Nhưng thực trạng của khu vực doanh nghiệp nhà nước của nước ta hiện nay thì chưa thể hiện được vai trò then chốt và chủ đạo trong nền kinh tế, một số ngành, một số lĩnh vực của doanh ngh
Trang 1MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I KHÁI NIỆM 2
1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 2
2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 2
3 Phân loại doanh nghiệp nhà nước 2
II THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 3
1 Một số thành tự đã đạt được 3
2 Một số nhược điểm còn tồn tại 4
3.Một số thay đổi sau cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước 7
C KẾT LUẬN 10
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn đồng hành với quá trình xây dựng nền kinh tế của đất nước Trong nền kinh tế kế hoạch hóa trung bao cấp, tập DNNN và kinh tế hợp tác xã đóng vai trò chủ yếu của nền kinh tế Trong quá trình thực hiện chính sách kinh
tế nhiều thành phần, Đảng ta luôn khẳng định thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Lý luận về kinh tế nhà nước là một trong những vấn đề lý luận kinh tế trung tâm của các đảng cộng sản Nhất
là trong giai đoạn lãnh đạo đất nước xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hiện nay lý luận đó vẫn mang ý nghĩa thời
sự cấp bách cả về nhận thức lý luận và thực tiễn Ở Việt Nam thì kinh tế nhà nước là một bộ phận có vai trò quyết định trong cơ cấu kinh tế của nước ta Trong các bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước thì khuvực doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chủ yếu có vị trí đặc biệt Nhưng thực trạng của khu vực doanh nghiệp nhà nước của nước ta hiện nay thì chưa thể hiện được vai trò then chốt và chủ đạo trong nền kinh tế, một số ngành, một số lĩnh vực của doanh nghiệp nhà nước không năng động bằng khu vực kinh tế tư nhân, tình hình hoạt động chưa hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực
Trang 3B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I KHÁI NIỆM
1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nước(DNNN) là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là một pháp nhân do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lí
Doanh nghiệp nhà nước có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các doanh nghiệp khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lí
Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân được giao chức năng kinh doanh và chức năng hoạt động công ích
Doanh nghiệp nhà nước có trụ sở chính đặt trên lãnh thổ Việt Nam
3 Phân loại doanh nghiệp nhà nước
Dựa vào mục đích hoạt động:
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh: là doanh nghiệp nhà nước hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận: DN sản xuất các loại hàng hóa
Doanh nghiệp hoạt động công ích: môi trường, vệ sinh đô thị, bảo đảm an ninh quốc phòng
Trang 4Dựa theo quy mô và hình thức của DN:
DNNN độc lập: là DNNN không có trong cơ cấu tổ chức của DN khác
DNNN thành viên: là DNNN nằm trong cơ cấu của DN lớn hơn
Dựa theo cách thức tổ chức và quản lí DN:
DNNN có hội đồng quản trị: là DNNN có hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của DN, chịu trách nhiệm trước CHính phủ hoặc
cơ quan quản lý NN được ủy quyền về sự phát triển của DN
DNNN không có hội đồng quản trị: là DNNN mà chỉ có giám đốc DNNN quản lý hoạt động của DN theo chế độ một thủ trưởng
II THỰC TRẠNG VIỆT NAM
1 Một số thành tựu đã đạt được:
Bước sang giai đoạn đổi mới với nền kinh tế nhiều thành phần, DNNN vẫn giữ vững vai trò quan trọng, là một trong ba trụ cột của nền kinh tế So với kinh
tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, DNNN vẫn là lực lượng vật chất có tiềm lực mạnh về tài chính, nắm giữ tài nguyên, đất đai, thương hiệu, lực lượng lao động, có đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý hùng hậu Ngày nay, DNNN chuyển dịch theo hướng chỉ tập trung vào những ngành, nghề then chốt của nền kinh tế hoặc những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân không đầu tư Những DNNN được tiếp tục phát triển là những doanh nghiệp có quy mô lớn, tính chất chuyên môn cao, hoạt động trong những lĩnh vực mà xã hội có nhu cầu lớn để thực sự là lực lượng nòng cốt thực hiện những cân đối lớn trong nền kinh tế, thực hiện được các mục tiêu chính trị - xã hội của Đảng, Nhà nước
Trang 5Trong giai đoạn vừa qua, sau khi sắp xếp, cổ phần hóa, hiện có 652 DNNN, trong đó gồm 9 tập đoàn và 65 tổng công ty, chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, bảo đảm cân đối vĩ mô cho nền kinh tế Trong 5 năm, từ năm
2011 đến 2016, tổng tài sản của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tăng từ 2.093 nghìn tỷ đồng lên đến 3.053 nghìn tỷ đồng, tăng 45,8%; vốn chủ sở hữu tăng từ 727 nghìn tỷ đồng lên 1.398 nghìn tỷ đồng, tăng 92,2% Về hoạt động kinh doanh năm 2016, tổng doanh thu do các doanh nghiệp tạo ra đạt 1,5 triệu
tỷ đồng, đóng góp 28,8% cho GDP: Nổi lên trong giai đoạn 2011 - 2016 có những DNNN nộp ngân sách lớn, như Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam: 147.941 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp viễn thông quân đội: 131.400 tỷ đồng, Một số doanh nghiệp có năm đạt tỷ suất lợi nhuận cao như Tập đoàn Viettel, Tập đoàn Cao su Việt Nam, Tổng Công ty Mía đường
Ngoài ra, các DNNN còn thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội trong một số lĩnh vực, làm “đầu tàu”, tạo động lực phát triển để thu hút các thành phần kinh
tế khác tham gia, đóng góp tích cực vào chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chung tay xây dựng nông thôn mới, tham gia các hoạt động tại địa phương, góp phần vào việc ổn định an ninh, chính trị, an sinh
xã hội trên địa bàn, đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước
2 Một số hạn chế
Điều lệ tổ chức, hoạt động của DNNN sẽ do cơ quan nhà nước ban hành Mô hình tổ chức này là mô hình tổ chức chung áp dụng tại toàn bộ các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước hiện nay ở Việt Nam Đó là mô hình tổ chức công ty mẹ - công ty con, được chia thành nhiều tầng, nhiều nấc quản lý với các khái niệm công ty mẹ, công ty con, công ty thành viên, công ty liên kết trong đó công ty mẹ đương nhiên trở thành đại diện vốn nhà nước ở các công ty con, công ty thành viên bằng nghiệp vụ hạch toán vốn của các công ty này về công ty mẹ Được đầu tư vốn từ công ty mẹ, được chia sẻ thương hiệu và
Trang 6quyền kinh doanh trong các lĩnh vực của công ty mẹ mô hình tổ chức này tạo
ra cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý, điều hành rất cồng kềnh, nhiều tầng, nấc Mô hình tổ chức nhiều tầng, nhiều nấc như hiện nay (chưa tính đến sự quản lý của nhà nước) tạo ra nhiều bất cập trong quản lý, điều hành Trong mô hình tổ chức các tập đoàn, các tổng công ty hiện này, cấp trên - công ty mẹ (công ty có vốn đầu tư trên 50%), được quyết định về nhân sự, vốn, chiến lược kinh doanh của công ty con mà không có cơ chế chịu trách nhiệm Mặc dù có
đủ bộ máy điều hành theo quy định của pháp luật nhưng công ty con - cấp dưới, muốn làm công tác tổ chức, muốn được mở rộng kinh doanh, huy động vốn, cải tiến công nghệ đều phải có tờ trình, kế hoạch xin ý kiến cấp trên - công ty mẹ, được cấp trên đồng ý mới được thực hiện Thậm chí, một số doanh nghiệp không được hoạt động độc lập theo đúng tinh thần doanh nghiệp mà phải hoạt động dưới hình thức ủy quyền, ủy quyền từng phần (công ty 100% vốn đầu tư của công ty mẹ) Cũng có những trường hợp, có hợp đồng kinh tế, dự án kinh tế
do công ty con khai thác, thực hiện nhưng theo quy định quản lý, phân cấp nội
bộ, công ty con không được trực tiếp ký kết mà phải để công ty mẹ ký kết rồi giao lại cho công ty con thực hiện Phần lợi nhuận sẽ do công ty mẹ thụ hưởng mặc dù công ty mẹ không trực tiếp thực hiện, công ty con chỉ được hưởng theo định mức do công ty mẹ quy định Nó thể hiện ý chí áp đặt, nó tạo ra môi trường kinh doanh “thân hữu” không bình đẳng, không minh bạch, môi trường kinh doanh mà các bên có khả năng và nhu cầu không trực tiếp gặp nhau, làm tăng thêm các chi phí trung gian, tính trách nhiệm không rõ ràng, gây thất thoát
và lãng phí Mô hình tổ chức như hiện nay biến công ty mẹ - các tập đoàn, tổng công ty trở thành bộ phận quản lý trung gian Quyền lực quản lý, điều hành tập trung vào bộ máy quản lý tại công ty mẹ - bộ máy quản lý trung gian dẫn đến nhiệm vụ, chức năng sản xuất, kinh doanh trực tiếp bị suy giảm (trừ các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có đặc tính kỹ thuật, công nghệ cao hoặc sử dụng các
Trang 7nguồn lực độc quyền) Như vậy, công ty mẹ cùng một lúc đảm nhận hai vai trò
là đại diện quản lý vốn của nhà nước và là nhà đầu tư
Một số hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp còn dàn trải, hiệu quả chưa cao, trong lúc năng lực quản lý và khả năng tài chính còn hạn chế, thiếu kiểm soát chặt chẽ, làm phân tán nguồn lực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhiều DNNN chưa chú trọng đầu tư theo chiều sâu, chậm đổi mới về công nghệ, trang thiết bị, kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng suất lao động, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ quản trị yếu kém nên năng suất lao động thấp, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thậm chí một số doanh nghiệp vi phạm pháp luật nghiêm trọng Mặc dù đã được đầu tư và ưu đãi nhiều từ phía nhà nước sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại và đổi mới cơ chế nhưng một số doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chứng tỏ được tính hiệu quả của mình so với khu vực kinh
tế tư nhân, chưa đáp ứng được mong muốn của Đảng và nhà nước, chưa tương xứng với tiềm lực và ưu đãi do nhà nước dành cho
Việc công khai thông tin trong DNNN còn hạn chế, không kịp thời, còn mang tính hình thức: số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy năm
2017, mới có 265/622 doanh nghiệp (chiếm 42,6% số DNNN) gửi báo cáo đến
Bộ Kế hoạch và Đầu tư để công bố thông tin trên Cổng thông tin doanh nghiệp; năm 2016, tỷ lệ là 38,9% Công tác giám sát đối với DNNN tuy đã được phân công, phân cấp nhưng hiệu quả công tác giám sát chưa cao Công tác thanh tra, kiểm tra chưa tốt Hệ thống thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nội bộ của một số doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thậm chí bị tê liệt, không phản ứng và cảnh báo kịp thời khi xảy ra các sai phạm Nhiều vụ, việc sai phạm thời gian vừa qua đều được phát hiện sau thanh tra, kiểm toán của Nhà nước nên việc khắc phục hậu quả rất khó khăn
Trang 8Kiểm toán Nhà nước cũng cho biết có không ít các khoản đầu tư tài chính của một số doanh nghiệp có vốn nhà nước đạt hiệu quả thấp Ví dụ, Các khoản đầu tư của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)vào các dự
án Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên, Công ty Bột giấy Phương Nam, đều không hiệu quả Đáng chú ý, ngành Công Thương có 12 dự án và doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ, điển hình là nhà máy sản xuất xơ sợi Đình Vũ, dự án nhà máy gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2, nhà máy nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol Dung Quất, nhà máy đạm Ninh Bình Tổng tài sản của 12 nhà máy là hơn 57.600 tỷ đồng, thì tổng nợ phải trả là hơn 55.000 tỷ đồng Những tập đoàn lớn khác như Dầu khí, Than, Điện lực, Hóa chất liên tục có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng, tình trạng nợ xấu, tình trạng đình trệ sản xuất
Ngoài ra, Số liệu của một số nhà khoa học cho thấy khu vực DNNN hiện đóng góp vào 70%nợ xấu của toàn hệ thống, trong đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu Theo Đề án tái cấu trúc khu vực DNNN của Bộ Tài chính năm 2012 thì dư nợ của 80/96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đến cuối 2010 là 872.860 tỷ đồng, bằng 1,6 lần vốn chủ sở hữu Trong đó, nợ vay của 12 tập đoàn kinh tế nhà nước lên tới gần 218.740 tỷ đồng, dư nợ lớn nhất thuộc về những DN lớn như Tập đoàn Dầu khí (PVN - 72.300 tỷ đồng), điện lực (EVN - 62.800 tỷ đồng), than & khoáng sản (Vinacomin - 19.600 tỷ đồng) Với những con số như trên thì nợ xấu của khu vực tập đoàn, tổng công ty trong
hệ thống ngân hàng sẽ chiếm tới 30-35% tổng dư nợ của khối này
3.Một số thay đổi sau cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Các DNNN cổ phần hóa đã góp phần làm giảm gánh nặng của Nhà nước phải bao cấp, bù lỗ hằng năm Cùng với đó, trong quá trình cổ phần hóa, nợ xấu của các DNNN cũng được xử lý một cách cơ bản; đồng thời, chấm dứt xu hướng thành lập DNNN một cách tràn lan Trong các DNNN đã cổ phần hóa,
Trang 9vai trò làm chủ của người lao động – cổ đông được nâng lên rõ rệt, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Kể từ sau cổ phần hoá, các doanh nghiệp tiền thân là DNNN luôn từng bước lớn mạnh Bộ máy điều hành không còn cứng nhắc như trước, thay vào đó là sự linh hoạt, nhạy bén với những biến đổi của môi trường kinh tế nói chung cũng như môi trường ngành nói riêng Sự tham gia của đa dạng các thành phần kinh tế, ngoài nhà nước, đã mang lại một “làn gió mới” cho hoạt động quản trị chiến lược của các doanh nghiệp sau CPH
Một số doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư hơn cho quản trị chiến lược với ý thức và tầm nhìn xa, rộng hơn thông qua việc hoạch định các chiến lược từ ngắn hạn, trung hạn đến dài hạn Không chỉ có tầm nhìn mới, doanh nghiệp đã chịu khó tìm tòi, nghiên cứu để đưa ra các chiến lược với nội dung mang tính thực tế, chính xác và phù hợp với hoàn cảnh của doanh nghiệp cũng như bối cảnh của nền kinh tế hơn Các chiến lược mang nặng tính áp đặt, không có tính thực tiễn bị loại bỏ hoàn toàn Sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều đối tượng
từ ban quản trị, ban giám đốc cũng như các cổ đông và thậm chí là của cả các chuyên gia có kinh nghiệm được thuê từ bên ngoài giúp hoạt động quản trị chiến lược của doanh nghiệp trở nên khách quan và hiệu quả hơn Việc hoạch định chiến lược với sự tham gia của các thành phần này cũng đem lại những sự cẩn trọng nhất định khi lập chiến lược cho doanh nghiệp Nhìn chung, các khía cạnh chính như nội dung, tầm nhìn, đối tượng tham gia của quản trị chiến lược đều có những biến chuyển tích cực
Cổ phần hoá còn giúp doanh nghiệp tháo gỡ những khúc mắc trong các vấn
đề tài chính Việc điều chỉnh tăng lượng vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ không còn
Trang 10là yếu tố đáng ngại với doanh nghiệp Bên cạnh đó, thông qua khảo sát, một thực tế rõ ràng chứng minh rằng các doanh nghiệp sau cổ phần hoá không còn quá nhiều tồn tại trong vấn đề vốn vay và nợ xấu Các khúc mắc về tài chính, chi phí quản lý, chi phí điều hành cũng có xu hướng giảm Tính minh bạch và
rõ ràng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp được chú trọng, hơn nữa, những vấn đề này còn được đưa ra thảo luận, kiến nghị ở các cuộc họp cổ đông thường niên Các doanh nghiệp cũng cho thấy mình chủ động hơn trong việc đưa ra các quyết định về tài chính và quản trị tài chính, mạnh dạn mở rộng đầu tư thêm nhiều hạng mục và lĩnh vực khác Những vấn
đề này trước đây thường do Ban Giám đốc quyết định, tuy nhiên sau cố phần hóa, các vấn đề đều được đưa ra thảo luận và quyết định trong cuộc họp hội đồng quản trị Điều này không những nâng cao tính minh bạch mà còn khuyến khích sức sáng tạo, từ đó tăng hiệu quả thực hiện các quyết định tài chính
Về quản trị nhân sự:nhân lực mở rộng cả về chất và lượng chính là một trong những yếu tố cốt lõi để hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng cao Quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, các cổ đông tham gia góp vốn cũng được thực hiện tốt hơn Các công tác tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ cũng
có những quan tâm, chú trọng và thay đổi nhất định theo hướng chặt chẽ, minh bạch, công khai và mang tính cạnh tranh hơn trước, nhằm thu hút và giữ chân người tài cho doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh hiện nay và khi doanh nghiệp phải tự mình quản lý các vấn đề trong quá trình hoạt động