1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH ĐIỂM MẠNH ĐIỂM YẾU 7 NGÀNH TẠI VIỆT NAM

17 60 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 94,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH ĐIỂM MẠNH ĐIỂM YẾU 7 NGÀNH TẠI VIỆT NAMBài viết phân tích chi tiết điểm mạnh và điểm yếu của các ngành:1.Ngành da giày2.Ngành du lịch3.Ngành giao thông vận tải4.Ngành dệt may5.Ngành café6.Ngành sữa7.Ngành ngân hàng

Trang 1

PHÂN TÍCH ĐIỂM MẠNH ĐIỂM YẾU 7 NGÀNH TẠI VIỆT NAM

Bài viết phân tích chi tiết điểm mạnh và điểm yếu của các ngành:

1 Ngành da giày

2 Ngành du lịch

3 Ngành giao thông vận tải

4 Ngành dệt may

5 Ngành café

6 NGÀNH SỮA

7 Ngành ngân hàng

Ngành da giày

1 Điểm mạnh

Marketing: Các kênh phân phối hàng hóa tại thị trường nước ngoài khá đa dạng Giá cả của các sản

phẩm nhìn chung khá rẻ, có tính cạnh tranh Các doanh nghiệp nước ta luôn có những chính sách giảm giá khá hấp dẫn không chỉ thu hút khách hàng trong nước mà còn cả khách hàng nước ngoài

Nguồn nhân lực trong ngành da giày Việt Nam rất dồi dào, hiện tại giá nhân công vẫn còn khá rẻ so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Nghiên cứu và phát triển công nghệ: Các doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn FDI hoạt động ổn định

và hiệu quả Các doanh nghiệp này thực khá tốt chức năng nghiên cứu, phát triển Đối với các doanh nghiệp dệt may vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, nhất là các tập đoàn đa quốc gia, R&D là một trong những chìa khóa thành công Đối với họ, chức năng nghiên cứu và phát triển không chỉ giới hạn ở việc cho ra đời sản phẩm mới Một bộ phận R&D chuyên nghiệp trong các doanh nghiệp dệt may FDI, các tập đoàn đa quốc gia thông thường sẽ ôm nhiều chức năng quan trọng như: Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và thực hiện chiến lược phát triển doanh nghiệp, phát triển bao bì, phát triển công nghệ, phát triển quá trình…

2 Điểm yếu

Nhìn chung các doanh nghiệp da giày Việt Nam vẫn chưa thực sự chú trọng đến việc đầu tư cho marketing, đặc biệt là tại thị trường nội địa khá màu mỡ

Lao động: Ngành công nghiệp da giầy là ngành sử dụng nhiều lao động, nhưng được đào tạo dưới

hình thức kèm cặp là chủ yếu Một lượng nhỏ được đào tạo qua các trường công nhân kỹ thuật của Viện nghiên cứu Da – giầy Số công nhân được đào tạo qua trường lớp chỉ chiếm 20% còn lại là đưới dạng kèm cặp

Nguyên vật liệu cho sản xuất: Nguyên liệu ngành da giày rất phong phú và đa dạng Nguyên vật liệu

có thể lấy từ nguồn trong nước, nhập khẩu từ ngoài hoặc khách hàng mạng tới Tuy nhiên, một rào cản đối có thể dễ thấy được hiện nay chính là nguồn cung cấp vật liệu để sử dụng trong quy trình sản xuất như

Trang 2

da, vải dù, nhựa PVC và các nguyên liệu khác đều phải nhập khẩu tư nước ngoài do nguồn trong nước không đảm bảo chất lượng Từ đó làm độn chi phí, tăng giá thành

Nghiên cứu và phát triển công nghệ: Kết quả khảo sát 100 doanh nghiệp dệt may tại Tp.HCM và

Hà Nội cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đang sử dụng dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị đồng

bộ thuộc thế hệ từ những năm 80 của thế kỷ 20 69% doanh nghiệp phụ thuộc vào nguyên vật liệu; 53% doanh nghiệp phụ thuộc vào thiết bị, công nghệ nhập khẩu của nước ngoài và chỉ có 19% doanh nghiệp lệ thuộc vào bí quyết công nghệ Điều này cho thấy, tốc độ triển khai công nghệ mới trong các doanh nghiệp dệt may nội địa khá chậm Mức độ đầu tư cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 3-10% lợi nhuận/năm Trung bình 1 doanh nghiệp đầu tư khoảng 5 tỷ đồng/năm cho đổi mới công nghệ, chủ yếu

là mua thiết bị, cải tiến máy móc phần cứng…Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ (KH&CN) Nguyễn Quân, doanh nghiệp Việt Nam quy mô nhỏ nên với 3-10% lợi nhuận sẽ không đủ để họ đổi mới công nghệ hoặc tạo ra sản phẩm mới

Ngành du lịch

1 Điểm mạnh

Tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú: Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 125 bãi tắm biển,

tiêu biểu như Hạ Long, Ðồ Sơn, Cát Bà, Sầm Sơn, Cửa Lò… Có hơn 3000 đảo lớn nhỏ Về hệ thống sinh thái: Việt Nam là quốc gia nằm ở vùng nhiệt đới, thuận lợi cho nhiều loài sinh vật phát triển, tạo ra sự phong phú của nhiều loài động thực vật Nước ta có hơn 30 Vườn quốc gia và hàng trăm khu bảo tồn lưu trữ các loài sinh vật đa dạng, quý hiếm với số lượng lớn 2 di sản thiên nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng

Tài nguyên du lịch nhân văn: Có 5 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận (Quần thể di

tích cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ) cùng với 1

di sản hỗn hợp (Quần thể danh thắng Tràng An) Bên cạnh đó cũng có 10 di sản văn hóa phi vật thể (ca trù, dân ca quan họ, kéo co…) Trên 4000 năm lịch sử và bề dày truyền thống văn hóa của 54 dân tộc sinh sống trải dài từ bắc chí nam

Lợi thế về giá cả: Chi phí cho hành trình này ở Hà Nội là 135 USD, thấp nhất trong 67 thành phố

trên thế giới được khảo sát Tạp chí The Richest (Mỹ) vừa bình chọn Top Việt Nam đứng thứ 6 trong danh sách 10 quốc gia du lịch giá rẻ năm 2016 Sự bùng nổ của các hãng hàng không giá rẻ, chất lượng lịch bay được cải thiện: Jetstar Asia, Air Asia

2 Điểm yếu

Hoạt động xúc tiến quảng bá còn kém, chưa xây dựng đc thương hiệu du lịch đủ mạnh: Xúc tiến

quảng bá du lịch mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch Việt Nam mới dành 3 triệu USD/năm cho quảng bá du lịch, trong khi các nước như Thái Lan là khoảng 80 triệu USD/năm, Malaysia là 100 triệu USD/năm, Singapore cũng

Trang 3

đầu tư tới 130 triệu USD trong năm nay Việt Nam chưa có chiến lược quốc gia về xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam một cách rõ ràng và hiệu quả Lần đầu tiên, Du lịch Việt Nam có biểu tượng (logo) và khẩu hiệu (slogan) quảng bá cho các chiến dịch xúc tiến trong và ngoài nước ở Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2000- 2005, đó là biểu tượng “Việt Nam- điểm đến của thiên niên kỷ mới” Nó khơi gợi trí tò mò của du khách, nhưng chiến dịch quảng bá đầu tiên không được tiến hành chuyên nghiệp, câu khẩu hiệu dài lê thê nên khó tạo được ấn tượng mạnh slogan “Hãy đến với Việt Nam” (Welcome to Vietnam) vì thế được chọn sử dụng cho ngành Du lịch

từ năm 2004- 2005 Nhưng khẩu hiệu mới này nhanh chóng vấp phải sự phản đối quyết liệt của dư luận vì nó quá bình thường và không một chút sáng tạo So với những khẩu hiệu ấn tượng như:

“Amazing Thailand” (Sửng sốt Thái Lan), “Malaysia- Truly Asia” (Malaysia- Châu Á đích thực),

“Uniquely Singapore” (Độc đáo Singapore) Từ 2005 – 2010, biểu tượng du lịch là búp sen uốn lượn hình chữ S và slogan “Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn” (Vietnam - The hidden charm) Biểu tượng này được đánh giá là đẹp, hứa hẹn nhiều bất ngờ với du khách và được thiết kế, có kế hoạch truyền thông, marketing chuyên nghiệp Hình ảnh du lịch Việt Nam bao nhiêu năm qua không có sự đổi mới để thu hút khách du lịch, bị lặp lại và gây cảm giác nhàm chán Đồng thời hình ảnh du lịch Việt Nam mới chỉ tập trung vào thị trường trong nước, thiếu tính quốc tế Do đó, thông tin và hình ảnh về Du lịch Việt Nam

ở nhiều nơi trên thế giới còn rất ít và mờ nhạt Nhiều nước như Hàn Quốc hay Nhật Bản biết đẩy mạnh quảng cáo trên các kênh truyền hình thế giới như BBC hay CNN từ rất lâu rồi

Chất lượng, sản phẩm dịch vụ du lịch còn chưa cao: Sự thiếu chuyên nghiệp trong chất lượng phục

vụ thể hiện ở nhiều khâu, từ các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, nhà hàng, phương tiện vận chuyển đến siêu thị, cửa hàng lưu niệm và các điểm du lịch Chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch chưa tạo được lòng tin cho du khách Thực tế cho thấy, có những điểm du lịch được giới thiệu như là thiên đường nghỉ ngơi trong các ấn phẩm du lịch, sách hướng dẫn du lịch, trên trang web nhưng khi du khách đến sân bay, họ vấp phải không ít khó chịu như cơ sở hạ tầng sân bay còn lạc hậu, lái xe taxi tranh giành lừa đảo khách, môi trường bị ô nhiễm, kinh doanh chộp giật, chất lượng sản phẩm và dịch vụ không đúng như quảng cáo và nhiều hạn chế khác Sản phẩm du lịch đơn điệu, chậm đổi mới, thiếu sáng tạo và còn trùng lặp giữa các vùng miền, thiếu tính liên kết

Về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp cận điểm đến còn

nghèo nàn, thiếu đồng bộ Chỉ có Hà Nội và Hồ Chí Minh là 2 cửa ngõ chính đón khách quốc tế bằng đường không; chưa có cảng biển đáp ứng yêu cầu đón tàu du lịch; Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông đến các điểm du lịch chưa đồng bộ và chất lượng thấp; Hệ thống cơ sở lưu trú, khu du lịch phát triển nhanh và dần được cải thiện: Trải dài từ Bắc vào Nam xuyên suốt 63 tỉnh thành có hàng chục nghìn nhà hàng phục vụ ăn uống, nghỉ nghơi cho khách tham quan du lịch Từ nhà nghỉ cho tới khách sạn 1 sao- 5 sao Năm 1998 toàn ngành du lịch chỉ có 2.510 cơ sở lưu trú, đến tháng 10 năm 2010 đã lên tới trên

Trang 4

11.000 khách sạn với khoảng 230.000 buồng, đến năm 2015 tăng lên 355.000 buồng với các chỉ tiêu từ

3-5 sao Nhưng nhìn chung quy mô còn nhỏ, thiếu tiện nghi, chưa đồng bộ, thiếu sự liên kết thành hệ thống

Về nguồn nhân lực du lịch: Mỗi năm ngành du lịch cần 40.000 lao động nhưng số lượng sinh viên

tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo nghiệp vụ du lịch ra trường khoảng 15.000 người, trong đó hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học Nguồn lao động trong lĩnh vực du lịch không những thiếu về mặt số lượng,

mà còn yếu về chuyên môn như: tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý, giao tiếp và phục vụ Thị trường khách du lịch nước ngoài yêu cầu hướng dẫn viên: 30% biết tiếng Đức, Nhật, Hàn, Trung; 60% biết tiếng Anh, …Thế nhưng, do không tìm được lao động chuyên ngành đủ trình độ đáp ứng nhu cầu ngoại ngữ nên không thể khai thác triệt để thị trường này

Vấn đề quản lý du lịch của Nhà nước còn nhiều bất cập: Về hệ thống văn bản pháp luật, thủ tục

hành chính: Luật du lịch và các luật, pháp lệnh liên quan, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành chưa đồng bộ, đầy đủ, đôi khi còn mâu thuẫn với nhau Hệ thống tiêu chuẩn, quy chày uẩn kỹ thuật chuyên ngành chưa được hình thành và hợp chuẩn khu vực và quốc tế Thủ tục hành chính còn rườm rà

và chậm, đặc biệt là thủ tục thị thực xuất nhập cảnh và quy trình quản lý chất lượng dịch vụ còn nhiều yếu kém Về quản lý khai thác tài nguyên du lịch: Mặc dù Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên

và nhân văn phong phú và đa dạng nhưng cho tới nay chưa khai thác tương xứng với tiềm năng đó, thể

hiện ở hệ thống sản phẩm du lịch vẫn còn nghèo nàn, đơn điệu Cho đến nay tài nguyên du lịch cả tự

nhiên và nhân văn chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả Dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều nhưng mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên Cùng với đó là việc khai thác bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường du lịch và

hư hỏng tài nguyên du lịch nghiêm trọng

Ngành giao thông vận tải

1 Cơ hội

Điều kiện tự nhiên: Nằm gần trung tâm Đông Nam Á Nằm gần tuyến hàng hải quốc tế từ Ấn Độ

Dương sang Thái Bình Dương Ở vào vị trí trung chuyển của các tuyến hàng không quốc tế Là đầu mối giao thống đường bộ, đường sắt và đường xuyên lục địa Á – Âu Địa hình: Kéo dài theo hướng Bắc – Nam, các đồng bằng châu thổ và ven biển nối liền nhau kéo dài liên tục, cho phép xây dựng các tuyến đường bộ, đường sắt xuyên Việt Hướng núi và hướng sông chủ yếu TB-ĐN, là điều kiện thuận lợi cho

mở các tuyến giao thông từ đồng bằng lên miền núi Sông ngòi: Hệ thống sông ngòi dày đặc thuận lợi cho phát triển mạng lưới giao thông đường sông

Điều kiện kinh tế: (bài khác) Gia dầu thô giảm => phát triển các phg tiện gt Vn vừa gia nhập nhiều

tổ chức kinh tế, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam cán mốc 300 tỷ USD vào ngày 15-11-2016 Như

Trang 5

vậy, sau gần 5 năm kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đã tăng thêm 100 tỷ USD (mốc 200 tỷ USD được lập vào nửa cuối tháng 12-2011 => Khối lượng hàng hóa trong nước sản xuất tăng lên, nhu cầu xuất nhập khẩu tăng lên, được nhận định là cơ hội để mở rộng thị trường, sản lượng vận tải cho doanh nghiệp Việt Nam Ví dụ với Hãng hàng không Jetstar, chính sách của hãng là phát triển hàng không giá rẻ, có thể tham gia cung cấp dịch vụ tại các nước như: Lào, Campuchia và các quốc gia khác Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng biển được dự kiến tăng mạnh Doanh nghiệp cảng biển và hàng hải, biết xác định rõ lợi thế trong chuỗi cung ứng, có cơ hội tăng thị phần vận tải

Lạm phát đc kiểm soát.

Chính trị pháp luật: Đường lối, chính sách : ưu tiên phát triển GTVT, đổi mới cơ chế, Nhà nước và

nhân dân cùng đóng góp xây dựng mạng lưới giao thông Vd: Chính sách giữ giá phương tiện vận tải các nhân ở mức cao được xem như một ưu điểm=> tỉ lệ sở hữu xe con ở VN ở mức thấp Chính sách sử dụng

hệ thống xe bus để tránh ùn tắc giao thông đc thực hiện Về chính trị: sự ổn định về chính trị Việt Nam đã giúp chính phủ nước ta thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới, giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp VT nói riêng có cơ hội quan hệ thương mại với nước ngoài, đổi mới được công nghệ sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ Chính phủ đã có cơ chế chính sách tạo

sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và không phân biệt đối xử, phù hợp với đòi hỏi của các thành phần kinh tế và yêu cầu của các tổ chức tài chính quốc tế

Văn hoá xh: Với tổng dân số hơn 94 triệu người (năm 2016) cùng tỷ lệ tăng trưởng dân số 1.07%

(2016) sẽ giúp cho nhu cầu về phg tiện gtvt tăng dần đều và nhanh

2 Thách thức

Điều kiện tự nhiên: Đồi núi chiếm 3/4 diện tích, bị chia cắt mạnh Mạng lưới sông ngòi dày đặc theo

hướng Tây Bắc – Đông Nam gây nhiều tốn kém cho việc xây dựng cầu đường, hầm, đường đèo, hướng đường Một số cửa sông bị lắng đọng vật liệu làm lấp luồng lạch, phải nạo vét thường xuyên Thời tiết biến động thất thường, mưa bão, lũ lụt, chế độ mưa gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động giao thông cũng như gây tốn kém trong việc bảo vệ đường sá, cầu cống Sự phát triển đi kèm với sự lãng phí nhiên liệu, ô nhiễm mt và tắc đg,… ngày càng nghiêm trọng

Điều kiện kinh tế: Thế giới: Sự phá sản của nhiều hãng tàu lớn như Hanjin,… , cước vận tải biển

giảm Trong nc: Hiện hầu hết các doanh nghiệp vận tải biển lớn thuộc hệ thống Vinalines đều có lỗ lũy kế; công ty lỗ ít thì ở mức vài ba trăm tỷ, nhiều lên đến vài ba nghìn tỷ Năng lực trong việc cung cấp các dịch vụ hàng không, logistic (khả năng quản lý ở quy mô toàn cầu, nhất là nguồn lực con người, khả năng tiếp cận tài chính) tại Vn hạn chế hơn so với các nc trong khu vực khiến dịch vụ của các doanh nghiệp vận tải nên kém hấp dẫn khi mở cửa thị trg

Chính trị pl: Thiếu nguồn vốn và tầm nhìn xa, đầu tư còn dàn trải, thiếu trọng tâm khó cạnh tranh

với các quốc gia khác Vê phương tiện giao thông thì áp dụng dập khuôn mô hình phát triển công nghiệp

Trang 6

oto của Malaysia nhưng với quy mô nhỏ và khả năng thực hiện yếu kém; mục tiêu nội địa hóa của nghành công nghiệp oto bi phá sản Quản lí chất lượng vận tải yếu kém, sửa đổi chưa ứng dụng vào thức

tế và chậm chạp

Vh-xh: ý thức người dân kém

3 Điểm mạnh

Nhân sự: dân số vàng, người trong độ tuổi lao động nhiều bla bla.

Marketing: Phân phối: Đa dạng các hình thức (vé lượt, vé tháng) và đại lý bán vé (on, off ga tàu,

trung tâm ) Giá: rẻ dầnVd như các hãng máy bay giá rẻ Sản phẩm: đa dạng các loại hình vt: đg sông, biển, hàng ko, đg sắt, đg bộ,…

Tài chính: Từ 2012 đến nay số vốn tư nhân tham gia xd cơ sở hạ tầng gt tăng đột biến Hệ thống giao

thông vận tải đã đáp ứng tốt hơn hơn nhu cầu đi lại ngày càng gia tăng của nhân dân và lưu chuyển hàng

hóa với tốc độ tăng trưởng cao: giai đoạn 2000-2012, khối lượng vận tải có tốc độ tăng trưởng bình quân 11,5%/năm đối với vận tải hành khách, 12,6%/năm đối với vận tải hàng hóa, đạt 2.790 triệu lượt người và 1.107,5 triệu tấn năm 2012 Tất cả các phương thức vận tải đều có sự tăng trưởng về khối lượng vận tải đảm nhận

Sản xuất: Cơ sở hạ tầng:

NH thế giới đánh gia sthij trg logistic vn có tốc độ phát triẻn tb 16-20%/năm Báo cáo diến đàn kte thế giới cho thấy, từ 2010-2015 kết cấu cơ sở hạ tầng vn đã tăng 36 bậc Top 3 hệ thống dg cao tốc lớn và hiện đại nhất đông nam á

4 Điểm yếu

Nhân sự: Ko còn giá rẻ, lợi thế này đang dần mất đi khi lương cơ sở và lương tối thiểu đều được

Chính phủ điều chỉnh tăng từ năm 2016 trình độ của nhiều cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành GTVT chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý phát triển kinh tế ngành, tỷ lệ cán bộ có trình độ tiến sĩ còn thấp, số cán bộ có trình độ thạc sĩ đa số còn trẻ, kinh nghiệm nghề nghiệp chưa nhiều Số có trình độ cao và có kinh nghiệm đa số thuộc diện lớn tuổi và thường là tham gia công tác quản lý Số cán

bộ, công chức sử dụng thành thạo ngoại ngữ trong giao tiếp, trong tham gia các hội nghị, hội thảo và đàm phán quốc tế còn rất hạn chế Khả năng thu hút nhân lực: chính sách trả lương và cơ chế hiện tại đã không thu hút được các cán bộ có trình độ và năng lực, nhạy bén với cơ chế thị trường vào làm việc cho các cơ quan quản lý và sự nghiệp của ngành, dẫn đến khoảng cách giữa yêu cầu phát triển ngành và trình độ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành ngày càng khó rút ngắn lại Có sự mất cân đối

về trình độ đào tạo của cán bộ GTVT giữa các vùng, miền; trong đó, vùng đồng bằng, đô thị có tỷ lệ cán

bộ được đào tạo đại học và sau đại học lớn hơn nhiều so với vùng miền núi, nông thôn, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn như là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long

Trang 7

Marketing: Promotion: ít vốn nên quảng cáo còn hạn chế (trừ 1 số hãng hàng không) Sản phẩm: chất

lg ko đồng đều

Tài chính: Thời gian thu hồi vốn xd kết cấu hạ tầng dài hàng chục năm=>áp lực trả nợ Khả năng vay

ODA và vốn ưu đãi giảm do vn thành nc thu nhập trung bình

Sản xuất: Kết cấu hạ tầng gt chưa theo kịp tốc độ phát triển đô thị=>kẹt xe, tắc đg phổ biến, ko sd đc các

phg tiện hiện đại hơn Vùng sâu vùng xa đg đi lại vẫn khó khăn, xuống cấp hư hại nhưng ko có vốn sửa, xây mới Các phg tiện vận tải của vn nhìn chung quy mô nhỏ,

Ngành dệt may

1 Điểm mạnh

Nhân sự: nhân công giá rẻ

Công nghệ: Trong 5 năm gần đây, toàn ngành đã trang bị thêm được gần 20.000 máy may hiện đại các

loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộ lao động, áo phông các loại… cải thiện một bước chất lượng hàng may xuất khẩu và nội địa Ngành may liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới thiết

bị để đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường thế giới

2 Điểm yếu

Tài chính: Giá trị tăng trưởng ngành dệt may hàng năm nhanh và ổn định Cụ thể là gần đây,

giai đoạn 2013 đến 2015: tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 12% đến 13%/năm, trong đó ngành dệt tăng 11% đến 12%/năm, ngành may tăng 13% đến 14%/năm; tăng trưởng xuất khẩu đạt 10% đến 11%/năm; tăng trưởng thị trường nội địa đạt 9% đến 10%/năm Ngành dệt may cũng luôn là một ngành xuất khẩu mũi nhọn, chiếm 10 – 15% GDP hàng năm

Hệ số ROE và ROA ngành dệt may vẫn khó đạt mức cao

Tỷ suất lợi nhuận của ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang ở mức 5-8%, chủ yếu tập trung vào khâu gia công, trong khi khâu này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ngành may mặc thấp

a) Tổ chức

Chưa có sự liên kết giữa các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thời gian qua, một số doanh nghiệp đến từ Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc đã xây dựng hàng loạt nhà máy sản xuất sợi tại Việt Nam nhằm đón làn sóng dịch chuyển của các nhà sản xuất vải và tận dụng lợi thế về thuế (về 0%) từ các điều khoản của Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Tuy nhiên, trong khi những doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu vừa và nhỏ, công nghệ và tiềm lực tài chính đều khó cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài lại chưa chủ động liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành trước các doanh nghiệp nước ngoài sắp tới sẽ ồ

ạt tiến vào thị trường Việt Nam

Trang 8

Thiếu liên kết giữa sợi, dệt nhuộm và may.

Việc đầu tư phát triển không đồng đều vào các ngành, cụ thể là đầu tư dồn dập vào ngành sợi và may

mà không đồng thời phát triển in hoa văn, nhuộm và hoàn tất sản phẩm sẽ dẫn tới toàn ngành dệt may khó phát triển vững chắc, cũng là nguyên nhân chính làm cho ngành dệt may Việt Nam khó chuyển sang được phân khúc có giá trị cao hơn

Marketing: Các doanh nghiệp trong ngành chưa thực sự chú trọng khâu thiết kế và tự xây dựng

thương hiệu tư cho mình, hầu như không thực hiện quá trình thiết kế và không có khả năng tự thiết kế và xây dựng thương hiệu CMT (Cut Make Trim – gia công thuần túy) và FOB (Free on Broad – mua nguyên liệu, bán thành phẩm) chiếm hơn 95% tồng giá trị kim ngạch xuất khẩu, trong đó CMT chiếm 75.3% và FOB là 21.2% Chỉ có khoảng 2%-3% giá trị xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam là ODM (Original Design Manufacturing – chủ động từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất thành phẩm) Các doanh nghiệp cũng chưa chú trọng nhiều đến khâu nghiên cứu thị trường xuất khẩu, marketing sản phẩm, phần lớn là làm ăn với những đối tác quen thuộc Qua đó, quy mô và năng lực sản xuất chậm tiến triển

Chính sách marketing

Sản phẩm (product)

Sản phẩm dệt may xuất khẩu Việt Nam được thực hiện ở mức CMT (cut–make-trim, phương thức xuất khẩu đơn giản nhất và đem lại giá trị gia tăng thấp nhất: người mua cung cấp toàn bộ nguyên liệu đầu vào và yêu cầu, nhà sản xuất chỉ cần cắt, may và hoàn thiện sản phẩm) và FOB cấp I (doanh nghiệp thu mua nguyên liệu đầu vào từ nhóm nhà cung cấp do người mua chỉ định để sản xuất và bán sản phẩm hoàn chỉnh) nên Việt Nam ít có sản phẩm mang thương hiệu riêng của mình để tiếp cận với các nhà bán lẻ trên toàn cầu

Số liệu chủng loại các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua cho thấy, hơn 60% giá trị xuất khẩu của ngành may mặc là từ áo sơ mi, áo thun, áo khoac, quần, phục vụ cho phân khúc thị trường cấp trung và cấp thấp Các sản phẩm cao cấp như đồ vest hay váy được xuất khẩu với số lượng rất hạn chế

Giá (price)

Thị trường xuất khẩu: Chi phí cho nguyên phụ liệu, vận chuyển, lương tối thiểu tăng cao dẫn đến giá thành sản phẩm tăng lên là nguyên nhân chủ yếu khiến giá xuất khầu sản phẩm dệt may Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc thường cao hơn mức giá trung bình và so với các quốc gia xuất khẩu khác như Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ…từ 15% đến 30%

Thị trường nội địa: Kết quả của cuộc điều tra nghiên cứu thị trường trong năm 2013 cho thấy, nhu cầu

về hàng may mặc trong nước chịu tác động lớn từ giá và có thể được phân chia thành 4 nhóm: giá mua từ 60,000 đến 100,000 đồng/bộ; 100,000 đến 300,000 đồng/bộ; 300,000 đến 1,000,000 đồng/bộ, và nhóm cuối cùng có giá từ 1,000,000 đồng/bộ trở lên Phần lớn các sản phẩm may mặc của Việt Nam có giá khá

Trang 9

cao, chỉ một số doanh nghiệp may trong nước đang cố tung ra dòng sản phẩm có giá trung bình dưới 200,000 đồng/bộ Vì thế nhìn chung thị trường may mặc ở Việt Nam rất khó khăn trong cạnh tranh với hàng may mặc giá rẻ nhãn mác Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan

Phân phối (place)

Hoạt động phân phối, mạng lưới xuất khẩu và marketing của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phát triển Đây là điểm yếu lớn của ngành Dệt may Việt Nam, hạn chế xâm nhập vào các khâu cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Phần lớn các doanh nghiệp trong nước vẫn phải thông qua các nhà cung cấp khu vực để có các hợp đồng gia công, rất ít các doanh nghiệp có hợp đồng gia công trực tiếp từ các nhà bán lẻ Một số khác thì thông qua các văn phòng đại diện ở Việt Nam của các thương hiệu nổi tiếng để cung cấp sản phẩm

Gần như không có sự tương tác trực tiếp giữa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam và các nhà bán lẻ cuối cùng Điều này gây khó khăn cho các nhà sản xuất trong việc nắm bắt yêu cầu của thị trường để đáp ứng một cách nhanh chóng sự thay nhu cầu của người mua cũng như xu hướng thời trang mới trên thế giới

Xúc tiến bán/khuyến mãi (promotion)

Ngành dệt may chủ động tổ chức khá nhiều hội chợ triển lãm hàng may mặc và các sản phẩm dệt may khác ở nước ngoài như Bakistan, Cộng hòa Ba Lan, Vương quốc Bỉ, Thổ Nhĩ Kì, Thụy Sĩ, Liên bang Nga,… để giới thiệu các sản phẩm dệt may Việt Nam đến thị trường đó Đồng thời các hội chợ và triển lãm thời trang cũng được tổ chức thường xuyên trong nước ở khắp các tỉnh thành Ngoài ra, các triển lãm quốc tế tổ chức trong nước với sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc nhiều nước trên thế giới là cơ hội tốt để ngành dệt may nước ta tiếp cận công nghệ tiên tiến và cũng là cơ hội tìm kiếm khách hàng

Nhân sự: Theo số liệu thống kê cho thấy lao động có trình độ cao đẳng trở lên trong ngành mới chỉ

có tỷ lệ dao động từ 3% đến 5%, nghĩa là còn thấp xa so với tiêu chuẩn chung Điều đó cảnh báo trình độ của cán bộ quản lý của ngành Dệt may Việt Nam còn nhiều bất cập Nhân công không còn “rẻ”: Trước đây, nhân công rẻ là một trong những lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam nhưng lợi thế này đang dần mất đi khi lương cơ sở và lương tối thiểu đều được Chính phủ điều chỉnh tăng từ năm 2016 Cụ thể, lương cơ sở tăng từ 1.150.000 đồng/tháng lên 1.210.000 đồng/tháng (tăng khoảng 5%) sẽ kéo theo chi phí phải trả BHXH của người sử dụng lao động Tương tự, lương tối thiểu mới sẽ ở mức 106,67 - 155,56 USD/tháng, cao hơn mức lương tối thiểu tại một số nước xuất khẩu dệt may đối thủ như Bangladesh (67 USD/tháng), Myannmar (82,96 USD/tháng), Mông Cổ (96,34 USD/tháng), Pakistan (93,5-112,2 USD/tháng), Campuchia (124,21 USD/tháng)…trong khi năng lực của các cán bộ xây dựng và thực thi chính sách, cũng như các cán bộ tham gia xúc tiến thương mại còn yếu, đặc biệt là hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, và kỹ năng Công nhân trong ngành dệt may không có tay nghề còn cao nên năng suất lao động thấp, chẳng hạn cùng một ca làm việc - năng suất lao động bình quân của một lao động ngành

Trang 10

may Việt Nam chỉ đạt 12 áo sơ mi ngắn tay hoặc 10 quần thì một lao động Hồng Kông năng suất lao động

là 30 áo hoặc 15 - 20 quần

Công nghệ: Máy móc thiết bị: máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu và có xuất sứ từ nhiều nước Ngành

Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên hư hỏng nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao Hầu hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị Chính quy

mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung ứng cho một thị trường nhất định Tuy nhiên, trang thiết bị của ngành may mặc đang được đổi mới và hiện đại hoá , các sản phẩm đã có chất lượng ngày một tốt hơn, và được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ,

EU, và Nhật Bản chấp nhận

(Nguyên phụ liệu dệt may vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu (khoảng 60%-70%) từ các nước không

thuộc phạm vi hiệp định FTA như Trung Quốc với 6,98 tỷ USD (+12,9% yoy), Hàn Quốc: 2,57 tỷ USD (-1% yoy), Đài Loan: 2,15 tỷ USD (+3,5% yoy)… Tính đến 2014 ngành dệt may mới chỉ nội địa hóa được khoảng 48% nguồn nguyên phụ liệu xuất nên giá trị thặng dư của ngành khó được cải thiện Cụ thể hiện nay ngành mới chỉ đáp ứng được 5% nhu cầu bông, 1/8 nhu cầu vải Tuy nhiên chất lượng chưa được đảm bảo Mặc dù tỷ lệ nội địa hóa đang từng bước được cải thiện, mỗi năm tăng từ 3%-5%, nhưng vẫn còn thấp xa so với mức 90% của Ấn Độ và 95% của Trung Quốc Theo dự báo của VITAS trong vài năm tới, nhập khẩu nguyên liệu trong lĩnh vực dệt may vẫn sẽ tiếp tục tăng, một phần do diện tích trồng bông của Việt Nam – một trong những nguyên liệu chính của sản xuất dệt may hiện chưa được đầu tư phát triển tương ứng với quy mô ngành

100% hóa chất nhuộm và hơn 80% hóa chất khác dùng cho ngành dệt may phải nhập khẩu từ nước khác

Sản phẩm của ngành dệt chính là nguyên liệu cho ngành may nhưng nguồn nguyên vật liệu chính này chưa đáp ứng được do chất lượng thấp Trên 80% vải sẵn có trong nước đều phải nhập khẩu Thậm chí các doanh nghiệp may thuộc Tổng công ty Dệt may cũng không sử dụng vải do các công ty trong nước sản xuất, có tới 90% nguyên vật liệu để sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phải nhập từ nước ngoài nên bị phụ thuộc vào khách hàng bên ngoài

Các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát huy hiệu quả Có thể thấy những mặt hàng như chỉ khâu, cúc nhựa hay băng chun là những mặt hàng đơn giản, giá trị gia tăng không cao Những nguyên phụ liệu chính cho sản xuất xuất khẩu thì hầu như phải nhập khẩu Ví dụ, như sợi hóa học phải nhập khẩu 100%, bông tổng hợp phải nhập khẩu 93% Trong khi đó, diện tích trồng bông đang có nguy cơ bị thu hẹp do người nông dân chuyển sang trồng các cây nông nghiệp.)

Ngày đăng: 21/08/2020, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w