Có sự phân tích các quy phạm pháp luật, so sánh quy định pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam với các quy định về chống bán phá giá của WTO và một số nước nhằm tìm ra những nét tư
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
VÀ VẤN ĐÊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
"phòng gv ' r n '
1 TS V ũ T h ị H ồ n g M in h 2 Prof C h ristina M oếll
HÀ N Ộ I - N Ă M 2004
Trang 3BÁN PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ GATT/WTO
Trang 412- Giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên WTO về vấn đề chốnơ bán phá giá.
CỦA VIỆT NAM
I- Tổng quan về kinh tế - chính trị và xã hội của Việt Nam
1- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
2- Tổng quan về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật thương mại nói riêng
II- Pháp luật và thực tiễn của Việt Nam về chông bán phá giá
1- Văn bản pháp quy về chống bán phá giá của Việt Nam
2- Các nội dung cơ bản của pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam
3- Thực tiễn điều tra, áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và hàng hoá Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
3.1- Thực tiễn điêu tra áp dụng các biện pháp chống bán phá tại Việt Nam.
3.2- Thực tiễn hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam bị điều tra, áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tại thị trường nước ngoài.
THIỆN PHÁP LUẬT VỂ CHốNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM
I- Quan điểm về phương hướng hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá
của Việt Nam
II- Một sô giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá
1- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về thương mại trong đó có pháp luật vể chống bán phá giá nói riêng
1.1- Tăng cường tính minh bạch, công khai pháp luật về thương mại nối chung, và pháp luật về chống bán phá giá nói riénẹ.
7.2- Xây dựng rinh dồng bộ giữa các quy định của pháp lệnh chống bán phá
giá và các quy định pháp luật khác
28
30
303031
313132
39
3939
42
42
4343
43
44
Trang 51.3- Chinh phủ cần rủng cường năng lực quàn lý nhà nước cho Cục cạnh 45
tranh thuộc Bộ Thương mại và các cơ quan quản lý nhá nước khúc vé
4950
TÀI LIỆU THAM KHẢO
57
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỬ VIẾT TẮT
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin cảm ơn sâu sắc tới Cô giáo, Tiến sĩ Vũ Thị Hồnơ Minh - giảng viên Khoa Pháp luật Quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội Cô đã dành nhiều thời gian hướng dẫn khoa học cho tác giả nhiệt tình, chu đáo
Xin trân tiọng cam ơn các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Sau Đai học trường Đại học Luật Hà Nội, Thầy giáo, Tiến sĩ Hoàng Phước Hiệp - Vụ trưởnơ Vụ Pháp luật Quốc tế Bộ Tư pháp, Cô giáo Christina Moell và Khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Lund - Thuỵ Điển, đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cũng như đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo, Luật sư Nguyễn Văn Thảo và Ban Chủ nhiệm Khoa Luật Kinh tế trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả được học tập và làm việc
Xin trân trọng cảm ơn các Anh, Chị ở Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ đã nhiệt tình giúp đỡ về tài liệu nghiên cứu
Cuối cùng, xin cảm ơn Dự án Sida, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cả về vật chất và tinh thần để tác giả hoàn thành việc học tập và nghiên cứu
Trang 8MỞ ĐẦU
1- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI (INTRODUCTION)
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization “WTO”) là một
• thiết chế thương mại toàn cầu lớn nhất hiện nay, đã và đang tiếp tục thể chế hoá
và thiết lập trật tự trong hệ thống thương mại đa phương của thế giới Với 147 quốc gia và vùng lãnh thổ thành viên, giao dịch thương mại của WTO hiện chiếm trên 90% khối lượng giao dịch thương mại của thế giới
Trong quá trình toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ, Việt Nam đã và đang tích cực đẩy mạnh quá trình hội nhập thương mại quốc tế với phượnơ châm
đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của Việt Nam và bảo đảm thực hiện cam kết trong quan hệ song phương và đa phương Sau hơn một thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới (1986), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong nhiều lãnh vực kinh tế-xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế - thương mại Việt Nam đã tham gia nhiều
tổ chức kinh tế-thương mại quốc tế và khu vực, khẩn trương tiến hành xây dựng chính sách thương mại phù hợp với quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), phấn đấu là thành viên của WTO vào năm 2005 Những hoạt động trên bước đầu đã đưa nền kinh tế của Việt Nam trở thành một bộ phấn cấu thành của nền kinh tế khu vực và thế g iớ i
Việt Nam mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đồng thời phải thực hiện chinh sách thương mại cởi mở, tạo điều kiên cho các nhà đầu tư nước ngoài thâm nhập thị trường Cùng với việc thực hiện các cam kết về cắt giảm hàng rào thuế quan, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan, Việt Nam đồng thời phải đối phó với hai hiện tượng có ảnh hưởng lớn tới tốc độ phát triển kinh tế bop méo cạnh tranh thương mại lành mạnh Thứ nhất, đó là hiện tượng hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam bị kiện bán phá giá ở nước ngoài Thứ hai
là hiện tượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (mặc dù chưa có những điều tra chính thức) nhưng có nhiều khả năng bị bán phá giá, tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất hàng hoá tương tự của Việt Nam, trong dài hạn, sẽ mang lại những thiệt hại to lớn cho cả người tiêu dùng do cạnh tranh bị thủ tiêu1
Chính phu Việt Nam: T ờ trình d ự án pháp lệnh vé' chống bán phá giá hàng ìioá nhập khẩu vào Việt Nam " 2003
Trang 9Nhằm bảo vệ cạnh tranh thương mại lành mạnh, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà sản xuất trong nước và lợi ích dài hạn của người tiêu dùnơ Việt Nam cần có những công cụ pháp luật mới, kịp thời điều chỉnh các quan hệ
xã hội mới nảy sinh, đảm bảo tính hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế Một trong những công cụ đó là các quy định pháp luật về các biện pháp chống bán phá giá Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy đó là công cụ được áp dụng khá phổ biến và tỏ ra có hiệu quả trong việc khắc phục tình trạng cạnh tranh khônơ công bằng2, được WTO ghi nhận và cho phép áp dụng
Việt Nam đã và đang tích cực sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với các chuẩr mưc quốc tế Các quy định pháp luật về thương mại trong đỏ có các quy định pháp luật về chống bán phá giá càng trở nên cấp thiết, thu hút được sự quan tâm của đổng đảo các nhà kinh tế, giới nghiên cứu luật học, doanh nghiệp và người lao động Pháp luật về chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam ià một vấn đề hết sức mới mẻ đối với Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn Mặc dù đã có một sô' cơ quan của Việt Nam và một số học giả tiếp cận đến các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về chống bán phá giá như đề tài: “ Cơ sở khoa học
của việc áp dụng thuế chống bán phá giá tại Việt Nam ” của Vụ Chính sách
thương mại đa biên - Bộ Thương mại (2002), sách: “Bán p h á giá và biện pháp,
chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu” của tác giả Đoàn Văn Trường (1995), sách: “Pháp luật về Chống bán phá giá, những điều cần biết” của
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2004), nhưng do hạn chế về phạm
vi, mục tiêu, yêu cầu chuyên sâu nên các đề tài trên chưa xử lý đứợc một cách đầy đu những vấn đề này sinh về chống bán phá giá đặc biệt là cơ chế chống bán
phá g:á Vì vậy, việc nghiên cứu “Pháp luật chống bán phá giá của Tổ chức Thưong mại Thê giới và vấn đề hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về chống bán phá giá” sẽ góp phần xem xét sâu sắc hơn những quy định và thực
tiễn về áp dụng các biện pháp chống bán phá giá của WTO và Việt Nam từ đó
có sự đối chiếu, rút ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Việt Nam về áp dung biện pháp chống bán phá giá Đó cũng là lý do tâm đắc cho tôi chọn đề tài này làm luận văn Thạc sỹ Luật học của mình
2- TÀI LIỆU NGHIÊN c ứ u VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Tài liệu nghiên cứu
Bộ Ti pháp-Bộ Thương mại: "Đ ê cương giới thiệu Pháp lệnh Chong bán phá giá hàng nháp khẩu vào Viêt
Nam ”, tt.2.
Trang 10Nghiên cứu về chống bán phá giá là một trong những chủ đề khá mới mẻ của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới .Mặc dù Việt Nam đã có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề chống bán phá giá nhưng trên thực tiễn Việt Nam chưa có một vụ nào áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, nên chưa có nhiều kinh nghiệm và lý thuyết về vấn đề này Tôi sử dụng tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Việt cho nghiên cứu của mình như các sách báo chuyên ngành, các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước Đặc biệt tôi tập trung sử dụng cơ sở dữ diệu từ các trang Web:
• Trang Web của tổ chức thương mại thế giới:
2.2- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên quan điểm được ghi nhận tại một số văn kiện quan trọng của nhà nước Việt Nam về phát triển công tác lập pháp, hội nhập kinh tế quốc tế
Đề tại sử dạng một số phương pháp về phân tích luật thực định, giải thích luật phân tích các vụ án, đặc biệt là sử dụng phương pháp so sánh các chế định luật nhăm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về cơ chế áp dụng các biện pháp chống bán phá giá giữa WTO và Việt Nam Đồng thời cũng tham khảo ý kiến của giới nghiên cứu, các chuyên gia trong và ngoài nước về vấn đề này
3- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc phân tích các quy định pháp luật về chống bán phá giá của WTO, minh hoạ bằng một số vụ việc đã được
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá cụ thể của một sô quốc gia nhằm làm
rõ hơn nội dung của từng chế định pháp luật, đưa ra những số liệu nhằm làm rõ hơn thực trạng sử dụng công cụ pháp luật về chống bán phá giá của các thành viên WTO Luận văn đề cập đến pháp ỉuật và thực tiễn của Việt Nam về chống
Trang 11bán phá giá trong chính sách thương mại chung của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
4- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Làm rõ nội hàm của khái niệm bán phá giá và chống bán phá giá trong thương mại quốc tế
- Tim hiểu các quy định pháp luật của WTO về áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, minh hoạ bằng các vụ kiện nhằm làm rõ hơn việc sử dụng cơ chế chống bán phá giá của các thành viên WTO
- Tìm hiểu các quy định pháp luật và thực tiễn về chống bán phá giá của Việt Nam Có sự phân tích các quy phạm pháp luật, so sánh quy định pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam với các quy định về chống bán phá giá của WTO và một số nước nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về việc áp dụng, m inh hoạ bằng một số vụ kiện của nước ngoài đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua
- Đề xuất một số kiến nghị và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay và phù hợp với chuẩn mực của thế giới khi Việt Nam gia nhập WTO
5- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần m ở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các vụ tranh chấp về chống bán phá giá, nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về bán phá giá và chống bán phá giá trong
khuôn khổ GATT/W TO.
Chương 2: Pháp luật và thực tiễn của Việt Nam về chống bán phá giá Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về chống bán phá giá.
Trang 12CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỒNG BÁN PHÁ GIÁ
TRONG KHUÔN KHổ GATT/WTO
1- Khái niệm bán phá giá trong thương mại quốc tê
Khái niệm bán phá giá (dumping) trong lĩnh vực kinh tế xuất hiện và được các nhà kinh tế học, nhà luật học nhất trí cao về nội hàm vào đầu thế kỷ XX khi
mà những tranh cãi về thuế quan trở nên quan trọng ở A nh3 Hơn một thế kỷ lý thuyết kinh tế về bán phá giá đã phát triển qua mối liên kết chặt chẽ với sự phát triển của luật chống bán phá giá cả hai cấp độ: quốc tế và quốc gia
Bán phá giá lần đầu tiên được Viner định nghĩa là sự phân biệt giá cả ơiữa các thị trường quốc gia4 Định nghĩa này không chỉ bao hàm một tình huống thông thường khi một sản phẩm tương tự được bán ở thị trường nước ngoài thấp hơn thị trường trong nước, mà còn nói tới những trường hợp hiếm hoi khi cùng một sản phẩm được bán ở thị trường nước ngoài cao hơn trong nước - gọi là bán phá giá ngược (reverse dumping) cũng như khi cùng sản phẩm đó bán giá khác nhau ơ các thị trường nước ngoài khác nhau Điều cốt lõi của định nghĩa này là
là giá cả khác nhau được tính cho cùng một sản phẩm ở thị trường quốc gia khác nhau bởi vậy tạo thành sự phân biệt giá cả, không kể cao hơn hay thấp hơn được tính ở mỗi thị trường quốc gia
Bán phá giá trong thương mại quốc tế khác với sự phân biệt giá chung ở chỗ bán phá giá xuất hiện trong khung cảnh quốc tế có các thị trường khác nhau tách biệt biên giới quốc gia hay khu vực Khi luật chống bán phá giá chỉ quan tâm tới tình huống giá cả ở thị trường nhập khẩu thấp hơn giá cả của sản phẩm
đó tại thị trường nước xuất khẩu thì những phân tích về bán phá giá bị bó hẹp trong phạm vi định nghĩa
Năm 1947, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General
Agreement on T a riff and Trade 1947 (GATT 1947) ra đời là dấu mốc thiết lập hệ
thống thương mại đa biên Trải qua gần 50 năm tồn tại, những quy định của GATT về thương mại đa biên trong đó có quy định về chống bán phá giá tại
1 Jacob V iner, D um ping: A problem in International Trade (Chicago: U niversity o f C hicago Press 1923)
4 Xem: Jacob Viner.
Trang 13Điều VI tỏ ra chưa chặt chẽ5 Tổ chức Thương mại Thế giới ra đời (1/1/1995) với hàng loạt các hiệp định đa phương Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 đã cụ thể hoá một cách chi tiết Điều
V IcủaG A T T 1994
Trong tiếng Anh, từ “dumping” được hiểu theo nhiều nghĩa, theo nghĩa thông thường là: “to get rid o f something you do not w a n t” (vứt bỏ thứ gì đó
không thích) Trong thương mại, được hiểu là “ f ỡ get rid o f goods by selling them
at a very low price, often in another country” (bán tống một hàng hóa ở mức giá
rất thấp, thường là bán ra nước khác)6 Dưới góc độ pháp lý; bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại hàng hoá được xuất khẩu (bán sang thị trường nước khác) với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường nước xuất khẩu nhằm phân biệt với bán phá giá trong thương mại nội địa Hành động này cần được ngăn chặn nhằm đảm bảo thương mại lành mạnh và bảo hò các nhà sản xuất trong nước
Điều 2 Hiệp định AD đưa ra các tiêu chuẩn khắt khe để xác định khi nào thì đối xử với một sản phẩm nhập khẩu như là hàng phá giá Cụ thể, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông fhường Như vậy, về bản chất, bán phá giá trong thương mại quốc tế là hành vi phân biệt giá cả tại thị trường của các nước khác nhau đối với cùng một sản phẩm hoặc sản phẩm tương tự với điều kiện giá xuất khẩu thấp hơn giá tiêu thụ tại thị trường nội địa WTO không đề cập đên trường hợp bán phá giá sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu
Việc điều tra áp đặt thuế chống bán phá giá có liên quan đến việc xác định các sản phẩm nội địa của nước xuất khẩu tương tự với sản phẩm bị điều tra Hiệp định chống bán phá giá của WTO cho rằng, khái niệm “sản phẩm tương tự” được hiểu là sản phẩm giống hệt, tức là sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét, hoặc trong trường hợp không có sản phẩm nào như vậy thi là sản phẩm khác mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩm được xem xét (Điều 2.6 Hiệp định AD) Trên thực
tế, sảr phẩm được xem là sản phẩm tương tự nhau thường được xếp vào cùng
Vụ T hiơ ng mai Đa biên-B ộ Thương m ại: “T ô chức Thương m ại T h ế g iở " H à N ộ i (2002)
6 Từ đ iếr O xford A dvanced G enie, NXB O xford U niversity Press 2000)
Trang 14một loại mã HS (Harmonized System Convention) trong phân loại hàng hoá của Hải quan’
WTO không định nghĩa về hàng hoá bán trong điều kiện thương mại thông thường nhưng có nêu một trường hợp*có thể coi là không được bán theo điều kiện thương mại thông thường, đó là khi sản phẩm được bán tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc bán sang một nước thứ ba với giá thấp hơn chi phí sản xuất theo đơn vị sản phẩm (Điều 2.2.1 Hiệp định AD)
2- Mục đích và nguyên nhân của hành động bán phá giá
Một doanh nghiệp có thể có những động cơ hoặc biện pháp khác nhau trong việc bán phá giá hàng hoá ở thị trường nước ngoài Tuy nhiên, hành động này có hiệu quả hay không chỉ khi đáp ứng được một số điều kiện nhất định
Từ việc nhìn nhận một công ty bán phá giá, Viner đã xác định 10 động cơ
có thể thúc đẩy hoặc xui khiến công ty thực hiện bán phá giá ở các thị trường nước ngoài8 Lý thuyết kinh tế về bán phá giá đã phát triển với cồng cụ là sự phân tích lợi nhuận biên qua nhiều thập kỷ Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, một doanh nghiệp hành động bán phá giá là do biện pháp tối đa hoá lợi nhuận liên tục hơn là do động cơ thông thường để đạt tới mục đích nhất định Trong đó có thể bao gồm các mục đích như:
- Bán giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường từ đó chiếm thế độc quyển;
- Bán giá thấp tại thị trường nước nhập khẩu để chiếm lĩnh thị phần;
- Bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh v.v
Bán phá giá được định nghĩa là sự phân biệt giá cả giữa các thị trường quốc gia Nền tảng trong việc phân tích sự phân biệt giá đó là mỗi một công ty tư nhân hành động theo mối quan tâm kinh tế của chính nó và hầu hết các công ty này đều mưu cầu mục đích tối đa lợi nhuận Bởi vậy, theo mô hình độc quyền thì
để tối đa lợi nhuận, công ty đặt giá sao cho doanh thu biên bằng với chi phí biên Doanh thu biên là doanh thu bổ sung hay thêm vào mà công ty nhận được trong khi chi phí biên là chi phí thêm vào hay bổ sung mà do sản xuất tăng thêm sản lượng hay đơn vị sản lượng thêm vào
Cái khuyến khích phân biệt giá là nếu tính đàn hồi của nhu cầu ở các thị trường tách biệt không đồng đều thì công ty có thể tăng lợi nhuận của nó bằng
7 Phòng Thương mại và Công nghiệp V iệt Nam : “Pháp luật về Chống bán phá giá, những điều cấn b iế t" tr.32
11 Xem: Jacob V iner
Trang 15cách tính giá khác nhau cho cùng một sản phẩm ở các thị trường khác nhau Nếu
nó tách cùng một giá cho các thị trường khác nhau thì doanh thu biên có được nhờ bán phần tăng sản lượng ở một số thị trường sẽ lớn hơn ở các thị trường khác phụ thuộc vào độ co giãn nhu cầu ở mỗi thị trường Vì lý do này công ty có thể tăng lãi suất của nó nếu bán ít hơn ở các thị trường nơi mà tính đàn hội của nhu cầu thấp hơn và doanh thu biên ít hơn, và ngược lại bán nhiều hơn ở các thị trường nơi nhu cầu có tính đàn hổi cao hơn và doanh thu biên lớn hơn Công ty
ấy sẽ tối đa lợi nhuận khi doanh thu biên ở mỗi thị trường đạt được sự cân bằng với chi phí biên của toàn sản lượng
Ví du: Có hai thị trường khác biệt nhau, một công ty sẽ nhận được 100USD khi chỉ bán 5 đơn vị hắng hoá cùng loại với giá 10USD ở một thị trường Nếu nó có thể bán 6 đơn vị sản phẩm y hệt thế với giá 9USD ở một trong hai thị trường thì nó sẽ có 50ƯSD do bán 5 đơn vị sản phẩm ở thị trường này và 54USD do bán 6 đơn vị sản phẩm ở thị trường kia Tổng doanh thu là 104USD, lớn hơn 4USD so với 100USD Giả sử thêm nữa rằng chi phí là 6ƯSD cho sản xuất một đơn vị sản phẩm thêm vào của sản lượng Rõ ràng là công ty đã tăng doanh thu nếu tính giá khác nhau ở các thị trường khác nhau và do vậy, giá bán một đơn vị thêm sẽ vượt giá sản xuất một đơn vị như thế, lợi nhuận sẽ tăng lên
Sự phân biệt giá có khả năng sinh lãi chỉ khi đáp ứng 3 điều kiện:
• Thứ nhất: công ty có ý định phân biệt giá phải có mức độ “quyền lực”
nào đó trên thị trường để điều khiển giá Phân biệt giá sẽ không có hiệu quả nếu công ty hoạt động dưới điều kiện cạnh tranh lành mạnh, ở thị trường cạnh tranh lành mạnh nhu cầu co giãn một cách hoàn hảo và các công ty quá nhỏ đến nỗi không ai có quyền điều khiển giá Mỗi công ty sẽ bán tất cả sản lượng của nó ở một thị trường khi nó có thể đạt giá cao hơn
ơ bất kỳ thị trường nào về cơ bản sẽ luôn có một giá và giá giống nhau ở bất kỳ thời điểm nào trong suốt cả thị trường Bởi vậy, một công ty không thể phân biệt giá cả trừ khi nó có thể điều khiển giá
T h ứ hai: các thị trường khác nhau mà một công ty tham gia vào phân biệt giá cả phải được tách riêng hoặc phân đoạn bởi các rào cản tự nhiên và con người Bất kỳ m ột cố gắng tính giá khác nhau sẽ thất bại nếu hàng được bán ở thị trường giá thấp hơn được mua đi và bán lại dễ dàng ở thị trường giá cao hơn, hay nếu khách hàng nơi thị trường giá cao có thể đi tới thị trường giá thấp hơn để kiếm lợi do hàng giá rẻ hơn mà không mất một chi phí đáng kể gì
Trang 16• T hứ ba: phải có một sự co giãn không đồng đều của nhu cầu ở các thị trường khác nhau, nghĩa là, một số thị trường đàn hồi hơn những thị trường khác Độ co giãn nhu cầu ở thị trường quyết định số lượng mà một công ty
có thể bán với các giá khác nhau, ở thị trường mà nhu cầu co giãn nhiều bao nhiêu thì công ty càng bán được nhiều đơn vị sản lượng bấy nhiêu với giá thay đổi khác nhau Khi một công ty đối mặt với nhu cầu co giãn ít đi cho sản phẩm của mình ở thị trường này bao nhiêu thì ở thị trường khác nhu cầu co giãn lại nhiều bấy nhiêu Rõ ràng là nó sẽ sinh lời khi tính giá cao hơn ở thị trường ít co giãn hơn bằng cách duy trì hay giảm lượng cung cấp và tính giá thấp hơn ở những thị trường có độ co giãn cao hơn bằng cách tăng lượng cung cấp
Thị trường thế giới luôn được chia rẽ ra hay phân đoạn bởi biên giới quốc gia hay khu vực Một thị trường quốc gia hoặc khu vực thông thường được bảo
vệ từ hàng nhập bởi hàng rào thuế quan, phi thuế quan khác, ngoài sự ngăn cản hậu quả của phí vận chuyển khi một công ty giành được mức độ điều khiển nào
đó về giá ở một thị trường, thường là thị trường trong nước thì nó có thể sinh lãi khi tham gia bán phá giá bằng việc tính giá cao hơn ở thị trường nội địa và thấp hơn ở các thị trường nước ngoài cho cùng một sản phẩm nếu độ co giãn của nhu cầu ở thị trường nước ngoài lớn hơn thị trường trong nước
3- Tác động của bán phá giá trong thương mại quốc tế
Trong xu hướng xích lại gần nháu của thị trường khu vực và thế giời, hàng vào thủế quan dần được dỡ bỏ, hàng hoá của một thị trường nước này ngày càng
dễ dàng thâm nhập vào thị trường của một nước khác thì vấn đề chống bán phá giá hàng hoá và chống bán phá giá trở thành một “vấn đề trong thương mại quốc tế”9, nhất thiết cần đến sự can thiệp của nhà nước thông qua các công cụ pháp luật Trong gần một thế kỷ, lý thuyết về chống bán phá giá của Viner thường xuyên được nhắc lại bởi các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý biện pháp chống bán phá giá Trong một vụ kiện chống bán phá giá của EC10 cơ quan
có thẩm quyền của EC tuyên bố rằng:
“Sự tăng lên dồn dập hàng nhập khẩu từ Nhật, Triều Tiền và Hồng Kông trung với sự mất mát thị phần đáng k ể và lợi nhuận bị suy giảm ở khu vực công nghiệp của cộng đồng Châu Ầu, cùng với sự xói mòn giá cả và bưng bít giá cả cát xét do ngành công nghiệp EC sản x u ấ t”.
Cơ quan có thẩm quyền còn cho rằng:
'J Xem: Jacob Viner.
'° Vụ: A udio tapes in cassettes (Japan, s K orea and H ongK ong), OJ 1990 L 313/5.
Trang 17“Nhờ lợi nhuận cao đạt dược tại thị trường nội địa do được bảo hộ mà các nhà xuất khấu Nhật Bản mới có th ể đầu tư cho tiếp thị và chi phí xúc tiến thương mại trong cộng đồng, bằng cách đó họ áp đặt ảnh hưởng nhãn sản phẩm của họ lên người tiêu dùng và tăng lượng hàng hoá bán ra đ ể họ trở thành những người lãnh đạo thị trường ở tất cả các nước thành viên trừ một nước Thêm vào đó họ củng cô địa vị dẫn đầu thông qua lợi th ế giá cả được tạo ra bởi lượng hàng hoá bán phá giá tăng
Qua nhận định và phân tích thực tiễn, cơ quan có thẩm quyền kết luận:
“Ngành công nghiệp EC ngày càng bị coi là nhà sản xuất “cuối bảng”, không có cơ hội nghiêm túc đ ể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu bán phá giá của Nhật Bản về hình ảnh nhãn mác, khuyến mại, kiểu dáng hay về giá cả của hàng hoá phá giá từ Hồng Kông và Triều Tiên ”n
Trong kinh tế học hiện đại, bán phá giá không hoàn toàn có hại, trong một chừng mực nào đó bán phá giá tạo điều kiện cho người tiêu dùng có điều kiện hưởng lợi về giá, lợi thế về giá cả đối với nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra hàng hoá cho doanh nghiệp nước nhập khẩu, thậm chí đối với cả một ngành công nghiệp nước nhập khẩu Tuy vậy, về bản chất và dưới góc độ pháp luật, bán phá giá là một hành vi thương mại không công bằng, bóp méo các hành động thương mại bình thường, gây hại cho phúc lợi của nước nhập khẩu nói chung và người tiêu dùng nói trên Để chống lại hành vi thương mại không lành mạnh này, các quốc gia thường sử dụng công cụ pháp lý đó là áp dụng biện pháp chống bán phá giá
II- PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỂ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA T ổ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
1- Khái niệm chống bán phá giá
Những văn bản của WTO quy định về chống bán phá giá gồm:
- Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (THE
GENERAL AGREEMENT ON TARIFFS AND TRADE 1994, dưới đây gọi tắt
là “GATT 1994”)
- Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (AGREEMENT ON IMPLEMENTATION OF ARTICLE VI OF THE GENERAL AGREEMENT ON TARIFFS AND TRADE 1994, dưới đây gọi tắt là “Hiệp định AD”)
" Xem: VVenxili, “ A ntidum ping Law o f The W T O /G A T T and The EC” , 2003
Trang 18Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại 1994 của WTO không đề cập trực tiếp đến vấn đề chống bán phá giá mà thực chất là nêu những biện pháp mà các quốc gia thành viên có thể sử dụng để chống lại việc xuất khẩu phá giá vào thị trường nước sở tại thông thường, đối với những hành vi thương mại không công bằng Pháp luật của GATT trước đây và WTO hiện nay cho phép các thành viên được áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại, trả đũa hoặc các biện pháp hạn chế thương mại như áp dụng hạn ngạch, cấp phép hạn chế, tăng thuế Với việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, quốc gia
đó chỉ có quyền sử dụng biện pháp tăng thuế nhập khẩu, thuế đó gọi là thuế chống bán phá giá, quốc gia áp dụng biện pháp chống bán phá giá nâng mức thuế chống bán phá giá lên tới biên độ phá giá Các biện pháp hạn chế số lượng hay các biện pháp phi thuế quan không được coi là hợp pháp
2- Giá trị thông thường của sản phẩm (Normal Value)
Giá trị thông thường của sản phẩm là giá bán sản phẩm tương tự với sản phẩm bị điều tra tại thị trường nước xuất khẩu (Điều 2.4.2 Hiệp định AD)
Giá trị thông thường được xác định theo các cách sau:
- Cách tính 1: Giá trị thông thường được xác định theo giá bán của sản
phẩm tương tự tại thị trường nước xuất khẩu
- Cách tính 2: Giá trị thông thường được xác định theo giá bán của sản
phẩm tương tư từ nước xuất khẩu liên quan sang thi trường môt nước thứ ba
- Cách tính 3: Giá trị thông thường được xác định theo trị giá tính toán
Xác định trị giá thông thường của sản phẩm nhằm xác định có tồn tại biên
độ phá giá hay không và là cơ sở để so sánh một cách công bằng với giá xuất khẩu nhằm xác định việc bán phá giá
Theo đó, cách tính 1 là cách tính thông thường được ưu tiên xem xét áp dụng trước trong tất cả các trường hợp Tuy nhiên, cách này chỉ được áp dụng khi tuân thủ các điều kiện:
- Sản phẩm tương tự được bán tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại bình thường, và
- Sản phẩm tương tự phải được bán tại nước xuất khẩu với số lượng đáng kể (không ít hơn 5% số lượng sản phẩm bị điều tra xuất sang nước nhập khẩu)
Trang 19Việc tính giá trị thông thường trên cơ sở giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa không được áp dụng trong các trường hợp:
- Sản phẩm tương tự không được bán trên thị trường nội địa nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường, hoặc
- Tinh trạng thị trường đặc biệt12, hoặc
- Sản phẩm tương tự được bán tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu với khối lượng không đáng kể (thấp hơn 5% số lượng sản phẩm bán sang thị trường nước xuất khẩu liên quan )
Cách tính trên thường không được áp dụng nếu nước xuất khẩu là nước có nền kinh tế phi thị trường Điều VI của GATT 1994 cho rằng, hàng hoá được nhập khẩu từ một nước nơi chính phủ có độc quyền hay gần như độc quyền về thương mại và nhà nước ấn định toàn bộ giá cả nội địa thì việc so sánh giá xuất khẩu với giá tại thị trường nội địa nước xuất khẩu có thể là không phù hợp Trên thực tế, các nước như Hoa Kỳ, E Ư .khi tiến hành điều tra các vụ kiện về chống bán phá giá, nếu cơ quan có thẩm quyền của nước điều tra xác định rằng nền kinh tế của một quốc gia nào đó là “phi thị trường” thì cơ quan có thẩm quyền của nước đó tự mình xác định một cách tính mà họ cho là hợp lý, họ có thể bỏ qua các số liệu về chi phí, giá cả nội địa nước xuất khẩu và chọn một nước thứ ba thay thế để tính giá trị thông thường của sản phẩm điều tra Nói cách khác, biên
độ phá giá được tính trên cơ sở so sánh giữa giá xuất khẩu sản phẩm với giá
thông thường tính theo giá trị tại nước thứ ba.
Ví du: Trong vụ kiện “Một số mặt hàng cá file đông lạnh của Việt Nam”
Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã kết luận Việt Nam là nước có nên kinh tế phi thị trường, giá trị thông thường của sản phẩm cá tra, cá basa không được xác định,
lý do là giá cả bị chi phối bởi sự kiểm soát của Chính phủ chứ không phải là bị chi phối bởi các động lực cung - cầu thông thường của thị trường, việc bán hàng
đó không phản ánh giá trị thực của hàng hoá, nói rộng hơn là “các lực lượng thị
trường tại Việt Nam chưa phát triển đủ mạnh đ ể cho phép sử dụng các giá cả và chi phí trong việc phân tích phá giá của Bộ Thương mại Hoa /Tỳ” 13 Vì vậy, Bộ
Thương mại Hoa Kỳ đã dùng Ấn Độ là nước thay thế để xác định 'giá trị thông thường vì Ân Độ là nước có trình độ phát triển t i ^ ^ đ ặ ũ g va lă nước sản xuất
PHONG G V ,j ~ 7 ,/
12 Hiệp định AD không quy định ro th ế nào là tình trạng thị trường đặc biệt, vì thế mỗi nước có quy định riêng về vấn đề này.
11 Vụ điều tra A522-801 (“ O u r conclusion is that m arket forces in V ietnam are not yet sufficiently developed
to perm it the use o f prices and costs in that country for purposes o f the D ep artm en t’s dum ping a n a ly s is
Trang 203- Giá xuất khẩu (export price)
Trong việc xác định có hay không việc bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền cần phải so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu Để làm được điều này thị giá xuất khẩu cũng phải được thiết lập Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định là có bán phá giá thì đó là kết quả của sự so sánh sau cùng giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu
Giá xuất khẩu là giá bán sản phẩm từ nước sản xuất (nước xuất khẩu) sang nước nhập khẩu (cho nhà nhập khẩu đầu tiên) Như vậy mục đích của giá xuất khẩu- khi được thiết lập là giá tính cho những sản phẩm bán phá giá vào nước nhập khẩu
GATT 1947 không có khái niệm rõ ràng về “giá xuất khẩu” thay vào đó nó chỉ được xác định là “giá của sản phẩm xuất từ nước này sang nước khác”14 Giá xuất khẩu lần đầu tiên được đề cập tới bởi Nhóm chuyên gia (The Group of
Experts) rằng "N hóm nhận định đó là giá sản phẩm xuất khẩu có th ể so sánh
được với giá của sản phẩm nội địa thông thường ”
Dựa vào từ “giá của sản phẩm xuất khẩu” tại Điều VI của GATT 1947, Nhóm này đã soạn thảo kỹ lưỡng giá xuất khẩu như sau:
“Giá mà ở đó sản phẩm giông nhau còn lại ở nước kia (nước xuất khẩu) không phải là giá mà tại đó sản phẩm này tham gia vào nước nhập khẩu ”
Và nhóm này đi đến mục tiêu để xác định giá xuất khẩu:
‘‘Trong bất kỳ trường hợp nào, mục đích là cần đạt tới giá có thể so sánh được với giá nội địa ở nước xuất khẩu ”15.
Để thiết lập giá xuất khẩu, Điều VI 1 GATT 1994 đưa ra ba cách thức, đólà:
- Cách thức 1: Giá xuất khẩu
- Cách thức 2: Giá cho người mua tự do đầu tiên, hoặc
14 Điều VI của GATT 1947
15 Xem: W enxiii, “ A ntidum ping Law o f The W T O /G A T T and The EC” , 2003
Trang 21bán hàng xuất khẩu cho các nhà nhập khẩu không có quan hệ (unrelated importers) và bán hàng xuất khẩu cho các nhà nhập khẩu có quan hệ (related importers) Trong mỗi trường hợp, giá xuất khẩu được xác định bằng cách áp dụng một trong các cách thức mà Hiệp định AD đưa ra.
• Trường hợp 1: Bán hàng xuất khẩu cho nhà nhập khẩu không có
quan hệ
Trường hợp này là mô hình thông lệ của bán hàng xuất khẩu, giá xuất khẩu không bị chi phối bởi quan hệ giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu Việc bán phá giá thực sự nếu có chỉ có thể thông qua biên độ phá giá khi so sánh giá xuất khẩu với giá nội địa có thể so sánh
GATT không hề có định nghĩa hay miêu tả việc bán hàng xuất khẩu cho các nhà nhập khẩu không có quan hệ Thông qua các vụ kiện chống bán phá giá các cơ quan có thẩm quyền xác định được rằng bán hàng xuất khẩu cho nhà nhập khẩu không có quan hệ gồm:
- Trực tiếp cho nhà nhập khẩu độc lập hoặc không có quan hệ
- Thông qua các nhà xuất khẩu không có quan hệ
Bán hàng trực tiếp cho nhà nhập khẩu độc lập hoặc không liên quan là bán thẳng và trong trường hợp này, giá xuất được tính toán dựa trên giá do nhà nhập khẩu trả cho nhà xuất khẩu
Bán qua các nhà xuất khẩu không có quan hệ gồm hai tình huống:
- Bán hàng xuất khẩu qua các nhà xuất khẩu không có quan hệ trong phạm
vi nước sản xuất hàng.
Trong vụ “ố n g dẫn dầu có mối nối và ống dẫn dầu không nối”)16 các nhà sản xuất Rumani đã bán sản phẩm trực tiếp hoặc thông qua các đại lý nằm ở Rumani cho khách hàng độc lập tại thị trường EC
• Bán hàng xuất khẩu qua các nhà xuất khẩu không có quan hệ ngoài phạm
vi nước bán hàng (nước ngoài)
Hàng hoá không được nhập khẩu trực tiếp từ nơi xuất xứ hàng hoá mà được từ một nước trung gian, giá của hàng hoá khi được bán từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu sẽ được so sánh với mức giá có thể so sánh được tại nước nhập khẩu (Điều 2.5 Hiệp định AD) Trên thực tế, đây còn được xem như một trường hợp trốn tránh thế chống bán phá giá
16 Seamless pipes and T ubes (R ussia, the Czech Republic, R om ania and the Slovak Republic), OJ 1997 L 141/36 (provisional), O J 1997 L 322/1 (definitive).
Trang 22Ví du 1: Trong vụ “Xe đạp” 17 một công ty của Indonexia và một công ty của Malaysia đã bán hàng xuất khẩu vào EC thông qua các công ty thương mại không nằm ở Indonexia, cũng không nằm ở Malaysia mà là ở Nhật
Ví du 2: Uỷ ban Châu Âu (EC) đánh thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng vòng khuyên kim loại được nhập khẩu từ Trung Quốc và lắp ráp tại Việt Nam sau đó tái xuất sang EƯ, EC cho rằng đây là hành vi của doanh nghiệp Trung Quốc thông qua Việt Nam và sử dụng xuất xứ hàng hoá (C/O) của Việt Nam để xuất sản phẩm này vào thị trường EƯ nhằm mục đích lẩn tránh thuế chống bán phá giá18
Trường hợp 2: Bán hàng xuất khẩu cho nhà nhập khẩu có quan hệ
hoặc một bên thứ ba nào đó có quan hệ vói nhau hoặc có thoả thuận vê bù trừ, giá xuất khẩu
Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét là không tồn tại mức giá xuất khẩu hoặc mức giá xuất khẩu không đáng tin cậy Giá xuất khẩu có thể được tính trên cơ sở mức giá khi sản phẩm nhập khẩu được bán ở khâu đầu cho một người mua hàng độc lập, nếu sản phẩm đó không được bán lại hoặc khổng được bán lại theo các điều kiện thướng mại thông thường (bán lỗ vốn) thì giá xuất khẩu có thể xác định một cách hợp lý do cơ quan có thẩm quyền tự quy định (Điều 2.3 Hiệp định AD)
Điều 2.4 Hiệp định AD quy định về so sánh công bằng giá trị thông thường và giá xuất khẩu trên nguyên tắc:
- Việc so sánh được tiến hành ở cùng một khâu thông nhất của qua trình mua bán, thường ỉà tại khâu xuất xưởng;
- Tại cùng m ột thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt;
- Tính đến những khác biệt có thể ảnh hưởng đến việc so sánh như điều kiện bán hàng, th u ế
Có ba cách so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu:
- Cách 1: So sánh giá trị thông thường bình quân gia quyền với gìá xuất
khẩu bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch của từng nhà sản xuất, xuất khẩu
- Cách 2: So sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu của từng giao dịch
17 Bicycles (Indonesia, M alaysia and T hailand), OJ 1995 L 248/12 (provisional), OJ 1996 L91/1 (definitive).
Uỷ ban Châu Âu: “ Công hàm số D /5959” ngày 29 tháng 4 năm 2004
Trang 23- Cách 3: So sánh giá trị thông thường bình quân gia quyền với giá xuất
khẩu của từng giao dịch nếu cơ quan có thẩm quyền cho rằng có sự chênh lệch đáng kể về cơ cấu giá giữa những người mua, vùng hoặc thời điểm khác nhau và có những giải thích chính thức về việc tại sao việc sử dụng hai cách trên không thể tính đến các khác biệt trên một cách hợp lý
4- Biên độ phá giá
Mục đích so sánh giữa giá trị thực tế và giá xuất khẩu nhằm xác định cóxảy ra việc bán phá giá hay không, nếu bán phá giá được xác định, bước tiếptheo là tính toán biên độ phá giá
Biên độ phá giá là khoảng chênh lệch có thể tính được giữa giá trị thông thường của hàng hoá nhập khẩu so với giá xuất khẩu hàng hoá
Biên độ phá giá được tính toán theo công thức:
Biện độ phá giá = (G iá trị thông thường - G iá xuất khẩu)/ Giá xu ất khẩu
Cơ quan có thẩm quyền tính toán biên độ phá giá dựa theo trình tự:
- Xác định giá xuất khẩu
- Xác định giá trị thông thường
- Điều chỉnh giá xuất khẩu và giá trị thông thường về cùng một cấp độ thương mại
- So sánh giá xuất khẩu với giá thực tế sau khi đã điều chỉnh để xác định biên độ phá giá
- Tính biên độ phá giá bằng phần trăm (%) của hiệu sô' so sánh trên giá xuất khẩu
Biên độ phá giá được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan Trong mọi trường hợp mức thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu
Biên độ phá giá theo tính toán của cơ quan có thẩm quyền phải bằng hoặclớn hơn 2%, biên độ 2% được xem là biên độ phá giá tối thiểu/không đáng kể
(de minimis) (Điều 5.8 Hiệp định) Cơ quan có thẩm quyền sẽ đình chỉ hoặc
không bắt đầu điều tra nếu kiểm tra sơ bộ cho thấy biên độ phá giá thấp hơn 2%.Nếu số lượng nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan quá lớn khiến cho việc tính toán biên độ phá giá đơn lẻ không thực hiện được thì cơ quan có thẩm quyền
có thể lựa chọn một số lượng thích hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu để điều tra
và có biên độ phá giá đơn lẻ cho các nhà sản xuất, xuất khẩu được lựa chọn để
Trang 24điều tra này, các nhà sản xuất, xuất khẩu không tham gia điều tra sẽ được tính theo một biên độ phá giá chung cho nhóm trên nguyên tắc bình quân của các biên độ đơn lẻ
5- Xác định thiệt hại
Hiệp định AD cho rằng, “thiệt hại” được hiểu là thiệt hại vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước hoặc ảnh hưởng vật chất làm chậm quá trình thành lập một ngành sản xuất (Chú thích của Hiệp định AD) Xác định thiệt hại
có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng thuế chống bán phá giá nhằm mục đích
bù trừ vào thiệt hại xảy ra Hiệp định AD xác định thiệt hại dựa trên các bằng chứng xác thực và thông qua điều tra khách quan theo các tiêu chí sau:
Thứ nhất: khối lượng sản phẩm nhập khẩu được bán phá giá và ảnh hưởng
của việc này đến giá của sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa nước nhập khẩu (Điều 3.1 Hiệp định AD) Cụ thể cơ quan điều tra xem xét trên các khía cạnh: khối lượng sản phẩm nhập khẩu bị điều tra trên thực tế có tăng lên một cách đáng kể so với mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu không v.v và xem xét tác động của hàng nhập khẩu bán phá giá đối với giá của sản phẩm tương tự tại thị trường nước nhập khẩu
Thứ hai: hậu quả của hàng nhập khẩu này đến các nhà sản xuất các sản
phẩm trên ở trong nước (Điều 3.1 Hiệp định AD).
Thiệt hai đối với ngành sản xuất nội địa nước nhâp khẩu là:
- Thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu(thiệt hại vật chất); hoặc
- Nguy cơ gây ra thiệt hại đáng kể đối với một ngành sản xuất nội địa; hoặc
- Ngăn cản việc hình thành một ngành sản xuất trong nước
Thiệt hại đáng kể trong việc xác định bán phá giá chỉ mang tính tương đối, khác với thiệt hại được xem xét trong điều tra áp dụng biện pháp tự vệ là thiệt hại nghiêm trọng Việc xác định thiệt hại đáng kể do cơ quan có thẩm quyền điều tra toàn quyền quyết định
Trong vụ "Sữa hoà tan nhập khẩu từ Canada”19, ngành công nghiệp sữa
của Australia đã kiện các nhà nhập khẩu sữa từ Canada đã bán phá giá, gây thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp sản xuất sữa hoà tan của Australia và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền của Australia tiến hành áp dụng biện pháp chống
''' X em : Đoàn Văn Trường “ Bán phá giá và biện pháp, chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu” , NXB
T hống kê, Hà Nội, 1996.
Trang 25bán phá giá Cuộc điều tra được tiến hành, cơ quan điều tra đã kết luận rằng các nhà sản xuất của Australia đã bị thiệt hại vật chất dưa trên căn cứ là lợi nhuận của các nhà sản xuất sữa hoà tan của Australia thu được năm 1988 (năm nhập sữa từ Canada) chỉ bằng 1/3 lợi nhuận trung bình của các năm 1986.
Hiệp định chống bán phá giá của WTO không quy định chi tiết việc xác định “nguy cơ gây thiệt hại vật chất” (threat of injury) mà chỉ đưa ra một số yếu
tố điển hình để cơ quan điều tra chống bán phá giá của mỗi quốc gia xem xét và
áp dụng như: tỷ lệ gia tăng đáng kể hàng nhập khẩu được bán phá giá vào nước nhập khẩu; năng lực sản xuất lớn của nhà sản xuất, xuất khẩu sản phẩm liên quan (trong thực tế hoặc trong tương lai); mức giá có tác động làm giảm hoặc kìm hãm đáng kể giá trong nước và có thể làm tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu thêm nữa hay không; số lượng tồn kho của sản phẩm đang bị điều tra v.v
Việc điều tra chống bán phá giá chỉ thực hiện khi số lượng, khối lượng hàng bị bán phá giá nhập khẩu từ một nước xuất khẩu không dưới mức tối thiểu
là 3% tổng lượng nhập khẩu hàng hoá bị điều tra vào nước nhập khẩu hoặc các
sản phẩm tương tự từ mỗi nước có khối lượng nhập dưới 3% nhưng tổng lượng hàng hoá nhập khẩu từ các nước bị điều tra chiếm trên 7% tổng lượng hàng hoá liên quan nhập khẩu từ tất cả các nguồn vào nước nhập khẩu (Điều 5.9 Hiệp định AD)
6- Mối quan hệ nhân quả giữa hàng hoá nhập khẩu phá giá và thiệt hại của ngành công nghiệp trong nước.
Điều 3.5 Hiệp định AD quy định cụ thể để xác định liệu hàng nhập khẩu phá giá có gây thiệt hại đáng kể cho ngành công nghiệp trong nước hay không,
cơ quan có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở kiểm tra tất cả các bằng chứng liên quan như: sự sút giảm trên thực tế về sản lượng, số lượng hàng bán, thị phần, tiền
lã i Ngoài ra cơ quan có thẩm quyền cũng phải xác định thiệt hại phát sinh từ các ngành khác như: sự giảm sút nhu cầu hoặc thay đổi về hình thức tiêu dùng, các hành động hạn chế thương mại hoặc cạnh tranh giữa nhà sản xuất trong nước
và nước ngoài v.v N ếu có yếu tố này gây thiệt hại cho ngành sản xuất đó thì không được quy thiệt hại của ngành sản xuất là do hàng hoá nhập khẩu bán phá giá Hiệp định AD chỉ quy định có tính “định tính” chứ không “định lượng”, cho nên pháp luật chống bán phá giá của từng quốc gia có những quy định riêng20
20 T rong vụ hãng G erald M etals kiện H oa K ỳ, m ã số 132.F3d 716 (Fed Cir 1997), Toà Phúc thẩm Liên bang đã bác bỏ quan điểm rằng chỉ cẩn U ỷ ban Thương m ại Q uốc tế H oa Kỳ nhặn thấy rằng việc nhập khẩu đã gây thiệt hại chung cho ngành sàn xuất H oa Kỳ là đù V iệc nhập kháu phải là nguyên nhan gáy ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sàn xuất H oa Kỳ (X em : “Thủ tục chống phá giá theo pháp luật Hoa K ỳ” , Bù H elle R W eeke, cố vấn pháp luật Dự án STAR V iệt N am )
Trang 26Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền của WTO không có nghĩa vụ tìm hiểu các nguyên nhân khác gây thiệt hại nói trên Bên bị đơn phải tự chứng minh những nguyên nhân này và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra loại trừ những thiệt hại mà chúng gây ra khỏi những thiệt hại được xem xét trong vụ kiện.
7- Ngành sản xuất trong nước
Ngành sản xuất trong nước được hiểu là toàn bộ các nhà sản xuất trong nước sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm đa số tổng sản lượng trong nước (Điều 4.1 Hiệp định)
Có những nét đặc thù nhằm xác định cụ thể ngành sản xuất trong nướcsau:
- Nhà sản xuất và nhà xuất khẩu/ nhập khẩu có quan hệ với nhau thì ngành sản xuất trong nước là các nhà sản xuất còn lại
- Trường hợp lãnh thổ của nước nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trường riêng thì các nhà sản xuất ở mỗi thị trường có thể coi là một ngành sản xuất riêng nếu các nhà sản xuất tại thị trường đó bán tất cả hoặc hầu như tất cả sản phẩm đang được xem xét tại thị trường đó và nhu cầu của thị trường đó với sản phẩm tương tự nhập khẩu từ nước khác là không đáng kể
8- Thủ tục tô tụng
8.1- Bắt đầu và quá trình diêu tra tiếp theo
Từ Điều 5 đến Điều 8 Hiệp định AD quy định những vấn đề cơ bản nhất về
tố tụng, mỗi quốc gia thành viên sẽ quy định cụ thể về những vấn đề này nhưng không được vi phạm các thời hạn, nguyên tắc quy định trong Hiệp định AD
Hai loại chủ thể có thể đưa ra yêu cầu điều tra chống bán phá giá là:
- Ngành sản xuất trong nước (của nước nhập khẩu) hoặc chủ thể nhân danh cho ngành sản xuất trong nước và
- Cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu
Quá trình điều tra có tồn tại bán phá giá hay không được bắt đầu khi có đơn kiện bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước, hoặc không có đơn kiện nhưng cơ quan điều tra lại có đầy
đả bằng chứng về việc bán phá giá, thiệt hại và mối liên hệ giữa hai yếu tố này.Các bằng chứng nêu trong đơn sẽ được cơ quan điều tra xác minh tính chính xác và đầy đủ để xác định xem có đủ lý do hợp lệ để tiến hành điều tra
Trang 27chưa Cơ quan điều tra sẽ không tiến hành điều tra phá giá trừ khi xác định được rằng đơn xin điều tra được nộp bởi ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước, nghĩa là:
- Sản lượng sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp đơn phải lớn hơn sản lượng của các nhà sản xuất trong nước phản đối đơn; và
- Sản lượng của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp đơn phải chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của ngành sản xuất trong nước
Một cuộc điều tra về chống bán phá giá sẽ được tiến hành trong vòng 1 nãm (trừ trường hợp đặc biệt) và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không kéo dài quá 18 tháng
Cuộc điều tra sẽ chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan điều tra xác định đượcrằng:
- Biên độ phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu, hoặc
- Số lượng hàng nhập khẩu bị nghi ngờ bán phá giá từ một nước nhỏ hơn 3% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu trừ trường hợp từng nước nhập khẩu có lượng hàng nhập khẩu dưới 3% nhưng lượng hàng nhập khẩu của tất cả các nước này chiếm trên 7% nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu
Cơ quan điều tra sẽ gửi thông báo cho tất cả các bên có liên quan đề nghị cung cấp bằng văn bản mọi bằng chứng liên quan đến cuộc điều tra Thời hạn trả lời câu hỏi điều tra là 30 ngày và có thể được gia hạn thêm 30 ngày hoặc lâu hơn nếu cần thiết, và gửi nguyên văn đơn đề nghị điều tra cho các nhà xuất khẩu và
cơ quan liên quan ở nước xuất khẩu và các bên quan tâm khi có yêu cầu
Sau khi cơ quan điều tra đã thực hiện đúng các thủ tục bắt đầu và quá trình điều tra tiếp theo và kết luận ban đầu xác nhận rằng có việc bán phá giá và có dẫn đến gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nước, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp tạm thời để ngăn chặn tổn hại đang xảy ra trong quá trình điều tra
8.2- Các biện pháp tạm thời
Điều 7 Hiệp định AD quy định về các biện pháp tạm thời gồm:
- Thuế tạm thời; hoặc
Trang 28- Đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dựkiến; hoặc
- Cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhậpkhẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến
Các biện pháp áp dụng tạm thời này chỉ được áp dụng nếu như:
+ Việc điều tra được tuân thủ theo các bước vừa được phân tích trên
và việc này đã được thông báo cho công chúng và các bên hữu quan
đã được tạo đầy đủ cơ hội để đệ trình thông tin và đưa ra khuyến nghị
+ Kết luận điều tra ban đầu đã xác nhận rằng có việc bán phá giá và
có dẫn đến gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nước; và+ Cơ quan có thẩm quyền thấy rằng cần áp dụng các biện pháp này để ngăn chặn tổn hại đang xảy ra trong quá trình điều tra (Điều 7.1 Hiệp định AD)
Cơ quan điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc điều tra mà không cần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá nếu như các nhà xuất khẩu
có cam kết ở mức thoả đáng sẽ điều chỉnh giá của mình hoặc đình chỉ bán phá giá vào khu vực đang điều tra để các cơ quan có thẩm qụyền thấy được rằng tổn hại do việc bán phá giá gây ra đã được loại bỏ Hiệp định AD khuyến nghị các nước thành viên nên áp dung mức thuế thấp hơn biên độ phá giá nếu như mức thuế thấp hơn này đủ để loại bỏ tổn hại đối với ngành sản xuất trong nước (Điều 9.1)
Yêu cầu hoặc chấp nhận cam kết về giá của các nhà xuất khẩu sẽ không được chấp nhận nếu cơ quan điều tra đã có quy định sơ bộ khẳng định có việc , bán phá giá và có tổn hại do việc bán phá giá đó gây ra
Nhà xuất khẩu không bất buộc phải cam kết giá, nhưng nếu đã cam kết giá
mà vi phạm thì cơ quan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ
sở thông tin mà họ có
9- Quyết định đánh thuê và thu thuê chống bán phá giá
Điều 9 Hiệp định AD quy định rất chi tiết cho các nước thành viên về việc quyết định đánh thuế và thu thuế chống bán phá giá Sau khi có kết luận cuối cùng khẳng định có việc bán phá giá gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định các vấn đề:
- Có áp đặt thuế chống bán phá giá hay không; và
Trang 29- Áp đặt thuế AD bàng hay dưới biên độ phá giá
Với mỗi loại sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định biên độ phá giá riêng cho từng nhà sản xuất Thuế chống bán phá giá áp dụng cho từng trường hợp trên nguyên tắc không phân biệt đối xử đối vơí hàng nhập khẩu liên quan từ tất cả các nguồn được coi là gây thiệt hại trừ trường hợp đã cam kết giá, mức thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá.Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩuthông thường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu (nước áp dụngbiện pháp chống bán phá giá) ban hành, thuế này có mục đích chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bán phá giá gây nên.Quyết định áp đặt thuế AD có thể có hai hình thức hồi tố:
- Hồi tố đối với thời gian áp dụng biện pháp tạm thời, cơ quan có thẩmquyền nước nhập khẩu sẽ truy thu thuế đối với hàng hoá liên quan nhập khẩu vào nước này kể từ thời điểm có quy định áp dụng biện pháp tạm thời
- Hổi tố đối với khoảng thời gian tính từ 90 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thời cho đến khi có quy định chính thức về thuế AD, thường chỉ
áp dụng trong những trường hợp đặc biệt khi nhà xuất khẩu đã có tiền lệ
về bán phá giá hoặc việc nhập khẩu được bán phá giá với số lượng lớn và
có nguy cơ gây phương hại đến tác dụng loại bỏ thiệt hại của thuế AD cuối cùng
Thuế AD được duy trì cho đến khi nào việc ngăn chặn và loại bỏ thiệt hại
do việc bán phá giá không còn cần thiết nữa Trong mọi trường hợp Hiệp định
AD quy định thuế chống bán phá giá sẽ chấm dút sau 5 năm kể từ thời điểm quy định áp đặt thuế AD được ban hành hoặc kể từ lần rà soát lại gần nhất, trừ việc
cơ quan có thẩm quyền kết luận là việc bán phá giá gây thiệt hại có nhiềli khả năng tiếp tục duy trì hoặc tái diễn nếu thuế AD chấm dứt
Quyết định áp đặt thuế AD có thể được xem xét thông qua thủ tục rà soát lại việc rà soát lại có thể dẫn tới việc chấm dứt áp dụng thuế AD trước thời hạn hoặc tiếp tục áp đặt thuế cho hết thời hạn 5 năm hoặc kéo dài thời hạn áp dụng này thêm 5 năm nữa21
Các quá trình rà soát cũng được áp dụng cho các thoả thuận cam kết về giá thực hiện giữa các nước nhập khẩu và các nhà nhập khẩu liên quan
21 Năm 1983, DOC Hoa K ỳ ra quyết định chống bán phá giá sản phẩm B ariclorua của T rung Q uốc, đên năm
1999, ITC quyết dịnh kéo dài thời hạn áp (lụng này thêm 5 năm nữa.
Trang 3010- Chống bán phá giá thay mặt nước thứ ba
Điều 14 Hiệp định AD có quy định trường hợp một nước nhập khẩu tiến hành điều tra bán phá giá thay mặt nước thứ ba Đó là khi có đơn đề nghị điều tra chống bán phá giá của cơ quan có thẩm quyền nước thứ ba gửi cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu, nước thứ ba này được coi là nguyên đơn trong vụ kiện chống bán phá giá do nước nhập khẩu tiến hành Nước nhập khẩu có toàn quyền chấp nhận đơn kiện và bắt đầu cuộc điều tra hoặc không chấp nhận đơn kiện
11- u ỷ ban chống bán phá giá
ủ y ban chống bán phá giá bao gồm đại diện các thành viên WTO được thành lập nhằm thực hiện các nghĩa vụ qui định trong Hiệp định AD, tạo điều kiện cho các thành viên trao đổi với nhau về các vấn đề liên quan đến việc thực hiện Hiệp định AD ủ y ban này họp ít nhất 2 lần mỗi năm, Ban Thư ký WTO sẽ thực hiện chức năng thư ký cho ủy ban này
Các thành viên WTO phải thông báo cho ủy ban chống bán phá giá:
- Ngay lập tức khi họ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạm thời hay lâu dài;
- 4 tháng một lần (theo mẫu qui định) về các biện pháp chống bán phá giá
mà họ áp dụng trong vòng 6 tháng trước đấy Các thành viên có thể tham khảo thông báo này tại Ban Thư ký WTO;
- Cơ quan nào ở nước mình có thẩm quyền điều tra phá giá, luật qui địnhthủ tục điều tra phá giá của nước mình
12- Tham vân và giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên WTO về vấn đề chống bán phá giá.
Điều 17 Hiệp định AD quy định việc tham vấn và giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên WTO liên quan đến các biện pháp AD Cụ thể là phải tuân thủ “Thoả thuận về giải quyết tranh chấp” (The Dispute Settlement Understanding “DSU”)
Các bên tranh chấp có thể gửi bằng văn bản các câu hỏi tham vấn tới các nước hay các thành viên có liên quan Các thành viên sẽ dành thời gian xem xét cần thiết đối với các đề nghị tiến hành trao đổi tham vấn từ một thành viên khác (Điều 17.3 Hiệp định AD)
Các bên tranh chấp thấy việc tham vấn không đạt được giải pháp được các bên cùng nhất trí thì có quyền khiếu kiện ra “Cơ quan Giải quyết Tranh chấp” (The Dispute Settlement Body “DSB”) của WTO DSB sẽ thành lập một Ban Hội
Trang 31thẩm (Panel) xem xét vấn đề do các bên đưa ra Cụ thể các tranh chấp mà Ban Hội thẩm xem xét là:
- Thuế chống bán phá giá; hoặc
- Thoả thuận cam kết về giá; hoặc
- Biện pháp tạm thời (với điều kiện là biện pháp này có ảnh hưởng đáng
kể và thành viên khiếu kiện thấy rằng biện pháp này không tuân thủ cácquy định về điều kiện áp dụng biện pháp tạm thời)22
Chủ thể tham gia quá trình giải quyết tranh chấp trong WTO Ịà thành viên của WTO, vì vậy , mặc dù khởi nguồn của các tranh chấp liên quan đến chống
bán phá giá thường là những bất đồng về lợi ích giữa nhà sản xuất/nhà nhập khẩu nước ngoài và ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nhưng chỉ quốc
gia mới có quyền tham gia vào giải quyết tranh chấp (khởi kiện, trả lời, trình bày, bào chữa, khiếu nại v.v )
Ban Hội thẩm chỉ xem xét xem việc xác định sự việc của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu có tuân theo các quy định của WTO hay không Nếu yêu cầu này được đáp ứng thì Ban Hội thẩm sẽ tôn trọng quyết định của cơ quan có thẩm quyền của nước áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nước nhập khẩu)
22 Xem M ục “8.2- Các biên ph á p tạm th ờ i", trang 25 cùa Luân văn này