PHÂN TÍCH NGÀNH DỆT MAY I. Phân tích môi trường bên trong – Thế mạnh và Điểm yếu 1. Phân tích môi trường nội bộ ngành theo lĩnh vực quản trị. 1. Nghiên cứu và phát triển sản phẩm 2. Vật tư 3. Sản xuất 4. Nhân sự 5. Marketing 6. Tài chính 7. Tổ chức II. Tổng hợp kết quả. Hình thành ma trận SWOT 1. Cơ hội (O) 2. Thách thức (T) 3. Điểm mạnh(S) 4. Điểm yếu (W) Các phương án kết hợp chiến lược: 1. Các kết hợp SO 2. Các kết hợp WO 3. Các kết hợp ST 4. Các kết hợp WT
Trang 1PHÂN TÍCH NGÀNH DỆT MAY
I Phân tích môi trường bên trong – Thế mạnh và Điểm yếu
1 Phân tích môi trường nội bộ ngành theo lĩnh vực quản trị.
1 Nghiên cứu và phát triển sản phẩm
2 Vật tư
3 Sản xuất
4 Nhân sự
5 Marketing
6 Tài chính
7 Tổ chức
II Tổng hợp kết quả Hình thành ma trận SWOT
1 Cơ hội (O)
2 Thách thức (T)
3 Điểm mạnh(S)
4 Điểm yếu (W)
Các phương án kết hợp chiến lược:
I Phân tích môi trường bên trong – Thế mạnh và Điểm yếu
1 Phân tích môi trường nội bộ ngành theo lĩnh vực quản trị.
a) Nghiên cứu và phát triển sản phẩm
Các doanh nghiệp trong ngành chưa thực sự chú trọng khâu thiết kế và tự xây dựng thương hiệu tư cho mình mà phần lớn là sản xuất gia công với giá trị gia tăng thấp : Mặc dù Việt Nam đang năm trong top 5 quốc gia xuất khẩu hàng dệt may, nhưng các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu là các nhà thầu phụ cho các nhà thầu may trong khu vực, hầu như không thực hiện quá trình thiết kế và không có khả năng tự thiết kế và xây dựng thương hiệu CMT (Cut Make Trim – gia công thuần túy) và FOB (Free on Broad – mua nguyên liệu, bán thành phẩm) chiếm hơn 95% tồng giá trị kim ngạch xuất khẩu, trong đó CMT chiếm 75.3% và FOB là 21.2% Chỉ có khoảng 2%-3% giá trị xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam là ODM (Original Design Manufacturing – chủ động từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất thành phẩm)_ Năm 2014
Các doanh nghiệp cũng chưa chú trọng nhiều đến khâu nghiên cứu thị trường xuất khẩu, marketing sản phẩm, phần lớn là làm ăn với những đối tác quen thuộc Qua đó, quy mô và năng lực sản xuất chậm tiến triển
Trang 2Chi phí hằng năm cho nghiên cứu và phát triển không cao do các doanh nghiệp trong ngành chưa chú trọng đến vấn đề này
Lực lượng nhân sự hoạt động trong lĩnh vực này còn ít và có trình độ chuyên môn chưa cao Phương tiện sử dụng : các phương tiện sử dụng trong lĩnh vực chưa phát triển, phụ thuộc nhiều vào nước ngoài
Chủ quan trong việc đăng kí thương hiệu và bằng phát minh, sáng chế: Bằng phát minh, sáng chế: Theo thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), tính đến nay, có đến 19 trong tổng số gần 50 công ty thành viên của Tập đoàn Dệt may Việt Nam chưa đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và không có bất cứ đăng ký bảo hộ nào về sáng chế và kiểu dáng công nghiệp
b) Vật tư
Nguyên phụ liệu dệt may vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu (khoảng 60%-70%) từ các nước không thuộc phạm vi hiệp định FTA như Trung Quốc với 6,98 tỷ USD (+12,9% yoy), Hàn Quốc: 2,57 tỷ USD (-1% yoy), Đài Loan: 2,15 tỷ USD (+3,5% yoy)… Tính đến 2014 ngành dệt may mới chỉ nội địa hóa được khoảng 48% nguồn nguyên phụ liệu xuất nên giá trị thặng dư của ngành khó được cải thiện Cụ thể hiện nay ngành mới chỉ đáp ứng được 5% nhu cầu bông, 1/8 nhu cầu vải Tuy nhiên chất lượng chưa được đảm bảo Mặc dù tỷ lệ nội địa hóa đang từng bước được cải thiện, mỗi năm tăng từ 3%-5%, nhưng vẫn còn thấp xa so với mức 90% của Ấn Độ và 95% của Trung Quốc Theo dự báo của VITAS trong vài năm tới, nhập khẩu nguyên liệu trong lĩnh vực dệt may vẫn sẽ tiếp tục tăng, một phần do diện tích trồng bông của Việt Nam – một trong những nguyên liệu chính của sản xuất dệt may hiện chưa được đầu tư phát triển tương ứng với quy mô ngành
100% hóa chất nhuộm và hơn 80% hóa chất khác dùng cho ngành dệt may phải nhập khẩu từ nước khác
Sản phẩm của ngành dệt chính là nguyên liệu cho ngành may nhưng nguồn nguyên vật liệu chính này chưa đáp ứng được do chất lượng thấp Trên 80% vải sẵn có trong nước đều phải nhập khẩu Thậm chí các doanh nghiệp may thuộc Tổng công ty Dệt may cũng không sử dụng vải do các công ty trong nước sản xuất, có tới 90% nguyên vật liệu để sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phải nhập từ nước ngoài nên bị phụ thuộc vào khách hàng bên ngoài
Các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát huy hiệu quả Có thể thấy những mặt hàng như chỉ khâu, cúc nhựa hay băng chun là những mặt hàng đơn giản, giá trị gia tăng không cao Những nguyên phụ liệu chính cho sản xuất xuất khẩu thì hầu như phải nhập khẩu Ví dụ, như sợi hóa học phải nhập khẩu 100%, bông tổng hợp phải nhập khẩu 93% Trong khi đó, diện tích trồng bông đang có nguy cơ bị thu hẹp do người nông dân chuyển sang trồng các cây nông nghiệp
c) Sản xuất
Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu là các nhà thầu phụ cho các nhà thầu may trong khu vực và chủ yếu là gia công
Máy móc thiết bị: máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu và có xuất sứ từ nhiều nước Ngành Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên hư hang nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao Trong 5 năm gần đây , toàn ngành đã trang bị thêm được gần 20.000 máy may hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket,
đồ bảo hộ lao động, áo phông các loại… cải thiện một bước chất lượng hàng may xuất khẩu và nội địa Ngành may liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị để đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường thế giới
Hầu hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị Chính quy mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung ứng cho một thị trường nhất định
Trang 3Tuy nhiên, trang thiết bị của ngành may mặc đang được đổi mới và hiện đại hoá , các sản phẩm
đã có chất lượng ngày một tốt hơn, và được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản chấp nhận
Xuất phát điểm của dệt may Việt Nam còn thấp, công nghiệp phụ trợ chưa thực sự phát triển, nguyên phụ liệu chủ yếu nhập khẩu, tỷ lệ gia công cao
Tốc độ tăng trưởng cao, tuy nhiên giá trị gia tăng của ngành còn thấp với tỷ suất lợi nhuận chỉ chiếm khoảng 5%-10% Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay chỉ tham gia vào phần thứ 3 trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là Cắt và May, sản xuất theo phương thức gia công đơn giản, thiếu khả năng cung cấp trọn gói
Khả năng sản xuất: Các máy may được sử dụng hiện nay phần lớn là hiện đại, có tốc độ cao(4.000-5.000 vòng/phút), có bơm dầu tự động, đảm bảo vệ sinh công nghiệp Một số doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất một mặt hàng như dây chuyền may sơ mi của May 10, dây chuyền may quần đứng có thao tác bộ phận tự động theo chương trình, dây chuyền sản xuất quần Jean có hệ thống máy giặt mài
Chi phí sản xuất còn cao so với các nước khác: Dự án VIE/61/94, Trung tâm thương mại Quốc tế và cục XTTM, chi phí cơ bản như điện, nước, giá thuê đất đai đều cao hơn Trung Quốc Thậm trí giá nguyên liệu sản xuất của Trung Quốc cũng rất rẻ do có sự quy hoạch vùng nguyên liệu rất tốt Trong cơ cấu giá thành sản phẩm bình quân, nguyên liệu chính cho sản xuất thường chiếm tới 58 đến 65% trong đó Trung Quốc thường thấp hơn từ 10 đến 20% so với Việt Nam Thời gian sản xuất ngày càng có tầm quan trọng tác động lớn đến quyết định của khách hàng quốc tế So sánh với một số nhà sản xuất lớn trên thế giới hiện nay, thời gian sản xuất của hàng may mặc Việt Nam dài hơn so với Trung Quốc và Ấn Độ, ngắn hơn so với Bangladesh và Campuchia
Nguồn: VITAS
d) Nhân sự
Lực lượng lao động trẻ, nguồn cung ứng lao động trong nước dồi dào
Quản trị viên: đội ngũ quản trị viên có trình độ chuyên môn cao còn thiếu
Công nhân:
Theo số liệu thống kê cho thấy lao động có trình độ cao đẳng trở lên trong ngành mới chỉ có
tỷ lệ dao động từ 3% đến 5%, nghĩa là còn thấp xa so với tiêu chuẩn chung Điều đó cảnh báo trình độ của cán bộ quản lý của ngành Dệt may Việt Nam còn nhiều bất cập Dưới đây là bảng cơ cấu lao động theo trình độ lao động
Trang 4Bảng 2.9 Cơ cấu lao động theo trình độ lao động 2014, Đơn vị: (%)
Trên đại học
Cao đẳng, đại học
Trung cấp
Kỹ thuật viên
Công nhân bậc 5/7
LĐ phổ thông
0,08 5,04 4,71 3,34 18,8 68,01
0,01 4 3,5 3,78 26,30 78,91
Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Tuy nhiên, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng được bạn hàng đánh giá là có lợi thế về chi phí lao động, kỹ năng và tay nghề may tốt
Nhân công không còn “rẻ”: Trước đây, nhân công rẻ là một trong những lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam nhưng lợi thế này đang dần mất đi khi lương cơ sở và lương tối thiểu đều được Chính phủ điều chỉnh tăng từ năm 2016 Cụ thể, lương cơ sở tăng từ 1.150.000 đồng/tháng lên 1.210.000 đồng/tháng (tăng khoảng 5%) sẽ kéo theo chi phí phải trả BHXH của người sử dụng lao động Tương tự, lương tối thiểu mới sẽ ở mức 106,67 - 155,56 USD/tháng, cao hơn mức lương tối thiểu tại một số nước xuất khẩu dệt may đối thủ như Bangladesh (67 USD/tháng), Myannmar (82,96 USD/tháng), Mông Cổ (96,34 USD/tháng), Pakistan (93,5-112,2 USD/tháng), Campuchia (124,21 USD/tháng)…trong khi năng lực của các cán bộ xây dựng và thực thi chính sách, cũng như các cán bộ tham gia xúc tiến thương mại còn yếu, đặc biệt là hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, và kỹ năng
Công nhân trong ngành dệt may không có tay nghề còn cao nên năng suất lao động thấp, chẳng hạn cùng một ca làm việc - năng suất lao động bình quân của một lao động ngành may Việt Nam chỉ đạt 12 áo sơ mi ngắn tay hoặc 10 quần thì một lao động Hồng Kông năng suất lao động là 30 áo hoặc 15 - 20 quần
Theo đánh giá chung, cán bộ thiết kế mẫu mốt, cán bộ marketing trong các doanh nghiệp dệt may đang rất thiếu và yếu, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng internet để tạo lợi thế trong tiếp cận khách hàng ở các nước và marketing cho công ty và sản phẩm
Khả năng thu hút nhân sự: Công nhân dệt may nói chung tuổi đời còn trẻ, tỷ lệ độc thân là khá cao Lao động trong ngành dệt may chủ yếu là lao động di cư từ các vùng khác đến và đa phần trong số họ phải sống nhờ ở nhà người quen hoặc tự thuê nhà để ở Do thiếu hụt lao động trầm trọng trong ngành nên công nhân dệt may hiện tại phải làm việc với thời gian dài, kiệt sức
và không còn thời gian và sức lực để vui chơi giải trí hoặc mở rộng quan hệ xã hội, phải làm việc
Trang 5muộn đến khuya Nên khả năng thu hút cao nhưng không giữ được lao động ở lại làm việc lâu dài
Chính sách nhân sự còn chưa hoàn thiện nên chưa góp phần thu hút và lưu giữ lao động trong ngành Do các chính sách đãi ngộ khen thưởng chưa thỏa mãn được đội ngũ lao động
Thù lao nhân sự: Hiện nay, mức lương mà công nhân của ngành này thấp nhất so với những ngành khác trong nền kinh tế Lương bình quân hàng tháng của một số ngành cao như vận tải, hàng không 13 triệu, dầu khí 12 triệu,… Trong khi đó, ngành dệt may có lương bình quân hàng tháng chỉ là 1,4 triệu
e) Marketing
Ngành dệt may nói chung có năng lực marketing còn yếu:
Chính sách marketing
Sản phẩm (product)
Sản phẩm dệt may xuất khẩu Việt Nam được thực hiện ở mức CMT (cut–make-trim, phương thức xuất khẩu đơn giản nhất và đem lại giá trị gia tăng thấp nhất: người mua cung cấp toàn bộ nguyên liệu đầu vào và yêu cầu, nhà sản xuất chỉ cần cắt, may và hoàn thiện sản phẩm) và FOB cấp I (doanh nghiệp thu mua nguyên liệu đầu vào từ nhóm nhà cung cấp do người mua chỉ định
để sản xuất và bán sản phẩm hoàn chỉnh) nên Việt Nam ít có sản phẩm mang thương hiệu riêng của mình để tiếp cận với các nhà bán lẻ trên toàn cầu
Số liệu chủng loại các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua cho thấy, hơn 60% giá trị xuất khẩu của ngành may mặc là từ áo sơ mi, áo thun, áo khoac, quần, phục vụ cho phân khúc thị trường cấp trung và cấp thấp Các sản phẩm cao cấp như đồ vest hay váy được xuất khẩu với số lượng rất hạn chế
Giá (price)
Thị trường xuất khẩu: Chi phí cho nguyên phụ liệu, vận chuyển, lương tối thiểu tăng cao dẫn đến giá thành sản phẩm tăng lên là nguyên nhân chủ yếu khiến giá xuất khầu sản phẩm dệt may Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc thường cao hơn mức giá trung bình và so với các quốc gia xuất khẩu khác như Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ…từ 15% đến 30%
Thị trường nội địa: Kết quả của cuộc điểu tra nghiên cứu thị trường trong năm 2013 cho thấy, nhu cầu về hàng may mặc trong nước chịu tác động lớn từ giá và có thể được phân chia thành 4 nhóm: giá mua từ 60,000 đến 100,000 đồng/bộ; 100,000 đến 300,000 đồng/bộ; 300,000 đến 1,000,000 đồng/bộ, và nhóm cuối cùng có giá từ 1,000,000 đồng/bộ trở lên Phần lớn các sản phẩm may mặc của Việt Nam có giá khá cao, chỉ một số doanh nghiệp may trong nước đang cố tung ra dòng sản phẩm có giá trung bình dưới 200,000 đồng/bộ Vì thế nhìn chung thị trường may mặc ở Việt Nam rất khó khăn trong cạnh tranh với hàng may mặc giá rẻ nhãn mác Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan
Phân phối (place)
Hoạt động phân phối, mạng lưới xuất khẩu và marketing của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phát triển, phụ thuộc nhiều vào các nhà buôn nước ngoài Đây là điểm yếu lớn của ngành Dệt may Việt Nam, hạn chế xâm nhập vào các khâu cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Phần lớn các doanh nghiệp trong nước vẫn phải thông qua các nhà cung cấp khu vực để có các hợp đồng gia công, rất ít các doanh nghiệp có hợp đồng gia công trực tiếp
từ các nhà bán lẻ Một số khác thì thông qua các văn phòng đại diện ở Việt Nam của các thương hiệu nổi tiếng để cung cấp sản phẩm
Gần như không có sự tương tác trực tiếp giữa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam và các nhà bán lẻ cuối cùng Điều này gây khó khăn cho các nhà sản xuất trong việc nắm bắt yêu cầu của thị
Trang 6trường để đáp ứng một cách nhanh chóng sự thay nhu cầu của người mua cũng như xu hướng thời trang mới trên thế giới
Xúc tiến bán/khuyến mãi (promotion)
Ngành dệt may chủ động tổ chức khá nhiều hội chợ triển lãm hàng may mặc và các sản phẩm dệt may khác ở nước ngoài như Bakistan, Cộng hòa Ba Lan, Vương quốc Bỉ, Thổ Nhĩ Kì, Thụy
Sĩ, Liên bang Nga,… để giới thiệu các sản phẩm dệt may Việt Nam đến thị trường đó Đồng thời các hội chợ và triển lãm thời trang cũng được tổ chức thường xuyên trong nước ở khắp các tỉnh thành
Ngoài ra, các triển lãm quốc tế tổ chức trong nước với sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc nhiều nước trên thế giới là cơ hội tốt để ngành dệt may nước ta tiếp cận công nghệ tiên tiến
và cũng là cơ hội tìm kiếm khách hàng
Điển hình như Triển lãm Quốc tế ngành công nghiệp Dệt may - Thiết bị và Nguyên phụ liệu Việt Nam 2016 (HanoiTex 2016) diễn ra ở Hà Nội đầu tháng 11 vừa qua thu hút sự tham gia của
171 doanh nghiệp đến từ 13 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới tạo cơ hội cho các DN tiếp cận công nghệ hiện đại qua đó nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm
f) Tài chính
Giá trị tăng trưởng ngành dệt may hàng năm nhanh và ổn định.
Cụ thể là gần đây, giai đoạn 2013 đến 2015: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 11% đến 12%/năm, ngành may tăng 13% đến 14%/năm; tăng trưởng xuất khẩu đạt 10% đến 11%/năm; tăng trưởng thị trường nội địa đạt 9% đến 10%/năm Ngành dệt may cũng luôn là một ngành xuất khẩu mũi nhọn, chiếm 10 – 15% GDP hàng năm
Hệ số ROE và ROA ngành dệt may vẫn khó đạt mức cao
Tỷ suất lợi nhuận của ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang ở mức 5-8%, chủ yếu tập trung vào khâu gia công, trong khi khâu này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ngành may mặc thấp
Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phần lớn là vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính yếu.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, khả năng huy động vốn kém, khó tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
g) Tổ chức
Chưa có sự liên kết giữa các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thời gian qua, một số doanh nghiệp đến từ Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc đã xây dựng hàng loạt nhà máy sản xuất sợi tại Việt Nam nhằm đón làn sóng dịch chuyển của các nhà sản xuất vải và tận dụng lợi thế về thuế (về 0%) từ các điều khoản của Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Tuy nhiên, trong khi những doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu vừa và nhỏ, công nghệ và tiềm lực tài chính đều khó cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài lại chưa chủ động liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành trước các doanh nghiệp nước ngoài sắp tới sẽ ồ ạt tiến vào thị trường Việt Nam
Thiếu liên kết giữa sợi, dệt nhuộm và may.
Việc đầu tư phát triển không đồng đều vào các ngành, cụ thể là đầu tư dồn dập vào ngành sợi
và may mà không đồng thời phát triển in hoa văn, nhuộm và hoàn tất sản phẩm sẽ dẫn tới toàn ngành dệt may khó phát triển vững chắc, cũng là nguyên nhân chính làm cho ngành dệt may Việt Nam khó chuyển sang được phân khúc có giá trị cao hơn
II Tổng hợp kết quả Hình thành ma trận SWOT
Trang 7Cơ hội (O)
1 Tỷ giá đồng nhân dân tệ so với VN đồng giảm giúp giá nhập nguyên liệu giảm
2 Tốc độ tăng trưởng GDP tăng, lạm phát ổn định giúp tăng sức mua
3 Sức ép của nhà cung cấp thấp
4 Sức ép của khách hàng thấp
5 Nhà nước hỗ trợ đổi mới công nghệ ngành dệt may
6 Việc tham gia các hiệp định thương mại tạo điều kiện mở rộng thị trường
7 Tinh thần ủng hộ hàng Việt Nam ngày càng tăng
Thách thức (T)
1 Cạnh tranh gay gắt với ngành dệt may các nước trên các thị trường xuất khẩu
2 Việc tham gia các hiệp định thương mại làm tăng thêm đối thủ là các doanh nghiệp dệt may nước ngoài vào thị trường Việt Nam
3 Tỷ giá Bảng Anh/VNĐ, Euro/VNĐ tăng bất lợi cho việc xuất khẩu
4 Yêu cầu của khách hàng ngày càng khắt khe, thị hiếu thay đổi liên tục và đa dạng
5 Thời tiết thường xuyên biến đổi, thiên tai, bão lũ ảnh hưởng đến những vùng trồng nguyên liệu trong nước
Điểm mạnh(S)
1 Lực lượng lao động trẻ, nguồn cung ứng lao động trong nước dồi dào
2 Xuất khẩu sang các thị trường khó tính: EU, Mỹ, được khá nhiều khách hàng biết đến
và ưa chuộng
3 Lao động có kinh nghiệm, lành nghề
Điểm yếu (W)
1 Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phần lớn là vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính yếu
2 Hầu như không thực hiện quá trình thiết kế và không có khả năng tự thiết kế và xây dựng thương hiệu
3 Tỷ lệ gia công cao, công nghệ còn lạc hậu
4 Ít có sự liên kết giữa các doanh nghiệp để nâng cao lợi thế cạnh tranh
5 Nguyên phụ liệu dệt may vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu (khoảng 60%-70%)
6 Chi phí sản xuất còn cao so với các nước khác
7 Năng suất lao động còn thấp
8 Các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát huy hiệu quả
9 Các chính sách Marketing Mix (4P) còn yếu kém
Các yếu tố nội bộ
Doanh nghiệp
Các yếu tố
Môi trường bên
ngoài Doanh nghiệp
I Các cơ hội (O) II Các nguy cơ (T)
I Các điểm mạnh (S) Các kết hợp SO
-Chiến lược kết hợp S2S3O6 -Chiến lược kết hợp S1S3O2O7
Các kết hợp ST -Chiến lược kết hợp
S1S2T1T2 -Chiến lược kết hợp S3T4
Trang 8II Các điểm yếu (W) Các kết hợp WO
-Chiến lược kết hợp
W1W5W6O1O3O7 -Chiến lược kết hợp
W3W6W7O5
Các kết hợp WT -Chiến lược kết hợp
W1W4T1T2 -Chiến lược kết hợp W5W8T5 -Chiến lược kết hợp W2W3T4
Các phương án kết hợp chiến lược:
Các kết hợp SO
Chiến lược kết hợp S2S3O6
Với lực lượng lao động lành nghề, có kinh nghiệm cùng lợi thế nhất định khi đã tạo được uy tín
ở thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam có thể áp dụng chiến lược tăng trưởng theo hướng hội nhập bằng cách liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tăng sản lượng xuất khẩu vào các nước đã xuất khẩu từ trước và mở rộng xuất khẩu vào các thị trường mới
Chiến lược kết hợp S1S3O2O7
Tốc độ tăng trưởng GDP tăng và tỷ lệ lạm phát ổn định dẫn đến sức mua của người dân tăng lên, đặc biệt là với các mặt hàng thiết yếu như may mặc Với lợi thế về nguồn lao động trẻ, dồi dào bên cạnh những lao động lành nghề, có kinh nghiệm, ngành may mặc có thể áp dụng chiến lược tăng trưởng tập trung, sử dụng các biện pháp marketing để kích thích sức mua của khách hàng bên cạnh việc mở rộng quy mô sản xuất
Các kết hợp WO
Chiến lược kết hợp W1W5W6O1O3O7
Ngành dệt may Việt Nam có lợi thế thương lượng đối với các nhà cung cấp giúp giảm sức ép của các nhà cung cấp, tỷ giá đồng nhân dân tệ so với Việt Nam đồng giảm có lợi cho việc nhập khẩu nguyên liệu Bên cạnh đó, người dân trong nước ngày càng nâng cao ý thức ủng hộ hàng Việt Nam Các cơ hội trên giúp khắc phục được các điểm yếu như tiềm lực tài chính yếu, nguyên liệu chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài và chi phí sản xuất còn cao so với các nước khác Vì vậy, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể áp dụng chiến lược tăng trưởng tập trung, tăng cường các biện pháp marketing để kích thích sức mua của khách hàng, bên cạnh đó có thể kết hợp chiến lược giảm giá để cạnh tranh, ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp nước ngoài
Chiến lược W3W6W7O5
Mặc dù tỷ lệ gia công còn cao và năng suất lao động thấp nhưng với việc Nhà nước hỗ trợ đổi mới công nghệ, ngành dệt may Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này để khắc phục các điểm yếu trên Chiến lược dẫn đầu về chi phí hoặc khác biệt hóa sản phẩm có thể được áp dụng khi ngành
đã có công nghệ hiện đại hơn, chi phí sản xuất có thể được giảm bớt cùng với chất lượng cũng như sản lượng được tăng cao hơn Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong ngành cũng có thể kết hợp với chiến lược thu hẹp, bán bớt các máy móc, công nghệ lạc hậu
Các kết hợp ST
Chiến lược kết hợp S1S2T1T2
Trang 9Với lợi thế về lao động trẻ, dồi dào và uy tín nhất định ở thị trường nước ngoài, việc cạnh tranh với các đối thủ ở trong nước cũng như ngoài nước, ngành dệt may Việt Nam có thể áp dụng chiến lược tăng trưởng tập trung như kích thích sức mua, tăng số lần mua bằng các chương trình như : mua 1 tặng 1, mua 2 tặng 1, tích điểm mua hàng… cộng với chiến lược mua lại khách hàng như kết hợp sản phẩm của mình với sản phẩm của khác để có thêm lượng khách hàng mới ( ví dụ
sự kết hợp của H&M và Balmain), giúp tăng lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
Chiến lược kết hợp S3T4
Nâng cao hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm và chiến lược trọng tâm hóa cũng như chiến lược đa dạng hóa ngang với đội ngũ lao động lành nghề, có kinh nghiệm giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa dạng, khắt khe của khách hàng
Các kết hợp WT
Chiến lược kết hợp W1W4T1T2
Với tình hình các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đa số là vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính yếu trong khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, ngành dệt may Việt Nam nên áp dụng chiến lược tăng trưởng theo hướng hội nhập và đa dạng hóa đồng tâm Cụ thể các doanh nghiệp sợi, dệt, nhuộm, may sẽ liên kết với nhau để đảm bảo thị trường đầu ra cũng như đầu vào cho các doanh nghiệp
Chiến lược kết hợp W5W8T5
Nguồn nguyên liệu chủ yếu là nhập khẩu trong khi ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát huy hiệu quả, nguy cơ sẽ là rất lớn khi thiên tai, bão lũ xảy ra Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nên có nhiều nhà cung cấp để tăng vị thế thương lượng của mình, đồng thời trong trường hợp xấu nhất cần sử dụng chiến lược thu hẹp quy mô sản xuất, bán bớt
Chiến lược kết hợp W2W3T4
Yêu cầu của khách hàng ngày càng khắt khe trong khi hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm chưa được phát triển Vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành cần tập trung triển khai chiến lược nghiên cứu phát triển sản phẩm, bên cạnh đó có thể thông qua chiến lược liên doanh với các công ty có lợi thế về nghiên cứu sản phẩm
A Kết luận
Từ việc phân tích mô hình SWOT của ngành dệt may, chúng ta đã đưa ra một số phương án kết hợp chiến lược mà ngành có thể sử dụng Để lựa chọn chiến lược phù hợp, phải dựa vào những yêu cầu, điều kiện khác mới có thể đưa ra được giải pháp cũng như lộ trình cụ thể thực hiện được