực hiện chủ trương phát triển công nghệ thẻ bằng việc đứng ra làm đại

lý phát hành và thanh toán 2 loại thẻ tín dụng quốc tế phổ biến trong giao dịch ngân hàngtrên thế giới là MasterCard và VisaCard Mới đây, Vietcombank lại tiếp tục khai trươngdịch vụ thẻ tín dụng Vietcombank American Express (thẻ VCB Amex) Đây là loại thẻtín dụng quốc tế có nhiều tiện ích cho khách hàng, được chấp nhận thanh toán tại hàngtriệu điểm cung cấp hàng hoá, dịch vụ và có thể rút tiền từ hệ thống 500.000 máy rút tiền

tự động ATM ở hơn 200 quốc gia trên toàn thế giới

Nâng cao " chất" công nghệ để trở thành hàng đầu trong khu vực

Tính đến cuối năm 2002, tổng nguồn vốn của Vietcombank đã tăng gấp 5,2 lần sovới năm 1991, đạt gần 82.000 tỷ đồng Với sự hỗ trợ có hiệu quả của các sản phẩmCNTT ứng dụng trong hoạt động ngành ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàngcũng tăng trưởng mạnh mẽ và không ngừng được nâng cao Vốn tín dụng củaVietcombank đã đến với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, năm sau caohơn năm trước Dư nợ tín dụng cuối năm 1991 đạt 2.017 tỷ đồng, đến cuối năm 2002, dư

nợ đã đạt 29.295 tỷ đồng, tăng 1.452% so với năm 1991 Cũng nhờ ứng dụng tốt CNTT,

cơ cấu nguồn vốn của Vietcombank đã được chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng vốnViệt Nam đồng từ dưới 30% lên đến 32% trong năm 2002 Nếu như trước đây,Vietcombank chỉ chuyên doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, thì nay đã chuyển dịchthành một ngân hàng đa năng, vừa giữ thế mạnh trong cho vay bán buôn, vừa đẩy mạnhquan hệ tín dụng với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp FDI Với những

Trang 13

thành công này, Vietcombank vừa được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng

ba trong dịp kỷ niệm 40 năm thành lập vừa qua Không chỉ được đánh giá cao trongnước, Vietcombank còn đang dần từng bước tạo lập được uy tín trên thị trường quốc tế.Trong 3 năm 2000 - 2002, Vietcombank liên tục được tạp chí The Banker - một tạp chítài chính có uy tín lớn trong giới tài chính - ngân hàng quốc tế bình chọn là "Ngân hàngtốt nhất" ở Việt Nam

Thời gian tới Vietcombank chủ trương tiếp tục mở rộng hơn nữa các sản phẩmcông nghệ ngân hàng trên những dịch vụ đã có sẵn, mà theo ông Vũ Viết Ngoạn - Tổnggiám đốc Vietcombank, đó sẽ là những thay đổi về "chất" để trở thành một ngân hàng

thương mại hàng đầu trong khu vực Hiện nay, mỗi năm Vietcombank đầu tư khoảng 10 triệu USD cho ứng dụng CNTT Có được sự đầu tư lớn như vậy, theo ông Ngoạn là bởi

lãnh đạo ngân hàng đã xác định: nếu không có một nền công nghệ tiên tiến thì không thểxây dựng được một hệ thống các kênh cung ứng dịch vụ chuẩn mực cao, và cũng khôngthể tạo được các sản phẩm ngân hàng đủ tiêu chuẩn quốc tế để tham gia hội nhập kinh tế

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THAM GIA TẠO SẢN PHẨM CHỦ LỰC TẠI VIFON ACECOOK

Đầu tháng 3 - 2003, mì, phở ăn liền của công ty liên doanh Vifon - Acecook là sản phẩm đầu tiên được chọn hỗ trợ trong chương trình " Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP Hồ Chí Minh" Yếu tố góp công lớn vào thành công này chính là sự” tin học hóa” hợp lý

Nghệ thuật rất gần cuộc sống

Nhắc đến Vifon - Acecook là nhắc đến gần 40 sản phẩm mì, phở ăn liền với cáctên gọi : Hảo Hảo, Good, Hảo Vị, Lẩu Thái, Kim Chi, Số Dzách Các loại này đều cómẫu mã bao bì khác nhau, nhiều màu sắc và trông rất ngon miệng Nhìn mẫu mã bênngoài có thể phân biệt được ngay gói mì xuất xứ từ Vifon - Acecook: bao bì thường dùngmàu vàng ( màu của sợi mì ) làm màu chủ đạo, sử dụng gam màu nóng và có họa tiết viềnhai bên gói mì Những mẫu mã đa dạng, tạo sự khác biệt so với các sản phẩm cùng chủng

Trang 14

loại của Vifon - Acecook đều có sự tham gia của " bàn tay " công nghệ thông tin(CNTT).

Chuyên viên thiết kế của Vifon - Acecook, anh Nguyễn Hữu Tường Quân kể:

"Trước đây, Vifon - Acecook thường thuê dịch vụ tạo mẫu bên ngoài thiết kế bao bì chomỗi loại sản phẩm mới ra" Nhưng vì môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, Ban giámđốc nhận thấy bí mật sản phẩm mới của hãng có thể bị tiết lộ theo đường này nên đã lưutâm đầu tư thiết kế mẫu mã bao bì ngay tại công ty Đầu năm 2002, tôi được Ban giámđốc trang bị một giàn máy vi tính cực mạnh với đủ các phần mềm đồ họa để chuyên lothiết kế bao bì, mẫu mã cho sản phẩm Để có được hình ảnh tô mì bốc khối có chú tôm

đỏ au, lá rau xanh biếc chen giữa những sợi mì vàng hấp dẫn trên gói mì tôm, tôi phảichụp hình tô mì thật, scan vào máy vi tính và dùng các công cụ trong phần mềmPhotoshop làm bóng hình, tô thêm màu Nếu phải tô thêm màu theo cách làm thủ côngthì hình ảnh trên các mẫu bao bì không thể bóng đẹp và nhiều màu sắc như hiện nay"

Các phần mềm đồ họa còn lạ trợ thủ rất đắc lực trong việc thỏa mãn nhu cầu thịhiếu khách hàng Với những phần mềm chuyên dụng, anh Quân đã tạo ra những mẫu bao

bì có hoa văn, màu sắc cầu kỳ, " bắt mắt " nhưng phù hợp với thị hiếu trong nước vànhiều mẫu đơn giản hơn, nhưng luôn hiện diện hình ảnh chú rồng châu Á để phù hợp thịhiếu khách hàng châu Âu

Ứng dụng tin học hợp lý

Thiết kế mẫu mã chỉ là một phần của những ứng dụng tin học đang áp dụng tạiVifon - Acecook Ngay từ ngày đầu thành lập (1993), Vifon - Acecook quyết đi theohướng hiện đại hóa bộ phận "đầu não" công ty, nên đã dành 200 triệu đồng trang bị hệthống máy vi tính cùng các phần mềm chuyên dụng cho phòng hành chánh quản lý nhân

sự để tính toán lương cho nhân viên, phòng kế hoạch để tính giá thành sản phẩm, quản lýnguyên vật liệu tồn kho, phòng kế toán để thực hiện các công tác nghiệp vụ, phòng thínghiệm để nghiên cứu chất lượng sản phẩm Hàng năm công ty lại nâng cấp các trangthiết bị đã sử dụng , tổng kinh phí trang bị đến nay đã hơn 820 triệu đồng Hiện nay, vănphòng và nhà máy của Vifon - Acecook ở TP Hồ Chí Minh có 52 máy vi tính/114 người,tại mỗi phòng ban, các máy tính đều nối mạng cục bộ với nhau

Trang 15

Ông Trần Đỗ Khanh, Trưởng phòng marketing, nói: "CNTT còn giúp chúng tôiđánh giá thị trường ! Đây là yếu tố vô hình, không trực tiếp sản xuất nhưng làm cho giátrị sản phẩm tăng thêm rất nhiều" Thật vậy, Vifon - Acecook luôn thường xuyên thựchiện những đợt nghiên cứu thị trường để nắm bắt loại mùi vị người tiêu dùng thích,nghiên cứu để mở thêm đại lý Số liệu thu được từ các đợt nghiên cứu ấy phải được tổnghợp vào máy vi tính Sự thống kê, phân tích trở nên có ý nghĩa, như đã giúp công ty hệthống được sợi mì có độ dai phù hợp chưa, hương vị phù hợp với lứa tuổi nào?

Chưa hết, Vifon - Acecook còn tự giới thiệu mình qua mạng internet bằnng web site

www.vifon - acecook.com, quảng bá rộng rãi trên các trang web khác và tích cực liên lạc

các đối tác bằng e-mail Những điều đó đã góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu củacông ty: năm 2001 đạt 1.02 triệu USD; 2002 đạt 2.18 triệu USD và dự kiến 2003 đạt 3triệu USD Ở thị trường trong nước, doanh số công ty liên tục tăng (85% mỗi năm), đếncuối 2002 doanh thu đã đạt 610 tỷ đồng, chiếm 47% thị phần mì ăn liền cả nước

Ban lãnh đạo công ty luôn ủng hộ nhân viên luôn tự trang bị thêm kiến thức tinhọc Hàng năm công ty đều đưa nhân viên đi học nâng cao nghiệp vụ tại Nhật

Mới đây, Vifon – Acecook đã lên kế hoạch nâng cao ứng dụng CNTT nhiều hơn nữa.Trọng tâm là triển khai xây dựng mạng Lan nối toàn công ty để tiện liên lạc và quản trị

dữ liệu đồng nhất cho toàn công ty Ông Hoàng Cao Trí, Phó tổng giám đốc, cho biết:Chi phí dự kiến cho CNTT sắp đến là 500 triệu đồng Trong đó có ứng dụng tin học phục

vụ khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng đặt hàng hay kiểm tra công nợ của mìnhtrên mạng bất cứ lúc nào

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN LÀ VŨ KHÍ CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY WEIXIN

Với những đòi hỏi có tính đặc thù và môi trường cạnh tranh toàn cầu do phần lớn các công ty trong ngành giao nhận vận tải đều có nguồn gốc từ nước ngoài, gần 10 năm qua, Công ty giao nhận vận tải Uy Tín (tên giao dịch quốc tế là Weixin Cargo Services, 100% vốn Việt Nam, trụ sở tại 93 Điện Biên Phủ, Quận 1, TPHCM) đã ứng dụng mạnh

mẽ công nghệ thông tin (CNTT) vào mọi trong hoạt động của mình để trở thành một công ty giao nhận vận tải quốc tế có tên tuổi

Ngày đăng: 17/10/2013, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w