Trong đó, chế định pháp luật về chống bán phá giá luôn có vị trí quan trọng và được các nước áp dụng khá phổ biến để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh từ hàng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
HOÀNG THỊ VÂN GIANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
HOÀNG THỊ VÂN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN TOÀN THẮNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguốn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Vân Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Viện Đại học Mở Hà Nội, dưới sự hướng dẫn tận tình của các thày cô, em đã nghiên cứu và tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại nhằm nâng cao trình độ năng lực của bản thân
Luận văn thạc sĩ "Pháp luật về chống bán phá giá của WTO trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" là kết quả
của quá trình nghiên cúư trong những năm học vừa qua
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới TS Nguyễn Toàn Thắng - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn
Em cũng xin cảm ơn các thày cô đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành bài luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do giới hạn về trình độ nghiên cứu, giới hạn về tài liệu nên luân văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thày cô giáo, bạn bè đồng nghiệp
và những người quan tâm
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2017
Học viên thực hiện luận văn
Hoàng Thị Vân Giang
Trang 5Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 5
1.1 Bán phá giá 5
1.1.1 Lịch sử và nguồn gốc của bán phá giá 5
1.1.2 Khái niệm bán phá giá 6
1.1.3 Nguyên nhân bán phá giá 11
1.1.4 Phân loại bán phá giá 15
1.1.5 Tác động của bán phá giá 19
1.2 Chống bán phá giá 22
1.2.1 Khái niệm chống bán phá giá 22
1.2.2 Pháp luật về chống bán phá giá 23
1.3 Lịch sử pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế 25
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về chống bán phá giá đầu tiên ở một số quốc gia 25
1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về chống bán phá giá 27
Chương 2: NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 33
2.1 Xác định việc bán phá giá 33
2.1.1 Định nghĩa phá giá 33
2.1.2 Nguyên tắc xác định phá giá: 34
2.1.3 Tính biên độ phá giá 34
2.2 Xác định thiệt hại 36
2.2.1.Định nghĩa thiệt hại 36
2.2.2 Nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước 38
2.3 Điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá 38
2.3.1 Nộp đơn yêu cầu tiến hành chống phá giá 38
2.3.2 Thu thập thông tin 40
2.3.3 Áp dụng biện pháp tạm thời 41
2.3.4 Cam kết giá 42
2.3.5 Áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá 43
2.3.6 Truy thu thuế 45
2.3.7 Rà soát 46
Trang 62.3.8 Thông báo công khai và giải thích các kết luận 46
Chương 3:THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 48
3.1 Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu của nước ngoài ở Việt Nam 48
3.1.1 Ngành cơ khí 48
3.1.2 Ngành hàng sản xuất xe đạp 49
3.1.3 Dược phẩm 50
3.1.4 Điện tử 52
3.1.5 Ngành giấy 53
3.1.6 Ngành dệt may 54
3.1.7 Nước giải khát 55
3.2 Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam 56
3.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật chống bán phá giá và khả năng khởi kiện chống bán phá giá của các Doanh nghiệp Việt Nam 64
3.3.1 Tình hình sử dụng biện pháp chống bán phá giá tại Việt Nam 65
3.3.2 Đánh giá về các nguy cơ bán phá giá của hàng hóa nước ngoài gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam 66
3.3.3 Đánh giá về khả năng khởi kiện của các Doanh nghiệp Việt Nam 70
3.3.4 Về phía các cơ quan chức năng. 76
3.4 Nguyên nhân dẫn đến những bất cập của pháp luật và thực tiễn chống bán phá giá trong nước 78
3.5 Phương hướng hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam 82
PHẦN KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 90
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tự do thương mại và liên kết kinh tế thương mại đang là trào lưu nổi bật thì hội nhập kinh tế không những ngày càng trở thành một xu thế khách quan mà còn đóng vai trò một công cụ hữu hiệu để phát triển nhanh và bền vững nếu được nắm bắt và vận dụng một cách tích cực Nền kinh
tế các nước ngày càng lệ thuộc vào nhau và trong bối cảnh đó sự lớn mạnh, bền vững kinh tế thế giới có thể đạt được nếu tạo ra được tính công bằng trong quan hệ thương mại quốc tế
Khi cạnh tranh trong thương mại trở thành vấn đề toàn cầu thì pháp luật điều tiết cạnh tranh cũng không còn là vấn đề nội bộ của các quốc gia Vì thế, các chế định về phòng vệ thương mại đã trở thành những nội dung quan trọng trong khuôn khổ pháp luật về thương mại quốc tế của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trong
đó, chế định pháp luật về chống bán phá giá luôn có vị trí quan trọng và được các nước áp dụng khá phổ biến để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu bán phá giá
Kể từ khi nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO (năm 2007) đến nay, tiến trình chủ động, tích cực hội nhập kinh tế của nước ta ngày càng sâu rộng hơn, đạt được nhiều kết quả tích cực, khá hoàn thiện trên các lĩnh vực Về thực trạng pháp luật của Việt Nam, năm 2004, Pháp lệnh Chống bán phá giá đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XI ban hành để bảo
vệ sản xuất trong nước trước luồng hàng hóa giá rẻ nhập khẩu vào Việt Nam Tuy nhiên, Pháp lệnh chống bán phá giá và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả Vẫn có những bất cập nhất định trong các quy định của pháp luật và đặc biệt là trong thực tiễn áp dụng pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam
Trang 8Xuất phát từ thực tiễn các vụ kiện chống bán phá giá mà Việt Nam có liên quan và thực trạng pháp luật của Việt Nam cũng như nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thấy tính cấp thiết cao, cả về lý luận và thực tiễn của việc
nghiên cứu đề tài về "Pháp luật về chống bán phá giá của WTO trong thương
mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đới với Việt Nam"
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tài, tác giả muốn làm rõ hơn những tác hại của việc bán phá giá và áp dụng thuế chống bán phá giá của các nước cũng như Việt Nam, bàn một số phương hướng khắc phục Thấy được những bất cập của pháp luật chống bán phá giá, tác hại của bán phá giá đối với nước xuất khấu, nước nhập khẩu Nhằm góp phần đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới thêm sâu rộng
mà còn áp dụng được các quy định của pháp luật để kiện lại bên vi phạm các cám kết của WTO về chống bán phá giá, hay nói đúng hơn là chúng ta dùng cam kết đó bảo vệ mình và dùng nó để đòi lại quyền lợi cho mình Nâng cao và tuyên truyền pháp luật chống bán phá giá vào các doanh nghiệp, cá nhân để khi thực hiện các hoạt động kinh tế đặc biệt là kinh tế xuất nhập khẩu để tránh những thiệt hại kinh tế khi bị kiện bán pháp giá Muốn các cơ quan chức năng tích cực hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá theo xu thế chung của thế giới để bảo vệ quyền lợi của các bên, tích cực đàm phán gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế đa phương để bảo vệ một cách có hiệu quả quyền lợi của các bên
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng: Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu về vai trò của pháp luật chống bán phá giá, các cơ chế giải quyết các hành vi bán phá giá và cơ quan thực thi giải quyết qua các văn bản pháp luật quốc gia như Pháp lệnh chống bán phá giá, Luật thương mại, Luật thuế và các văn bản pháp luật quốc tế như Hiệp định chống bán phá giá của WTO, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT(1994), nắm vững đối tượng nghiên cứu cho phép chúng ta tiếp cận một cách sâu sắc và đầy
đủ các khía cạnh của vấn đề cần nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ nghiên cứu về bán phá giá và chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, tức là việc bán phá giá hàng hóa qua biên giới quốc gia, được pháp luật thương mại quốc tế điều chỉnh, bên cạnh đó là các vấn
đề về bán phá giá và chống bán phá gía đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào thị trường Việt Nam Pháp luật thương mại quốc tế là một lĩnh vực hết sức rộng và
đã có lịch sử phát triển tương đối lâu dài mà trong khuôn khổ thời gian và độ dài của một luận văn không thể bao trùm hết được Chính vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ bao gồm các quy định hiện hành của pháp luật WTO, và Việt Nam
về chống bán phá giá cụ thể là các điều kiện xác định có bán phá giá, xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại, các biện pháp chống bán phá giá, các thủ tục xem xét lại thuế chống bán phá giá; thực tiễn chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam kể từ khi Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành cho tới nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài “Pháp luật về chống bán phá giá của WTO trong
thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đới với Việt Nam ” Tôi đã sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 10- Phương pháp thống kê
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: đây là luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện
về pháp luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và của Việt Nam, pháp luật và thực tiễn chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Các kiến nghị, kết luận nêu trong luận văn là những luận cứ khoa hoạc của tác giả Có thể nói đây là công trình khoa học được nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống và đề cập đến nhiều vấn đề về pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam mà
từ trước đến nay chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để Đố là vấn đề về quá trình nhận thức về bán phá giá trong khoa học pháp lý của Việt Nam, cơ sở kinh
tế - pháp lý cho việc xác định bản chất của hiện tượng bán phá giá cũng như bán phá giá hàng hóa nhập khẩu, những thành tựu và tồn tại trong pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu về lý luận và pháp luật chống bán phá giá
Về thực tiễn: Những nghiên cứu, kết luận, đề xuất của luận án còn có ý nghĩa trong việc hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này
6 Nội dung của luận văn
Đề tài có kết cấu ba phần gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung; Phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm 3 chương
Chương 1: Các vấn đề lý luận về chống bán phá giá và pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế
Chương 2: Hiệp định chống bán phá giá của WTO
Chương 3: Thực tiễn chống bán phá giá của việt nam trong thương mại quốc
tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Trang 11Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Bán phá giá
1.1.1 Lịch sử và nguồn gốc của bán phá giá
Khái niệm “bán phá giá” trong thương mại quốc tế có một lịch sử lâu đời Trong những cuộc tranh luận tại Mỹ năm 1791, Alexander Halinton đó cảnh báo về các thủ pháp của các đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nước khác để nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường Những trường hợp bán phá giá của các nhà sản xuất Anh tại thị trường mới mẻ ở nước Mỹ đó được báo cáo Cuộc tranh luận của công chúng
về vấn đề này, cùng nhiều nỗ lực của ngành lập pháp nhằm đối phó với nó cũng được ghi nhận trong gần hết thế kỷ 19 Đầu thế kỷ XX, Đạo luật chống bán phá giá
cụ thể đầu tiên được ban hành ở Canada năm 1904 Sau đó Luật chống bán phá giá được ban hành tại Newzealand năm 1905, Australia năm 1906 và Nam phi năm
1914 Nước Mỹ có Đạo luật chống bán phá giá năm 1916 và nước Anh có vào năm
1921
Khi xây dựng Hiệp định chung về Buôn bán và Thuế quan (GATT) năm
1947, một điều khoản đặc biệt về các trường hợp chống bán phá giá đó được soạn thảo Điều VI của GATT cho phép các bên ký kết được sử dụng các sắc thuế chống bán phá giá để bù trừ mức phá giá của các hàng nhập khẩu, miễn là chứng minh được việc bán phá giá đang gây ra, hoặc đe doạ gây ra thiệt hại vật chất cho các ngành công nghiệp nội địa có cạnh tranh Cho đến nay, đây vẫn là luật quốc tế cốt lõi về việc bán phá giá
Tuy nhiên một số quốc gia trong GATT nhận thấy rằng có một số nước đó áp dụng Luật chống phá giá để dùng lên những hàng rào thương mại mới, các thủ tục chống bán phá giá, những cách tính toán mức phá giá đó gây thiệt hại làm hạn chế
Trang 12và lệch lạc các dòng thương mại quốc tế Tại vòng đàm phán Kennedy của GATT (1962 - 1967) các bên ký kết GATT đó thảo luận bộ luật chống bán phá giá, đặt ra một loạt các quy tắc về thủ tục và nguyên lý cho việc áp dụng những sắc thuế chống bán phá giá nhằm hạn chế các thủ tục và phương thức đánh thuế của những Chính phủ có thể gây tổn hại đến thương mại quốc tế
Tại vòng đàm phán Tokyo 1973, các bên ký kết GATT đó xây dùng một Luật chống bán phá giá mới, có hiệu lực từ năm 1979 thay thế cho Luật chống bán phá giá năm 1967, có 26 nước thành viên ký kết có hiệu lực hơn mọi Hiệp định trước đó về bán phá giá Đến vòng đàm phán Urugoay 1994 về bán phá giá, dùa trên Luật chống bán phá giá trước đó các thành viên xây dùng “Hiệp định về việc thi hành điều VI của GATT năm 1994” điều chỉnh kỹ hơn các quy tắc chống bán phá giá và có hiệu lực hơn đối với mọi thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới ( WTO ) và là Hiệp định cưỡng bức thi hành Hiệp định này cụ thể ba loại nghĩa vụ khống chế việc áp dụng các sắc thuế:
- Các quy tắc chi tiết về các sự kiện cấu thành việc “ bán phá giá”
- Các quy tắc chi tiết “ yêu cầu về thiệt hại ”
- Các quy tắc chi tiết về những thủ tục theo đó các Chính phủ xác định và áp dụng các sắc thuế chống bán phá giá
1.1.2 Khái niệm bán phá giá
Về mặt lịch sử, thuật ngữ “bán phá giá” lần đầu tiên được sử dụng để chỉ một hiện tượng gắn liền với quá trình công nghiệp hoá ngày càng rộng rãi và cuộc cách mạng về giao thông vận tải của Chủ nghĩa tư bản Những phát minh trong khoa học dẫn đến những thay đổi mang tính đột phá về công nghệ sản xuất đã làm cho năng suất lao động ngày càng tăng và nhờ đó giá thành sản xuất ngày càng thấp Sự ra đời của máy hơi nước và sau đó là động cơ đốt trong cũng tạo nên bước đột phá trong phương tiện chuyên chở hàng hoá, làm cho chi phí chuyên trở hàng hoá giữa những địa điểm cách xa nhau trở nên rất thấp so với trước đó Thời gian chuyên trở hàng hoá, nhờ vào sự tiến bộ của khoa học công nghệ, cũng được rút ngắn đi rất
Trang 13nhiều Khoảng cách về mặt địa lý không còn là một cản trở đáng ngại đối với việc kinh doanh Tất cả những sự đột phá về công nghệ trong kỷ nguyên công nghiệp hoá của Chủ nghĩa tư bản đã đem đến cho nhà tư bản sản xuất hàng hoá những lợi thế kinh doanh vô cùng lớn Họ có thể đem bán hàng hóa với giá thành rẻ của mình
ở một địa điểm xa xôi với một mức giá rất cạnh tranh, có khi là thấp hơn nhiều so với giá hàng hóa sản xuất tại chính bản địa hay thậm chí là thấp hơn cả giá hàng hóa sản xuất ở nước xuất khẩu Và đương nhiên điều này đã làm cho các nhà sản xuất bản địa cảm thấy bị đe dọa Các công trình nghiên cứu về lịch sử thương mại quốc
tế đã cho thấy ngay từ cuối thế kỷ 16, các nhà sản xuất giấy ở Anh đã phàn nàn về hiện tượng những người nước ngoài đem bán giấy với mức giá chịu lỗ nhằm bóp nghẹt nền công nghiệp giấy của Anh Đến thế kỷ 17, các thương nhân Hà Lan cũng tiến hành những hoạt động bán hàng hoá với mức giá rất thấp nhằm xoá sổ các thương nhân Pháp ra khái vùng Baltic Vào cuối thế kỷ 18, thậm chí các nhà sản xuất Anh quốc còn bị khiếu nại về việc bán giá hàng hóa quá thấp nhằm vùi dập nền công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ
Tất cả những hoạt động thương mại trên đây, tuy được tiến hành vào những thời điểm khác nhau trong lịch sử và trong những ngành nghề khác nhau, nhưng chúng đều là những hiện tượng kinh tế có chung đặc điểm là hàng hoá được sản xuất ở một nước (nước xuất khẩu) và được bán ở một nước khác (nước nhập khẩu) với mức giá rất thấp Khi thương mại hàng hoá ngày càng phát triển thì hiện tượng này trở nên ngày càng phổ biến Tuy nhiên, đến những thập kỷ đầu của thế kỷ 20 thì hiện tượng đó mới được khái niệm hoá lần đầu tiên Năm 1923, Jacob Viner, một trong những học giả được viện dẫn nhiều nhất trong lĩnh vực chống bán phá giá hàng hoá đã đưa ra một khái niệm về bán phá giá hàng hoá mà sau này đã trở thành một khái niệm kinh điển được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học Theo ông, “Bán phá giá là việc bán hàng hoá ở những mức giá khác nhau ở các thị trường quốc gia” hay nói một cách khác là “sự phân biệt về giá giữa các thị trường quốc gia” Có thể nói rằng đây là một định nghĩa rất khái quát về bán phá giá Nội dung của nó chỉ đơn giản là nếu một nhà sản xuất bán hàng hóa của mình ở nước của mình hoặc ở
Trang 14một nước nào đó với mức giá phân biệt với giá bán vào nước nhập khẩu thì đã được coi là có bán phá giá Trong thực tiễn khái niệm đơn giản về bán phá giá này đã được các nhà chuyên môn bổ sung thêm một số đặc điểm để làm cho nội hàm của
nó rõ hơn như sau:
rộng các hành vi phân biệt giá bán giữa các thị trường quốc gia: đó có thể là việc bán hàng hóa ở nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn mức giá ở nước xuất khẩu hay bán hàng hóa ở nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn ở thị trường của nước nhập khẩu khác, hay thậm chí còn có thể là việc bán hàng hóa ở nước nhập khẩu với mức giá cao hơn mức giá ở nước xuất khẩu
Trong điều kiện thương mại quốc tế và kinh tế bình thường, hàng hóa sản xuất ở một nước khi đem bán ở một nước khác thường sẽ có giá bán cao hơn ở thị trường nội địa do phải chịu chi phí chuyên trở, đóng gói và thuế quan khi nhập khẩu Vì thế việc phân biệt giá bán theo nghĩa giá ở thị trường nhập khẩu cao hơn giá ở thị trường xuất khẩu là hiện tượng bình thường và không thể coi là bán phá giá Khái niệm bán phá giá, như vậy, chỉ được dùng khi giá bán ở thị trường nhập khẩu thấp hơn giá bán ở thị trường xuất khẩu hoặc một nước nhập khẩu thứ ba
gia khác nhau hiển nhiên là phải khác nhau Việc giá bán của cùng một hàng hóa giữa hai quốc gia khác nhau là một hiện tượng phổ biến và bình thường vì thế không thể coi một cách cơ học rằng nếu giá bán ở thị trường nhập khẩu thấp hơn ở thị trường xuất khẩu thì đã có hiện tượng bán phá giá Trên thực tế cần phải xem xét xem liệu các lý do của việc chênh lệch giá đó có xuất phát từ những khác biệt khách quan dẫn tới chi phí khác nhau đối với hàng hóa khi đem bán ở hai thị trường khác nhau hay không Nếu sự khác biệt giá là do các yếu tố này gây ra thì sự khác biệt giá đó là tất yếu và không thể coi là bán phá giá Còn ngược lại thì sự chênh lệch giá
sẽ có xu hướng mang tính chủ quan của nhà sản xuất và có thể bị coi là bán phá giá
Trang 15Thứ ba, có một số học giả cho rằng thậm chí khi giá bán không khác nhau giữa thị trường nhập khẩu và thị trường xuất khẩu thì cũng có thể đã có hoạt động bán phá giá Lý do là vì trong trường hợp đó có thể là chi phí khách quan liên quan tới hàng hóa đó ở hai thị trường là khác nhau Vì thế, xét cho cùng nếu chi phí khách quan ở thị trường xuất khẩu cao hơn thị trường nhập khẩu thì tức là về thực chất, giá bán của hàng hóa ở nước nhập khẩu đã thấp hơn giá bán ở nước xuất khẩu
Với những điểm bổ sung để hoàn thiện khái niệm kinh điển của Viner về bán phá giá, có thể nêu khái niệm đầy đủ của bán phá giá được dùng phổ biến trong thương mại quốc tế hiện nay như sau:
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một hàng hóa được bán ở thị trường nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn mức giá bán của hàng hóa đó ở thị trường nước xuất khẩu
Khái niệm này hàm chứa hai điều kiện để xác định bán phá giá:
cách bởi những đường biên giới quốc gia hoặc vùng
trường nhập khẩu thấp hơn ở thị trường xuất khẩu hoặc một thị trường thứ ba Với sự phát triển ngày càng rộng rãi của Pháp luật về chống bán phá giá trên phạm vi quốc gia và quốc tế, khái niệm bán phá giá cũng dần dần được mở rộng ra Người ta phát hiện ra rằng nếu chỉ dựa vào dấu hiệu có phân biệt giá bán để xác định hành vi bán phá giá đôi khi là chưa đủ để bảo vệ ngành công nghiệp sản xuất trong nước trước sức cạnh tranh mãnh liệt của hàng hoá nhập khẩu Những luồng hàng hoá giá rẻ vẫn có thể có mặt ở các nước nhập khẩu với mức giá không khác so với mức giá bán ở thị trường nước xuất khẩu và như vậy sẽ không bị coi là bán phá giá theo khái niệm phổ biến nêu trên Vì vậy, khái niệm bán phá giá bắt đầu được
mở rộng ra để bao gồm cả những trường hợp hàng hóa nhập khẩu có giá thấp hơn một mức chi phí sản xuất nào đó chứ không phải chỉ là mức giá của hàng hóa tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu
Trang 16Cùng với xu hướng mở rộng ra, khái niệm bán phá giá khi được luật hóa cũng trở nên chính xác hơn Thực tiễn các hoạt động kinh tế trong một quốc gia đã hết sức phong phú song thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế còn nhiều lần phong phú hơn Nếu chỉ quy định rằng bán phá giá là việc bán hàng hóa ở nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn giá của hàng hóa ở nước xuất khẩu thì sẽ rất khó xác định khi nào thì một lô hàng hóa xuất khẩu cụ thể có bán phá giá hay không Bởi vì hàng hóa có thể được sản xuất ra và tiêu thụ với nhiều mức giá khác nhau ngay tại thị trường nội địa Có thể là ngay giữa các khu vực khác nhau trong cùng thị trường nội địa mức giá của hàng hóa đã có thể không giống nhau Điều tương tự cũng xảy ra đối với giá của hàng hóa khi bán tại thị trường nhập khẩu Như vậy là rất khó xác định khi nào thì có bán phá giá và khi nào không Nếu so sánh giá tiêu thụ ở thị trường nhập khẩu với mức giá ở vùng đô thị của nước xuất khẩu thì có thể không có bán phá giá, trong khi đó nếu so sánh với mức giá ở vùng sâu vùng xa nơi
có chi phí vận chuyển và bảo quản cao thì có khi đã có bán phá giá
Chính vì đặc điểm trên đây nên luật lệ của WTO và Pháp luật về chống bán phá giá của các nước trên thế giới đều cố gắng lượng hóa khái niệm bán phá giá một cách chính xác ở mức độ tối đa có thể Để lượng hóa, người ta thường so sánh một mức giá bán nhất định của hàng hóa tại thị trường nhập khẩu với một giá trị nhất định của hàng hóa ở thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc ở thị trường khác tương tự với thị trường đó Nói một cách khác, đây là phép so sánh giữa “giá xuất khẩu” của hàng hóa với “giá trị thông thường” của hàng hóa theo các tiêu chí xác định Khái niệm bán phá giá được xác định theo cách này được thể hiện rõ nét trong quy định của WTO cụ thể tại khoản 1 Điều VI của GATT 1994 có nêu:
“Các bên ký kết công nhận rằng bán phá giá, theo đó hàng hóa của một nước được đưa vào thương mại ở một nước khác với giá trị thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó, phải bị lên án nếu như nó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại lớn đối với một ngành công nghiệp đã được thiết lập trên lãnh thổ của một nước ký kết hoặc cản trở nghiêm trọng việc thiết lập một ngành sản xuất nội địa.” (Đoạn 1, Điều
VI, GATT 1994)
Trang 17Hay tại khoản 2.1 Điều 2 Hiệp định về chống bán phá giá của WTO 1994 (ADA 1994) quy định:
“Trong phạm vi Hiệp định này, một hàng hóa bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại ở một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó) nếu như giá xuất khẩu của hàng hóa được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”
Như vậy, có thể nêu khái niệm bán phá giá từ góc độ pháp lý như sau:
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là một hiện tượng xảy ra khi một hàng hóa của nước này được xuất khẩu vào một nước khác với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa tương tự tại nước xuất khẩu
Trong khái niệm này, hai yếu tố mấu chốt để xác định bán phá giá là “giá xuất khẩu” (export price) và “giá trị thông thường” (normal value) sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định và tính toán theo những phương pháp và tiêu chí được quy định trong luật lệ của WTO và pháp luật quốc gia nước mình
1.1.3 Nguyên nhân bán phá giá
Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, có khá nhiều lý do để doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá của mình với mức giá thấp hơn giá ở thị trường trong nước hoặc thậm chí là thấp hơn mức chi phí nhất định Có một số nguyên nhân điển hình như sau:
Thứ nhất, khi một doanh nghiệp đã có vị thế tốt trong thị trường nội địa muốn phát triển một thị trường mới ở một nước khác bị phân cách bởi ranh giới địa
lý, họ sẽ phải chịu thêm các chi phí phụ trội như thuế nhập khẩu, chi phí chuyên chở, chi phí cho các rào cản kỹ thuật Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có thể muốn duy
Trang 18trì mức giá thấp cho hàng hóa của mình để tạo thế cạnh tranh mà không có ý định xâm hại tới môi trường cạnh tranh của thị trường mới
doanh nghiệp có thể sẽ có nhu cầu bán hàng với mức giá thấp để khuếch trương hàng hóa trong thị trường mới, đặc biệt khi doanh nghiệp đang theo đuổi chương trình khuyến mãi dài kỳ ở thị trường mới để chiếm lĩnh thị phần
hàng hóa ở thị trường trong nước đã bị khống chế bởi nhà nước hoặc bởi các tập đoàn mà doanh nghiệp là thành viên, doanh nghiệp có thể sẽ chỉ có cách lựa chọn duy nhất là hạ giá hàng hóa ở thị trường khác để cắt giảm lỗ
rất tốt trong nước và muốn chiếm lĩnh thị trường nước ngoài bằng cách loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ở thị trường nước ngoài Trong trường hợp đó, doanh nghiệp có thể lợi dụng sự vững chắc của thị phần trong nước để bán hàng hóa với mức giá rất thấp ở thị trường nước ngoài trong một thời gian dài nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ra khái thị trường đó Khi đó, mục đích cuối cùng mà doanh nghiệp hướng tới rất có thể là vị thế thống lĩnh thị trường để từ đó chiếm thế độc quyền tiếp theo là nâng giá bán để tối đa hoá lợi nhuận
thị trường mới, doanh nghiệp có thể sẽ bán hàng hóa thử nghiệm với mức giá thậm chí thấp hơn chi phí bỏ ra với mục đích dành được sự chú ý và chấp nhận của người tiêu dùng đối với hàng hóa mới
doanh nghiệp phải ký hợp đồng và ấn định giá bán hàng hóa trước khi bắt đầu sản xuất hàng hóa Những biến động giá đầu vào cùng với sự thiếu tính toán trước có thể làm cho mức giá ấn định trước thấp hơn so với chi phí sản xuất thực tế sau đó
công nghiệp luyện thép hoặc thu hoạch theo mùa như nông sản, luôn luôn có những
Trang 19thời kỳ hàng hóa bị dôi ra so với nhu cầu của thị trường Khi đó, doanh nghiệp không có cách nào khác phải bán hàng hóa dôi ra ở mức thấp hơn chi phí để cắt lỗ Đặc biệt đối với hàng nông sản đã đến kỳ thu hoạch không thể để lâu như hoa quả hay cá nuôi thương phẩm, việc bán với mức giá thấp hơn chi phí sản xuất để bù đắp
lỗ là điều gần như không thể tránh khái
Ngoài những nguyên nhân về phía các doanh nghiệp, trong một vài trường hợp,hành động bán phá giá còn được các quốc gia sử dụng để nhằm đạt được một
số mục tiêu về chính trị, ổn định kinh tế - xã hội tại quốc gia đó Chúng ta có thể phân tích và tổng hợp thành một số nhóm mục tiêu như sau:
* Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu Chính trị thao túng các nước khác
Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá gạo bây giờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác Mỹ sẵn sàng bỏ ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá giá Điều này làm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu vòng phong toả của
Mỹ Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng 400USD/ tấn, nhưng các nhà xuất khẩu gạo Mỹ sẵn sàng mua với giá 500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến 800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới chỉ bằng 60 - 70%, thậm chí đến 40% giá mua Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra Như vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 - 800 triệu USD/ năm để tài trợ giá xuất khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình Chính vì điều này mà mặc dù sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giá gạo trên thị trường thế giới
* Chính phủ tài trợ cho các doanh nghiệp để ổn định kinh tế - chính trị - xã
Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để đạt được sự cân bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách tối ưu Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích sau:
- Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu
Trang 20- Duy trì mức sử dụng nhất định đối với các yếu tố sản xuất như lao động và tiền vốn trong nền kinh tế Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuất cũng như cho người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau vì đều đưa đến những hệ quả tương tự
Những hình thức tài trợ chủ yếu là: Trợ cấp, ưu đãi về thuế, tận dụng ưu đãi,
sự tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ xuất khẩu
+ Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hướng vào giúp đỡ phát triển sản xuất Ở các nước công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm một nửa toàn bộ khối lượng tài trợ Tỷ trọng của các khoản trợ cấp cho từng ngành trong tổng số giúp đỡ của Chính phủ có sự khác nhau đỏng kể giữa các nước Như ở Anh, ý, Hà Lan thì trợ cấp chiếm phần lớn
+ Ưu đãi về thuế: Những ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho một số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt Chúng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, mặc dù ít khi được phản ánh trong các chỉ tiêu của Chính phủ vì chúng
là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất chuẩn Ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trị của chúng không lớn, còn ở Mỹ thì tổng số ưu đãi về thuế cho công nghiệp lớn gấp 3 lần khối lượng trợ cấp
+ Ưu đãi về tận dụng: Những ưu đãi về tận dụng là sự cho vay của Chính phủ với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trường vốn ở các nước thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoảng 14% tổng khối lượng giúp đỡ cho công nghiệp được thực hiện dưới hình thức tận dụng ưu đãi Phần lớn khối lượng tận dụng của Chính phủ Nhật Bản cấp cho các hãng vừa và nhỏ với lời suất thấp hơn ở lời suất thị trường vốn 0,5%
Các Chính phủ cũng thường xuyên bảo đảm các khoản tận dụng, tức là bảo lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ được Phương pháp tài trợ này thường dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất khẩu của nước mình Theo đánh giá, quy mô của tài trợ này chiếm vào khoản từ 2% đến 8% tổng tài trợ công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển
Trang 21+ Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh thường là 15% tổng tài trợ trở xuống Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu Nhà nước trong hoạt động kinh doanh có xu hướng giảm Phương pháp này được sử dụng để bù đắp những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy thoái
Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn được Chính phủ các nước phương Tây duy trì ở mức khá cao Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu
Như vậy có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế có rất nhiều lý do dẫn tới việc doanh nghiệp quyết định bán hàng hóa của mình với mức giá thấp hơn thị trường nội địa hoặc thậm chí là thấp hơn chi phí sản xuất, những trường hợp mà từ góc độ kinh tế có thể bị coi là bán phá giá Tuy nhiên, do tính hợp lý về mặt kinh tế của những trường hợp đó, khó có thể nói rằng tất cả các trường hợp bán phá giá đó đều có ý đồ xấu hay có hại đối với môi trường cạnh tranh hoặc nền kinh tế của nước nhập khẩu để áp dụng các biện pháp ngăn cản.Trong nhiều trường hợp làm như vậy chỉ tạo ra một sự bảo hộ không cần thiết cho ngành sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng như của toàn xã hội Những phân tích dưới đây sẽ phân loại những hoạt động bán phá giá căn cứ trên động cơ của doanh nghiệp bán phá giá để thấy rõ khía cạnh chủ quan của những hoạt động bán phá giá
1.1.4 Phân loại bán phá giá
Trong quá trình đàm phán dẫn tới Hiến chương Havana, những nước tham gia đàm phán chia bán phá giá thành bốn loại: bán phá giá về giá, bán phá giá dịch
vụ, bán phá giá hối đoái và bán phá giá xã hội Sau này chỉ có bán phá giá về giá được quy định chi tiết trong pháp luật thương mại quốc tế và trở thành khái niệm bán phá giá được sử dụng phổ biến hiện nay Đó cũng là khái niệm bán phá giá
Trang 22được nghiên cứu trong luận án này Với ý nghĩa đó, các nhà kinh tế học và luật học hiện đại nhìn chung chia các hoạt động bán phá giá thành 5 nhóm:
- Nhóm bán phá giá để mở rộng thị trường (market-expansion dumping): đây
là những hoạt động bán phá giá tại thị trường nhập khẩu với mức giá thấp hơn hoặc chỉ tăng hơn chút đỉnh so với giá ở nước xuất khẩu, song vẫn thấp hơn giá trung bình của hàng hóa đó ở thị trường nhập khẩu Mục đích của nhà xuất khẩu trong trường hợp này là mở rộng thị trường ở nước nhập khẩu Khi thực hiện loại hoạt động bán phá giá này, do biên độ dao động của nhu cầu tại nước nhập khẩu cao, nghĩa là người dân có thể chấp nhận các mức giá khác nhau với hàng hóa cùng loại
có chất lượng khác nhau, nên nhà xuất khẩu vẫn có thể có lãi cho dù là bán hàng hóa với mức bán phá giá
- Nhóm bán phá giá theo chu kỳ hay bán phá giá tuần hoàn (Cyclical dumping): động cơ của việc bán phá giá loại này là do chi phí cơ hội hay chi phí cận biên để sản xuất hàng hóa thấp do đặc thù của hoạt động sản xuất Nói một cách cụ thể hơn, khi vào một thời kỳ sản xuất nào đó mà nhà máy đã vận hành gần hết công suất và do đó, chi phí thêm để sản xuất thêm hàng hóa là rất thấp, nhà sản xuất sẽ có khả năng xuất khẩu những hàng hóa được sản xuất thêm đó sang thị trường nước khác với mức giá thấp mà vẫn có thể có lãi, ví dụ như ngành luyện thép trong thời
kỳ đang dôi dư hàng hóa v.v
- Nhóm bán phá giá trả đũa (Reciprocal dumping): Đây là nhóm các hoạt động bán phá giá mới xảy ra trong những năm gần đây Hoạt động này được thực hiện khi một vài công ty cùng sản xuất một loại hàng hoá và cùng chiếm phần lớn thị phần ở nước mình Các công ty này đều muốn mở rộng thị trường sang nước khác và vì thế bán phá giá hàng hóa Tuy nhiên, giá bán vẫn cao hơn chi phí cận biên và chi phí vận tải Khi đó, đối thủ cạnh tranh ở nước nhập khẩu cũng muốn cạnh tranh lại Vì thế họ cũng bán hàng hóa theo cách tương tự ở nước xuất khẩu ban đầu Lúc này, thị trường hai nước giống như hai mảng thị trường ở một quốc gia vậy và doanh nghiệp xuất khẩu của nước này bán phá giá để trả đũa hoạt động
Trang 23bán phá giá của doanh nghiệp xuất khẩu của nước kia Trường hợp này khá phổ biến đối với ngành sản xuất các mặt hàng mới cho nền kinh tế thế giới, bởi vì khi đó
số lượng nhà sản xuất loại hàng hóa đó đang còn ít và dễ khống chế giá bán của hàng hóa ở thị trường nội địa của mình
- Nhóm bán phá giá chiến lược (strategic dumping): đây là những hoạt động bán phá giá nhằm tới mục đích gây tổn hại cho các công ty cạnh tranh ở nước nhập khẩu Nhà xuất khẩu trong trường hợp này có xu hướng bán phá giá một cách có chiến lược và dài hạn với hai yếu tố là bán giá thấp tại thị trường nhập khẩu đồng thời ngăn cản nhà xuất khẩu của nước nhập khẩu thâm nhập thị trường của nước xuất khẩu Trường hợp này hay xảy ra đối với những công ty có quy mô thị phần lớn ở nước xuất khẩu Khi đã có những thị phần đủ lớn để khống chế thị trường của nước mình thì các nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng chiếm ưu thế cạnh tranh so với những đối thủ đến từ các nước khác và qua đó dễ dàng không cho nhà xuất khẩu nước khác thâm nhập thị trường nước mình Hoạt động bán phá giá trong trường hợp này được diễn ra trong một thời gian tương đối dài và có những bước đi thích hợp gây hại tới sức cạnh tranh của những đối thủ cạnh tranh ở nước nhập khẩu
- Nhóm bán phá giá nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh tranh (predatory dumping hay còn gọi là predatory pricing): đây là loại bán phá giá được quan tâm nhiều nhất trong các nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn về bán phá giá Marceau cho rằng bán phá giá nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh tranh (gọi tắt là bán phá giá tiêu diệt)
là bán hàng hóa xuất khẩu với mức giá thấp nhằm mục đích loại các đối thủ cạnh tranh ra khái thị trường nhằm giành được vị trí thống lĩnh trên thị trường nước nhập khẩu Giá của hàng hóa trong trường hợp này thường thấp hơn cả chi phí sản xuất theo một cách tính nào đó Có ba loại chi phí thường được sử dụng nhiều nhất:
+ Chi phí thực tế (true economic costs): đây là các chi phí đã được sử dụng
để sản xuất ra hàng hóa, được tính theo các hóa đơn đầu vào của quá trình sản xuất + Chi phí cơ hội (opportunity costs): đây là mức chi phí có được do cơ hội đặc biệt tạo ra có thể do lạm phát cục bộ hoặc giá cả đầu vào một số nguyên vật liệu chủ chốt giảm đột ngột v.v
Trang 24+ Chi phí cận biên (marginal cost): đây là chi phí cần thêm để sản xuất ra thêm một số lượng sản phẩm nào đó sau khi dây chuyền đã sản xuất được hết theo mức hiện có Ví dụ các chi phí đầu vào đã được xác định để sản xuất ra 500 sản phẩm Nhưng trên thực tế sau khi sản xuất xong 500 sản phẩm thì chỉ cần thêm một
số chi phí nhất định thêm vào là có thể sản xuất thêm 300 sản phẩm nữa cũng trên dây chuyền đó Trường hợp đó chi phí thêm vào kia được gọi là chi phí cận biên và thường rất thấp vì thực tế những chi phí đầu tư để sản xuất ra 500 sản phẩm ban đầu vẫn được sử dụng để sản xuất ra 300 sản phẩm sau
Bán với mức giá thấp hơn chi phí có nghĩa là nhà sản xuất đã chấp nhận chịu
lỗ trong một thời gian dài để hy vọng sẽ có được lãi suất đủ lớn trong tương lai từ vị trí thống lĩnh thị trường Theo Trebilcock và Howse, bán phá giá tiêu diệt là việc bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí một cách có hệ thống để đe doạ hoặc/và loại
bỏ đối thủ ra khái thị trường để rồi sau đó sẽ thu lại lợi nhuận bù đắp bằng cách đẩy giá hàng hóa lên cao hơn mức bình thường nếu có tình trạng độc quyền Theo Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), bán phá giá tiêu diệt là một chiến lược dài
kỳ, thường là của một doanh nghiệp đã có vị trí thống lĩnh trong thị trường, nhằm loại trừ các đối thủ cạnh tranh ra khái thị trường bằng cách áp giá bán hàng hóa rất thấp hoặc thậm chí là dưới mức chi phí thay đổi trung bình (average variable cost) Một khi doanh nghiệp này đã loại trừ được các đối thủ cạnh tranh hiện tại và ngăn ngừa được các đối thủ mới muốn xâm nhập thị trường nó có thể sẽ nâng giá bán hàng hóa và kiếm được lợi nhuận nhiều hơn thông thường
Như vậy, bán phá giá tiêu diệt là một hình thức phức tạp của hành vi bán phá giá Cho dù là được nhìn nhận từ quan điểm nào thì nó cũng gồm có ba dấu hiệu Thứ nhất, doanh nghiệp bán giá hàng hóa tại thị trường nhập khẩu với mức giá rất thấp và trong một khoảng thời gian đủ dài để cho thấy tính hệ thống Thứ hai, việc bán giá thấp đó nhằm mục tiêu loại trừ các đối thủ cạnh tranh ra khái thị trường và ngăn ngừa đối thủ cạnh tranh mới vào thị trường Như vậy, các đối thủ cạnh tranh bị loại ra khái thị trường không phải vì lý do họ hoạt động không hiệu quả mà bởi vì
họ không thể có đủ tiềm lực để chạy đua chịu lỗ với doanh nghiệp bán phá giá tiêu
Trang 25diệt Thứ ba, doanh nghiệp bán phá giá tiêu diệt chấp nhận chịu lỗ cao khi bán hàng hóa với hy vọng sẽ thu lại lợi nhuận đủ bù đắp khi sau này đã chiếm lĩnh được vị trí độc quyền hoặc thống lĩnh toàn bộ thị trường Trong ba dấu hiệu này, hai dấu hiệu đầu tiên là quan trọng nhất và thường được dựng làm căn cứ để xác định xem đã có hành vi bán phá giá tiêu diệt xảy ra hay chưa Dấu hiệu thứ ba liên quan đến ý chí chủ quan của doanh nghiệp và rất khó có bằng chứng cụ thể để xác định Nó chỉ được coi là dấu hiệu phái sinh vì thường được suy diễn từ hai dấu hiệu trước, bởi vì nếu căn cứ vào động cơ lợi nhuận thì sẽ là vô nghĩa nếu doanh nghiệp cứ bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí để chịu lỗ mà không hy vọng vào cơ hội bù đắp bằng lãi sau này Chính vì thế nếu mức giá chịu lỗ càng thấp hơn mức chi phí sản xuất thấp nhất và việc bán giá kiểu này tiến hành trong một thời gian dài hoặc có hệ thống thì dấu hiệu thứ ba cũng như hành vi bán phá giá tiêu diệt càng được coi là rõ ràng
1.1.5 Tác động của bán phá giá
Với những phân tích trên đây, có thể thấy tác động tới nền kinh tế của cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu của các loại hình bán phá giá là tương đối rõ ràng trên một số lĩnh vực
1.5.1.1 Đối với nền kinh tế nước nhập khẩu
Tác động ngay lập tức từ các hàng hoá được nhập khẩu với giá rẻ vào thị trường nước nhập khẩu, những loại hàng hoá đó sẽ làm cho mặt bằng giá cả trên thị trường nói chung có xu hướng giảm đi Điều này trước tiên sẽ có lợi cho người tiêu dựng bởi họ sẽ có được cơ hội mua được hàng hoá cùng loại với giá rẻ hơn mức giá trước đó Tổng nguồn cung hàng từ phía các nhà sản xuất nội địa sẽ có xu hướng giảm đi do một phần thị trường nhất định đã bị hàng hóa nhập khẩu chiếm lĩnh Tuy nhiên, tổng nguồn cung hàng trên thị trường thì chưa chắc đã giảm đi mà có thể nói
có xu hương tăng lên với nguồn cung bên ngoài
Trang 26Về khía cạnh phân phối thu nhập trong nền kinh tế thì việc xuất hiện của hàng hóa nhập khẩu giá rẻ hơn ngay lập tức sẽ làm cho thị phần của các doanh nghiệp nội địa bị co lại Họ sẽ đầu tư ít hơn và có thể sẽ phải mất đi lợi nhuận do thị trường bị chia sẻ Việc làm tại các doanh nghiệp bị tái cấu trúc vì thế có thể sẽ bị cắt giảm Tuy nhiên, tổng tiết kiệm tiêu dựng trong xã hội sẽ có xu hướng tăng lên, đồng nghĩa với nguồn tiền trong xã hội hướng ra mục đích khác như mua sắm các loại hàng hoá khác hay đầu tư kinh doanh sẽ có xu hướng tăng lên
Đối với môi trường kinh doanh, sự tham gia của doanh nghiệp nước ngoài với mức giá bán hàng hóa thấp thoạt tiên sẽ làm cho môi trường kinh doanh ở nước nhập khẩu có tính cạnh tranh hơn Các doanh nghiệp nội địa cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu khác sẽ có xu hướng giảm giá hàng hóa hoặc tăng cường chất lượng hay quảng bá hàng hóa để thúc đẩy tính cạnh tranh của hàng hóa của mình Nếu các doanh nghiệp trong nước có đủ nội lực để duy trì thị trường thì các hoạt động bán phá giá từ bên ngoài, đặc biệt là ba loại hình bán phá giá đầu tiên như phân tích trên đây, sẽ chỉ làm cho thị trường nhập khẩu mang tính cạnh tranh hơn, hàng hoá sẽ càng rẻ hơn và chất lượng tốt hơn Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp nội địa không đủ tiềm lực để duy trì sự cạnh tranh, đặc biệt khi doanh nghiệp nhập khẩu theo đuổi hành vi bán phá giá thuộc loại thứ tư và thứ năm thì lúc đó họ sẽ bị yếu thế dần và biến mất Khi đó, môi trường cạnh tranh ở nước nhập khẩu có thể nói là
tế nói chung lại là những người được hưởng lợi từ giá rẻ Thật khó có thể xác định được giữa những cái lợi – hại này, cái nào lớn hơn cái nào
Trang 271.1.5.2 Đối với nền kinh tế nước xuất khẩu
Nhìn chung, tác động của các hành vi bán phá giá đối với nền kinh tế nước xuất khẩu là tích cực Cho dù giá bán ở thị trường nước ngoài có thấp nhưng nếu vẫn đủ để có lãi thì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn sẽ được duy trì và mở rộng Họ sẽ có nhiều cơ hội thu lãi nhiều hơn, đồng thời
có khả năng tái đầu tư hay đầu tư sang loại hình hàng hóa mới một cách tốt hơn Theo đó việc làm trong xã hội và kéo theo đó là phúc lợi xã hội cũng sẽ được gia tăng Tác hại có thể thấy được duy nhất đó là trong trường hợp doanh nghiệp giữ mức giá bán dưới chi phí sản xuất quá lâu dẫn tới vượt quá cả nội lực của mình Tuy nhiên, điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp và trên thực
tế nó khó xảy ra nếu doanh nghiệp có chiến lược và năng lực quản lý tốt
Như vậy, có thể thấy các hành vi bán phá giá nói chung, tức là bán giá thấp hơn giá nội địa hoặc dưới mức chi phí sản xuất tại một thị trường xuất khẩu, không phải lúc nào cũng chỉ có hại tới nền kinh tế của nước nhập khẩu hay nước xuất khẩu Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu luôn nhìn nhận vấn đề lợi – hại của bán phá giá từ lăng kính riêng của mình phù hợp với bản tính của một
cơ quan nhà nước Lăng kính này luôn được chiếu từ hai góc độ Góc độ thứ nhất là lợi ích của các doanh nghiệp nội địa sản xuất những hàng hóa đang bị hàng hóa bán phá giá cạnh tranh Từ góc độ này, việc bán phá giá luôn luôn có hại bởi vì hàng hóa nhập khẩu giá rẻ sẽ cạnh tranh trực tiếp và chiếm thị trường của hàng hóa sản xuất trong nước Góc độ thứ hai là lợi ích của người tiêu dựng hay còn gọi là lợi ích của công chúng Từ góc độ này việc bán phá giá có thể đem lại lợi ích hay thiệt hại, trước mắt hay lâu dài Tuy nhiên, trong lăng kính của cơ quan có thẩm quyền chống bán phá giá của nước nhập khẩu, góc độ thứ nhất luôn được ưu tiên hơn Chính vì vậy mà các nước có hàng hóa nhập khẩu bán phá giá luôn tìm cách áp dụng các biện pháp đối phó với vấn đề này để bảo vệ cho ngành sản xuất trong nước trước hàng hóa bán phá giá Như vậy, có thể thấy song song tồn tại với khái niệm bán phá giá
sẽ là khái niệm chống bán phá giá, khái niệm đó sẽ được đề cập đến ngay trong phần dưới đây
Trang 281.2 Chống bán phá giá
1.2.1 Khái niệm chống bán phá giá
Do tác động của bán phá giá và đặc biệt là tác động tới ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu mà tại các nước này luôn có xu hướng làm hạn chế các tác động được cho là tiêu cực đó Có thể có nhiều biện pháp để hạn chế các tác động tiêu cực của bán phá giá Bản thân các doanh nghiệp của nước nhập khẩu bị tác động bởi bán phá giá có thể tự mình tìm hiểu nguyên nhân làm cho doanh nghiệp của mình kém cạnh tranh hơn so với sản phẩm nhập khẩu bán phá giá Qua đó doanh nghiệp tự cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý để giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả cạnh tranh của sản phẩm của mình Tuy nhiên, biện pháp này có thể gây nhiều khó khăn ban đầu về mặt tài chính đối với doanh nghiệp của nước nhập khẩu đồng thời nó cũng đòi hỏi thời gian áp dụng lâu dài
Biện pháp thứ hai có thể áp dụng để đối phó với hàng hóa bán phá giá là bản thân chính phủ nước nhập khẩu ra tay trợ giúp ngành sản xuất nội địa của mình bằng các khoản trợ cấp tài chính dưới các hình thức tín dụng lãi suất thấp, thưởng khuyến khích sản xuất v.v Tuy nhiên, biện pháp này cũng có nhược điểm là phải chi tiêu từ ngân sách của nước nhập khẩu
Biện pháp thứ ba có thể áp dụng là thực hiện chống bán phá giá như một hình thức chế tài trực tiếp chống lại sản phẩm nhập khẩu có bán phá giá Đây thường là hình thức được chính phủ các nước nhập khẩu ưa chuộng nhất bởi vì nó là một biện pháp mang tính chất hành chính, không đòi hỏi nguồn lực tài chính trực tiếp từ các doanh nghiệp nội địa của nước nhập khẩu, cũng không đòi hỏi trợ cấp từ ngân sách của nước nhập khẩu Thông qua chống bán phá giá, chính phủ nước nhập khẩu còn thu được những khoản tài chính nhất định từ việc đánh thuế chống bán phá giá lên sản phẩm nhập khẩu có bán phá giá để bù đắp chi phí cho hoạt động điều tra chống bán phá giá và điều tiết ngược trở lại cho các doanh nghiệp sản xuất nội địa bị thiệt hại do sản phẩm nhập khẩu có bán phá giá Từ đó, có thể rút ra khái niệm chống bán phá giá như sau:
Trang 29Chống bán phá giá là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu bán phá giá để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu bán phá giá đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước mình
1.2.2 Pháp luật về chống bán phá giá
Để được thực hiện một cách hợp pháp và có hiệu quả, việc chống bán phá giá thường được luật hóa Với đặc tính quyền lực, có tính bắt buộc cao được bảo đảm bởi các chế tài, pháp luật luôn được coi là công cụ hữu hiệu nhất thể chế hóa các chính sách chống bán phá giá của nước nhập khẩu Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật hoặc những chế định pháp luật riêng để điều chỉnh vấn đề chống bán phá giá Ở cấp quốc tế cũng tồn tại hệ thống những quy định về chống bán phá giá trong khuôn khổ của WTO, ví dụ Điều
VI GATT 1994 và Hiệp định về việc thực thi Điều VI GATT 1994 thường được gọi với tên là Hiệp định chống bán phá giá năm 1994 – ADA 1994 Các nước thành viên của WTO đều đã thể chế hóa hoặc công nhận những quy định của hiệp định này trong khuôn khổ Pháp luật về chống bán phá giá của nước mình Như vậy có thể nêu khái niệm pháp luật về chống bán phá giá như sau:
Pháp luật về chống bán phá giá của một quốc gia là pháp luật do cơ quan
có thẩm quyền của quốc gia đó ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bán phá giá và chống bán phá giá với mục đích trước tiên là bảo hộ sản xuất trong nước
Pháp luật về chống bán phá giá của một quốc gia có thể có các loại nguồn khác nhau tùy thuộc vào truyền thống và văn hóa pháp luật của quốc gia đó Nguồn của Pháp luật về chống bán phá giá có thể là điều ước quốc tế, văn bản quy phạm pháp luật (hầu hết các nước có pháp luật về chống bán phá giá) hay các án lệ của tòa án (ví dụ Hoa Kỳ, Anh và các nước theo hệ thống Thông luật)
Trang 30Pháp luật về chống bán phá giá của các quốc gia thường bao gồm một số các chế định cơ bản điều chỉnh những vấn đề chung của bán phá giá và chống bán phá giá như:
- Chế định về xác định việc bán phá giá: chế định này bao gồm các quy định
về các điều kiện để xác định việc bán phá giá, cách thức xác định các điều kiện đó, các quy định về cung cấp chứng cứ phục vụ điều tra v.v
- Chế định về xác định thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu: chế định này bao gồm các quy định về khái niệm ngành sản xuất nội địa, các mức độ thiệt hại vật chất có thể dẫn tới biện pháp chống bán phá giá, cách thức xác định các mức độ thiệt hại đó v.v
- Chế định về xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giávà thiệt hại vật chất: chế định này bao gồm các quy định về cách thức xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu, những trường hợp ngoại lệ không được coi là có mối quan hệ nhân quả đó v.v
- Chế định về các biện pháp chống bán phá giá cụ thể: chế định này bao gồm các quy định về các biện pháp chống bán phá giá cụ thể mà cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu được phép áp dụng, điều kiện áp dụng và cách thức xác định mức cụ thể khi áp dụng, thời hạn áp dụng v.v
- Chế định về thủ tục rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá: chế định này bao gồm các quy định về các hình thức rà soát, điều kiện áp dụng các hình thức rà soát, cơ quan có thẩm quyền rà soát, thời hạn và nội dung tiến hành đối với từng thủ tục rà soát cụ thể v.v
Trang 311.3 Lịch sử pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về chống bán phá giá đầu tiên ở một số quốc gia
Bán phá giá hàng xuất khẩu là hiện tượng gắn liền với kỷ nguyên công nghiệp hoá diễn ra ở châu Âu ngay từ thế kỷ thứ 17 và sau đó nhanh chóng trở thành một hiện tượng phổ biến của thế giới Ngay từ khi xuất hiện, hiện tượng này
đã được xem như một mối đe dọa đối với nền kinh tế của nước nhập khẩu Vì vậy, không chỉ các doanh nghiệp của nước nhập khẩu trực tiếp bị ảnh hưởng bày tỏ sự quan ngại đối với thực tiễn này mà ngay cả chính phủ các nước nhập khẩu cũng có chung mối quan ngại đó Các nước nhập khẩu ngay lập tức đã có những hình thức can thiệp nhằm ngăn chặn bán phá giá và giảm thiểu tác động của bán phá giá lên các đối thủ cạnh tranh nội địa Biện pháp mà các quốc gia thường sử dụng để đối phó với bán phá giá trong thời gian đầu, khoảng thế kỷ 17, 18 là tăng cao mức thuế nhập khẩu hoặc cấm nhập khẩu đối với hàng hóa bán phá giá
Mãi cho tới đầu thế kỷ 20, khi việc sử dụng thuế nhập khẩu để ngăn chặn hàng hoá bán phá giá tỏ rõ nhiều bất cập, các quốc gia mới bắt đầu ban hành luật riêng về chống bán phá giá Canada là nước đầu tiên sửa đổi luật thuế nhập khẩu của mình để có một phần riêng quy định về thuế chống bán phá giá vào năm 1904, qua đó trở thành nước đầu tiên trên thế giới ban hành luật chống bán phá giá Ý tưởng ban đầu của luật chống bán phá giá này là ấn định một mức thuế đặc biệt đối với các hàng hóa nhập khẩu bán phá giá Mục đích của nó là vừa bảo vệ được các doanh nghiệp cùng ngành hàng ở trong nước trước hàng hoá bị bán phá giá, vừa không phải thay đổi khung thuế nhập khẩu Lúc đó, việc áp dụng thuế nhập khẩu để đối phó với bán phá giá được xem là không phù hợp Bởi lẽ thuế nhập khẩu là thuế
áp dụng chung đối với mọi hàng hoá nhập khẩu và có tính ổn định tương đối, trong khi đó bán phá giá là những vụ việc cụ thể được xem là những trường hợp ngoại lệ
và tạm thời của luồng hàng hoá nhập khẩu Để đối phó với những trường hợp ngoại
Trang 32lệ này cần có những biện pháp cụ thể mang tính linh hoạt cho từng trường hợp, và
đó chính là thuế chống bán phá giá
Mô hình pháp luật về chống bán phá giá của Canada nhằm trao quyền kiểm soát chống bán phá giá cho một vài cơ quan có thẩm quyền độc lập trong chính phủ, thường là các cơ quan cũng đồng thời chịu trách nhiệm kiểm soát thuế nhập khẩu và các loại thuế đặc biệt khác Các cơ quan này cũng được áp thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu khi có hai điều kiện xảy ra Thứ nhất là phải có hiện tượng bán phá giá, tức là chứng minh được rằng giá xuất khẩu của một hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá trị của chính hàng hóa đó ở thị trường nội địa Thứ hai là hàng hóa nhập khẩu đó phải cùng loại hoặc tương tự như một hay một số hàng hóa cùng loại nào đó được sản xuất ở nước nhập khẩu Điều kiện này cho thấy rõ Pháp luật về chống bán phá giá được đặt ra để bảo hộ các nhà sản xuất nội địa chứ không phải để bảo vệ người tiêu dựng Vì vậy, nếu nền kinh tế của nước nhập khẩu không
có ngành công nghiệp sản xuất mặt hàng đó thì cho dù có hiện tượng bán phá giá xảy ra để các nhà nhập khẩu triệt tiêu lẫn nhau đi chăng nữa thì luật chống bán phá giá cũng vẫn không được áp dụng
Sau khi được ban hành, Pháp luật về chống bán phá giá của Canada đã tỏ rõ tác dụng của nó trong việc bảo hộ các nhà sản xuất nội địa trước luồng hàng hoá giá
rẻ từ nước ngoài tràn vào Vì vậy, Pháp luật về chống bán phá giá của nước này đã nhanh chóng trở thành hình mẫu để các nước khác noi theo Cho đến năm 1921, mô hình Pháp luật về chống bán phá giá của Canada đã được du nhập vào Nam phi (1914), Hoa Kỳ (1916, sau đó được sửa đổi bổ sung năm 1921), Úc (1921), Vương quốc Anh (1921), New Zealand (1921) Tuy nhiên, các nước này cũng không hoàn toàn chỉ du nhập một cách nguyên vẹn mô hình của Canada mà có sự học hỏi lẫn nhau Ví dụ, khi Úc xây dựng luật về chống bán phá giá đầu tiên năm 1906, họ đã lần đầu tiên đưa vào Pháp luật về chống bán phá giá của mình (Luật bảo tồn các ngành công nghiệp Úc (Australian Industries Preservation Act)) khái niệm “thiệt hại” (injury) Theo đó để trừng phạt một hành vi bán phá giá, cụ thể là áp thuế chống bán phá giá, thì chỉ có hành vi bán phá giá không thôi thì chưa đủ mà việc
Trang 33bán phá giá đó phải gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho ngành công nghiệp bản địa Trên thực tế có thể có những hành vi thực sự là bán hàng hoá xuất khẩu với mức giá thấp hơn ở thị trường xuất hàng đi, Tuy nhiên, ngành sản xuất nội địa thích ứng nhanh và tự nâng cao khả năng cạnh tranh của mình một cách kịp thời và trên thực tế không có thiệt hại nào xảy ra Khi đó, việc trừng phạt hành vi bán phá giá là không cần thiết, bởi vì trong trường hợp đó người tiêu dựng sẽ là người được hưởng lợi cuối cùng
Khái niệm “thiệt hại” này sau đó đã được Hoa Kỳ tiếp thu khi ban hành Luật chống bán phá giá đầu tiên của mình năm 1916 và đến năm 1921 khi Luật này được Hoa Kỳ hoàn thiện thêm thì khái niệm và cách thức xác định giá trị thị trường nội địa (home market value) của hàng hóa bán phá giá, vốn được quy định khá chung chung ở Luật 1916, được quy định rõ ràng hơn Cụ thể Pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ lúc đó cho phép sử dụng chi phí sản xuất (cost of production) hoặc tổng giá trị hợp lý và chi phí sản xuất (fair value and cost of production) để đối chiếu nhằm xác định bán phá giá
Trong số các luật chống bán phá giá thời kỳ đầu tiên này, Luật chống bán phá giá năm 1921 của Hoa Kỳ được giới học giả cũng như giới quản lý nhà nước xem là có nội dung ưu việt nhất thời bấy giờ Chính luật này trong vài thập kỷ sau
đó đã trở thành hình mẫu để xây dựng nên nền tảng của các quy định về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế mà cụ thể là các quy định của GATT sau này
1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về chống bán phá giá
Hoạt động bán phá giá tự bản thân nó đã là một hoạt động mang tính xuyên quốc gia Các nước ngay lập tức đã thấy lợi ích của mình bị tác động bởi các hành
vi bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá, cho dù đó là nước có doanh nghiệp bán phá giá ra nước khác hay bản thân nền kinh tế nước đó đang bị ảnh hưởng bởi hàng hoá bị bán phá giá Chính vì vậy, cũng là điều dễ hiểu khi không lâu sau khi bán phá giá trở thành mối quan tâm của chính phủ các nước thì nó đã trở
Trang 34thành mối quan tâm chung trên phạm vi quốc tế Hội Quốc liên (the League of Nations), một trong những tổ chức quốc tế liên chính phủ đầu tiên trên thế giới tiền thân của Liên Hợp quốc đã có sự quan tâm rất sớm tới bán phá giá mặc dù đây là vấn đề không liên quan trực tiếp tới mục đích chính trị và ngoại giao mà tổ chức này vẫn theo đuổi Tuy vậy, những nỗ lực của Hội Quốc liên đối với vấn đề bán phá giá cũng chỉ dừng lại ở việc soạn thảo một Bản ghi nhớ về bán phá giá (Memorandum on Dumping) không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên Đến hội nghị Bretton Woods (1944-1945), vấn đề bán phá giá
đã được chính thức nêu ra để thảo luận trong phạm vi thương mại quốc tế đa phương
Ngày 5/3/1946, Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp quốc thông qua một nghị quyết thành lập một uỷ ban chuẩn bị cho Hội nghị của Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển Để đóng góp cho Hội nghị này và trong khuôn khổ thực hiện Hiệp định Bretton Woods, Hoa Kỳ đã đệ trình dự thảo Hiến chương thành lập
Tổ chức thương mại quốc tế ITO (International Trade Organization) Hiến chương này đã được thông qua tại La Havana năm 1948 (Hiến chương Havana) có đưa ra những điều khoản cơ bản để thành lập một Tổ chức thương mại quốc tế Tuy rằng tổ chức này sau đó không được thành lập nhưng Chương 4 của bản Hiến chương đó, phần liên quan tới chính sách thương mại cũng đã được thể hiện trong quy định của GATT năm 1947 Một trong những nội dung được đưa vào đã trở thành Điều VI nổi tiếng của GATT 1947 về chống bán phá giá Mục đích của Điều VI khi đó không phải là để kiểm soát bán phá giá mà là để quy định về việc thi hành các biện pháp chống bán phá giá Do được Hoa Kỳ chủ trì soạn thảo nên Điều VI có rất nhiều điểm tương đồng với Luật 1921 của Hoa Kỳ về chống bán phá giá; nó cũng quy định rằng một trong những điều kiện để trừng phạt hành vi bán phá giá là nó phải gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho nền kinh tế của nước nhập khẩu
Tuy vậy, về thực chất, GATT 1947 không hề coi bản thân bán phá giá là một thực tiễn kinh doanh đáng lên án Nó chỉ đơn giản cho phép nước nhập khẩu được phép phản ứng lại đối với hàng hoá bán phá giá nhập khẩu vào nước mình Nhưng,
Trang 35nước xuất khẩu thì không bị lên án vì đã dung túng cho hành vi bán phá giá; họ không có nghĩa vụ phải bảo đảm không có việc bán phá giá từ nước mình Dù sao, Điều VI của GATT 1947 đã giữ vai trò là xương sống cho Pháp luật về chống bán phá giá quốc tế trong suốt thời gian sau đó, cho đến khi nó được thay thế bởi điều khoản tương ứng của GATT 1994
Trên thực tế, trong suốt giai đoạn từ 1947 đến 1994, Điều VI của GATT
1947 cũng không phải là điều khoản duy nhất của pháp luật quốc tế điều chỉnh về bán phá giá Nội dung quy định của Điều VI có nhiều điểm không rõ ràng và dễ dẫn tới việc hiểu và áp dụng không thống nhất Chính vì vậy, trong những vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT tiếp sau đó, nhiều quan ngại đã được đặt ra xung quanh tính thực thi của Điều VI Chính vì vậy mà trong quá trình đàm phán ở Vòng Kennedy (1964-1967), các nước đã thông qua Bộ luật về chống bán phá giá của GATT (Antidumping Code – GATT/ADC 1967), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/1968 Bộ luật này đưa ra những quy định nội dung và thủ tục chi tiết hơn làm cơ
sở pháp lý cho việc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá Cụ thể, Bộ luật quy định chỉ được áp đặt thuế chống bán phá giá tạm tính khi có đầy đủ bằng chứng sơ
bộ cho thấy đã có hành vi bán phá giá và thiệt hại Nó cũng không cho phép áp đặt các mức thuế chống bán phá giá có giá trị hồi tố Đồng thời Bộ luật cũng khuyến khích việc áp thuế chống bán phá giá thấp hơn mức biên độ phá giá (dumping margin) nếu như bản thân mức đó đã đủ để bù đắp thiệt hại Về các quy định nội dung, Bộ luật này định nghĩa rõ hơn về thuật ngữ “ngành sản xuất nội địa” đề cập ở Điều VI Theo đó, ngành sản xuất nội địa bao gồm tổng thể các nhà sản xuất trong nước của nước nhập khẩu sản xuất ra sản phẩm tương tự với sản phẩm bị điều tra hoặc những nhà sản xuất trong nước mà có đầu ra sản phẩm khi kết hợp với nhau thì tạo thành phần lớn trong tổng sản phẩm đó
Trên cơ sở kế thừa, GATT/ADC 1967 cũng còn là sự bổ sung quan trọng cho Điều VI của GATT 1947 điều chỉnh về chống bán phá giá từ góc độ pháp luật quốc
tế Nó đã làm rõ hơn đáng kể nhiều điểm còn mập mờ, chưa rõ nghĩa của Điều VI Tuy nhiên, bản thân nó cũng có những bất cập nhất định Bất cập lớn nhất nằm ở
Trang 36nội dung quy định về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại của ngành sản xuất nội địa Theo đó, GATT/ADC 1967 quy định cụ thể rằng hành
vi bán phá giá phải rõ ràng là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại Quy định này đã gây nhiều khó khăn cho việc áp dụng trên thực tiễn bởi nó yêu cầu một cách quá cụ thể rằng nước nhập khẩu phải chứng minh được hành vi bán phá giá chứ không phải hành vi nào khác là nguyên nhân dẫn tới thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa
Để khắc phục những bất cập của GATT/ADC 1967, các nước thành viên đã đàm phán và ký kết một hiệp định mới trong khuôn khổ Vòng đàm phán Tokyo (1973-1979), được gọi là Hiệp định chống bán phá giá 1979 (Antidumping Agreement 1979-ADA 1979) Trong Hiệp định này, điều kiện về mối quan hệ nhân quả đã được quy định linh hoạt hơn để các nước nhập khẩu dễ áp dụng Hiệp định này chỉ quy định rằng: “nếu những thiệt hại được gây ra bởi những nhân tố khác thì những thiệt hại đó không thể bị quy cho hành vi bán phá giá” (Điều 3.5, ADA 1979)
Ngoài ra ADA 1979 còn mở rộng thêm các quy định về việc xác định và quản lý giá và số lượng hàng nhập khẩu Nó cũng giới hạn chặt chẽ hơn nữa các mức thuế chống bán phá giá có hiệu lực hồi tố, đồng thời yêu cầu các thủ tục điều tra và áp thuế chống bán phá giá hoàn tất trong vòng một năm nếu không có lý do đặc biệt
Nhìn chung, sau Vòng đàm phán Tokyo 1979, với sự ra đời của ADA 1979 thì các quy định về chống bán phá giá của GATT 1947 đã được hoàn thiện thêm một bước
Kể từ khi được ký kết, GATT 1947 trong đó có sự đóng góp của các quy định của nó về chống bán phá giá đã có được những thành công đáng kể trong việc giảm bớt các hàng rào thuế quan và kiểm soát các rào cản phi thuế quan Tuy nhiên,
do yếu tố lịch sử khi thành lập nên bản thân nó có những nhược điểm không dễ dàng khắc phục, ví dụ như phạm vi điều chỉnh hẹp, bản chất lâm thời và thiếu vắng
đi một bộ khung thiết chế bền vững và ổn định Chính vì vậy mà ngay sau khi
Trang 37GATT 1947 được ký kết, các nước đã tiến hành những vòng đàm phán tiếp theo để bàn về việc cắt giảm thuế quan và các vấn đề liên quan tới tự do hóa thương mại Ở vòng đàm phán cuối cùng, vòng đàm phán thứ tám, diễn ra từ năm 1986 đến năm
1994 (Vòng đàm phán Uruguay), 125 nước thành viên đã đạt được một thành quả quan trọng là ký kết với nhau hiệp định thành lập nên Tổ chức thương mại thế giới (The World Trade Organization - WTO), hay còn gọi là Hiệp định Marakesh Hiệp định thành lập WTO bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/1995 với 16 điều khoản nội dung và phần Phụ lục bao gồm các Hiệp định thương mại đa biên trong khuôn khổ WTO, trong số đó có Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT 1994) và Hiệp định về việc thực thi điều VI của GATT 1994 (thường được gọi là Hiệp định về chống bán phá giá 1994 hay ADA 1994) Sau khi các văn kiện thành lập WTO được
ký kết và chính thức có hiệu lực, Điều VI của GATT 1994 và ADA 1994 đã thay thế Điều VI của GATT 1947 và ADA 1979 Đó cũng chính là bộ khung quy phạm pháp luật hiện hành của WTO điều chỉnh về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế (Theo quy định của GATT 1994 thì toàn bộ nội dung của GATT 1947, trong đó có Điều VI, đã trở thành một phần của GATT 1994 Sau khi GATT 1994
có hiệu lực thì GATT 1947 trên thực tế cũng không còn được viện dẫn trong các cam kết quốc tế ADA cũng mang tên gọi là Hiệp định về việc thực thi Điều VI của GATT 1994 chứ không phải GATT 1947)
Như vậy, luật lệ của WTO về chống bán phá giá hiện nay dựa trên hai nguồn quan trọng là Điều VI của GATT 1994 và ADA 1994 Điều VI quy định một cách khái quát về các điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá, giới hạn của các mức thuế chống bán phá giá và vai trò của việc xác định thiệt hại đối với việc áp thuế chống bán phá giá ADA 1994 là nơi mà các điều kiện, giới hạn mức thuế chống bán phá giá và các vấn đề thủ tục được hướng dẫn và quy định một cách chi tiết hơn Hiệp định này bao gồm ba phần, mười tám điều khoản và hai phụ lục mang tính quy phạm, trong đó có các điều khoản riêng về cách thức xác định việc bán phá giá (Điều 2), cách thức xác định mức thiệt hại (Điều 3), định nghĩa ngành sản xuất nội địa (Điều 4), phương thức tiến hành điều tra xác định bán phá giá (Điều 5), các
Trang 38biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 7) v.v Có thể coi ADA 1994 là văn bản cụ thể hóa và hướng dẫn áp dụng Điều VI của GATT 1994 về việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
Bên cạnh đó, luật lệ về chống bán phá giá của WTO cũng luôn được bổ sung bởi các quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Disputes Settlement Body – DSB) Về thực chất các quyết định này chính là các tài liệu pháp
lý giải thích các quy định của WTO về chống bán phá giá thông qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp theo từng vụ việc cụ thể do Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body) và Ban hội thẩm (Panel) của WTO trình lên và được DSB thông qua
Trang 39Chương 2: NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ
GIÁ CỦA WTO
Năm 1948 hệ thống thương mại đa biên được thiết lập với sự ra đời của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Trải qua gần một nửa thế kỷ, những quy định của GATT về thương mại đa biên, trong đó có quy định về chống bán phá giá (Điều VI) tỏ ra chưa chặt chẽ Cùng với sự ra đời của WTO, Hiệp định Chống bán phá giá đó có những quy định chặt chẽ và chi tiết hơn nhiều so với Điều
VI của GATT Theo Hiệp định này, nước nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá khi:
- Hàng nhập khẩu bị bán phá giá;
- Gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất trong nước; và
- Cuộc điều tra phá giá được tiến hành theo đúng thủ tục
Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định rất chi tiết nguyên tắc xác định phá giá, cách tính biên độ phát giá và thủ tục điều tra phá giá như sau:
2.1 Xác định việc bán phá giá
2.1.1 Định nghĩa phá giá
Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá khi: giá xuất khẩu sản phẩm đó thấp hơn giá có thể so sánh được trong điều kiện thương mại thông thường (giá trị thông thường) của sản phẩm tương tự khi tiêu thụ ở thị trường nước xuất khẩu WTO không đề cập đến trường hợp bán phá giá khi sản phẩm tương tự trong thị trường nội địa của một nước
giống với sản phẩm là đối tượng điều tra
Trang 40Điều kiện thương mại thông thường: không có định nghĩa Ví dụ: khi giá bán
tại thị trường nội địa nước xuất khẩu thấp hơn giá thành sản xuất thì có thể coi như
là không nằm trong điều kiện thương mại thông thường