và liệu đóng góp của các yếu tố đã kể trên vào tăng trưởng củakhu vực công nghiệp có cùng tỷ lệ với sự đóng góp của chúng đối với nền kinh tế không?Qua kết quả ước lượng chúng tôi thấy t
Trang 1CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ƯỚC LƯỢNG
Chương này trình bày kết qyả thực nghiệm cho nền kinh tế và cho các ngành côngnghiệp, xây dựng , giao thông vận tải và bưu chính viễn thông
I ƯỚC LƯỢNG ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CÔNG NGHIỆP
Sử dụng phương pháp đã trình bày ở trên, sau đây chúng tôi sẽ trình bày một số kếtquả cơ bản tính toán cho toàn bộ nền kinh tế
1.1 Đóng góp của các nhân tố sản xuất của nền kinh tế vào tăng trưởng GDP (ước lượng bằng phương pháp hàm sản xuất gộp)
Chúng tôi ước lượng hàm sản xuất gộp bằng 2 phương pháp: phương pháp bình phương
bé nhất (OLS) và phương pháp hồi quy 2 giai đoạn Kết quả thu được như sau (Bảng 3.1):
-Vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với tăng trưởng, sử dụng cả 3 phươngpháp ước lượng khác nhau đều cho kết quả gần giống nhau: khoảng 50% tăng trưởng củanền kinh tế trong 2 thập kỷ qua là do tăng trưởng của khối lượng vốn
- Lao động cũng là một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế,kết quả của cả 3 phương pháp ước lượng đều cho thấy khoảng 26% tăng trưởng của nềnkinh tế trong 2 thập kỷ qua là do đóng góp của lao động
- Nhân tố năng suất tổng hợp cũng là một trong 3 nhân tố có vai trò quyết định đối vớităng trưởng kinh tế, bảng 1.6 cho thấy cả 3 phương pháp đều cho chúng ta kết luận rằngkhoảng gần 1/4 tăng trưởng của nền kinh tế trong 20 năm qua là do đóng góp của năngsuất nhân tố tổng hợp
Bảng 3.1 Đóng góp của tăng trưởng các nhân tố vào tăng trưởng kinh tế
Trang 21.2 Ước lượng đóng góp của các nhân tố đến tăng trưởng của khu vực công nghiệp (cách tiếp cận hàm sản xuất).
Vấn đề cũng được đặt ra cho chúng ta là nguồn của tăng trưởng kinh tế của khu vựccông nghiệp là từ đâu? và liệu đóng góp của các yếu tố đã kể trên vào tăng trưởng củakhu vực công nghiệp có cùng tỷ lệ với sự đóng góp của chúng đối với nền kinh tế không?Qua kết quả ước lượng chúng tôi thấy tiến bộ công nghệ của ngành công nghiệp trong
20 năm qua đã đóng góp vào tăng trưởng khoảng 2,4% (trong khi mức tăng trưởng bìnhquân của ngành công nhiệp trong 2 thập kỷ qua là 10,53% )
Bảng 3.2 Đóng góp của tăng trưởng vốn, lao động và TFP vào tăng trưởng sản lượng của khu vực công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1985-2004
Nguồn: Tính toán của tác giả từ phương trình ước lượng
KCN- vốn của ngành công nghiệp,
LCN- lao động của ngàh công nghiệp,
TFPCN- năng suất nhân tố tổng hợp của ngành công nghiệp
Bảng 3.2 cho chúng ta thấy đóng góp của các nhân tố như: vốn, lao động và tiến bộcông nghệ tới tăng trưởng GDP của ngành công nghiệp trong vòng 20 năm qua Baphương pháp ước lượng khác nhau cho chúng ta các kết luận rằng khoảng 59% đến 69%thay đổi trong khu vực này là do khối lượng vốn và 16% tới 32% là do tăng trưởng TFP,trong khi đó lao động của ngành chỉ đóng góp vào 9% tới 12% tăng trưởng của ngành
1.3 Ước lượng TFP và hiệu quả của ngành công nghiệp (cách tiếp cận phi tham số)
Trong phần này chúng tôi sử dụng cách tiếp cận DEA để tính chỉ số năng suấtMalmquist nhằm xem xét những thay đổi về tiến bộ công nghệ (techch) và thay đổi hiệuquả (effch) tác động đến tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp của nền kinh tế như thếnào? Bảng 3.3 dưới đây tóm tắt kết quả ước lượng được của chỉ số Malmquist giai đoạn1985-2004 và 1986-2002
Bảng 3.3 Tóm tắt chỉ số Malmquist giai đoạn 1986-2002
Khu vực công nghiệp 1,001 1,005 1 1,001 1,007
Trang 3Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Đóng góp của công nghiệp vào TFP
TFP trong khu vực công nghiệp và dịch vụ giai đoạn 1986-2002 tăng tương ứng là0,7% và 11,6% trong khi TFP của khu vực nông nghiệp giảm 9,0%
Tiến bộ công nghệ, thay đổi hiệu quả, và tăng trưởng TFP
Tính trung bình, công nghệ trong khu vực công nghiệp đã tăng 0.5% Khu vực côngnghiệp đạt được sự cải thiện trong tiến bộ công nghệ và hiệu quả kỹ thuật, do vậy TFPtăng
Các chỉ số Malmquist cho cả nền kinh tế trong giai đoạn 1986-2002 cho thấy một sựbiến động đáng kể Chỉ số này được xây dựng cho thời kỳ 1986-2002, và được phân táchthành sự thay đổi về mặt hiệu quả và thay đổi về mặt công nghệ
Mức tăng trưởng năng suất Malmquist hàng năm trung bình giai đoạn 1986-2002dương
Vì sao kết quả ước lượng này hơi khác so với kết quả ước lượng bằng hàm sản xuấtgộp? Chúng ta có thể giải thích như sau:
-Thứ nhất thời kỳ ước lượng không trùng nhau
-Thứ hai theo cách ước lượng hàm sản xuất gộp, chúng ta tách riêng từng ngành ra đểước lượng (không thể gộp lại để ước lượng hệ thống của toàn bộ các khu vực của nềnkinh tế Do vậy thông tin ước lượng được từ hàm sản xuất gộp chỉ bao hàm thông tin củatừng ngành riêng rẽ Theo cách ước lượng phi tham số chúng ta gộp tất cả số liệu của cácngành lại, như vậy các quan sát sẽ được so sánh với công nghệ tham chiếu dù khácngành Theo cách này chúng ta có nhiều thông tin hơn ước lượng bằng hàm sản xuất gộp.Thứ ba cách ước lượng bằng hàm sản xuất gộp bị ràng buộc bởi lựa chọn công nghệcòn ước lượng phi tham số lại không nắm bắt được nhiễu ngẫu nhiên
Thứ 4 TFP ước lượng bằng phương pháp phi tham số lại có thể phân rã thành tiến bộcông nghệ và hiệu quả kỹ thuật Dù TFP của ngành dịch vụ cao nhưng chủ yếu là do đầu
tư vào tiến bộ công nghệ nhưng hiệu quả lại kém
II ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, XÂY XỰNG, VẬN TẢI, BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA NỀN KINH
TẾ QUỐC DÂN
Trang 4Trong phần này chúng tôi sẽ tập trung vào vấn đề phân tích định lượng về vai tròđóng góp của các ngành xây dựng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và côngnghiệp chế biến đến tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
2.1 Ước lượng mức thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả của nhóm 4 ngành nghiên cứu vào tăng trưởng năng suất trong thời kỳ 2001-2002
Mục tiêu của phần này là ước lượng mức đóng góp của mỗi ngành trong 4 ngànhnghiên cứu vào sự tăng trưởng của ngành công nghiệp trong thời kỳ 2001-2002 Chúng tagiả thiết rằng:
Tăng trưởng kinh tế = đóng góp của các nhân tố đầu vào + năng suất nhân tố tổng hợp
Vì thế nghiên cứu mức đóng góp của các ngành vào tăng trưởng kinh tế chung quy lại
là nghiên cứu mức đóng góp của mỗi ngành vào tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp(tfpch)
Để phân tích sâu hơn mức đóng góp, chúng ta phân chia năng suất nhân tố tổng hợp –tfpch –thành hai thành phần cơ bản là ảnh hưởng của hiệu quả kỹ thuật (effch –nó phảnánh ngành công nghiệp hoạt động có ở mức hiệu quả không) và thành phần thứ hai làthành phần thay đổi công nghệ (techch –phản ánh mức hiệu quả của đầu t vào tiến bộkhoa học kỹ thuật), như vậy ta có:
Tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp phụ thuộc vào thay đổi trong hiệu quả kỹthuật và thay đổi công nghệ hay: tfpch= f(effch,techch)
Bản thân hiệu quả kỹ thuật effch lại được phân chia thành hiệu quả quy mô (sech –
phản ánh ngành công nghiệp có hoạt động ở quy mô tối ưu hay không) và hiệu quả kỹ
thuật thuần (pech)
Dấu và độ lớn của mỗi chỉ tiêu đều mang ý nghĩa quan trọng mà chúng ta có thể kháiquát như sau:
Nếu effch <1 thì ngành đang xem xét hoạt động kém hiệu quả, còn lãng phí tàinguyên có thể do quản lý kém, hoăc môi trường kinh doanh không thuận lợi hoặc do mứctrang bị vốn chưa đáp ứng được điều kiện kinh doanh mới
Nếu effch �1 thì ngành đang xem xét hoạt động có hiệu quả, không có lãng phí tàinguyên
Trang 5Nếu techch <1 thì tiến bộ công nghệ của ngành đang xem xét chưa đáp ứng được nhucầu thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nếu effch �1 thì ngành đang xem xét hoạt động trên đường biên với sự đổi mới vềcông nghệ có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả hoạt động của ngành
Nếu sechch <1 thì ngành đang xem xét chưa hoạt động với quy mô chưa tối ưu do đóchưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến làm ảnhhưởng đến đóng góp của ngành vào tăng trưởng
Nếu sechch �1 thì ngành đang xem xét hoạt động có hiệu quả về quy mô do đó cóđóng góp tốt vào tăng trưởng của ngành
Nếu tfpch <1 thì ngành đang xem xét có tổng năng suất giảm có thể do hoạt độngkém hiệu quả, hoặc thay đổi trong tiến bộ công nghệ (mức trang bị vốn ) chưa đáp ứngđược điều kiện kinh doanh mới
Nếu tfpch �1 thì ngành đang xem xét hoạt động có tổng năng suất không giảm dovậy có mức đóng góp dương vào tăng trưởng
Để tính mức đóng góp của mỗi ngành vào tăng trưởng của toàn bộ ngành côngnghiệp, chúng tôi tiến hành như sau: trước hết là ước lượng thay đổi năng suất của toàn
bộ ngành công nghiệp và cho từng ngành một, tiếp theo ước lượng mức tăng trưởng đầu
ra thực tế cả số tương đối và số tuyệt đối Sau đó là sử dụng hai kết quả này để tính mứcđóng góp tương đối và tuyệt đối của mỗi ngành
Sau đây là kểt quả tính toán cho thời kỳ mẫu từ 2001-2002, với khoảng 50.000 doanhnghiệp được nhóm vào 4 ngành
2.1.1 Ngành công nghiệp chế biến
Bảng 3.4 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và tăng trưởng năng suất của công nghiệp chế biến trong thời kỳ 2001-2002
Trang 6Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Đối với các ngành cấp hai có mã số 16 và 23 thì effch �1 như vậy các ngành đangxem xét hoạt động có hiệu quả
Đối với các ngành cấp hai có mã số 15, 17, 18,19, 20, 21, 22, 23, 24 25, 26, 27, 28,
29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36 và 37 thì effch <1 nên các ngành đang xem xét hoạt độngkhông có hiệu quả, có thể do nhiều nguyên nhân như quản lý kém, trình độ công nghệ lạchậu hoặc không nắm bắt được nhu cầu thị trường
Đối với các ngành cấp hai có mã số 30 và 37 thì techch <1 như vậy các ngành đangxem xét, tiến bộ công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất trong điều kiện mới Đối với các ngành cấp hai có mã số 15, 16, 17, 18,19, 20, 21, 22, 23, 24 25, 26, 27,
28, 29, 31, 32, 33, 34, 35 và 36 thì techch >1 nên các ngành có đầu tư vào công nghệthích đáng, đầu tư này đã góp phần thúc đẩy tăng năng suất của các ngành này
Đối với các ngành cấp hai có mã số 20, 21,22, 23 và 35 thì sechch �1 như vậy cácngành đang xem xét đã hoạt động với quy mô tối ưu do đó có ảnh hưởng tốt đến đónggóp của ngành vào tăng trưởng
Đối với các ngành cấp hai có mã số 15, 16, 17, 18,19, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31,
32, 33, 34, 35, 36 và 37 thì sechch <1 như vậy các ngành đang xem xét chưa hoạt độngvới quy mô tối ưu do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thự tế của hoạt động sản xuất kinhdoanh dẫn đến làm ảnh hưởng đến đóng góp của ngành vào tăng trưởng
Trang 7Đối với ngành cấp hai có mã số 21, 26, 30, 32 và 37 thì tfpch <1 thì ngành đang xemxét có tổng năng suất giảm có thể do hoạt động kém hiệu quả, hoặc thay đổi trong tiến bộcông nghệ (mức trang bị vốn ) chưa đáp ứng được điều kiện kinh doanh mới.
Đối với các ngành cấp hai có mã số 15, 16, 17, 18, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 27, 28, 29,
31, 33, 34, 35, 36 và 37 thì tfpch �1 thì ngành đang xem xét hoạt động có tổng năngsuất không giảm do vậy có mức đóng góp dương vào tăng trưởng tổng năng suất của toànngành
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Trong trường hợp ngành xây dựng chỉ gồm các ngành cấp 2 mã số 45, vì thế chúngtôi gộp lại thành 1 ngành cấp 2 Trong đó hiệu quả hoạt động của ngành này chưa đạtmức tối ưu vì effch<1 Hiệu quả quy mô của ngành này nhỏ hơn 1 vì thế nó cũng chưahoạt động ở quy mô tối ưu Trái lại tiến bộ công nghệ và tăng trưởng năng suất đều ởmức tốt nhất vì các chỉ số hiệu quả này đều lớn hơn hoặc bằng 1
2.1.3 Ngành vận tải
Bảng 3.6 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và
tăng trưởng năng suất của ngành vận tải trong thời kỳ 2001-2002
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Bảng 3.6 cho thấy chỉ có một ngành nhỏ trong các ngành vận tải là ngành có mã số 62
là có hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả theo quy mô hoạt động trên đường biên thực hành tốtnhất, còn các ngành khác trong nhóm ngành này hoạt động không có hiệu quả Ngành 62
là ngành duy nhất trong nhóm ngành này cả 5 chỉ tiêu hiệu quả đều được cải thiện
Trang 8Tất cả các ngành trong nhóm ngành vận tải đều có chỉ số tiến bộ công nghệ lớn hơn 1.Nghĩa là xét về mặt đầu tư vào công nghệ các ngành này đã đáp ứng được nhu cầu củasản xuất trong điều kiện mới.
2.1.4 Ngành bưu chính viễn thông
Bảng 3.7 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hỉệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và tăng trưởng năng suất của ngành bưu chính viễn thông trong thời kỳ 2001-2002
Mã ngành
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Trong nhóm ngành bưu chính viễn thông chỉ có một ngành cấp 2 mang mã số 64 làngành duy nhất trong nhóm ngành này và cả 5 chỉ tiêu hiệu quả đều được cải thiện
2.2 Ước lượng đóng góp của nhóm 4 ngành nghiên cứu vào tăng trưởng năng suất trong thời kỳ 2001-2002
2.2.1 Tóm tắt các chỉ số hiệu quả và chỉ số tăng trưởng năng suất của 4 ngành nghiên cứu.
Bảng dưới đây cho ta thông tin tóm tắt về các chỉ tiêu hiệu quả và tăng trưởng năng suất của 4 ngành đang nghiên cứu trong giai đoạn 2001-2002
Bảng 3.8 Tóm tắt về các chỉ tiêu hiệu quả và tăng trưởng năng suất của 4 ngành
đang nghiên cứu trong giai đoạn 2001-2002
Ngành nghiên cứu effch techch pech sech tfpch
1 Công nghiệp chế biến 0,934 1,076 0,967 0,965 1,006
3 Vận tải, kho bãi 0,993 1,019 0,995 0,998 1,012
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Bảng chỉ tiêu trên cho ta nhận thấy: ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ trội hơn ảnhhưởng phi hiệu quả cho cả 4 ngành bởi vậy làm cho thay đổi năng suất là dương
2.1.2 Đóng góp của mỗi ngành trong 4 nhóm ngành nghiên cứu vào thay đổi các chỉ
số hiệu quả và năng suất
Để trả lời cho câu hỏi xem mỗi ngành đang nghiên cứu đóng góp như thế nào vàotăng trưởng chung của nhóm ngành này trong thời kỳ mẫu Chúng tôi đã tiến hành tínhphần đóng góp của mỗi ngành vào sự tăng trưởng chung của nhóm ngành này và đónggóp của nó vào sự tăng trưởng chung của công nghiệp cả nước
Trang 9Bảng 3.9 Phần đóng góp đóng góp của mỗi ngành trong 4 ngành nghiên cứu vào
tăng trưởng của nhóm ngành này trong thời kỳ 2001-2002
Đơn vị %
1 Công nghiệp chế biến -88,585 73,224 -87,548 -90,024 23,942
3 Vận tải, kho bãi -8,923 18,219 -12,452 -5,155 48,347
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Bảng trên cho chúng ta thấy trong tổng số đóng góp của 4 nhóm ngành này vào ngànhcông nghiệp thì ngành vận tải đóng góp tới trên 48%, ngành công nghiệp chế biến đónggóp 23 %, thứ 3 là ngành bưu chính viễn thông và cuối cùng là ngành xây dựng 8,65%
2.3 Ước lượng mức thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả 4 ngành nghiên cứu vào tăng trưởng năng suất trong thời kỳ 2000-2002
2.3.1 Chỉ tiêu tổng hợp trong cả thời kỳ nghiên cứu
Một cách nhìn khác để xem xét cả 4 ngành nói chung hoạt động có hiệu quả không làgộp các chỉ tiêu đó theo năm mà không kể đến các nhóm ngành Bảng chỉ tiêu chungdưới đây cho ta nhận khẳng định phân tích trên cho phân tích chi tiết về các chỉ tiêu nóitrên trong thời kỳ 2001-2002: ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ trội hơn ảnh hưởng phihiệu quả cho cả 4 ngành nên thay đổi năng suất là dương
Bảng 3.10 Chỉ tiêu hiệu quả và năng suất tổng hợp chung cho cả 4 ngành
nghiên cứu trong cả thời kỳ 2000-2002
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
2.3.2 Ngành công nghiệp chế biến
Sau đây ta lặp lại các phân tích trên cho kết quả ước lượng hiệu quả và tăng trưởngnăng suất trong thời kỳ mẫu (2000-2002)
Bảng 3.11 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và
tăng trưởng năng suất của ngành chế biến trong thời kỳ 2000-2002
Trang 10Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Trong thời kỳ mẫu, xét về mặt trung bình thì chỉ có hai ngành hoạt động có hiệu quả
kỹ thuật, đó là các ngành có mã số 16 và 23 Kết quả này trùng với kết quả ước lượngđược trong thời kỳ 2001-2002 Các ngành còn lại hoạt động dưới mức hiệu quả
Các kết luận thu được cũng giống như ở thời kỳ 2001-2002, điều khác nhau chỉ ở độlớn
2.3.3 Ngành xây dựng
Bảng 3.12 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và
tăng trưởng năng suất của ngành xây dựng trong thời kỳ 2000-2002
Mã ngành
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Về dấu của các chỉ số hiệu quả và thay đổi năng suất cũng giống như trường hợp trêntrong thời kỳ 2001-2002 Tuy nhiên độ lớn của các chỉ số này có khác nhau Chỉ số hiệuquả kỹ thuật trong toàn bộ thời kỳ cao hơn chỉ số này ở thời kỳ 2001-2002, điều này chỉ
ra rằng ngành này hoạt động có giảm nhẹ về hiệu quả Một nhận xét nữa là cả chỉ số thayđổi công nghệ cũng giảm nhẹ, vì vậy chỉ số tăng trưởng năng xuất trong toàn thời kỳnghiên cứu giảm
Trang 112.3.4 Ngành vận tải
Bảng 3.13 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và
tăng trưởng năng suất của ngành vận tải trong thời kỳ 2000-2002
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
So sánh với các chỉ số hiệu quả của toàn thời kỳ và thời kỳ 2001-2002, chúng ta cóthể thấy sở dĩ chỉ tiêu tăng trưởng năng suất của ngành này thấp hơn so với thời kỳ 2001-
2002 vì hiệu quả kỹ thuật thấp (đặc biệt có ngành 60 không đạt hiệu quả như ở thời kỳ2001-2002) và tiến bộ công nghệ thấp hơn Điều này phả ánh xu hướng hoạt động củangành ngày càng có hiệu quả hơn
2.3.5 Ngành bưu chính viễn thông
Bảng 3.14 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và tăng trưởng năng suất của ngành bưu chính viễn thông trong thời kỳ 2000-2002
Mã ngành
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Đối với ngành bưu chính viễn thông thì tất cả các chỉ tiêu hiệu quả và thay đổi năngsuất tổng hợp đều nhỏ hơn mức của thời kỳ năm 2001-2002, tuy cùng dấu Điều nàychứng tỏ mức hiệu quả trung bình của ngành thấp hơn mức hiệu quả thời kỳ 2001-2002,hay nói một cách khác là ngành này có xu hướng cải thiện hiệu quả kỹ thuật và năng suấttoàn bộ
2.4 Ước lượng đóng góp của 4 ngành công nghiệp vào tăng trưởng năng suất trong thời kỳ 2000-2002
2.4.1 Tóm tắt các chỉ số hiệu quả và chỉ số tăng trưởng năng suất của 4 ngành nghiên cứu.
Bảng dưới đây cho ta thông tin tóm tắt về các chỉ tiêu hiệu quả và tăng trưởng năngsuất của 4 ngành đang nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2002
Trang 12Bảng 3.15 Các chỉ tiêu về thay đổi trong hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và
tăng trưởng năng suất của ngành vận tải trong thời kỳ 2000-2002
Ngành nghiên cứu effch techch pech sech tfpch
1 Công nghiệp chế biến 0,967 1,038 0,984 0,983 1,003
3 Vận tải, kho bãi 0,9977 1,009 0,998 0,999 1,007
Chỉ số chung 0,9637 1,052 0,982 0,981 1,014
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
So sánh các chỉ tiêu hiệu quả trung bình cả thời kỳ mẫu với chỉ tiêu hiệu quả của thời
kỳ cuối cùng (thời kỳ 2001-2002) nghiên cứu, chúng ta có thể thấy một bức tranh tóm tắt
xu hướng thay đổi chỉ tiêu hiệu quả của từng ngành Thí dụ, đối với công nghiệp chế biếnthì hiệu quả kỹ thuật trung bình cao hơn hiệu quả kỹ thuật của thời kỳ 2001-2002 còn tiến
bộ công nghệ lại thấp hơn Điều này phản ánh xu hướng hiệu quả tăng nhưng tiến bộcông nghệ lại giảm bởi vậy tổng năng suất nhân tố trung bình của ngành này thấp hơn sovới tfpch của thời kỳ 2001-2002
2.4.2 Đóng góp của mỗi ngành trong 4 ngành nghiên cứu vào thay đổi các chỉ số hiệu quả và năng suất
Bảng 3.16 Phần đóng góp đóng góp của mỗi ngành trong 4 ngành nghiên cứu vào
tăng trưởng của nhóm ngành này trong thời kỳ 2000-2002
Đơn vị %Ngành nghiên cứu effch techch pech sech tfpch
1 Công nghiệp chế biến -90,328 72,832 -90,679 -89,851 24,008
3 Vận tải, kho bãi -7,193 18,463 -9,320 -5,342 49,887
Nguồn: Tính toán của tác giả từ mô hình ước lượng được
Từ đó chúng ta thấy rằng chỉ có ngành công nghiệp chế biến và vận tải, kho bãi cótổng năng suất nhân tố trung bình cao hơn thời kỳ 2001-2002 Điều này có được là dongành công nghiệp chế biến đã cải thiện được hiệu quả kỹ thuật hay nói một cách khácđầu tư của ngành này trong những năm trước này đã phát huy hiệu quả mặt dù sự thayđổi này là không lớn, còn đối với ngành vận tải, kho bãi thì sự gia tăng trong năng suấtnhân tố là do có sự gia tăng trong tiến bộ công nghệ./
2.5 Ước lượng đóng góp của 4 ngành công nghiệp vào tăng trưởng năng suất trong thời kỳ 2000-2004
2.5.1 Tiếp cận tham số và phi tham số ước lượng đóng góp của tc đến tăng trưởng và hiệu quả
Trang 13Với mục đích so sánh tăng trưởng năng suất, tiến bộ công nghệ và hiệu quả củacác ngành, chúng tôi đã xây dựng mô hình gộp Chỉ trên cơ sở một mô hình như vậy mớicho phép chúng ta so sánh các chỉ tiêu trên giữa các ngành với nhau Mô hình hàm sảnxuất biên ngẫu nhiên mà chúng tôi sử dụng là mô hình gộp cho 5 ngành Sử dụng phươngpháp đã trình bày ở chương I để lựa chọn dạng hàm, nhiễu và ước lượng ảnh hưởng củatiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế cho các ngành này Sau khi tiến hành kiểmđịnh chỉ định, dạng hàm mà chúng tôi chọn được là hàm Cobb-Douglas , tuy nhiên nhiễuphi hiệu quả của các ngành khác nhau nói chung không giống nhau.
Lựa chọn mô hình
Trong mục này chúng tôi sử dụng kiểm định tỷ số hợp lý để tiến hành một số kiểmđịnh liên quan và kết quả của các kiểm định này được tiến hành cho từng ngành riên biệt.Kết quả được trình bày tóm tắt trong Bảng 3.17
Bảng 3.17 Kiểm định tỷ số hợp lý tổng quát cho tham số của mô hình
hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFPF)
Mô hình: LnR01LnL2LnK 3t u v Giả thiết H0 Giá trị hàm
lôga hợp lý
Giá trị củathống kê kiểmđịnh ()
Giá trị tới hạn
Quyết định
1.Ngành công nghiệp chế biến
Phân phối nhiễu phi hiệu quả nửa chuẩn hay chuẩn cụt ( bậc tự do: df = 1)
2.Ngành công nghiệp xây dựng
Phân phối nhiễu phi hiệu quả nửa chuẩn hay chuẩn cụt ( bậc tự do: df = 1)
Trang 141b Ngành công nghiệp xây dựng, gồm các doanh nghiệp có số vốn trên đầu người
nhỏ hơn mức trung bình của ngành Phân phối nhiễu phi hiệu quả nửa chuẩn hay chuẩn cụt ( bậc tự do: df = 1)
3 Ngành giao thông vận tải
Phân phối nhiễu phi hiệu quả nửa chuẩn hay chuẩn cụt ( bậc tự do: df = 1)
4.Ngành bưu chính viễn thông
Phân phối nhiễu phi hiệu quả nửa chuẩn hay chuẩn cụt ( bậc tự do: df = 1)
* Giá trị tới hạn thu được từ bảng 1 của Kodde & Palm (1986)
Nguồn: Tác giả tính dựa trên kết quả ước lượng được
a) Ngành công nghiệp chế biến
Giả thiết H 0: phân phối của nhiễu phi hiệu quả
Trang 15Giả thiết H 0 mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng nhiễu tuân theo bán chuẩn H0: =
0, giả thiết đối là nhiễu tuân theo phân phối chuẩn cụt Theo ước lượng ở Bảng 3.17, giátrị của thống kê kiểm định là 290,12 lớn hơn giá trị tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Do
đó chúng ta từ bỏ giả thiết H 0 : = 0 Nhiễu của mô hình của hàm sản xuất biên ngẫu
nhiên của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tuân theo phân phối chuẩn cụt
Giả thiết H 0: phi hiệu quả kỹ thuật không bất biến theo thời gian
Giả thiết H 0 mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng phi hiệu quả kỹ thuật không bất
biến theo thời gian H 0 : = 0 Giả thiết này bị bác bỏ ở tất cả các mức ý nghĩa 1%
Giả thiết H 0: không có phi hiệu quả kỹ thuật
Giả thiết H 0 thứ ba mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng không có phi hiệu quả kỹ
thuật H 0: = = = 0 Kết quả kiểm định cho thấy giả thiết H0 bị bác bỏ ở tất cả các
mức ý nghĩa 1% và 5% Dĩ nhiên nếu giả thiết H 0 là đúng thì sẽ không có tham số biêntrong phương trình hồi quy và ước lượng trở thành ước lượng OLS Kết quả kiểm địnhnày ngợi ý rằng hàm sản xuất trung bình không thể biểu thị cho công nghệ của ngànhcông nghiệp chế biến thực phẩm trong thời kỳ mẫu và nếu sử dụng hàm sản xuất trungbình sẽ ước lượng thấp đường biên thực tế vì ảnh hưởng phi hiệu quả kỹ thuật
Như vậy mô hình chúng ta xem xét cho ngành công nghiệp chế biến là mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas với phi hiệu quả kỹ thuật biến đổi theo thời gian và nhiễu phi hiệu quả có dạng chuẩn cụt.
a) Ngành xây dựng
Giả thiết H 0: phân phối của nhiễu phi hiệu quả
Giả thiết H 0 về phân phối phi hiệu quả của ngành xây dựng mà chúng ta xem xét làgiả thiết rằng nhiễu tuân theo bán chuẩn H0: = 0, giả thiết đối là nhiễu tuân theo phânphối chuẩn cụt Theo ước lượng ở Bảng 3.17, giá trị của thống kê kiểm định là 0,6624
nhỏ hơn giá trị tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Do đó chúng ta không từ bỏ giả thiết H 0:
= 0 Nhiễu của mô hình của hàm sản xuất biên ngẫu nhiên của ngành công nghiệp chế
biến thực phẩm tuân theo phân phối bán chuẩn (với = 0)
Giả thiết H 0: phi hiệu quả kỹ thuật không bất biến theo thời gian
Trang 16Giả thiết H 0 mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng phi hiệu quả kỹ thuật không bất
biến theo thời gian H 0 : = 0 Theo Bảng 3.17, giá trị của thống kê kiểm định là 72,98 lớn hơn giá trị tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Do đó chúng ta từ bỏ giả thiết H 0 : = 0
Giả thiết H 0: không có phi hiệu quả kỹ thuật
Giả thiết H 0 rằng không có phi hiệu quả kỹ thuật H 0: = = = 0 Kết quả kiểm
định cho thấy giả thiết H 0 bị bác bỏ ở tất cả các mức ý nghĩa 1% và 5% Như vậy đối vớingành xây dựng kết quả kiểm định này ngợi ý rằng hàm sản xuất trung bình không thểbiểu thị cho công nghệ của nó và nếu sử dụng hàm sản xuất trung bình sẽ ước lượng thấpđường biên thực tế vì ảnh hưởng phi hiệu quả kỹ thuật
Như vậy mô hình chúng ta xem xét cho ngành xây dựng là mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas với phi hiệu quả kỹ thuật biến đổi theo thời gian và nhiễu phi hiệu quả có dạng bán chuẩn.
c) Ngành giao thông vận tải
Giả thiết H 0: phân phối của nhiễu phi hiệu quả
Giả thiết H 0 mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng nhiễu tuân theo bán chuẩn H0: =
0, giả thiết đối là nhiễu tuân theo phân phối chuẩn cụt Theo ước lượng ở Bảng 3.17, giátrị của thống kê kiểm định là 122,81 lớn hơn giá trị tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Do
đó chúng ta từ bỏ giả thiết H 0 : = 0 Nhiễu của mô hình của hàm sản xuất biên ngẫu
nhiên của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tuân theo phân phối chuẩn cụt
Giả thiết H 0: phi hiệu quả kỹ thuật không bất biến theo thời gian
Giả thiết H 0 mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng phi hiệu quả kỹ thuật không bất
biến theo thời gian H 0 : = 0 Theo kết quả đã chỉ ra ở Bảng 3.17, giá trị của thống kê
kiểm định là 128,17 lớn hơn giá trị tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Giả thiết này bịbác bỏ ở tất cả các mức ý nghĩa 1%
Giả thiết H 0: không có phi hiệu quả kỹ thuật
Giả thiết H 0 thứ ba mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng không có phi hiệu quả kỹ
thuật H 0: = = = 0 Theo Bảng 3.17, giá trị của thống kê kiểm định là 1404,126 lớnhơn giá trị tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Kết quả kiểm định này ngợi ý rằng hàm sảnxuất trung bình không thể biểu thị cho công nghệ của ngành giao thông vận tải trong thời
Trang 17kỳ mẫu và nếu sử dụng hàm sản xuất trung bình sẽ ước lượng thấp đường biên thực tế vìảnh hưởng phi hiệu quả kỹ thuật.
Như vậy mô hình chúng ta xem xét cho ngành giao thông vận tải là mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas với phi hiệu quả kỹ thuật biến đổi theo thời gian và nhiễu phi hiệu quả có dạng chuẩn cụt.
a) Ngành Bưu chính, viễn thông
Giả thiết H 0: phân phối của nhiễu phi hiệu quả
Giả thiết H 0 về phân phối phi hiệu quả của ngành xây dựng mà chúng ta xem xét làgiả thiết rằng nhiễu tuân theo bán chuẩn H0: = 0, giả thiết đối là nhiễu tuân theo phânphối chuẩn cụt Bảng 17 cho thấy giá trị của thống kê kiểm định là 1,06 nhỏ hơn giá trị
tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Do đó chúng ta không từ bỏ giả thiết H 0 : = 0 Nhiễu
của mô hình của hàm sản xuất biên ngẫu nhiên của ngành bưu chính viễn thông tuân theophân phối bán chuẩn (với = 0)
Giả thiết H 0: phi hiệu quả kỹ thuật không bất biến theo thời gian
Giả thiết H 0 mà chúng ta xem xét là giả thiết rằng phi hiệu quả kỹ thuật không bất
biến theo thời gian H 0 : = 0 Theo Bảng 17, giá trị của thống kê kiểm định là 0,912 nhỏ hơn giá trị tới hạn ở tất cả các mức ý nghĩa Do đó chúng ta không từ bỏ giả thiết H 0:
= 0
Giả thiết H 0: không có phi hiệu quả kỹ thuật
Giả thiết H 0 rằng không có phi hiệu quả kỹ thuật H 0: = = = 0 Kết quả kiểm
định cho thấy giả thiết H 0 bị bác bỏ ở tất cả các mức ý nghĩa 1% và 5% Như vậy đối vớingành bưu chính viễn thông kết quả kiểm định này ngợi ý rằng hàm sản xuất trung bìnhkhông thể biểu thị cho công nghệ của nó và nếu sử dụng hàm sản xuất trung bình sẽ ướclượng thấp đường biên thực tế vì ảnh hưởng phi hiệu quả kỹ thuật
Như vậy mô hình chúng ta xem xét cho ngành xây dựng là mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas với phi hiệu quả kỹ thuật không biến đổi theo thời gian và nhiễu phi hiệu quả có dạng bán chuẩn.
Nhận xét: cả 4 ngành mà chúng ta xem xét có các đặc trưng công nghệ và phi hiệu quả khác nhau Dưới đây là các mô hình ước lượng được cho các ngành này.
Trang 18Kết quả ước lượng được đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng được cho trong bảng 2 dưới đây:
2.5.2 Đóng góp vào tăng trưởng của tiến bộ công nghệ và các nhân tố đầu vào
Bảng 3.1.8 Đóng góp vào tăng trưởng của tiến bộ công nghệ và các nhân tố đầu vào
Đóng góp vào tăng trưởng
đầu ra (%)
Tiến bộcông nghệ
Các nhân tốđầu vàoCông nghiệp chế biến (thực phẩm và đồ
Ngành xây dựng chỉ gồm các doanh nghiệp
có mức trang bị vốn /lao động lớn hơn mức
trung bình của toàn ngành
Ngành xây dựng chỉ gồm các doanh nghiệp
có mức trang bị vốn /lao động lớn hơn mức
trung bình của toàn ngành
Nguồn: Tác giả tính dựa trên kết quả ước lượng được
Bảng 3.19 Hiệu quả trung bình của các ngành từ cách tiếp cận biên ngẫu nhiên
Giao thông vận tải 0.3591 0.3112 0.2654 0.2228 0.1841 0.26852Công nghiệp chế biến 0.3498 0.3134 0.2784 0.2449 0.2136 0.28002Xây dựng gồm các
Nguồn: Tác giả tính dựa trên kết quả ước lượng được
Có tổng cộng 3620 quan sát thuộc bốn ngành nghiên cứu Kết quả uước lượng cho thấy làhiệu quả kỹ thuật tổng hợp trung bình trong cả thời kỳ 2000-2004 của bốn ngành là0,303, với mức dao động từ thấp nhất là 0,034 cho đến mức cao nhất là 1 – hiệu quả hoàntoàn về mặt kỹ thuật Các chỉ số khác như hiệu quả kinh tế, hiệu quả với giả định là côngnghệ thay đổi theo qui mô có giá trị trung bình lần lượt là 0,282 và 0,341 (tính cho cả thời
kỳ nghiên cứu) Bảng 3.20 dưới đây trình bày kết quả ước lượng cụ thể cho từng ngànhnghiên cứu
Trang 19Bảng 3.20 : Hiệu quả sản xuất trung bình của bốn ngành trong thời kỳ
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên kết quả ước lượng
Ghi chú: (a) số quan sát tơng ứng với ngành được đề cập; (b) thông tin liên lạc; CRS(TE), hiệu quả kỹ thuật trong trường hợp hiệu quả sản xuất không đổi theo qui mô;VRS, hiệu quả kỹ thuật tính trong trường hợp hiệu quả sản xuất thay đổi theo qui mô;SCALE, hiệu quả qui mô; AE, hiệu quả phân bổ; và CE, hiệu quả kinh tế (hiệu quả chiphí)
Bảng 3.20 trình bày kết quả ước lượng các chỉ số hiệu quả sản xuất của bốn ngành nghiêncứu trong cả thời kỳ 2000-2004 Có năm chỉ số hiệu quả sản xuất được đề cập là hiệu quả
kỹ thuật tổng hợp (tính cho trường hợp hiệu quả không đổi theo qui mô), hiệu quả kỹthuật “thuần” (tính cho trường hợp hiệu quả thay đổi theo qui mô), hiệu quả qui mô, hiệuquả phân bổ, và hiệu quả kinh tế Trong đó, hiệu quả kỹ thuật tổng hợp bằng tích của hiệuquả kỹ thuật “thuần” nhân với hiệu quả qui mô; và bằng hiệu quả kinh tế chia cho hiệuquả phân bổ Kết quả ước lượng cho thấy là trong thời kỳ nghiên cứu ngành giao thôngvận tải và TTLL có hiệu quả kỹ thuật trung bình cao nhất, 0,326; tiếp sau đó là các ngànhcông nghiệp chế biến, 0,31, xây dựng, 0,288, và bưu chính viễn thông, 0,12.1 Chỉ số hiệuquả kỹ thuật tổng hợp này nói chung là thấp trong cả bốn ngành Kết quả này là do hiệuquả kỹ thuật “thuần” nói chung của bốn ngành cũng rất thấp, và không ngành nào đạtđược qui mô sản xuất tối ưu Có một điểm đáng lưu ý là ngành công nghiệp chế biến tuy
có hiệu quả kỹ thuật thuần cao nhất, 0,394, nhng hiệu quả kỹ thuật tổng hợp không bằngngành giao thông vận tải và TTLL do ngành này có hiệu quả qui mô rất thấp, 0,778
Bằng cách tiếp cận “đối ngẫu”, chúng tôi đã tính được chỉ số hiệu quả phân bổ và hiệuquả kinh tế cho bốn ngành trong thời kỳ nghiên cứu Kết quả cho thấy là ở cả bốn ngànhvẫn chưa có sự kết hợp tối ưu giữa các yếu tố đầu vào (thể hiện ở kết quả hiệu quả phân
Trang 20bổ đền nhỏ hơn 1), dẫn đến là hiệu quả kinh tế (hay hiệu quả chi phí) ở cả bốn ngành này
là rất thấp Chỉ số hiệu quả kinh tế là chỉ số phản ánh khá toàn diện hiệu quả sản xuất nóichung, bởi nó thể hiện hiệu quả trong sử dụng các yếu tố đầu vào, hiệu quả của qui trìnhsản xuất và công nghệ sử dụng Do đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn đối với cácnhân tố được đề cập để chỉ ra đâu là nguyên nhân chủ chốt dấn đến mức hiệu quả kinh tếthấp trong cả bốn ngành
Bảng 3.21 Khoảng phân vị hiệu quả sản xuất của bốn ngành
Ngành Ngành công nghiệp chế biến
Trang 21CE 0.0% 0.0% 0.4% 5.1% 94.5% 0.0%
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên kết quả ước lượng
Bảng 3.22 Hiệu quả (TE,CE, AE và effest) của ngành Bưu chính viễn thông từ cách tiếp
cận tham số và phi tham số
số Bài toán gốc Bài toán đối ngẫu Ước lượng từ bài toán gốc Ước lượng đối ngẫu
crste vrste scale 0 TE AE CE effest
Trang 22Bảng 3.21 thống kê tần suất xuất hiện thuộc các khoảng phân vị khác nhau củacác chỉ số hiệu quả sản xuất trong bốn ngành được đề cập Kết quả nói chung cho thấy làcác chỉ số hiệu quả sản xuất như hiệu quả kỹ thuật “thuần”, hiệu quả kỹ thuật tổng hợp,
và hiệu quả kinh tế đều có dạng phân phối “lệch trái” – phần lớn các giá trị ước lượng đốivới các chỉ số này đều nằm trong trong khoảng từ 0 đến 0,4 Ví dụ, ngành công nghiệpchế biến có 41% số quan sát có hiệu quả kỹ thuật tổng hợp nhỏ hơn 0,2, nếu tính trongkhoảng từ 0 đến 0,4 thì tỷ lệ này là khoảng 74% Kết quả này một lần nữa khẳng định làhiệu quả sản xuất nói chung của bốn ngành nghiên cứu là rất thấp, và đặc biệt tập trungnhiều trong khoảng từ 0 đến 0,4 Trái lại, hiệu quả qui mô và hiệu quả phân bổ lại códạng phân phối “lệch phải” – phần lớn các giá trị ước lượng liên quan đến hai chỉ số nàyđền nằm trong khoảng từ 0,6 đến 1, đặc biệt tập trung nhiều trong khoảng [0,8;1,0]
Bảng 3.23 Hiệu quả sản xuất giữa tám vùng trong thời kỳ nghiên cứu
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Trungbình
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Trung bình
Độ lệch chuẩnCRS(TE) 0,301 0,193 0,297 0,193 0,341 0,223
Trang 23Ghi chú: * số quan sát tương ứng với vùng được đề cập; CRS(TE), hiệu quả kỹ thuậttrong trường hợp hiệu quả sản xuất không đổi theo qui mô; VRS, hiệu quả kỹ thuật tínhtrong trường hợp hiệu quả sản xuất thay đổi theo qui mô; SCALE, hiệu quả theo qui mô;
AE, hiệu quả phân bổ; và CE, hiệu quả kinh tế (hiệu quả chi phí)
Liên quan đến yếu tố vùng, Bảng 5 cho thấy hiệu quả sản xuất tính trung bình cho
cả tám vùng Vùng 7 (Đông Nam Bộ, trong đó có TP Hồ Chí Minh) và Vùng 1 (Đồngbằng sông Hồng, bao gồm cả Hà Nội) là những khu vực có hiệu quả kỹ thuật tổng hợp vàhiệu quả kinh tế cao nhất; các chỉ số hiệu quả sản xuất của hai vùng này lần lợt là 0,341
và 0,313 (hiệu quả kỹ thuật tổng hợp), 0,315 và 0,291 Kết quả này đật được là do đâyđều là hai khu vực động lực tăng trưởng của cả nền kinh tế; trong đó Hà Nội và TP HồChí Minh là hai trung tâm kinh tế lớn nhất nước Tuy nhiên, theo kết quả ước lượng, cảhai vùng này đều có tiềm năng rất lớn cho tăng trởng do xét trên quan điểm hiệu quả sảnxuất mức hiệu quả kỹ thuật tổng hợp và hiệu quả kinh tế của hai vùng này còn ở mứcthấp; các chỉ số cấu thành khác nh hiệu quả kỹ thuật thuần, hiệu quả qui mô, và hiệu quảphân bổ đều chưa đạt được mức tối ưu Phần dới đây sẽ đi sâu hơn vào phân tích hiệu củasản xuất của bốn ngành theo từng vùng
Bảng 3.24 Hiệu quả kỹ thuật (TE) của ngành theo vùng 2
Trang 24Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên kết quả ước lượng
Ghi chú: a số quan sát của ngành theo vùng; - không có quan sát
Bảng 3.23 cho kết quả cụ thể hơn đối với chỉ số hiệu quả kỹ thuật tổng hợp – chitiết hóa theo từng vùng Theo đó, đối với ngành công nghiệp chế biến, chỉ số hiệu quả kỹthuật cao nhất được ghi nhận ở vùng 5 (Nam Trung Bộ), 0,438; ngành xây dựng hoạtđộng có hiệu quả nhất ở vùng 7 (Đông Nam Bộ), và ngành giao thông vận tải và thông tinliên lạc hoạt động có hiệu quả nhất ở vùng 2 (Miền núi phía Bắc).3
Bảng 3.25 Hiệu quả sản xuất theo loại hình doanh nghiệp
Hiệu quả
sản xuất Doanh nghiệp nhà nước (586) 8 Doanh nghiệp dân
doanh (1581) Doanh nghiệp FDI (1453) Trung bình Độ lệch
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên kết quả ước lượng
Ghi chú: * số quan sát tương ứng với loại hình doanh nghiệp được đề cập; CRS(TE), hiệuquả kỹ thuật trong trường hợp hiệu quả sản xuất không đổi theo qui mô; VRS, hiệu quả
kỹ thuật tính trong trường hợp hiệu quả sản xuất thay đổi theo qui mô; SCALE, hiệu quảtheo qui mô; AE, hiệu quả phân bổ; và CE, hiệu quả kinh tế (hiệu quả chi phí)
Bảng 3.25 tóm tắt kết quả ước lượng hiệu quả sản xuất tổng hợp của bốn ngànhphân chia theo loại hình doanh nghiệp Có ba loại hình doanh nghiệp chính được đề cập
là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài Nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có hiệu quả kinh tế cao nhất,0,298; tiếp theo sau là doanh nghiệp nhà nước, 0,286, và doanh nghiệp dân doanh, 0,267.Kết quả này cũng phù hợp với chỉ số hiệu quả kỹ thuật tổng hợp – khu vực doanh nghiệp
có hiệu quả kinh tế cao thì đền có hiệu quả kỹ thuật tổng hợp cao Tuy nhiên, chúng tôimuốn lưu ý một điều là kết quả này chỉ phản ánh hiệu quả sản xuất dựa trên các yếu tốliên quan đến bản thân qui trình sản xuất chẳng hạn như công nghệ, cách kết hợp đầuvào, chứ không có ý ngầm định là khu vực doanh nghiệp nào hiệu quả về mặt xã hộihơn.4 Có một điểm khác đáng lưu ý là khu vực doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ
Trang 25nghiên cứu đã sản xuất ở mức qui mô gần tối ưu – cho thấy mức kết hợp các yếu tố đầuvào như lao động và vốn là khá phù hợp
III PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NGÀNH VÀO TĂNG TRƯỞNG LÀM CƠ SỞ CHO CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH
Các kết quả từ phương pháp bao dữ liệu DEA (Data Envelopment Analysis) để phântích hiệu quả kỹ thuật (hay còn gọi là hiệu quả tương đối) cho các ngành xem xét của ViệtNam Phương pháp này cũng cho phép đánh giá xu hướng tác động của một số biến kinh
tế xã hội như sự khác biệt về sở hữu, vốn, tiền lương và các cơ cấu bên trong doanhnghiệp lên sự khác biệt hiệu quả tương đối giữa các doanh nghiệp Từ các kết quả này,chúng tôi đưa ra một số gợi ý về mặt chính sách cho ngành chế biến thực phẩm ở ViệtNam trong thời gian tới
Trong phân tích hiệu quả sản xuất, các yếu tố tác động lên hiệu quả bên trong và bênngoài doanh nhiệp cũng được xem xét tới Các phương pháp phân rã nhân tố này cũngđược nhắc tới thông qua các ước lượng đứng đằng sau ước lượng đường biên sản xuất.Cho tới hiện nay, vẫn có hai quan điểm về phương pháp phân rã các yếu tố tác động lênhiệu quả và chưa có quan điểm nào thực sự chiếm ưu thế vì nó phụ thuộc khá nhiều vàophương pháp ước lượng biên sản xuất Phương pháp ước lượng yếu tố hiệu quả đượcthực hiện đồng thời với quá trình ước lượng hàm sản xuất biên (còn gọi là ước lượng mộtgiai đoạn) Cách thức phân rã một giai đoạn hiện được sử dụng phổ biến khi ước lượng
có tham số Và cách thức thứ hai là phân rã các yếu tố được thực hiện sau khi đường sảnxuất biên được ước lượng (phương pháp này còn gọi là ước lượng hai giai đoạn) Cáchthức phân rã hai giai đoạn thường được sử dụng phổ biến với các ước lượng phi tham số.Trên quan điểm tiếp cận là giống nhau nhưng với cách thức giải quyết vấn đề khác nhau,ước lượng phi tham số được đề cập tới trong phần này với cách thức ước lượng hai giaiđoạn trong phân rã các nhân tố
Trong ước lượng phân rã hai giai đoạn, có hai cách thức phân rã Thứ nhất là ướclượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) Với cách thức phân
rã này cũng sẽ gặp một trở ngại là bản thân các biến phụ thuộc (các hiệu quả kỹ thuật) bịgiới hạn trong khoảng [0;1], và do vậy vi phạm một trong các 10 giả thiết cơ bản của ước
Trang 26lượng theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Do vậy, các nhà nghiên cứu gần đây đãthực hiện ước lượng Tobit cho các nhân tố phân rã2
3.1 Các nhân tố tác động lên hiệu quả quy mô và hiệu quả thuần
3.1.1 Yếu tố vùng: các doanh nghiệp phía Bắc đều bị tác động âm, tức là hiệu quả
quy mô của các doanh nghiệp phía bắc thấp hơn của các doanh nghiệp phía nam Yếu tốvùng có thể cho thấy, mức độ sẵn có của nguyên liệu với các doanh nghiệp ở phía nam làtốt hơn với các doanh nghiệp ở phía Bắc để mở rộng sản xuất Tuy nhiên yếu tố vùngkhông tác động tới hiệu quả thuần
3.1.2 Sở hữu và tỷ lệ vốn/lao động: yếu tố sở hữu không tác động trực tiếp đến các
doanh nghiệp Tuy nhiên yếu tố sở hữu lại làm gia tăng tỷ lệ vốn trên lao động và do vậytác động lên hiệu quả quy mô Hay nói một cách khác, mức độ tác động của yếu tố tỷ lệvốn/lao động lên hiệu quả quy mô ở các doanh nghiệp tư nhân là lớn hơn mức độ tácđộng của tỷ lệ này lên hiệu quả quy mô của các doanh nghiệp không thuộc sở hữu tưnhân Điều này cho thấy, hiệu quả của xã hội sẽ tăng thêm nếu các doanh nghiệp tư nhânđược tăng thêm vốn trang bị cho lao động
3.1.3.Tỷ trọng vốn chủ sở hữu làm gia tăng hiệu quả quy mô Điều này cho thấy, các
doanh nghiệp nếu gia tăng vốn chủ sở hữu trên tổng số vốn thì hiệu quả do quy mô manglại sẽ gia tăng Tỷ trọng vốn chủ sở hữu không tác động lên hiệu quả thuần
3.1.4 Kích thước doanh nghiệp cũng có tác động tới hiệu quả quy mô Như đã phân
tích ở trên, hầu hết các doanh nghiệp đều có tính kinh tế giảm theo quy mô, đồng thời kếtquả ước lượng cho thấy kích thước doanh nghiệp có tác động lồi lên hiệu quả quy mô Dovậy, rõ rãng các doanh nghiệp đang nằm bên trái của hướng tác động so với điểm cực tiểucủa tác động này Kích thước doanh nghiệp hoặc là phải tăng vượt qua điểm cực tiểu(điều này sẽ tạo nên độc quyền tự nhiên) hoặc phải giảm quy mô sản xuất (như đã phântích ở trên)
chung cách thức tiến hành ở đây là phương pháp ước lượng bán tham số Tuy nhiên đa số các tác giả khác đều cho rằng ước lượng phi tham số nên được dùng thay vì bán tham số.