ĐẶT VẤN ĐỀThực trạng thực hiện Luật hôn nhân và gia đình trong nhiều năm qua chothấy tình trạng kết hôn sớm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống diễn ra kháphổ biến trong vùng đồng bào dâ
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực trạng thực hiện Luật hôn nhân và gia đình trong nhiều năm qua chothấy tình trạng kết hôn sớm (tảo hôn) và hôn nhân cận huyết thống diễn ra kháphổ biến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở các vùng Trung du
và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên.Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theophong tục, tập quán Những hủ tục như cướp vợ, hứa hôn, cưỡng ép hônmang tính gả bán, tục “nối dây”, tâm lý sớm có con đàn cháu đống, có ngườinối dõi, kết hôn sớm để gia đình có thêm người làm nương rẫy, quan niệm kếthôn trong họ tộc để lưu giữ tài sản trong gia đình không mang của cải sang họkhác là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng kết hôn sớm, tảo hôn, hôn nhâncận huyết thống và chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn trongvùng đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, sự nghèo đói, thất học, không
có việc làm, nhu cầu có thêm người lao động trong gia đình, thiếu hiểu biếtpháp luật, hướng dẫn và thực thi pháp luật về Luật hôn nhân và gia đình chưađược chú trọng đúng mức; một số nơi vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chínhquyền, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và gia đình trong việc thực hiệncác quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng là những nguyênnhân tác động, ảnh hưởng làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cậnhuyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Kết hôn sớm làm mất đi cơ hội về học tập, việc làm tốt, cơ hội cải thiệnđiều kiện sống và chăm sóc sức khỏe của người trẻ tuổi, bà mẹ và trẻ em, đặcbiệt kết hôn cận huyết thống ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số,suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực và là một trong những lựccản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng dân tộc và miền núi và sựnghiệp phát triển bền vững của đất nước
Xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là một trong những đơn
vị hành chính của huyện Núi Thành, nơi đây có hai đồng bào dân tộc kinh và
Trang 2cor sinh sống có quy mô dân số thấp, cơ cấu dân số về nhiều phương diệnkhông đồng đều so với những đại phương khác của huyện Núi Thành Trongnhững năm qua vấn đề kết hôn sớm và tảo hôn luôn ở mức cao Xuất phát từnhững lý do trên, tác giả chọn đề tài báo cáo tốt nghiệp cho lớp bồi dưỡng tiêuchuẩn chức danh nghề nghiệp dân số viên hạng III "Thực trạng tảo hôn vàhôn nhân cận huyết thống tại vùng đồng bào dân tộc Cor xã Tam Trà, huyệnNúi Thành, tỉnh Quảng Nam" với mong muốn góp phần thiết thực, đưa ra cácgiải pháp thực tiễn, có tính khả thi cao để giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hônnhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số.
PHẦN II MỤC TIÊU - CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ
2.1 Mục tiêu của báo cáo thực tập
Trang 3Đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc tổ chức thực hiện giảm thiểutình trạng hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn sớm trong vùng dồng bàodân tộc Cor xã Tam Trà, nhằm giúp địa phương có những giải pháp phù hợptrong thời gian tới giúp địa phương đẩy lùi tình trạng tảo hôn và hôn nhân cậnhuyết thống, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực.
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại vùng đồngbào dân tộc Cor xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi hành
vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc Cor tại xã Tam Trà góp phần giảmthiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở của xã
2.2 Một số căn cứ pháp lý, quy định của nhà nước về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.
- Luật hôn nhân và gia đình Số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014 của Quốchội
- Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 về quy định xửphạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ Tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân
và gia đình
- Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020
Trang 4- Quyết định số 498, ngày 14.4.2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án “Giảm thiểu tình trạng TH và hôn nhân CHT trong vùng DTTS, giaiđoạn 2015 – 2025”
- Quyết định số 439/QĐ-UBDT ngày 13/8/2015 của Ủy ban Dântộc về Ban hành kế hoạch thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn
và hôn nhân cận huyết thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2015 –2020
- Nghị quyết số 52/NQ-HĐND ngày 23/4/2018 về phát triển kinh tế xãhội vùng đồng bào dân tộc Cor tại xã Tam Trà giai đoạn 2018-2020
- Chương trình số 324/CTr-UBND ngày 09/4/2018 của UBND huyệnNúi Thành về Thực hiện Kết luận số 15/KL-HU ngày 09/3/2018 của BanThường vụ huyện ủy Núi Thành về phát triển kinh tế - xã hội đồng bào dântộc Cor tại xã Tam Trà, giai đoạn 2018-2020
- Quyết định số 3998/QĐ-UBND ngày 25/6/2018 và Quyết định số5238/QĐ-UBND ngày 07/8/2018 của UBND huyện Núi Thành và đại diệnVăn phòng HĐND&UBND huyện
- Nghị quyết HĐND xã Tam Trà khóa XI, nhiệm kỳ 2016 – 2021
- Đề án phát triển KTXH của vùng ĐB DTTS UBND xã Tam Trà giaiđoạn 2020 – 2025
PHẦN III NỘI DUNG
3.1 Một vài nét về xã Tam Trà và tình hình đời sống của đồng bào dân tộc Cor tại xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển xã Tam Trà
Xã Tam Trà được thành lập từ năm 1978 trên cơ sở sát nhập xã Trà Zút(nay thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) và xã Trà Thượng – Tam
Kỳ - Quảng Nam-Đà Nẵng (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Núi Thành, tỉnhQuảng Nam)
Trang 5Xã Tam Trà là một xã nằm ở phí Tây của huyện Núi Thành tỉnh QuảngNam Gồm 02 tuyến địa giới 01 tuyến tỉnh dài 21 km, 01 tuyến liên xã dài 26km.
Đông giáp: Xã Tam Mỹ Tây, xã Tam Thạnh huyện Núi Thành
Tây giáp: Xã Trà Cốt huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Nam giáp: Xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
Bắc giáp: xã Tam Sơn, huyện Núi Thành và xã Tam Lãnh thuộc huyệnPhú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Xã Tam Trà có 4 thôn và 2 dân tộc anh em Kinh và Cor sinh sống
Tổng diện tích: Xã Tam Trà có diện tích tự nhiên 19.534,63 ha, trong đórừng tự nhiên 5.303,51 ha, rừng trồng cây lâm sản 3.300,22 ha, rừng trọc +khác 1.129,8 ha, đất sản xuất nông nghiệp 9.801,3 ha (theo niên giám thống
kê của Địa chính xã tháng 6/2016)
Dân số: 892 hộ và 3295 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Cor có 295 hộ(theo niên giám thống kê của Văn phòng UBND xã, tháng 6/2020)
Nói đến xã Tam Trà là nói đến một vùng đất có truyền thống anh hùng,cách mạng Với những chiến công lẫy lừng trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước ngày 22/8/2016, xã Tam Trà đã được Đảng và Nhà nước phong tặngdanh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhằm đánh giá và tôn vinh
sự hy sinh, cống hiến của đất và người xã Tam Trà (ngày nay) cho sự độc lập
và thống nhất nước nhà
Hiện tại Tam Trà vẫn là một xã nghèo so với các xã khác trong toànhuyện Núi Thành Nhưng với truyền thống hào hùng và tốt đẹp yêu quêhương, yêu đất nước của con người xã Tam Trà, trong những năm qua đượcquan tâm của UBND huyện Núi Thành và sự chỉ đạo của Đảng ủy, Hội đồngnhân dân, UBND và sự phối hợp chặt chẽ của các ban nghành, đoàn thể đếnnay về kinh tế, văn hóa, xã hội của xã đang từng bước phát triển, an ninh quốcphòng được giữ vững, được bạn bè không chỉ trong toàn huyện mà còn ngoàihuyện đánh giá cao vì sự nỗ lực không ngừng vươn lên
Trang 6Bản đồ địa giới hành chính xã Tam Trà
Nguồn: VP UBND xã Tam Trà
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội - đời sống của đồng bào dân tộc Cor tại xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
Theo số liệu thống kê của Văn phòng Ủy ban nhân dân xã Tam Trà năm
2019, đồng bào dân tộc Cor tại xã Tam Trà là: 302 hộ, 1.164 khẩu, (gồm 3 thôn Phú Thọ, Phú Tân và Phú Tứ, chiếm tỷ lệ 37,25%(tỷ lệ số khẩu).
Điều kiện kinh tế - xã hội chủ yếu bằng nông nghiệp, buôn bán nhỏ lẻ
3.2 Thực trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại vùng đồng bào dân tộc Cor xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
3.2.1 Tảo hôn
Bảng 1: Số liệu thống kê 3 năm 2017 – 2019 số thôn tảo hôn như sau:
em gái có 1 em có chồng Có thôn tỷ lệ tảo hôn lên tới trên 50%, như tại thôn
Trang 7Phú Tân, Phú Tứ có tới 52% cặp vợ chồng kết hôn ở lứa tuổi 12 - 17 tuổi; tỷ
lệ tảo hôn là 68%; tỷ lệ tảo hôn thấp nhất là Xuân Thọ, ở mức 27% tức là cókhoảng gần 1/5 dân số nam và 1/3 dân số nữ 15-19 tuổi trong đồng bào dân
tộc Cor đã từng kết hôn.
+ Xét theo giới tính và nhóm tuổi:
- Tỷ lệ tảo hôn, kết hôn sớm của cả nam giới và nữ giới ở nhóm 15-19tuổi đều có xu hướng gia tăng từ 2,4% và 8,4% năm 2018 lên 3,1% và 11,2%năm 2019 Phụ nữ có xu hướng kết hôn sớm hơn và ở nhóm tuổi dưới 15 vàdưới 18 thì tỷ lệ tảo hôn ở nữ cao hơn gần 3 lần so với nam (tỷ lệ tương ứng
là 4,7% và 15,8% so với 1,8% và 5,8%)
- Tỷ lệ tảo hôn ở nam giới cao xấp xỉ 6 lần so với nam giới dân tộc Kinh
và gấp 3 lần so với tỷ lệ chung của cả xã (tỷ lệ tương ứng lần lượt là 18,0% sovới 3,3% và 5,8%);
- Phụ nữ đồng bào dân tộc Cor có xu hướng kết hôn sớm hơn và có tỷ lệtảo hôn cao gấp 2 lần so với người kinh trên địa bàn xã (15,2% so với 6,2%năm 2018 và 13,5% so với 6,7% năm 2019)
Có dưới 1% phụ nữ kết hôn trước 15 tuổi, tuy nhiên, tỷ lệ kết hôn sớmtăng lên tới 12.3% ở nhóm phụ nữ từ 20-49 tuổi đã kết hôn trước 18 tuổi (tảohôn)
Xét nhóm phụ nữ từ 15-19 tuổi: Phụ nữ thuộc nhóm hộ nghèo nhất hiện
đã kết hôn so với 2,8% sống trong các hộ gia đình giàu nhất
Trang 8có bằng trung học chuyên nghiệp, trung cấp nghề hoặc cao đẳng trở lên chỉ có
1,2% kết hôn sớm
Nguồn: Y tế xã Tam Trà
3.2.2 Hôn nhân cận huyết thống
Bảng 1: Số liệu thống kê 3 năm 2017 – 2019 số thôn có cặp hôn nhân cận huyết thống như sau:
huyết thống
Hiện nay, kết hôn cận huyết thống tuy đã giảm nhưng vẫn tiềm ẩn nguy
cơ phát sinh trở lại đối với dân tộc Cor xã Tam Trà Hôn nhân cận huyết thốngvẫn còn xảy ra ở một số thôn như Phú Tứ, Xuân Thọ, phổ biến là kết hôn giữacon cô với con cậu, con dì, con chú với con bác
Theo thống kê của UBND xã Tam Trà cho thấy đồng bào dân tộc Cor xãTam Trà, có tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống lên đến 10%, tức là cứ 100 trườnghợp kết hôn thì có 10 trường hợp hôn nhân cận huyết thống
Trang 9Từ năm 2017-2019 có trên 60 người kết hôn cận huyết thống, tỷ lệ kếthôn giữa những người có quan hệ họ hàng thân thích (thường là giữa con củaanh hoặc em trai với con của chị gái hoặc em gái) lên tới 20%.
Theo kết quả khảo sát của TT Y tế xã Tam Trà năm 2019 tại 3 thôn đồngbào dân tộc Cor xã Tam Trà đã phát hiện 30 cặp hôn nhân cận huyết thống,trong đó có 22 cặp là con bác lấy con dì; con chị gái lấy con em trai; cháu lấydì; chú lấy cháu; cháu lấy cô và có 20 cặp đã sinh ra 48 trẻ, trong đó có 12trẻ không bình thường (bạch tạng, thiểu năng, liệt, câm, mù lòa, lông mitrắng…) và 3 trẻ chết yểu
3.3 Nguyên nhân
Từ thực trạng về tình hình tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại vùngđồng bào dân tộc Cor xã Tam Trà cho thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đếntình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, bao gồm cả nguyên nhân kháchquan và nguyên nhân chủ quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là nguyênnhân quan trọng nhất
3.3.1 Nguyên nhân khách quan
* Do ảnh hưởng của những quan niệm, thành kiến, phong tục tập quán lạc hậu
Phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc Cor xã Tam Trà tồn tại và ănsâu trong nhận thức của người dân từ nhiều đời nay và ảnh hưởng, chi phốimạnh mẽ trong đời sống, sinh hoạt Đối với đồng bào dân tộc Cor xã Tam Trà,việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán; việc lấy vợ, lấychồng mà chỉ cần sự đồng ý của những người đứng đầu trong làng hoặc củacha mẹ hai bên nam nữ và sự chứng kiến của gia đình, họ hàng, làng xóm.Quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; quan niệm kết hôn trong họ tộc đểlưu giữ tài sản trong gia đình không mang của cải sang họ khác hay hủ tụchứa hôn, cưỡng ép hôn mang tính gả bán, Không chỉ vậy, xuất phát từ nhữngkhó khăn trong cuộc sống cùng với thói quen ở vùng núi, nhà nào cũng cótâm lý muốn sớm có con đàn cháu đống, có người nối dõi, kết hôn sớm để gia
Trang 10đình có thêm lao động cho gia đình, có người làm nương rẫy Nhà nào có congái thì muốn gả sớm để bớt miệng ăn, nhà nào có con trai thì muốn cưới vợsớm để lo toan cuộc sống đã kéo theo nhiều hệ lụy, mà điển hình nhất là nạntảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và là nguyên nhân làm gia tăng tình trạngtảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và chung sống như vợ chồng không đăng
- Về tuổi kết hôn:
Thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữaquy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn, người dân vẫn kết hôn
Trang 11theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại Báo cáotổng kết của UBND xã và TT Y tế xã Tam Trà cho thấy, tỷ lệ kết hôn trướctuổi luật định của đồng bào dân tộc Cor trên địa bàn còn khá cao Khi đượctuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, bà con hiểu quy định của pháp luật
về tuổi kết hôn, nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của ngườidân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm(15 - 16 tuổi thậm chí từ 14 tuổi) Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc kếthôn không được đăng ký tại UBND xã, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chứcđám cưới theo phong tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của thôn vẫnmặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng
- Về áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình:
Nhiều trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng
ký kết hôn, nhưng lại được cộng đồng dân cư nơi họ cư trú công nhận, bảo vệ.Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án căn cứ vào quy định của Luật hôn nhân và giađình để tuyên bố không công nhận hôn nhân của các đương sự Tuy nhiên,đương sự, gia đình và dòng họ hai bên lại không đồng tình với quyết định củaTòa án Cũng có trường hợp nam nữ khi kết hôn không vi phạm quy định củaLuật về cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm ba đời, nhưng theotập quán, họ vẫn thuộc phạm vi quan hệ họ hàng không được kết hôn, do vậy,
họ đã bị gia đình, cộng đồng không cho kết hôn hoặc không thừa nhận hônnhân… Ngoài hai trường hợp trên, việc tranh chấp về các lễ vật, sính lễ trongngày cưới, kết hôn cũng đang tiếp tục xảy ra và được giải quyết một cáchkhông thống nhất do thiếu quy định cụ thể áp dụng tập quán
- Về các trường hợp cấm kết hôn, hủy kết hôn trái pháp luật:
Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ,giữa những người có họ trong phạm vi ba đời Tình trạng kết hôn vi phạmđiều cấm này vẫn còn diễn ra vì theo tập quán của địa phương, những ngườicùng một “họ” là anh, em (bao nhiêu đời cũng không lấy nhau được), còn
Trang 12những người khác “họ” (mặc dù vẫn trong phạm vi ba đời) thì vẫn được lấynhau
Thực tế tại địa bàn đồng bào dân tộc Cor xã Tam Trà , có nhiều trườnghợp kết hôn không phải là trường hợp kết hôn cận huyết nhưng do theo tậpquán nên việc kết hôn theo nguyên tắc "nội hôn tộc người và ngoại hôn dònghọ", nghĩa là chỉ cho phép nam nữ kết hôn với những người trong cùng dântộc
Cũng có không ít cặp tảo hôn sẵn sàng lên xã nộp phạt Họ coi việcnộp phạt là đã tuân thủ pháp luật và sau khi nộp phạt thì họ đương nhiên được
xã công nhận là vợ chồng theo pháp luật Ngoài ra, có khi cặp vợ chồng tảohôn lại là người thân quen của cán bộ xã nên xã vẫn cho tổ chức cưới hỏi rồiđợi đủ tuổi để hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn chứ không hề đặt ra vấn đề xửphạt Có nhiều trường hợp cán bộ thực thi nhiệm vụ phát hiện ra những viphạm của công dân nhưng vì nể nang là chỗ thân quen, người làng, người xãnên vẫn giúp họ giải quyết các công việc không đủ điều kiện theo quy địnhhoặc biết việc vi phạm nhưng cố tình làm ngơ
* Do tác động, ảnh hưởng của những mặt trái của cơ chế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, con người dần biến đổi để thích nghi đượcvới những điều kiện mới Họ trở nên năng động, sáng tạo, linh hoạt và độc lậphơn trong cách nghĩ cách làm Quan điểm đời sống của họ cũng trở nên cởi
mở hơn, đơn giản hơn, không bị gò bó bởi quan niệm thành kiến đạo đức xưa
Vì vậy, con người dễ dàng thiết lập các mối quan hệ với nhau Một trongnhững hệ lụy đó là việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ trở nên hếtsức bình thường và làm gia tăng tỉ lệ mang thai sớm dẫn đến tăng tỉ suất sinhcon vị thành niên ở nhóm 15-18 tuổi của phụ nữ đồng bào dân tộc Cor xã TamTrà thấp Đây cũng là nguyên nhân khách quan làm gia tăng tình trạng tảohôn và hôn nhân cận huyết thống
3.3.2 Nguyên nhân chủ quan
* Do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế