1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

So tu hoc

28 233 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chữ tửu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Tác giả Đoàn Thị Thủy
Trường học THCS Quyết Tiến
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sổ tự học
Năm xuất bản 2010-2011
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 274 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết nghĩ, chỉ với hai câu lục bát, thì không thể nào còn có thể tả hay hơn và đẹp hơn về cảnh đôi lứa nâng ly thề nguyền được nữa!Đối với thân phận nàng Kiều, ngay từ đầu tập truyện th

Trang 1

Ngµy 04/09/2010

Ch÷ töu trong TruyÖn KiÒu cña NguyÔn Du “ ” “ ”

“Truyện Kiều” từ trước tới nay vẫn được coi là một tác phẩm văn học cổ điển ưu tú trong lịch sử văn học nước ta, được phổ biến rất rộng rãi trong nhân dân Dưới rất nhiều hình thức, như: lẩy Kiều, tập Kiều, bói Kiều, đố Kiều… Gần 200 năm từ “Truyện Kiều” ra đời tới nay, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu là giấy mực để bàn tới nó Nói chuyện “văn nghệ giữa đời thường”, chúng tôi xin phiếm đàm đôi nét về THI – TỬU trong “Truyện Kiều”- Vốn là một đề tài từ trước tới nay hình như rất ít người đề cập

Cầm, kỳ, thi, tửu xưa nay, vốn là một thú tiêu khiển hào hoa của các bậc tao nhân mặc khách Nguyễn

Du mượn hình tượng Vương Thúy Kiều để giải bày tâm sự của mình

Cứ như Nguyễn Du miêu tả, thì Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có thể làm xiêu thành đổ quách; nhưng dường như trong số kiếp đã ẩn sẵn “một thiên bạc mệnh” Chính vì vậy, khi tình yêu giữa nàng và chàng Kim mới vừa chớm nở, họ đã lập tức thành tâm giao tâm đắc, tri kỷ tri âm, cùng vịnh thơ với nhau, nâng bầu mời rượu với nhau Ưu ái cho tình yêu của đôi trai tài gái sắc, chỉ trong một ngày, Nguyễn Du đã phóng tay, để cho họ được tới hai lần uống rượu với nhau

Lần thứ nhất vào ban ngày Nhân cha mẹ và hai em về dự sinh nhật bên ngoại, Thúy Kiều đã tìm đến tận thư phòng của Kim Trọng để tình tự Kiều vẽ tranh Đạm Thanh Chàng Kim thảo vài câu thơ vào tranh

ấy Rồi hai người chuốc rượu mời nhau Xét theo quan điểm “nam nữ thụ thụ bất thân”, việc chỉ có hai người với nhau trong thư phòng vắng vẻ, đã là một điều cấm kỵ; đằng này, cụ Nguyễn còn giải phóng cho họ nâng ly mời nhau, thì… cụ Nguyễn qủa là người đi tiên phong đầu tiên trong lĩnh vực giải phóng phụ nữ

Phải chăng đây là lần đầu Kiều uống rượu:

Đủ điều trung khúc ân cần,

Trang 2

Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.

“Trung khúc” là khúc lòng thầm kín “Đủ điều trung khúc ân cần” là hai người nói với nhau rất nhiều về

nỗi niềm thầm kín của lứa đôi Đã vậy lại còn thêm chén rượu nồng đưa đẩy, đến mức “lòng xuân phơi

phới chén xuân tàng tàng” “Chén xuân” là chén rượu tỏ tình yêu Càng uống càng thấy “lòng xuân” tràn

đầy tình yêu “phơi phới”, đến mức đã “tàng tàng” với nhau, tức cả hai đều đã ngà ngà vì nhau và vì rượu Không biết cuộc hàn huyên bắt đầu từ bao giờ Nhưng chắc chắn là nó đã kéo dài tới mức cả hai

đều quên cả thời khắc, nên mới giật mình nhận thấy: “Trông ra ác đã ngậm sương non đoài”.

Uống như vậy gọi là uống rượu tình trong buổi đầu bày tỏ Chỉ có hai người thôi Cụ Nguyễn thật là khéo Vậy mà nào đã thôi đâu Liền đó, cụ Nguyễn đã mạnh bạo đi thêm nước cờ thứ hai, mà tôi dám đoan chắc rằng, toàn bộ giai cấp thống trị phong kiến, và những nhà hũ nho phong kiến, nhất định sẽ phải dãy nãy lên mà la làng Vì cụ Nguyễn đã cách tân qúa thể, khi cụ dám để Thúy Kiều ngay trong

đêm hôm đó, khi vừa mới chia tay trở về, đã lập tức quay ngay trở lại, bằng cách “xăm xăm băng nẻo

vườn khuya một mình” Qủa là táo bạo tới không tưởng nổi Thân gái đêm hôm, dám một mình xăm xăm

đi tắt tới nhà trai Vào thời ấy, hẳn chỉ có Nguyễn Du mới dám viết như vậy

Và cuộc rượu ái tình lần này mới thật là đáng nhớ Thơ Nguyễn Du dành cho họ, cứ như chảy tràn ra từ đáy cốc; lóng lánh ngời lên tình yêu đôi lứa

Tóc tơ căn vặn tấc lòng,

Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

Chén hà sánh giọng quỳnh tương,

Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.

Qủa là phong lưu, phong vận, tao nhã và đài các Không gian hẹp, không gian rộng đều tuyệt cả Trong phòng thì lửa nến, hương trầm; ngoài trời thì vầng trăng vằng vặc Không gian ấy, thời gian ấy, cảnh ấy… sinh tình xiết bao Họ không chỉ nói với nhau lời vàng đá, mà còn thảo ra lời vàng đá, rồi cùng nhau thề thốt đinh ninh “hai mặt một lời” với bầu xanh cao vòi vọi

Lần đầu gặp nhau “trong tiết tháng ba”, “Vương Quan quen mặt ra chào”, còn “hai Kiều e lệ nép vào

dưới hoa”, ấy vậy mà Kim, Kiều đã đem lòng tương tư Lần thứ hai gặp nhau nâng chén, hai bên đã lập

tức bày tỏ nỗi niềm thầm kín trắc ẩn Còn lần này thì họ đã vượt lên trên tất cả lệ luật của đạo giáo và

của thời đại Họ tự xe duyên bằng “tóc tơ căn vặn tấc lòng, trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” Họ đâu cần ông tơ bà nguyệt Chất “anh hùng ca” của tình yêu tự “giải phóng” là ở chỗ đó Thúy Kiều đâu

phải là cô gái “ngoan thảo” chịu chấp nhận “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Thúy Kiều là hiện thân của

tư tưởng tự giải phóng khỏi ràng buộc lễ nghi phong kiến Đó chính là tư tưởng của Nguyễn Du, tình yêu của Nguyễn Du, đối với một tầng lớp nhân dân bị đè nén và ràng buộc bởi tư tưởng phong kiến, đạo giáo phong kiến, và lề luật phong kiến, tới mức thống khổ

Nếu như “tiên tửu” là một cách uống đẹp, thì cuộc rượu “tiên thề” của chàng Kim và nàng Thúy cũng là một cách uống đẹp(tôi gọi là “tình tửu” hay “Đôi lứa tửu”- T.G.)

“Chén hà” là chén ngọc nhuốm ráng chiều, rực lên “Quỳnh tương” là rượu qúy Chén qúy không thể rót rượu xoàng Rượu qúy không thể uống chén xoàng Chén và rượu phải “sánh giọng” với nhau “Dải là hương lộn” là những dải lụa ở trong thư phòng đều có tẩm mùi trầm hương bay lộn lên mà thấm vào

“Bình gương bóng lồng” “Bình” là bức bình phong trong thư phòng “Gương” là tấm gương soi gắn trên bình phong “Bình gương bóng lồng” là bóng hai người lồng vào nhau trong tấm gương soi trên bức

Trang 3

bình phong Thiết nghĩ, chỉ với hai câu lục bát, thì không thể nào còn có thể tả hay hơn và đẹp hơn về cảnh đôi lứa nâng ly thề nguyền được nữa!

Đối với thân phận nàng Kiều, ngay từ đầu tập truyện thơ của mình, Nguyễn Du đã khéo vẽ ra cảnh Thúy Kiều gặp hồn ma Đạm Tiên, lúc cùng hai em đi tảo mộ Trong đoạn này, Nguyễn Du đã qua khóe miệng

của nàng Kiều, thốt nên hai câu thơ nhức nhối nỗi buồn truyền Kiếp: Đau đớn thay phận đàn bà, lời

rằng bạc mệnh cũng là lời chung!

Nhưng Nguyễn Du không dừng ở đó Tư tưởng quán xuyến của “Truyện Kiều” là “hồng nhan bạc

mệnh” Ngay từ những dòng đầu tiên của thiên tiểu thuyết bằng thơ này, Nguyễn Du đã viết:Lạ gì bỉ sắc

tư phong, trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Tài thơ của cụ Nguyễn đã khéo vẽ ra cảnh nàng Thúy nằm mộng gặp Đạm Tiên, nhờ đó biết được mình

có tên trong sổ đoạn trường Bởi vậy, ngay sau tiệc rượu thề nguyền lời vàng đá với chàng Kim, Thúy

Kiều đã lâm ngay vào cảnh phải bán mình chuộc cha, phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” Trong lần khoác áo thanh lâu thứ nhất, Nguyễn Du đã mượn rượu để nói về thân phận “kiếp người đã đến thế

này thì thôi” của nàng Thúy.

Lầu xanh mới rủ trướng đào,

Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người.

Biết bao bướm lả ong lơi,

Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.

Bút pháp tài hoa của Nguyễn Du sắc như dao cứa vào lòng người Một đời tài hoa là thế, hồng nhan là

thế, mà nay đã lâm vào cảnh “thương thay thân phận lạc loài, dẫu sao cũng ở tay người biết sao” Thân

phận “bầm dập tửu” của Thúy Kiều kéo dài triền miên suốt ngày suốt đêm Toàn là khách làng chơi đến

vùi hoa dập liễu, có ai hiểu cho nàng Chỉ Thúy Kiều là tự thương lấy phận mình mà thôi “Khi tỉnh

rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa” Hết ngày dài tới đêm thâu, Thúy Kiều bị dìm

trong từng từng trận rượu Ấy là “ô nhục tửu” Chỉ một câu lục bát mà cụ Nguyễn nhắc tới ba lần chữ

“mình” Chua cay lắm! Bầm dập lắm! May cho nàng, nhờ được treo “giá ngọc” mà gặp các khách làng

chơi toàn là những hạng văn nhân, tài tử như Tống Ngọc nước Sở đời chiến quốc, Trường Khanh(Tư Mã Tương Như) đời Hán, không bị vùi dập bởi những hạng khách tầm thường Nhưng… nhưng chỉ mình mới biết thương mình mà thôi Năm xưa nâng chén cùng chàng Kim, Thúy Kiều đã vẽ tranh, đã đánh đàn, đã dậy sóng ái ân mà cất lời thề nguyện trăm năm Dâng hiến là “cỗi phúc” linh thiêng của ái tình Nhưng lúc đó, Thúy Kiều vẫn tỉnh táo mà nhớ tới luân lý, rằng mình là gái chưa thành thân

Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.

Thưa rằng: “Đừng lấy làm chơi,

“Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!

Ngày ấy, ngày chia tay ấy, Thúy Kiều còn nhớ đinh ninh như mới vừa xẫy ra hôm qua Lời chàng Kim

vẫn như còn văng vẳng: “Gìn vàng giữ ngọc cho hay, cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.”Lúc ấy, nàng đã “ruột rối bời bời” mà giãi lời với chàng như sau:“Đã nguyền hai chữ đồng tâm, trăm năm thề

Trang 4

chẳng ôm cầm thuyền ai”.

Vậy mà hôm nay… Chìm trong “ô nhục tửu”, Thúy Kiều đã phải khóc nấc lên tiếng than thân xé dạ:

Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Mặt sao dày gió dạn sương,

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?

Chữ “tửu” ẩn đi ấy trong đoạn thơ, đắng như nước mắt ê chề, cháy như lửa thiêu một cuộc đời ê ẩm.Lấy cảnh tả tình là thuật pháp xưa nay của thơ của văn Còn mượn tửu tả tình như cụ Nguyễn, qủa là không còn có thể viết hay hơn được nữa!

Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một áng văn chương tuyệt tác trong lịch sử văn học nước ta Truyện Kiều có giá trị về mọi mặt : tư tưởng , triết lý , luân lý , tâm lý và văn chương

Truyện Kiều vì thế đã trở thành quyển truyện thơ phổ thông nhất nước ta: từ các bậc cao sang quyền quý , trí thức khoa bảng , văn nhân thi sĩ , cho đến những người bình dân ít học , ai cũng biết đến truyện Kiều , thích đọc truyện Kiều , ngâm Kiều và thậm chí bói Kiều

Giá trị tuyệt hảo của truyện Kiều là một điều khẳng định mà trong đó giá trị văn chương lại giữ một địa

vị rất cao Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được bàn đến nghệ thuật tả cảnh của thi hào

Nguyễn Du trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều

Nghệ thuật tả cảnh của ï Nguyễn Du nói chung rất đa dạng , tài tình và phong phú Chính Nghệ thuật tả cảnh này đã làm tăng rất nhiều thi vị và giá trị cho truyện Kiều

Trang 5

đó Chính Nguyễn Du đã tự thú nhận sự chủ quan của mình trong lúc tả cảnh qua hai câu thơ:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Trong khuynh hướng này , nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du vượt khác hẳn các thi nhân khác , kể cả những thi sĩ Tây Phương , vốn rất thiện nghệ trong lối tả cảnh ngụ tình Trong khi các thi sĩ này chỉ đi một chiều , nghĩa là chỉ tìm những cảnh vật nào phù hợp với tâm trạng của con người thì mới ghi vào , còn ï Nguyễn Du thì vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh , tạo nên một sự giao hòa tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người , giữa cái vô tri và cái tâm thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai

Ví dụ như khi chị em Kiều đi lễ Thanh Minh về , tới bên chiếc cầu bắc ngang một dòng sông nhỏ gần

mả Đạm Tiên , thì cả người lẫn cảnh đếu cảm thấy nao nao tấc dạ trong buổi chiều tà :

“Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

“Nao nao” chỉ tâm sự con người, nhưng cũng chỉ sự ngập ngừng lãng đãng của dòng nước trôi dưới chân cầu

Hình ảnh một mảnh trăng khuyết soi nghiêng nhìn Kim Trọng khi chàng nửa tỉnh nửa mê, chập chờn với hình ảnh Kiều sau lần gặp gỡ đầu tiên:

‘Chênh chênh bóng Nguyệt xế mành

Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu”

Chàng biếng nhác cả việc sách đèn , để phòng đọc sách lạnh tanh với tiếng gió quạnh hiu phập phồng qua màn cửa :

Buồng văn hơi giá như đồng

Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan

Mành Tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

Rồi những giờ phút thề ước ba sinh đã qua, khi phải tạm xa nhau thì dòng sông kia bỗng sao trở thành kẻ khắt khe để chia rẽ duyên tình:

Sông Tương một giải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

Một đoạn tả cảnh khác , tình người ẩn sâu trong cảnh vật Đó là cảnh Kim Trọng sau khi hộ tang cha ,

về tìm lại Kiều nơi vườn Lãm Thúy, nhưng người xưa nay còn thấy đâu , chỉ còn cảnh vườn hoang cỏ dại lạnh lùng dưới ánh trăng

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa

Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời

Trang 6

Lần thứ hai , Kim Trọng tìm về nhà Vương Viên Ngoại để hỏi thăm Kiều thì cảnh nhà bây giờ thật sa sút , sân ngoài cỏ hoang mocï dại, ướt dầm dưới cơn mưa , tiêu điều như nỗi buồn tênh trong lòng chàng:Một sân đất cỏ dầm mưa

Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường

Khi Kiều ở lầu Ngưng Bích , nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm , với những cánh buồm xa xa lại tưởng tới thân phận bọt bèo không định hướng của mình :

Buồn trông cửa biển chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Lúc Kiều theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri , thì lòng nàng cũng chẳng thực sự là vui mà buồn hiu hắt như hàng lau bên vệ đường:

Gió chiều như gợi cơn sầu

Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu

Và khi theo Sở Khanh để trốn Tú Bà , thì cảnh một đêm thu có trăng sáng , nhưng cũng lạnh lùng cũng chẳng khác chi tâm sự rối bời của Kiều :

Lối mòn cỏ nhạt màu sương

Lòng quê đi một bước đường một đau

Lúc thất vọng não nề , muốn gieo mình xuông sông Tiền Đường cho rũ nợ trần, tâm sự Kiều cũng như mảnh trăng sắp tàn , chẳng còn chút gì lưu luyến nơi thế gian:

Mảnh trăng đã gác non đoài

Một mình luống những đứng ngồi chưa xong

Lối tả chân

Ngoài lối tả cảnh diễm ï tình, Nguyễn Du còn điểm trang cho truyện Kiều bằng nhiều bức tranh tả chân,

tả rất thực, và thuần túy là những họa xinh đẹp, không ngụ tình Những bức tranh bằng thơ có khi tươi tắn, có khi sầu mộng được viết theo lối văn tinh xảo Chỉ cần một vài nét phác họa với những điểm chính hiện hữu

Đây là cảnh một túp lều tranh bên sông vắng lúc hoàng hôn , vừa giản dị , mộc mạc nhưng cũng rất nên thơ:

Đánh tranh chụm nóc thảo đường

Một gian nước biếc mây vàng chia đôi

Hoặc chỉ một vài nét chấm phá mà người đọc đã hình dung ra cảnh một mái tranh nghèo rách nát tơi tả theo tháng ngày:

Nhà tranh vách đất tả tơi

Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa

Hoặc bức tranh sơn thủy của một khung trời chiều long lanh phản chiếu trên mặt sông êm ả :

Trang 7

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi ánh vàng

Hay bóng liễu rủ bên cầu và thướt tha soi bóng trên sông tạo nên một khung cảnh đẹp mộng thơ :

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Khi chị em kiều đi viếng mộ Đạm Tiên, thì cảnh vật cũng theo đó đìu hiu ảm đạm : cơn gió đìu hiu lay động một vài cành lau trên vùng cỏ mờ nhạt theo sương chiều :

Một vùng cỏ áy bóng tà

Gió hiu hiu thổi một vài bông lau

Cảnh thanh tịnh của ngôi chùa Giác Duyên nơi Kiều đã được cứu vớt , mà đường tới thì quanh co theo giải sông ,có khu rừng lau như cách biệt với cuộc sống rộn rã bên ngoài :

Quanh co theo giải giang tân

Khỏi rừng lau đã tới sân Phật Đường

Nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du tuyệt vời đến nỗi Giáo sư Nghiêm Toản đã có nhận định như sau:

“trong Đoạn Trường tân thanh, luôn luôn có những bức tranh nho nhỏ như những hạt kim cương rải rác đính trên một tấm thêu nhung” ( Việt Nam văn Học Sử Trích Yếu)

Hãy xem cảnh bóng trăng chênh chếch soi mình trên sóng nước , đẹp lãng đãng như nỗi tưởng nhớ miên man của Kiều về Kim Trọng sau buổi gặp gỡ lần đầu Chỉ vài nét đon sơ giữa trăng , nước và sân nhà đã

đủ diễn tả một khung cảnh tuyệt nhã đẹp như một bức tranh :

Gương nga chênh chếch dòm song

Vàng gieo ngấn nước , cây lồng bóng sân

Lối tả cảnh tượng trưng:

Nguyễn Du cũng rất nhiều khi phô diễn lối tả cảnh tượng trưng, nghĩa là chỉ dùng một vài nét chấm phá, thành một nghệ thuật đã đạt đến mức uyển chuyển và tinh tế

Hãy nghe hai câu thơ :

Vi lô san sát hơi may

Một trời thu để riêng ai lạnh lùng

Đó là một cảnh một rừng vi lô trong mùa thu xám có gió heo may, lành lạnh Lối tả cảnh này có thể Nguyễn Du chỉ viết theo nghệ thuật cảm quan của mình chứ không hề nghĩ rằng mình đang tạo ra một lối vẽ cảnh một cách tượng trưng bằng những vần thơ Mãi đến hơn một thế kỷ sau ,tức vào thế kỷ 19 , lối tả cảnh tượng trưng nay mới phát triển thật mau tại Pháp mà các nhà phân tích văn học gọi là

“Symbolists” Đó là sự nhận định của Giáo sư Hà Như Chi

Nên để ý nghệ thuật của Nguyễn Du là mang cái gì rộng lớn mênh mông , để rồi đem vào hàm chứa trong một cái gì nhỏ bé ( luận giải của Giáo Sư Hà Như Chi trong Việt Nam Thi Văn Giảng Luận )

Trang 8

Trong hai câu thơ trên, “một trời thu”mang một ý niệm không gian rộng lớn bao la , trong khi bốn chữ “ riêng ai một mình”lại chỉ một phạm vi nhỏ bé , một tâm tình đơn lẻ cá nhân.

Một vài câu thơ khác cũng mang cùng một khuynh hướng như :

Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng

Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình

Đó là cảnh mặt trời chiều bâng khuâng nghiêng mình soi bóng trước mái hiên nhà để rồi chuyển sang ,

ẩn vào tâm tư riêng của một cõi lòng Kiều cô đơn ( Cần chú ý thêm là cách dùng điệp ngữ một cách tài tình khéo léo của Nguyễn Du , với chữ “ nghiêng và “riêng”được lập đi lập lại nhiều lần mà vẫn cảm thấy hay )

Có khi Nguyễn Du lại dùng một lối tả cảnh tượng trưng ngược lại , nghĩa là đem tấc lòng nhỏ bé của con người cho tỏa rộng bay hòa vào cái rộng lớn của trời đất

Hãy xem cảnh Kiều và Thúc Sinh chia tay nhau:

Người lên ngựa kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Đó là sự phân ly buồn bã tuy chỉ giữa hai người , nhưng đã làm ảm đạm cả một vùng cảnh vật chung quanh

Hay cảnh Kiều thất vọng cuộc đời , mở cửa phòng nhỏ bé để gieo mình xuống dòng bao la của sông Tiền Đường :

Cửa bồng vội mở rèm châu

Trời cao sông rộng một màu bao la

Nói về nghệ thuật tả cảnh tượng trưng này, giáo sư Dương Quảng Hàm đã viết: “ tả cảnh thì theo lối phác họa mà cảnh nào cũng linh hoạt.”

Lối tả cảnh dùng màu sắc

Nghệ thuật tả cảnh bằng thơ của Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều màu sắc như bức tranh của một người họa sĩ Trước tiên phải là ánh sáng , một yếu tố cơ bản, rồi sau đó mới tới các màu sắc với sự c pha chế sao cho làm nổi được cảnh chính và cảnh phụ

Hãy xem một cảnh Xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút tả cảnh đầy màu sắc của Nguyễn Du:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Thật là một bức tranh màu sắc thanh nhã tuyệt hảo: trên thảm cỏ xanh mướt bao la, nổi những bông hoa

lê trắng tinh Chỉ có hai màu xanh và trắng như nỗi thanh khiết của tâm hồn chị em Kiều đi dự lễ Thanh Minh Ở đây cũng cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du Thay vì “ cành lê điểm một vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết:”cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Tất nhiên có thể Nguyễn Du

đã phải đảo chữ chỉ vì tôn trọng luật “bằng trắc” của thơ lục bát , nhưng cũng phải công nhận đó là một lối đảo chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được

Cũng một cảnh cỏ xanh nữa , nhưng lần này là màu xanh thẫm soi mình cạnh màu nước trong:

Trang 9

Một vùng cỏ mọc xanh rì

Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu

Hay cảnh lung linh ánh nước soi chiếu mây vàng của hoàng hôn:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi ánh vàng

Một cảnh khác mà màu sắc lại buồn ảm đạm , chỉ có màu nâu của đất , màu xanh vàng của cỏ úa chen chân bên cái thấp lè tè của gò đất mả Đạm Tiên:

Sè sè nắm đất bên đường

Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Nói chung, Nguyễn Du chú trọng nhiều đến màu sắc của thiên nhiên, đặc biệt là của hoàng hôn ,của cây

cỏ , của trăng và của nước là những màu sắc thi vị, nhưng lại gieo ấn tượng cho một nỗi buồn xa xăm , cũng chỉ vì truyện Kiều mang bản chất nhiều nỗi buồn hơn vui

Giáo sư Hà Như Chi dẵ nhận định về lối dùng màu sắc của cụ Nguyễn Du như sau :” Nguyễn Du khi tả ánh sáng không những chỉ trực tiếp mô tả ánh sáng ấy , mà lại còn tả một cách gián tiếp , cho ta thấy sự phản chiếu trên ngọn cỏ , lá cây mặt nước,đỉnh núi ”(Việt NamThiVăn Giảng Luận)

Đúng như thế, hãy xem cảnh khu vườn với hoa lựu nở đỏ như ánh lửa lập lòe trong mùa hạ , khi mùa nắng đã được đón chào bởi tiếng quyên ca lúc khởi một đêm trăng :

Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông

Lối dùng chữ trang nhã và bình dân trong tả cảnh

Nguyễn Du là một thi nhân thuộc dòng dõi quan quyền phú quý , nhưng gặp phải cảnh loạn lạc đổi chúa thay ngôi giữa nhà Lê và nhà Nguyễn , đã phải về quê cũ ở Huyện Tiên Điền để ẩn cư Cụ đã trải qua những ngày sống trong phú quý và những ngày sống thanh đạm nơi thôn dã , nên trong tâm hồn đã thu nhập được hai cảnh sống Cụ đã hài hòa kết hợp được hai cảnh sống đó , nên trong lãnh vực văn chương

tả cảnh trong truyện Kiều , cụ có khi dùng những chữ thật trang nhã quý phái , có khi lại dùng những chữ thật giản dị bình dân

Những chữ dùng trang nhã quý phái đă được kể nhiều qua những câu thơ ở trên, thiết tưởng chẳng cần lậïp lại Bây giờ chúng ta hãy xem những chữ rất bình dân mà Nguyễn Du dùng trong lúc tả cảnh

Ví dụ chị em Kiều du Xuân ra về thì trời vừa ngả bóng hoàng hôn , Nguyễn Du dùng hai chữ “tà tà “ chỉ một hành động chậm rãi, có thể là chị em Kiều thong thả bước chân ra về, mà cũng có thể chỉ sự xuống chầm chậm của mặt trời chiều:

Tà tà bóng ngả về tây

Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Thế rồi gặp cảnh mả Đạm Tiên đắp vội , chỉ còn một nắm đất thấp “ sè sè “ bên đường, chen lẫn vài ngọn cỏ úa :

Sè sè nắm đấ bên đường

Rầu rầu ngon cỏ nửa vàng nửa xanh

Trang 10

Rồi ngọn gió gọi hồn “ ào ào “ thổi tới như muốn nhắn nhủ điều chi :

Ào ào đổ lộc rung cây

Ở trong dường có hương bay ít nhiều

Hay cảnh vườn Thúy khi Kim Trọng trở lại tìm Kiều mà không thấy nàng , chỉ thấy cánh én xập xè bay liệng trên mặt đất hoang phủ đầy rêu phong:

Xập xè én liệng lầu không

Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giầy

Và đêm xuống ánh trăng soi “ quạnh quẽ “ lẻ loi nơi vườn vắng, tri âm chỉ còn là những cọng cỏ dại mọc lưa thưa:

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa

Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời

Chính vì Nguyễn Du đã kết hợp được cả hai lối hành văn bác học và bình dân một cách tài tình nên truyện Kiều đã được tất cả mọi giai tầng trong xã hội đón nhận thưởng thức một cách nhiệt thành Những chữ mộc mạc bình dân đã chứng tỏ một bước tiến của nền văn chương Việt Nam trên con đường

xa dần ảnh hưởng của chữ Hán chữ nôm mà ï Nguyễn Du đã tiên phong dấn bước

6 Lối dùng điển tích trong tả cảnh

Nguyễn Du là một thi hào dùng rất nhiều điển tích trong tác phẩm của mình Nhưng khác với những nhà thơ khác , thường dùng điển tích chỉ vì chưa tìm được chữ quốc ngữ thích đáng để thay thế Nguyễn Du thì khác , cụ đã dùng điển tích để “ làm câu thơ thêm có ý vị đậm đà mà vẫn lưu loát tự nhiên, không cầu

kỳ thắc mắc “như Giáo sư Hà Như Chi đã nhận định (Việt Nam Thi Văn Giảng Luận) Nhưng phải nói, những điển tích mà Nguyễn Du dùng chính đã làm giàu cho nền văn chương quốc ngữ Việt Nam , thậm chí nhiều điển tích đã trở thành ngôn ngữ hoàn toàn Việt Nam , mà nói tới ai ai cũng hiểu ý nghĩa đại cương của nó Chẳng hạn những chữ Biển dâu, Gót sen, Sư tử Hà Đông, kết cỏ ngậm vành , mây mưa,

Chẳng hạn như đoạn tả cảnh Kiều nhớ Kim Trọng bên dòng nước trong xanh phản chiếu ánh trăng ngà :

“ Gương nga chênh chếch dòm song

Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân ”

“Gương Nga”chỉ mặt trăng , do tích Hằng Nga , mỹ nhân , vợ của Hậu Nghệ , đánh cắp và uống hết thuốc tiên mà Hậu Nghệ xin được của bà Tây Vương Mẫu Hằng Nga hóa tiên và bay lên mặt trăng Từ

đó người ta thường gọi mặt trăng là Gương Nga hay chị Hằng , chị Nguyệt

Hai câu thơ khác :

Sông Tần một giải xanh xanh

Trang 11

Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan

Sông Tần lấy từ câu “ dao vọng Tần Xuyên, can trường đoạn tuyệt” ý nói ở xa nhìn nước sông Tần như nát gan xé ruột Dương Quan là tên một cửa ải xa ở phía tây nam tỉnh Cam Túc Cả hai điển tích trên đều mang ý nghĩa một sự nhớ nhung khi xa cách Đó là lúc Thúy Kiều tiễn đưa Thúc Sinh trở về thăm

vợ cũ là Hoạn Thư

Hay:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Chữ Khóa Xuân lấy từ điển tích Châu Du bị gió đông cản việc phóng hỏa đốt trại Xích Bích , nên Đài Đồng Tước không bị cháy , nhưng chính vì đó mà đã khóa chặt tuổi xuân hai chị em tên Đại Kiều và Tiểu Kiều ,một người vợ Tôn Sách và một người vợ Châu Du

Đông phong bất dữ Chu lang tiện,

Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều

Hai câu thơ trên ngụ ý tả cảnh lầu Ngưng Bích như là nơi đã khóa kín tuổi xuân của Thúy Kiều

Một đoạn khác khi Kim Trong trở về vườn Thúy để tìm Kiều , nhưng nàng đã không còn ở đó, chỉ còn ngàn cánh hoa đào hồng thắm đang cười như tiễn biệt gió đông:

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Hai câu này lấy từ điển tích nho sinh Thôi Hộ đời nhà Đường , trở về Đào Hoa Trang để thăm người con gái năm xưa đã dâng cho chàng nước uống trong lúc dự hội Đạp Thanh Nhưng người đẹp đã vắng bóng

dù cảnh cũ vẫn còn đấy, chìm ngập trong ngàn cánh hoa đào phe phẩy dưới nắng xuân Thôi Hộ đã viêt hai câu thơ nguyên văn văn :

Nhan diện bất tri hà xứ khứ ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Kết luận

Tóm lại , nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du thật là muôn hình vạn trạng Nghệ thuật ấy chẳng khác gì nghệ thuật vẽ một bức tranh thủy mạc , nhiều khi chỉ một mảnh trời , một ánh trăng, một cành liễu , một dòng nước hay một áng mây hoàng hôn v vv Chỉ thế thôi , nhưng chữ dùng về màu sắc và cách sắp đặt cảnh gần xa thật tài tình đã đủ lôi cuốn tâm hồn người đọc , như để cùng chung hòa vào cảnh vật Một điều không thể chối cãi được là Nguyễn Du rất yêu cảnh thiên nhiên nên đã ban cho cảnh thiên nhiên một “hồn người” khiến cho không ai đọc thơ tả cảnh của Nguyễn Du mà không khỏi bồi hồi tấc dạ Giá trị văn chương tả cảnh của Nguyễn Du đã đạt tới mức tinh diệu để chỉ riêng một lãnh vực tả cảnh không thôi, cũng đủ truyện Kiều không hổ thẹn để xứng đáng là một tác phẩm văn chương quốc ngữ hay nhất trong kho tàng văn học của nước ta

Hãy nghe học giả Đào Duy Anh nhận xét về truyện Kiều “ Chúng ta sở dĩ yêu chuộng truyện Kiều không phải nó có thể làm quyển sách luân lý cho đời , mà chỉ vì trong sách ấy, Nguyễn Du đã dùng những lời văn kỳ diệu để rung động tâm hồn ta ” ( Khảo Luận về Kim Vân Kiều)

Trang 12

Thật đúng như vậy , những rung động trong tâm hồn được khơi dậy khi đọc truyện Kiều hẳn là một điều không ai trong chúng ta có thể phủ nhận bởi vì chúng ta đã từng có những cảm giác này Truyện Kiều vì thế đã sống mãi với thời gian và không gian , từ thế hệ này qua thế hệ khác , lúc nào cũng được mọi người trân trọng và yêu mến

-Ngµy 07/10/2010

Bà Huyện Thanh Quan, người đi dọc những Đèo Ngang

Bà Huyện Thanh Quan là người không chỉ bị cuốn hút bởi sự suy tàn, mà còn thấy được cả vẻ đẹp của suy tàn Điều này thường trực trong thi phẩm đến mức thành ám ảnh Ám ảnh đó ẩn chứa một xung năng vô thức mạnh mẽ mà phân tâm học gọi là bản năng chết (thanatos)

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Bà Huyện Thanh Quan

1 Năm 1802, sau khi thống nhất cả nước, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy

hiệu Gia Long và định đô ở Huế Từ đó, Thăng Long mất địa vị đầu não

của đất nước về chính trị và văn hóa Thậm chí, chữ long trong tên gọi

Thăng Long vốn là rồng, biểu tượng vương quyền và lý do chọn đô của

Lý Thái Tổ, cũng bị đổi thành chữ long là thịnh

Sự hạ thấp này hẳn làm đau lòng dân chúng Bắc Hà, nhất là các sĩ phu, những người từng ăn lộc nhà Lê như Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, thầy học của Nguyễn Lý, thân sinh Bà Huyện Thanh Quan Nỗi đau

ấy, về sau, hẳn còn gia tăng khi cố đô Thanh Long bị đổi thành tỉnh Hà Nội vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831): Kinh thành ngày ấy tỉnh bây giờ!

Năm 1813, trên đường đi sứ Trung Hoa, qua Thăng Long, chứng kiến những đổi thay nơi mình đã từng sống suốt tuổi hoa niên, Nguyễn Du cảm khái:

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một ố cung

(Nhà lớn nghìn năm thành đường cái

Một mảnh tân thành mất cung xưa)

Nhìn Thăng Long bây giờ, thi nhân nhớ về một Thăng Long ngày xưa Một nỗi nhớ với từng chi tiết cụ

thể, đối lập nhau như nhà/đường, thành/cung, mới/xưa Và nỗi nhớ càng chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì

càng chứng tỏ nỗi đau mất biểu tượng ấy lớn bấy nhiêu Đó là nguồn gốc và cũng là nội dung của một tâm thức chung về sau được gọi là tâm sự hoài Lê mà một lớp người đã từng sống với hoàng triều đeo đẳng

2 Bà Huyện Thanh Quan (1) là người Thăng Long chính gốc, dù bản thân chưa từng sống với nhà Lê, nhưng hít thở cái tâm thức chung ấy của thời đại, hẳn cũng không tránh khỏi cái tâm sự hoài Lê Một lần, Qua chùa Trấn Bắc (2), thi nhân thấy:

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu

Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau

Trang 13

Một tòa sen rớt hơi hương ngự

Năm thức mây phong nếp áo chầu

Sóng lớp phế hưng coi như rộn

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?

Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu (3)

Trấn Bắc là một hành cung cũ đời Hậu Lê, xưa chúa Trịnh thường đem văn võ bá quan, hoặc cung nữ, tới thưởng ngoạn cảnh Hồ Tây và bày những trò vui nhộn Vậy mà nay đã trở nên tiêu điều, vắng vẻ, cỏ

dãi dầu Từ đó, thi nhân chạnh nghĩ về nhà Lê Trịnh, như một niềm cố quốc Chữ chạnh ở đây chỉ là

nhân mà nghĩ, do điều gì đó gợi ra mà nghĩ chứ không phải lúc nào cũng đau đáu như những cựu thần nhà Lê Hơn nữa, thi nhân cũng không nghĩ về chính cái nước cũ ấy, mà chỉ nghĩ đến nó như một niềm, một tâm sự

Đọc thơ Thanh Quan, nhiều người thắc mắc, sao thi nhân đang sống trên đất nước mình mà lại luôn luôn nói về cố quốc ("Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau"), luôn nhớ nước ("Nhớ nước đau lòng con quốc quốc")? Có vẻ như có một mâu thuẫn logic nào đó Thực ra, về mặt xã hội, Bắc Hà (Đàng Ngoài) luôn được coi như một "nước" so với Nam Hà (Đàng Trong) (Xem Hoàng Lê nhất thống chí) Hơn nữa, về mặt tâm lý, cùng một thực tại mà không cùng một khoảnh thời gian thì thực tại đó chưa hẳn đã như nhau Bởi thế, Nguyễn Bính mới "ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên"

Và, cũng bởi thế, Bà Huyện Thanh Quan nhìn hiện tại mà nhớ đến quá khứ Thậm chí, nỗi nhớ làm con người như rơi vào ảo giác Thi nhân thấy quá khứ: một toà sen thơm hơi hương vua còn rớt và năm thức mây lưu lại nếp áo chầu Sự hoài niệm đã xáo trộn thời gian, biến quá khứ thành hiện tại Đây là một nét đậm, một nhịp mạnh trong thơ Thanh Quan Nó không chỉ tạo ra một cảm hứng thế sự, mà còn tạo ra cái nhìn thế giới và cái nhìn nghệ thuật trong thơ bà

Bà Huyện Thanh Quan sống trong một thời đại (lớn) đầy biến động Nhà Lê/Mạc, chúa Trịnh/Nguyễn, Tây Sơn/Nguyễn Ánh liên tiếp xuất hiện và liên tiếp sụp đổ Nguyễn Du, một chứng nhân của thời đại

ấy, đã phải thốt lên: "Cổ kim bất kiến thiên niên quốc" (Xưa nay chưa từng thấy triều đại nào tồn tại nghìn năm cả) Bà Huyện Thanh Quan cũng sống trong một không gian nhiều đổi thay Đó là Thăng Long Theo quy luật động học văn hóa, trung tâm bao giờ cũng thay đổi nhanh hơn và nhiều hơn ngoại biên Hơn nữa, ở Việt Nam, mỗi triều đại mới lên ngôi thường phá hủy những công trình của triều đại trước để làm lại từ đầu Trong một không - thời gian biến dịch như vậy, từ một cảnh quan cụ thể là chùa Trấn Bắc, Bà Huyện Thanh quan dễ khái quát lên thành một quy luật xã hội:

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

Quy luật này không chỉ chi phối một cảnh quan nào đó của Thăng Long, mà Toàn bộ Thăng Long và qua đó toàn bộ non sông đất nước Đây là sự thăng hoa của thơ Thanh Quan và càng ở những bài thơ sau thì sự thăng hoa này càng lớn Vì thế, trong Thăng Long thành hoài cổ, tâm sự hoài Lê trong Bà Huyện Thanh Quan đã trừu tượng hóa thêm một bậc nữa:

Tạo hóa gây chi cuộc Lý Trường?

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Trang 14

Thi nhân trách con tạo (gây chi) biến cuộc đời thành sàn diễn của những đổi thay Thoạt tiên vẫn những

đối lập xưa/nay ấy: Xưa là lối xe ngựa đi về nhộn nhịp thì nay chỉ có cỏ thu phủ dày; xưa là lâu đài đường bệ mà nay chỉ còn trơ lại nền cũ dưới ánh chiều tà Rồi xuất hiện thêm một đối lập khác nữa tự nhiên/nhân tạo Ngày tháng (tuế nguyệt) trôi đi kéo theo những đổi thay (tang thương), nhưng đó là những đổi thay của thế giới nhân tạo, thế giới người, còn tự nhiên (đá, nước) thì vẫn bất biến (trơ gan, cau mặt) Soi vào tấm gương vĩnh hằng của tự nhiên, đời sống nhân tạo từ xưa đến nay (kim cổ) càng trở nên giả tạm và thoáng chốc Con người đối diện với cảnh tượng này (cảnh đấy, người đây) được thức nhận, tỉnh táo hơn so với con người ảo giác ở chùa Trấn Bắc Nhưng, vì thế, cũng đau khổ hơn.Và cô đơn hơn

Đến đây, có thể nói, cái chữ tâm sự hoài Lê ở Bà Huyện Thanh Quan, nếu có thì cũng đã dần dần trở nên rỗng nghĩa, mất nội dung cụ thể Thăng Long thời Lê chỉ còn là một biểu tượng của một quá khứ vàng son đã một đi không trở lại Thậm chí chỉ còn là biểu tượng của một dĩ vãng chung chung một hoài niệm, một nỗi nhớ về nỗi nhớ Nỗi nhớ cấp hai này tạo thành nội dung sống của Bà Huyện Thanh Quan

3 Được gọi vào Huế làm Cung Trung Giáo Tập, Bà Huyện Thanh Quan giã từ Thăng Long Những tưởng rằng sự thay đổi không gian sẽ làm thay đổi thời gian Van lạy không gian xóa những ngày (Hàn Mạc Tử) Nhưng hóa ra phong cảnh không lay chuyển được tâm cảnh, mà, ngược lại, còn bị tâm cảnh nhuộm màu Điều này có thể thấy rõ khi thi nhân Qua Đèo Ngang:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác ven sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Cảnh Đèo Ngang thật khác xa với cảnh Thăng Long Nhiều thiên nhiên hơn, ít nhân tạo hơn Nhìn gần, thi nhân thấy thiên nhiên cũng chen chúc Một mặt, cái hữu sinh (cỏ cây) lấn át cái vô sinh (đá), mặt khác, trong giới, hữu sinh, cái thô lậu hơn (lá) lại lấn át cái tinh tế hơn (hoa) Còn nhìn xa: vạn vật thu nhỏ như trong hòn non bộ Con người thì nhỏ nhoi, cực nhọc (Lom khom dưới núi tiều vài chú), nơi "vui như chợ", "đông như chợ" thì cũng lại thưa thớt (Lác đác ven sông chợ mấy nhà) Thật khác xa với cảnh chen chúc của thiên nhiên Thực ra, cảnh Đèo Ngang rất hùng vĩ, nhưng trong con mắt tâm trạng của nhà thơ đã trở thành cảnh mọn, thậm chí tiêu điều Chẳng khác gì sự tiêu điều của Thăng Long Nội tâm đã chi phối ngoại cảnh

Đứng trên đỉnh Đèo Ngang, nghe tiếng cuốc kêu, Bà Huyện Thanh Quan nhớ đến nước; nghe chim da da (đa đa, bát cát quả cà, bắt cô trói cột ) kêu, thi nhân thấy thương nhà Niềm hoài cổ luôn chờ chực sẵn, còn sự đồng âm kia (cuốc là chim và quốc là nước, da da là chim và gia là nhà) chỉ là một cái cớ Đến đây, thiên nhiên vốn chen chúc tạo thành một hợp thể ở chân đèo, rã ra thành những yếu tố riêng rẽ: trời, non, nước Và con người cũng trở thành một yếu tố đơn lẻ, ngậm một mảnh tình riêng mà chỉ biết chia

sẻ với chính mình (ta với ta)

Bà Huyện Thanh Quan, như vậy, đã vượt qua được một Đèo Ngang địa lý mà không qua nổi một Đèo Ngang tâm lý Tâm tình hoài cổ vẫn là hành trang của bà trên đường vào Huế Thậm chí, hành trang ấy càng đi xa càng trở thành một gánh nặng Nỗi nhớ Thăng Long, nhớ về nỗi nhớ Thăng Long đè nặng tâm hồn người lữ thứ, trở thành nỗi nhớ nhà mỗi khi chiều về trên con đường thiên lý:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn

Ngày đăng: 14/10/2013, 20:11

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w