1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÁC BỆNH VỀ MÓNG, TÓC VÀ NIÊM MẠC

40 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 519,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các luống ngang chạy khắp bề ngang của móng thường do thương tổn của mầm móng, hay gặp trong nhiễm khuẩn toàn thân, thương hàn, viêm da mủ, giang mai, cóng lạnh.. Thương tổn móng ở một s

Trang 1

Chương VII

CÁC BỆNH VỀ MÓNG, TÓC

VÀ NIÊM MẠC

Trang 2

CÁC BỆNH CỦA MÓNG

Trang 3

1 Đại cương

Chẩn đoán nguyên nhân các bệnh móng rất khó, có nhiều nguyên nhân khác nhau có thể gây tổn thương tương tự nhau, vì vậy phải khám xét lâm sàng và làm xét nghiệm đầy đủ mới có thể tìm được nguyên nhân

Tổn thương của móng rất khác nhau, có thể do thương tổn của mầm móng ảnh hưởng đến sự phát triển của móng Nếu tổn thương bệnh lý chỉ tác động tạm thời, thì gây thương tổn một vùng nào đó của móng Nếu là nguyên nhân bệnh lý tác động lâu dài, móng sẽ có tổn thương nhiều tầng, vì nó tương ứng với từng giai đoạn phát triển của móng Mầm móng bị tổn thương càng nặng thì diện tích thương tổn của móng càng rộng, và nó thể hiện bằng đường, vạch ngang trên móng

Thương tổn ở mầm móng thường do nhiều nguyên nhân rất khác nhau: nguyên nhân toàn thân như bệnh nhân mắc một bệnh nội khoa hay một bệnh ngoài da nào đó; nguyên nhân tại chỗ như nấm, vi khuẩn, chấn thương cơ học

2 Các thể lâm sàng

2.1 Theo hình thái và tính chất tổn thương:

2.1.1 Viêm móng (onyxis)

Là tổn thương móng có tính chất viêm

2.1.2 Viêm quanh móng (périonyxis):

Là thương tổn các nếp quanh móng hoặc bờ cạnh móng Nguyên nhân do viêm

2.1.3 Móng trắng (leuconychie):

Là những vệt trắng hoặc điểm trắng, vệt ngang rải rác gần nhau hoặc xa nhau Theo tác giả Milian, là do căn nguyên giang mai bẩm sinh Có tác giả cho là do rối loạn chức năng gan hoặc nhiễm độc thần kinh

Còn theo tác giả Parier và Civatte thì cho là do chấn thương lên mầm móng Không cần điều trị vì thực ra đây là hốc không khí xen kẽ vào trong tế bào móng Sau một bệnh toàn thân hoặc nhiễm độc (sốt, sốt xuất huyết, nhiễm độc)

có thể gặp móng trắng toàn bộ Còn các vết vàng nhạt hoặc xám ở bờ tự do, hay

bờ bên cũng có thể bắt đầu của nấm móng Những đường hằn dọc trên móng không phải là bệnh, mà là cấu trúc bình thường của móng

Các điểm lõm ở trên bề mặt móng có thể do eczema hoặc do giang mai, vẩy nến Các luống ngang chạy khắp bề ngang của móng thường do thương tổn của mầm móng, hay gặp trong nhiễm khuẩn toàn thân, thương hàn, viêm da mủ, giang mai, cóng lạnh

Teo móng là móng ngừng phát triển, rồi biến mất dần, một hoặc nhiều móng, thường do thương tổn của mầm móng vì chấn thương, nhiễm khuẩn, nhiễm độc tại chỗ hoặc toàn thân Móng còn lại mỏng như một cái màng màu hồng hoặc móng trở thành mỏm cụt không có hình dạng

2.1.4 Móng teo mỏng dần(onychorrhexie) và nứt dọc theo móng:

Trang 4

Căn nguyên do chấn thương, do nghề nghiệp, do eczema, do pelade, do bôi thuốc nhuộm móng

2.1.5 Dày móng (pachyonychie):

Thường gặp dưới bản móng và bờ tự do có tổ chức sùi, dày sừng, móng dòn,

dễ gãy và cạo ra dễ bong như trong nấm móng

2.2 Theo nguyên nhân:

2.2.1 Bệnh móng bẩm sinh:

Nằm trong bệnh cảnh tật bẩm sinh - di truyền

Đẻ ra không thấy móng (anonychia), nó khuyết toàn bộ hoặc một vài móng, đôi khi kết hợp với li thượng bì bọng nước bẩm sinh, kèm theo chứng không có

mồ hôi, không có tóc, không có răng

+ Dày móng (pachyonychie) gặp trong hội chứng dày sừng bẩm sinh (Jadasshon Lewandowsky) hoặc trong li thượng bì bọng nước bẩm sinh

+ Móng vuốt: đôi khi cũng có tính chất gia đình

+ Các rối loạn về móng (dysonychie): có tính chất bẩm sinh, móng teo lòng thuyền, móng bong và nứt, móng dùi trống, móng trắng toàn bộ hoặc thành vệt, kèm theo rối loạn ở lông, răng, sắc tố

2.2.2 Thương tổn do chấn thương và nghề nghiệp:

+ Bầm máu ở dưới móng: từ gốc đến bờ tự do rối mất đi

+ Móng trắng thành vết ngang, có thể do chấn thương mạnh vào mầm móng, những chấm nhỏ do chấn thương nhỏ nhưng liên tục

+ Xước móng, xước quanh móng (xước móng rô) thường do chấn thương mạnh vào mầm móng, là nguồn gốc của viêm quanh móng

+ Móng mòn: thường gặp trong bệnh ngứa mãn tính

+ Tật gậm móng (onychophagie) hay gặp ở người mắc bệnh tâm thần

Trang 5

+ Móng quặp (ongle incarné) hay gặp do quá sản bờ bên của móng làm móng đâm sâu xuống gây viêm và thối móng Gặp ở người đi giầy chật, đi dày dép đế cao, những người đi chân phía trước

+ Bệnh móng do nghề nghiệp: chấn thương, hoá chất, nhiễm khuẩn liên tục, biểu hiện mòn, nứt, bong móng, móng hình lòng thuyền

+ Dày sừng dưới móng và viêm quanh móng hay gặp ở công nhân tiếp xúc với axít, nước bẩn, bụi cát, xi măng, dầu mỡ hoặc chất đường

2.3 Thương tổn móng ở một số bệnh ngoài da:

Những biểu hiện này nhiều khi là biểu hiện đầu tiên của bệnh da hoặc tổ chức khác, kèm theo hậu quả như li thượng bì bọng nước bẩm sinh và nó tồn tại như một di chứng

2.3.1 Chàm: có những điểm lõm rải rác không đều, có những luống ngang, gờ dọc, có khi bóc tách gây dày sừng ở dưới móng, viêm quanh móng, móng quắp 2.3.2 Vẩy nến:

Vẩy nến lan rộng toàn thân hoặc đỏ da toàn thân, có tổn thương khớp Tổn thương móng có thể xuất hiện trước, cùng một lúc tổn thương nhiều móng, móng khô, bờ tự do dày lên, dễ gãy, trên bản móng có đặc điểm lỗ chỗ như châm kim, rất giống tổn thương móng trong bệnh eczema Móng gồ cao, mủn ra, đôi khi đội lên ở bờ tự do, ở dưới có tổ chức sừng màu vàng đục nên rất giống với nấm móng

2.3.3 Viêm đầu chi liên tục (hallopeau):

Trong thể mủ, có các mụn nước, mụn mủ ở đầu chi dẫn đến rụng móng, hỏng móng

2.3.4 Liken phẳng: có biểu hiện móng lỗ chỗ, nứt dọc theo móng, có chỗ tiêu móng:

2.4 Nhiễm nấm, nhiễm khuẩn ở móng:

2.4.1 Nấm móng:

Có thể gây nên do nhiều loại nấm, hay gặp nhất là trichophyton violaceum, T.interdigitalis hoặc các loại microsporum, favus Thường gây nên 3 hình thái:

Trang 6

Hình thái bình thường (normotrophie)

Hình thái teo (atrophie)

Hình thái dày sừng (hypertrophie)

Nấm móng do favus làm bản móng có màu vàng trắng, kèm theo có tổn thương da mang tính chất đặc trưng của nấm favus Còn trong tổn thương móng

do nấm Candida thì bao giờ cũng có viêm quanh móng đi trước

Viêm bán cấp, đau ít, ngứa, đi từ trong ra ngoài

Thường hay gặp những người tiếp xúc với nước hoa quả, chất đường (công nhân thợ giặt, người bán hoa quả, công nhân làm bánh kẹo, người làm vườn)

2.4.2 Viêm móng và viêm quanh móng do cầu khuẩn: da xung quanh móng

quầng đỏ, nặn ra có ít mủ Móng bị viêm cấp tính đỏ, đau nhiều và có mủ Dần dần có thể làm cho bong móng và rụng móng

2.5 Các bệnh móng trong nhiễm khuẩn, nhiễm độc toàn thân:

2.5.1 Bệnh giang mai: gây viêm móng, viêm quanh móng, và rối loạn

dinh dưỡng móng như: điểm lỗ chỗ, vết hằn ngang, dày móng, teo móng, rối loạn màu sắc

2.5.2 Lao da xùi có thể nổi quanh bờ tự do của móng:

2.5.3 Móng dùi trống biểu hiện ở bệnh nhân lao phổi:

2.6 Những rối loạn dinh dưỡng của móng:

Rối loạn móng trong bệnh giang mai, viêm dây thần kinh, phong, rối loạn vận mạch (Raynaud), phù voi, giãn tĩnh mạch

2.7 Các bệnh móng do thiếu sinh tố:

+ Thiếu vitamin C, B, D, gây móng lòng thuyền, bạc móng hoặc chậm mọc móng

+ Thiếu máu nhược sắc gây móng lòng thuyền

3 Tổ chức tân tạo ở dưới móng và quanh móng

+ Gồm có hạt cơm, lao xùi, sẩn giang mai II nằm ở dưới bờ tự do của móng + Lồi xương ở dưới móng (exostose) hay gặp ở ngón cái và gây đau đớn dữ dội + Các u lành tính, các cuộn dây thần kinh, động mạch ở dưới móng gây đau buốt lan toả

+ U giãn mạch dưới móng (botriomycome)

+ U sắc tố đen dưới móng

Trang 7

+ U Koenen: thành u có chân hình trụ màu hồng, ở mặt ngoài của móng, đầu của

nó bị sừng hoá, kèm theo khám thấy có các u tuyến bã ở mặt

4 Điều trị

Tuỳ theo nguyên nhân và tính chất bệnh lý mà lựa chọn phương pháp điều trị Chủ yếu là điều trị theo nguyên nhân, điều trị tại chỗ móng bị bệnh t có thể dùng thuốc bôi tại chỗ, bóc móng bằng phẫu thuật, hoặc không xử trí gì

RỤNG TÓC (Alopécies, Alopecia)

1 Đại cương

Sự phát triển của tóc trên da đầu xảy ra theo một chu kỳ hoạt động không liên tục Pha đầu tiên là pha phát triển (pha mọc tóc, pha hoạt động, active phase) gọi

là anagen có hoạt động gián phân mạnh Tiếp theo một pha gọi là catagen trong

đó sự gián phân đột ngột ngừng lại Rồi tiếp đến là pha nghỉ (pha ngừng lại) gọi

là telogen Pha telogen ở lông mày, lông mi, lông nách, lông mu kéo dài hơn ở da đầu và vùng râu cằm Thời gian của các pha này dường như phụ thuộc vào các yếu tố tại chỗ và yếu tố di truyền Bình thường tóc anagen chiếm 80- 90%, catagen 5% và tóc telogen 10- 15% Hàng ngày có 50- 100 sợi tóc rụng, số tóc này là tóc được thay thế hàng ngày

1.1 Phân loại theo hình thái:

+ Rụng tóc không sẹo (non scaring alopecia)

- Rụng tóc androgen di truyền (Androgenetic, alopecia)

- Rụng tóc thành đám (alopecia areata)

- Rụng tóc kết hợp bị bệnh toàn thân hoặc hệ thống

Rụng tóc telogen (telogen effluvium)

Rụng tóc anagen (anagen effluvium)

Giang mai (syphilis)

- Do tật nhổ tóc (trichotillomania)

- Rụng tóc kết hợp với các hội chứng di truyền

+ Rụng tóc có sẹo (scarring alopecia)

- Khuyết tật di truyền hoặc phát triển

-Tổn thương do hoá chất, bỏng và rụng tóc do các chấn thương khác

- Các bệnh đặc biệt có tổn thương ở da đầu: lupút đỏ, liken phẳng, morphea, pemphigoid thành sẹo

1.2 Phân loại theo căn nguyên:

+ Rụng tóc sinh lý

Trang 8

+ Rụng tóc do yếu tố cơ học, lý học, hoá học (chải tóc, uốn sấy, thuốc nhuộm

tóc, dầu gội đầu )

+ Rụng tóc sau đẻ, sau ốm nặng, bệnh truyền nhiễm (sốt rét, sốt xuất huyết,

thương hàn )

+ Rụng tóc do nấm:

- Trứng tóc (piedra hortai)

- Do chủng trichophyton- microsporum

+ Rụng tóc da dầu (seborrheic alopecia )

+ Rụng tóc pơlát (pelade, alopecia areata)

+ Rụng tóc giang mai (syphilitic alopecia)

+ Rụng tóc androgen di truyền (androgenetic alopecia)

+ Tật nhổ tóc (trichotillomania)

+ Bệnh tóc chuỗi hạt (bệnh monilethrix) (beaded hair)

+ Rụng tóc trong một số bệnh da đặc biệt có tổn thương ở da đầu (luput đỏ,

tròn, bầu dục, không có dấu hiệu viêm nào, không có triệu chứng toàn thân, da

trơn nhẵn giống như sẹo, có thể thấy một số sợi tóc thanh mảnh, bạc màu như

lông tơ, ở rìa đám có sợi gẫy ngắn và mập gọi là tóc dấu chấm than

(exclamation point hairs)

Rụng tóc ở vùng đầu, có thể rụng ở vùng râu cằm và các vùng khác

+ Chia thành các loại sau:

- Rụng tóc thành đám (alopecia areata)

- Rụng tóc thể rắn bò (alopecia ophiasis)

- Rụng tóc toàn phần (alopecia totalis): toàn bộ tóc vùng đầu hầu như bị rụng

- Rụng tóc toàn bộ (alopecia universalis): rụng tóc vùng đầu, rụng lông mày,

nách, lông mi, lông mu, lông tơ của cơ thể

Biểu hiện ở móng: loạn dưỡng, đĩa móng có hàng trăm hố lõm nhỏ như "đê

khâu", "đồng đột"

+ Tiến triển: thường mọc lại một cách ngẫu nhiên sau vài tháng, có khi

xuất hiện các đám mới trong khi các đám khác đang mọc tóc lại Bệnh cũng

thường tái phát

+ Căn nguyên: thường gặp ở người lớn, trẻ tuổi (trước tuổi trung niên), tỷ lệ

nam/nữ là 2/1

Căn nguyên chưa rõ, có vai trò của yếu tố di truyền, miễn dịch, nội tiết, liên

quan tới stress, nhiễm khuẩn Hiện nay người ta cho rằng có một quá trình tự

miễn chống hành lông Có thể kết hợp với vitiligo, suy cận giáp, Addison, viêm

tuyến giáp Hashimoto, nhược cơ nặng, hội chứng Down, thiếu máu ác tính

Trang 9

+ Mô bệnh học da: nang tóc giảm kích thước, thâm nhiễm lympho quanh mạch, thâm nhiễm lympho quanh nang lông ở những nơi tổn thương đang hoạt động

Xét nghiệm: các sợi tóc anagen loạn dưỡng, tăng tỷ lệ tóc telogen tới 40% hoặc hơn (bình thường < 20%)

Nếu bệnh xuất hiện sau tuổi thiếu niên thì 80% sẽ mọc tóc lại và ít gặp rụng lông và tóc toàn bộ (alopecia universalis)

- Bôi mỡ corticoid về ban đêm

- Corticosteroid tiêm trong tổn thương: triamcinolon acétonide 3,5 mg/ml, tháng một lần

- Corticoids uống thường làm mọc lại tóc Cần chú ý tác dụng phụ và khi ngừng một thời gian bệnh có thể tái phát

- Cyclosporin: uống làm mọc lại tóc, khi ngừng thuốc bệnh dễ tái phát

- PUVA trị liệu

- Trị liệu miễn dịch tại chỗ dùng DNCB, nhưng hay gây viêm da tiếp xúc, dị ứng tại chỗ

Có thể bôi minoxidil

2.2 Rụng tóc androgen di truyền (androgenetic alopecia- AGA):

AGA còn gọi là chứng hói tiến triển ,xuất hiện do tố bẩm sinh di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu

Từ đồng nghĩa: hói kiểu đàn ông, hói thông thường, rụng tóc có tính di truyền

Theo phân loại của Hamilton: type I rụng tóc dọc gờ trán, type II rụng vùng trán và bắt đầu rụng vùng đỉnh chẩm Type III, IV, V thì cả hai vùng rụng đó liên hợp, nối với nhau, hói hoàn toàn phía trên, (vùng trán và vùng đỉnh chẩm), riêng vùng thái dương và gáy không rụng tóc nên thấy một vành có tóc từ trước và sau (xem hình vẽ)

Trang 10

Ở đàn bà rụng lan toả, tóc mỏng thưa đi Ở nữ trẻ bị AGA có các dấu hiệu nam tính hoá như có trứng cá, lông ở quá nhiều thân mình và vùng mặt Tóc ở vùng AGA mảnh hơn, ngắn hơn, trở thành lông tơ và bị teo hoàn toàn

+ Xét nghiệm: tóc đồ (trichogram) thấy tăng tỷ lệ phần trăm tóc telogen (bình thường 80-90% các sợi tóc ở anagen, telogen 10-15%)

+ Về bệnh học: nhiều nang tóc ở pha telogen, nang tóc giảm kích thước và gần như teo hoàn toàn.Tóc chuyển thành lông tơ, sợi tóc ngắn, giảm đường kính Phần lớn bệnh nhân (cả nam và nữ) có nội tiết bình thường nhưng ở tại chỗ

có tăng biểu hiện của các thụ thể (receptors) androgen Cơ chế tác động của androgen lên tế bào nang lông dẫn đến AGA thì không rõ Một số bệnh nhân có tăng androgen

+ Tiến triển từ nhiều năm đến hàng chục năm

+ Điều trị: không có phương pháp điều trị có hiệu lực cao để ngăn sự tiến triển của AGA

- Dung dịch minoxidil 2% bôi tại chỗ làm giảm rụng tóc và kích thích mọc lại tóc, sau 4 - 12 tháng 40% mọc tóc lại Phối hợp nồng độ minoxidil và retinoid tại chỗ sẽ có kết quả tốt hơn

- Thuốc kháng androgen: spironolactone, cyproteron acetate, flutamid và cimetidine Cơ chế tác dụng của các thuốc này là thuốc kết hợp với thụ thể androgen và chẹn tác dụng của dihydrotestosteron Thuốc có tác dụng ở đàn bà

bị AGA, nhưng không dùng cho đàn ông

- Tóc giả (Wig)

- Cấy ghép tóc (hair transplantation)

- Chuyển các miếng ghép mô nang lông từ vùng gờ viền xung quanh (vùng tóc không mẫn cảm androgen) tới vùng hói ở đầu mẫn cảm androgen Vi ghép mô này là kỹ thuật thành công giúp tóc mọc lại

2.3 Rụng tóc telogen (telogen effluvium, telogen defluvium):

Là loại rụng tóc hàng ngày tăng dần, tóc mỏng thưa đi

Tăng tỷ lệ phần trăm pha telogen (tóc đầu tày), tóc bị chuyển nhanh từ pha anagen sang catagen và telogen

+ Căn nguyên:

- Có thai, sẩy thai, sinh đẻ

- Chấn thương lớn, phẫu thuật ngoại khoa lớn, mất máu

- Sau đợt ốm có sốt cao

- Sau ăn kiêng, sụt cân trong thời gian ngắn

- Thuốc tránh thai, giảm chức năng tuyến giáp

Trang 11

bên và sau đầu, các tóc mới mọc lại ngắn, mảnh hơn tóc cũ và đuôi thon nhọn hơn

Móng có những đường hằn ngang (đường Beau) hoặc có rãnh, khía ở bản móng các ngón tay, ngón chân

+ Trichogram (tóc đồ): tăng tỷ lệ phần trăm tóc telogen (bình thường từ 10- 15%.)

+ Tiến triển: sau một thời gian tóc sẽ mọc lại Tuy nhiên nếu rụng tóc nghiêm trọng và tái phát sau nhiều lần có thai kế tiếp nhau (chửa đẻ nhiều lần) có thể tóc mọc lại không hoàn toàn Sau nguyên nhân tác động tóc có thể rụng kéo dài trong vòng 1 năm

+ Điều trị: không cần điều trị gì đặc biệt, vitamin nhóm B liều cao, calcium, giải thích cho bệnh nhân là cần chờ đợi một thời gian tóc sẽ mọc lại

2.4 Rụng tóc anagen (anagen effluvium):

Rụng tóc anagen là kiểu rụng tóc lan toả, khởi đầu nhanh và khá rõ rệt, nó gây nên kìm hãm sự phát triển của tóc hoặc chuyển nhanh sang catagen và telogen và rụng đi, hoặc làm hư hại các sợi tóc anagen

Phần lớn rụng tóc loại anagen gây nên do thuốc, nhiễm độc và hoá trị liệu

Các kiểu

ở đàn ông

ở đàn bà

Các kiểu rụng tóc liên quan androgen di truyền (AGA) ở đàn ông và đàn bà

Bảng danh mục thuốc gây rụng tóc

Trang 12

Có một vài thông báo gây rụng tóc tỷ lệ thay đổi

từ 19% - 70% nhưng có lẽ thấp hơn loại rụng tóc lan toả

+ Thuốc chống phân bào

Thuốc tránh thai uống

+ Thuốc dùng trong điều trị rối loạn lưỡng

Có lẽ rụng tóc telogen

Có lẽ rụng tóc telogen Khởi đầu 1 tuần đến 11 tháng, có lẽ rụng tóc telogen

Rụng tóc lan toả, tóc anagen bất thường 10 ngày sau khi uống thuốc, tóc rụng hoàn

Trang 13

Hiếm khi gây rụng tóc

Rụng tóc toàn bộ vùng đầu sau nhiễm độc cấp, với phơi nhiễm mạn tính, tóc trở nên khô và gãy

Tăng rụng tóc và tăng tóc telogen giảm tóc pha anagen

Rụng tóc lan toả cơ chế có lẽ giống như trên

2.5 Rụng tóc có sẹo (Scarring alopecia, cicatricial alopecia):

Rụng tóc loại này có đặc tính là tổn thương có sẹo Tóc bị teo và nang tóc bị

hư hại hay huỷ hoại, do viêm (nhiễm trùng và không nhiễm trùng) hoặc do bệnh

lý khác và khi khỏi xuất hiện sẹo Có thể phát hiện các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của bệnh chính ở vùng rụng tóc, vùng da xung quanh hoặc vùng da khác của cơ thể

+ Rụng tóc thành sẹo có 4 loại tương đối phổ biến

- Giả pelade của Brocq (pseudopelade de Brocq)

- Viêm nang lông trụi tóc (folliculitis decalvans)

- Trứng cá sẹo lồi (acne keloidalis)

- Giả viêm nang lông vùng râu cằm (pseudo follicullitis barbae)

+ Phân loại rụng tóc thành sẹo:

- Thiếu hụt phát triển và rối loạn di truyền: Ichthyosis, liên kết X ẩn, Nevi biểu bì, Epidermolysis bullosa (GAREB) (kiểu loạn dưỡng ẩn)

Trang 14

nang lông vùng gáy, giả viêm nang lông vùng râu cằm, giả pelade của Brocq, viêm nang lông trụi tóc, viêm quanh nang lông da đầu hóa mủ rải rác

- Amyloidosis (dissecting perifolliculitis of the scalp)

( Perifolliculitis capitis abscedens et suffodiens)

2.6 Bệnh tóc chuỗi hạt (Beaded hair, bệnh monilethrix):

+ Định nghĩa: đây là bệnh của tóc mà hậu quả là do các biến đổi làm dày thân tóc lên một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc và có xu hướng tóc bị gãy, đứt đoạn

+ Dịch tễ học: monilethrix là một bệnh hiếm gặp, cả hai giới đều bị bệnh với

tỷ lệ như nhau, thường xuất hiện ở tuổi niên thiếu, có đặc điểm di truyền trội kiểu mendel, độ xuyên không hoàn toàn Ở một số người bị thể nhẹ, tóc hầu như bình thường, phải khám kỹ mới phát hiện được

+ Căn nguyên: chưa rõ, người ta phát hiện thấy bất thường trong bài tiết argininosuccinic axít trong nước tiểu ở một số trường hợp

+ Lâm sàng: bệnh thường xuất hiện lần đầu ở tuổi ấu thơ, biểu hiện bằng rối loạn sự phát triển của tóc, trẻ em bị hói hoặc tóc thưa và dễ gẫy đến nỗi da đầu phủ toàn tóc ngắn Thường gặp dầy sừng nang lông làm da đầu thô ráp xù xì, có biểu hiện khô da, đặc biệt rõ nhất ở vùng chẩm

Có thể quan sát thấy các sợi tóc dạng chuỗi hạt bằng kính lúp Trong các ca bệnh thể nhẹ thì khó phát hiện các sợi tóc ngắn bất thường xen kẽ các sợi tóc dài bình thường Có thể phát hiện tóc bất thường bằng cách sờ

Vùng trán, đỉnh, vùng chẩm là vị trí hay gặp, hiếm khi quan sát thấy bệnh monilethrix ở vùng mu, cẳng chân, lông mày và lông mi

+ Mô bệnh học: thân tóc có đoạn co nhỏ lại, có đoạn dày, phình to ra, biến đổi này có tính chu kỳ

Đo khoảng cách giữa các nút cục thấy tương đối hằng định Kích thước được xác định là 312- 625 

+ Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với các bệnh loạn dưỡng

di truyền hay mắc phải làm gãy tóc Ví dụ xét nghiệm thân tóc bằng kính hiển vi quang học để phân biệt bệnh tóc gãy dòn có hạt (trichorrhexis nodosa), bệnh tóc xoắn vặn (pilitorti) và tật nhổ tóc

+ Điều trị: thuyên giảm nhất thời sau dùng bức xạ ion hoá vùng đầu nhưng không nên dùng nhiều; corticoid tại chỗ không có tác dụng

2.7 Rụng tóc khu trú: có thể do bẩm sinh hoặc do mắc phải:

2.7.1 Rụng tóc khu trú bẩm sinh:

Trang 15

Khi đẻ ra đã không có tóc hoặc tóc thưa thớt Trong chứng này tóc rất mảnh, nhỏ yếu, dễ gãy hoặc thành từng chuỗi như chuỗi hạt (monilethrix), đó là dị dạng bẩm sinh di truyền của tóc Trong bệnh này, những sợi tóc mọc lên có chỗ phình

ra, có chỗ thắt lại, co nhỏ lại, chỗ thắt lại gọi là vòng thắt (monile), tóc thường bị gãy sau 1-2 chỗ thắt Nếu ta dùng nhíp nhổ sợi tóc, ta thấy có những đoạn 5-10

mm cong lại ở nang lông Lấy đoạn đó soi trên kính hiển vi sẽ thấy những vòng thắt Những đoạn này bị mất màu hoặc nhạt màu

Vị trí hay gặp: ở đỉnh đầu hoặc hai bên thái dương, những chỗ khác tóc bình thường nhưng khô hơn và quăn lại không đều Ở da đầu, chân tóc có những sẩn màu đỏ và xếp thành từng đám, khi sờ vào ráp như dày sừng nang lông Các sẩn này thường tập trung ở vùng tóc rụng hoàn toàn, như đỉnh đầu hoặc hai bên thái dương Loại rụng tóc này xuất hiện rất sớm, khi đứa trẻ đẻ ra vẫn có tóc nhưng đến tuần thứ 6 tóc rụng đi và không mọc trở lại, dần dần xuất hiện những sẩn ở vùng đỉnh đầu và hai bên thái dương Tình trạng này kéo dài suốt cả đời, nhưng cũng có trường hợp nó giảm dần so với tuổi và các sẩn dần dần thành sẹo

Một số tác giả thông báo, bệnh khỏi khi dùng tinh chất giáp trạng hoặc dùng sinh tố A + bôi dầu cade

2.7.2 Rụng tóc khu trú mắc phải:

- Gồm thể có sẹo và thể không có sẹo:

+ Thể có sẹo: là một hậu quả của bệnh ở da đầu, thí dụ: favus, luput đỏ, liken phẳng, xơ cứng bì hoặc viêm chân tóc

Khi không tìm được nguyên nhân mà thấy rụng tóc khu trú thì gọi là giả pelade Brocq (pseudopelade de Brocq)

- Thể không có sẹo: là do sang chấn, tật nhổ tóc (trichotillomanie), do nấm,

do bệnh muxin nang lông (mucinose folliculaire)

+ Hay gặp nhất là rụng tóc thành mảng pelade Hình ảnh đặc trưng là xuất hiện rất nhanh một hoặc nhiều đám rụng tóc hình tròn ở đầu, râu, lông mày, lông

mi hoặc các vùng có lông khác Bề mặt của thương tổn không có hiện tượng viêm và các lỗ chân lông vẫn còn rõ trong các mảng Chung quanh mảng tìm thấy những sợi tóc gẫy rất thấp, chiều dài chỉ còn một vài milimét Những sợi tóc này mảnh, mất màu ở chân của sợi tóc, còn phía đầu tự do vẫn dày và màu sắc bình thường Người ta so sánh sợi tóc đó như một dấu chấm than (!) Đôi khi ở trẻ em và những trường hợp bệnh phát triển quá nhanh thì ranh giới giữa các mảng không được rõ ràng và không tìm thấy sợi tóc hình chấm than Muốn chẩn đoán, cần phân biệt với rụng tóc khu trú do nguyên nhân khác

+ Căn nguyên bệnh sinh chưa rõ ràng.Yếu tố tâm lý,căng thẳng thần kinh được đề cập Người ta cho rằng, có sự hư biến của chân tóc làm cho tóc không mọc lên được Hiện nay người ta chú ý nhiều đến thuyết miễn dịch vì thường thấy rụng tóc cộng với bệnh tự miễn khác: bạch biến (vitiligo), bệnh của giáp trạng, luput đỏ hệ thống, viêm khớp, thiếu máu

Trang 16

Xét nghiệm tế bào: có thay đổi về số lượng limpho T trong tất cả các bệnh nhân và ở giai đoạn đầu có sự thâm nhiễm tế bào limpho chung quanh nang lông

và limpho T chiếm ưu thế

+ Điều trị bằng corticoid, thuốc điều hoà miễn dịch có tác dụng tốt

+ Tiên lượng bệnh dè dặt, nhất là khi bệnh có tính chất gia đình hoặc những người có bất bình thường về miễn dịch Bệnh tiến triển thành nhiều mảng rụng lỗ chỗ hoặc tóc rụng toàn thể thì tiên lượng rất xấu

2.8 Rụng tóc lan toả:

Có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải

Rụng tóc lan toả bẩm sinh: thường kết hợp với bất bình thường trong cấu tạo của sợi tóc

Rụng tóc lan toả mắc phải là hậu quả của chuyển hoá, thường gặp trong tăng tiết nội tiết tố nam (alopecie androgenique) Ngoài ra, rụng tóc còn do tác dụng

cơ giới, nhiễm độc, suy nhược, rối loạn về nội tiết

2.8.1 Rụng tóc lan toả do tăng nội tiết nam, còn gọi rụng tóc do da dầu

Rụng tóc da dầu (alopécie séborrhéique) là loại rụng tóc thường gặp nhất Bệnh bắt đầu một vài năm sau tuổi dậy thì và nếu nặng nhất có thể đưa đến" hói của nhà bác học" Bệnh này mang tính chất di truyền và tiến triển phụ thuộc vào nội tiết nam Cách thức lan toả đặc trưng của bệnh là nó làm ngắn quá trình trưởng thành của sợi tóc làm cho nó rụng nhanh và mọc lại những sợi tóc ngày một ngắn hơn, sau cùng biến sợi tóc thành một lông tơ

Ở đàn bà, hình ảnh lâm sàng có khác hơn, nó có tính chất lan toả hơn nhưng không trở thành hói như nhà bác học Có thể do một nguyên nhân bên ngoài, hoặc do tăng nội tiết nam ở tuyến thượng thận hay buồng trứng hoặc do tăng nhậy cảm với hóc môn này

2.8.2 Rụng tóc do nhiễm độc:

Sợi lông và sợi tóc cũng chịu sự tác dụng độc nhưng do tỷ lệ thay đổi tế bào cao cho nên lông và tóc rất nhậy cảm và nó phản ánh sự tổn hại của cơ thể Thiếu ăn, nhất là thiếu đạm, sẽ làm giảm khả năng phân chia tế bào Nếu chỉ thiếu thoáng qua thì nó chỉ làm giảm chất sừng của sợi lông Nếu thiếu ăn lâu dài, như trong bệnh suy dinh dưỡng, sẽ làm teo củ hành và làm nhỏ sợi tóc lại Khi có suy giảm về chất đạm thì những sợi tóc đen trở thành nâu và hơi đỏ Nếu có suy giảm từng đợt thì biểu hiện trên sợi tóc có những đoạn màu sẫm hoặc màu sáng Chất độc hoá học cũng ảnh hưởng đến chân tóc Những thuốc làm ngừng phát triển tế bào không những gây ảnh hưởng lên chuyển hoá tế bào ác tính, mà

nó còn có ảnh hưởng lên cả tế bào bình thường như tế bào tuỷ xương, tế bào của niêm mạc đường tiêu hoá, mầm của tóc và cũng có thể gây rụng tóc trầm trọng Đối với các sợi tóc đang mọc, nó ức chế quá trình phân chia tế bào vì nó ức chế tổng hợp protein và có thể trở lại bình thường khi ngừng điều trị

Trong các "rụng tóc do thầy thuốc gây nên", rụng tóc do thuốc phải kể đến rụng tóc do vitamin A và các thuốc chống đông máu như heparin, lecoumarine

Trang 17

Tóc sẽ rụng sau 2-3 tháng Các thuốc corticoid hoặc androgen, các viên thuốc ngừa thai sẽ gây rụng tóc đồng đều hoặc như rụng tóc do tăng nội tiết nam

Rụng tóc do nhiễm độc có thể gây nên do kim loại, á kim loại

2.8.3 Rụng tóc lan toả cấp tính:

+ Xuất hiện sau một rối loạn bệnh lý, thường có tính chất tạm thời Bao gồm rụng tóc sau nhiễm trùng cấp như thương hàn, cúm, sốt xuất huyết Ở người lớn sốt 39C trong mấy ngày, sau đó thường bị rụng tóc lan toả, rụng tóc loại này kéo dài 2-3 tháng Vị trí thường gặp là: hai bên thái dương, vùng gáy Sau một thời gian mọc lại bình thường, trừ một số trường hợp đặc biệt

+ Viêm quầng ở da đầu: gây rụng tóc sớm ở chỗ bị viêm và rụng tóc lan toả xảy ra muộn hơn

+ Các sang chấn về tinh thần, xúc cảm mạnh gây rụng tóc toàn bộ rất nhanh, sau một thời gian tóc sẽ mọc lại

Chiếu X quang trên da đầu sẽ gây rụng tóc 12- 15 ngày sau đó và có thể mọc lại bình thường vào tháng thứ 3 Nếu sau 5 tháng vẫn không thấy mọc tóc thì sẽ không bao giờ mọc lại nữa

+ Uống các muối thalium hoặc bôi thuốc mỡ có thalium thì gây rụng tóc hoàn toàn từ ngày thứ 15 trở đi

2.8.4 Rụng tóc do giang mai:

Giang mai II thường gây rụng tóc gọi là rụng tóc kiểu rừng thưa Thường rụng tóc ở vùng thái dương và vùng gáy, rụng nham nhở không đều, được ví như" gián nhấm" Điều trị giang mai tóc sẽ mọc trở lại

Đối với rụng tóc lan toả cấp tính vàcó tính chất tạm thời thường không cần điều trị, tuy nhiên dùng các thuốc gây kích thích mọc tóc giúp cho bệnh nhân yên tâm Hiện nay hay dùng bepanthene  2 ống tiêm bắp thịt cách ngày

Biotine 50 mg  2 ống tiêm bắp thịt xen kẽ giữa các ngày tiêm bepanthene (liên tục trong 3 tháng)

L cystine 2 viên/ngày

2.8.5 Rụng tóc ở người già:

Theo Sabouraud, tác giả xếp rụng tóc do tăng nội tiết tố nam Những tác giả khác lại cho rằng rụng tóc ở người già do chân tóc teo, lỗ chân tóc mất và không còn hy vọng mọc lại, da đầu teo

2.8.6 Rụng tóc do tật nhổ tóc (trichotillomanie, manie dépilatoire):

Là tật của cả người lớn và trẻ em ,nhất là những người làm việc trí óc

Vị trí : có người nhổ đỉnh đầu, có người nhổ phía trước, thông thường ở hai bên thái dương Thương tổn không có ranh giới rõ ràng, tóc vùng thương tổn không đều, chỗ cao chỗ thấp Cần chẩn đoán phân biệt với nấm tóc: đám đỏ vẩy

có ranh giới, tóc bị gẫy cách da đầu một vài mm, chân tóc có vẩy bao quanh (dấu hiệu đi bí tất, nhúng trong bột)

3 Điều trị

Trang 18

Cần khám bệnh nhân một cách hệ thống để phát hiện hình thái lâm sàng của

rụng tóc, phát hiện những bệnh về nội tiết và rối loạn về thần kinh; cho thuốc an

thần; cho thuốc điều hoà nội tiết như tinh chất giáp trạng; cho sinh tố A, B 1, C,

E, B 5 Các thuốc corticoid làm tóc mọc lại nhanh nhưng hay tái phát

3.2 Điều trị tại chỗ:

+ Bôi dầu cade, dung dịch meladinine 0,01%

+ Tiêm tại chỗ quanh tổn thương bằng corticoid (nhưng gây đau và nhiều khi

kết quả không được tốt)

+ Áp tuyết CO 2 mỗi 3 tuần một lần

+ Chiếu tia cực tím, sóng B (UVB)

CÁC TỔN THƯƠNG Ở NIÊM MẠC

1 Viêm môi (cheilite, labialite)

Đây là trạng thái viêm vùng bán niêm mạc của môi, biểu hiện là đỏ, phù nề,

bong vẩy, nứt nẻ và có vảy tiết Thương tổn lan ra vùng chung quanh, nó giống

như bệnh chàm hay là một viêm da ở 2 môi Danh từ chàm để chỉ viêm môi cấp

hay bán cấp

+ Triệu chứng:

Thấy những mụn nước rất nhỏ ở trên vùng bán niêm mạc, làm cho chảy

nước và nứt nẻ, kèm theo ngứa rát, căng

+ Căn nguyên của viêm môi:

- Yếu tố cơ giới: do liếm môi liên tục ở trẻ em

- Yếu tố lý học: ánh sáng mặt trời, nứt nẻ khi thời tiết hanh, khô

- Yếu tố về hoá học: viêm môi tiếp xúc do son môi, hay do thuốc đánh răng,

nhất là loại thuốc có màu, chất thơm

- Do thuốc: oxyt vàng, thuỷ ngân, penicillin, sulfamid, tyrothiricine Ngoài da

có thể viêm môi do tiếp xúc với thức ăn, rượu vang, coctai, cà chua, gia vị

- Yếu tố về nhiễm trùng: nhất là liên cầu, khi thì gây bệnh riêng rẽ khi thì

kết hợp với yếu tố khác

- Yếu tố về thiếu hụt sinh tố, thiếu sinh tố B 2 (gọi hội chứng Ariloflavinose)

Nó thường kèm theo với viêm da da dầu ở giữa mặt và viêm môi làm bong

da, viêm mép làm nứt mép

+ Điều trị:

- Loại bỏ tác nhân nghi ngờ gây bệnh

Trang 19

- Làm cho dịu trạng thái viêm bằng phun nước cất hoặc bôi kem hoặc phun dung dịch có glycerin- amidon glyceroledamidon hoặc đắp mỡ lợn tươi hoặc đắp dung dịch dầu + nước vôi trong (liniment obo- calcaire)

- Chống nhiễm trùng: nitrat bạc 1/50, 1/20 hoặc dùng (glycerin borate) hoặc dùng dalibour (gồm CuSO 4 và ZnSO4), dùng creme hoặc mỡ tetracyclin 1%, aureomycin 3%

- Những thể dai dẳng và bán cấp cho bôi dung dịch ichtyol, dung dịch goudron hoặc kem kẽm

- Cho sinh tố nhóm B, B12, B complex

2 Bong vẩy thường xuyên ở môi.

Bệnh bắt đầu xuất hiện ở tuổi trưởng thành, tiến triển dai dẳng và giảm đi cùng với tuổi Bệnh thường xuất hiện ở môi dưới, có chiều hướng lan lên cả môi trên Nó là vảy da và vảy tiết, khi bong da để lại bên dưới một lớp thượng

bì màu đỏ, nứt nẻ và dễ chảy máu Cảm giác kích thích làm bệnh nhân hay liếm môi, dẫn đến gây sang chấn, dần dần thành nhiễm trùng

+ Căn nguyên chưa rõ, cần tìm căn nguyên hoá học hoặc do nhiễm trùng + Điều trị: mỡ kháng sinh

Buổi tối bôi nitrat bạc 1/10 hoặc 1/ 20

Sáng bôi dd milian hoặc mỡ tetracycllin

Một vài trường hợp nứt mép do thiếu sinh tố B2, C thì dùng sinh tố nhóm B

và sinh tố C

4 Viêm môi dày sừng (cheilite keratosique)

Thường gặp trong luput đỏ, ở môi có vảy rất dính và khó bóc, đôi khi khô và bong vẩy ở môi (khác với liken phẳng) Muốn phân biệt thì cần tìm những tổn thương khác của luput trên da Nó có thể có tổn thương ở niêm mạc giống liken phẳng

Căn nguyên không rõ ràng, nó xuất hiện từ khi nhỏ tuổi, tồn tại mãi Nếu thấy bong da dày sừng ở môi của người lớn hay người già thì phải nghĩ đến ung thư hoá Cần phải làm sinh thiết và điều trị bằng quang tuyến

5 Môi phì đại (macrocheilite)

Hay còn gọi là hội chứng Melkersson Rósenthal

Trang 20

+ Bệnh xuất hiện từ lúc còn bé hay khi mới lớn, có khi đột ngột làm sưng môi Tiến triển thành từng đợt, có khi khỏi một thời gian sau lại tái phát Lưỡi thành nhiều nếp, môi sưng to, thực chất là trạng thái phù voi kinh diễn ở môi, không có sưng, nóng, đỏ, đau và không có hạch

Tổn thương khu trú ở môi hoặc ở một vài vùng da khác của mặt (má, trán, mũi, mi mắt), thâm nhiễm có giới hạn, màu da bình thường hoặc màu đỏ tím, tiến triển thành từng đợt, về sau trở thành kinh diễn Niêm mạc miệng cũng có khi bị ảnh hưởng, lợi sưng, lưỡi sưng, nứt trông giống như da bìu và bệnh có tính chất

di truyền, đôi khi kết hợp với viêm lưỡi bong vảy

+ Điều trị: thường dùng kháng sinh, kháng histamin tổng hợp, các thuốc làm giãn mạch X quang liệu pháp ít có kết quả

Corticoid ít có kết quả

6 Viêm môi tuyến giản đơn (bệnh puente)

+ Viêm môi tuyến giản đơn: biểu hiện là niêm mạc môi dưới có những lỗ nhỏ, hình phễu lõm xuống và chung quanh có vòng trắng (leucoplasie), từ các lỗ này nước bọt chảy ra, chính đó là nơi thoát của ống dẫn từ tuyến nước bọt Khi

ấn vào tổn thương làm nước bọt chảy ra hoặc chảy một cách tự nhiên làm bệnh nhân khó chịu, nước bọt còn chảy ra từ niêm mạc lợi hoặc niêm mạc má, môi sưng to

+ Điều trị: phá huỷ các tuyến này bằng phẫu thuật, loại bỏ hết phần niêm mạc

có tuyến, có thể đốt điện ở các hố lõm và các tuyến dưới niêm mạc

7 Viêm môi tuyến Volkmann

Bệnh này hiếm gặp, nó là hình thái viêm môi tuyến kinh diễn Môi dưới sưng

to, mưng mủ sâu, thường xuyên chìa ra phía trước, có khi thành áp xe dưới niêm mạc, rất đau, bề mặt của môi phủ vảy tiết dính, bóc ra dễ chảy máu Ở dưới lớp vảy tiết là các lỗ, ấn vào thấy nước bọt chảy ra Nếu ta sờ nắn vào sẽ thấy tuyến nước bọt và ống dẫn to lên Ở niêm mạc bên cạnh thấy những chấm đỏ tươi và những đảo trắng (leucoplasie) bao quanh Các dạng viêm môi tuyến được coi như

dị dạng bẩm sinh, có tính di truyền và tuyến nước bọt phát triển không bình thường

Căn nguyên chưa rõ, có nhiều ý kiến khác nhau Volkmann cho là do giang mai Còn một số tác giả khác cho là do yếu tố thần kinh

Các viêm môi tuyến này hay có chiều hướng chuyển thành ung thư

8 Viêm môi tuyến kiểu Balzer

Là viêm môi tuyến nông Điều trị tốt bằng chấm dung dịch iodua

9 Các bệnh khác

9.1 Grains de Fordyce:

Bệnh do Fordyce tìm ra năm 1896 Nó là những hạt rất thông thường không thành một bệnh, đây là tuyến bã khu trú ở môi, mặt trong má, thành những hạt màu vàng, to bằng đầu đinh ghim, đứng tập trung và nổi rõ khi ta căng niêm mạc, không đau, tự biến mất đi, không có cảm giác đau, không ngứa

9.2 Dày sừng ở môi (leucokeratoses):

+ Liken phẳng ở miệng; thường phủ một lớp chất trắng đục ở trên môi và niêm mạc miệng, dày sừng ở môi

Ngày đăng: 21/08/2020, 10:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ quá trình hình thành trứng cá. - CÁC BỆNH VỀ MÓNG, TÓC VÀ NIÊM MẠC
Sơ đồ qu á trình hình thành trứng cá (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w