Với những lý do trên, người viết xin được đóng góp một phần nhỏ tâm huyết của mình vào việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh trung học cơ sở phương pháp nhận thức và tự học môn Vật lý qua việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ MAI HIÊN
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TỰ HỌC KHI
DẠY HỌC CHƯƠNG “CƠ HỌC”, VẬT LÝ LỚP 8
Trang 3MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Giả thuyết nghiên cứu 6
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Những đóng góp của luận văn 7
10 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC VÀ DẠY HỌC TỰ HỌC VẬT LÝ PHÙ HỢP VỚI ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 9
1.1 Tự học 9
1.1.1 Quan điểm về tự học 9
1.1.2 Phương pháp dạy học tự học 12
1.1.3 Những đặc điểm tâm sinh lý và năng lực tự học của học sinh trung học cơ sở 15
1.2 Những đặc trưng của dạy học vật lý cho học sinh cấp THCS 18
1.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của Vật lí học 18
1.2.2 Những hành động phổ biến trong hoạt động nhận thức vật lí 20
1.2.3 Hoạt động dạy học vật lí cho học sinh cấp trung học cơ sở 22
1.2.4 Tổ chức hoạt động học tập vật lí nhằm hướng dẫn học sinh trung học cơ sở tự học 23
1.3 Thực tiễn hoạt động dạy học vật lý của giáo viên và học sinh THCS 28
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng 28
1.3.2 Kết quả khảo sát 29
Trang 4Chương 2: TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THCS TỰ HỌC
KHI DẠY HỌC CHƯƠNG CƠ HỌC, VẬT LÝ LỚP 8 33
2.1 Giới thiệu nội dung kiến thức chương “Cơ học”, Vật lý lớp 8 33
2.1.1 Nội dung và thời lượng 33
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Cơ học” Vật lí lớp 8 34
2.2 Quy trình và phương pháp hướng dẫn học sinh trung học cơ sở tự học 35
2.2.1.Nguyên tắc tổ chức dạy học tự học cho học sinh trung học cơ sở 35
2.2.2 Các hình thức tổ chức dạy học tự học và quy trình thực hiện 35
2.3 Thiết kế phương án dạy học một số kiến thức thuộc chương “Cơ học” chương trình vật lý 8 theo hướng rèn luyện phương pháp tự học 49
2.3.1 Phương án dạy học Tiết 4 – Bài 4: Biểu diễn lực 50
2.3.2 Phương án dạy học Tiết 5- Bài 5: Sự cân bằng lực – Quán tính 56
2.3.3 Phương án dạy học Tiết 8 - Bài 8: Áp suất chất lỏng 61
2.3.4 Phương án hướng dẫn tự ôn tập theo chủ đề Công và cơ năng 73
Kết luận chương 2 77
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 78
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 78
3.3 Phương pháp thực nghiệm 78
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 78
3.3.2 Triển khai thực nghiệm 78
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 79
3.4.1 Cơ sở đánh giá thực nghiệm 79
3.4.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 80
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập thế giới với mục tiêu cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Trong xu thế vận động và không ngừng phát triển của thế giới, để có thể đạt được mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước ta đã xác định con người là nhân tố quyết định, vì vậy đầu tư cho phát triển con người là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu Chính sách đó trước hết phải bắt đầu từ việc đầu tư cho giáo dục phổ thông
Một mặt khác, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học công nghệ và tri thức nhân loại, những yêu cầu đặt ra đối với mỗi con người trong xã hội cũng ngày càng toàn diện và khắt khe hơn Những nội dung kiến thức được dạy trong trường phổ thông không còn đủ trang bị cho con người
để đáp ứng được những lĩnh vực hoạt động khác nhau sau này trong xã hội
Vì vậy, trong dạy học cần coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách tư duy, dạy con đường chiếm lĩnh tri thức để có thể làm việc độc lập, sáng tạo, tạo cơ
sở cho một xã hội học tập và học tập suốt đời
Tự học vừa là cấp độ cao nhất vừa là cốt lõi của quá trình học tập Từ góc nhìn xã hội học, nhà xã hội học người Pháp nổi tiếng Émile Durkheim cho rằng: “Giáo dục là việc xã hội hóa cá nhân vị thành niên một cách hệ thống” Theo đó, muốn hình thành và phát triển nhân cách theo một mục tiêu
đã định phải làm cho người học liên tục tự học, học và hành với những mức
độ phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của người học Nếu rèn được cho người học phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo được cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của con người, hiệu quả học tập sẽ được nhân lên
Trong trường phổ thông, học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh Nhưng vào lứa tuổi thiếu niên, tương đương với cấp trung học cơ sở, cùng với
Trang 6bước ngoặt quan trọng cho sự học kế tiếp Từ việc học tập các hệ thống những
sự kiện, hiện tượng và mối liên hệ đơn giản giữa chúng ở các lớp dưới, học sinh chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ sở của các khoa học, học tập có phân môn Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành hệ thống tương đối sâu sắc, do đó đòi hỏi các em phải tự giác
và có tính độc lập cao Ở giai đoạn này, nhiều học sinh đã có yếu tố tự học, có hứng thú say mê với môn học, tuy nhiên hứng thú này thường không bền vững và dễ bị phân tán, rất cần đến sự định hướng giúp đỡ của giáo viên Nếu được hướng dẫn và rèn luyện phương pháp học và tự học, học sinh sẽ thấy được việc học là nhẹ nhàng, làm hành trang cho chặng đường học tập dài ở phía trước
Trong hệ thống phân môn ở trung học cơ sở, vật lý là môn khoa học có tính thực tiễn cao Con đường hình thành kiến thức vật lý cũng chính là con đường hình thành và chiếm lĩnh khoa học Vì vậy tuy ở cấp học này, vật lý dù chỉ mang tính giới thiệu những khái niệm và hiện tượng tương đối đơn giản, nhưng nếu học sinh sớm được hướng dẫn phương pháp tự học vật lý, từ đó say mê hứng thú với môn học, đó sẽ là nền tảng vững chắc cho việc học sâu
và rộng hơn ở cấp học sau, đồng thời giúp phát triển năng lực tư duy và sáng tạo ở học sinh
Tuy nhiên, qua việc trực tiếp giảng dạy và thực tế tìm hiểu thực trạng dạy và học vật lý hiện nay trong các trường trung học cơ sở ở Hà Nội và các tỉnh lân cận, tôi nhận thấy tuy việc dạy học vật lý đã có nhiều chuyển biến tích cực đáng kể trong những năm gần đây, song đa phần học sinh vẫn học rất thụ động, thậm chí cần có sự hỗ trợ của gia sư mới học tốt được vật lý Điều
đó gây ra rất nhiều khó khăn thách thức đối với học sinh khi phải đối mặt với lượng kiến thức sâu rộng hơn nhiều ở bậc trung học phổ thông, dễ dẫn đến quá tải và chán học
Trang 7Với những lý do trên, người viết xin được đóng góp một phần nhỏ tâm huyết của mình vào việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh trung học cơ sở phương pháp nhận thức và tự học môn Vật lý qua việc thực hiện đề tài:
“Hướng dẫn học sinh trung học cơ sở tự học khi dạy học chương “Cơ học”, Vật lý lớp 8”
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
Tự học được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục chưa trở thành một khoa học thực sự Trong lịch sử về khoa học giáo dục trên thế giới, từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như J.A Comenxki (1592 - 1670), G Broussiau (1712- 1778), J.H Pestalozzi (1746 - 1872), … trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, nhấn mạnh phải khuyến khích người học giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, với sự phát triển mạnh mẽ của tâm
lý học hành vi, tâm lý học phát triển, nhiều phương pháp dạy học mới ra đời đặc biệt coi trọng vai trò quyết định của người học trong học tập Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khoa học giáo dục có nhiều sự tiến bộ đáng kể Trong
đó, quan điểm dạy học truyền thống và quan điểm dạy học hiện đại theo hướng học sinh là chủ thể tích cực, giáo viên đóng vai trò người tổ chức hướng dẫn xích lại gần nhau hơn, qua đó một lần nữa khẳng định vai trò của người học song cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của người thầy và các phương pháp, phương tiện dạy học Đó chính là những cơ sở của những phương pháp dạy học tích cực, giúp giáo viên rèn luyện năng lực tự học của học sinh
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực và tự học
Trang 82.2 Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, sau Cách mạng tháng tám, nền giáo dục cách mạng ra đời, những tư tưởng về tự học mới được khởi xướng và phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khởi xướng và cũng là tấm gương sáng về tự học từng nói
“còn sống thì còn phải học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Từ đó,
tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả, nhà hoạt động giáo dục trình bày trong các công trình của mình như GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn
“Luận bàn về giáo dục Việt Nam”, GS Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, … GS Nguyễn Cảnh Toàn đã viết: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình Người dạy giỏi là người là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục” [13, tr.5]
Khoa học giáo dục nước ta cho đến nay đã ghi nhận rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu mang tính tổng hợp tri thức đã nghiên cứu và nhưng định hướng biện pháp chung về đối tượng, các nghiên cứu chủ yếu hướng đến đối tượng sinh viên với việc tự học, tự nghiên cứu trong giáo dục đại học, cao đẳng Một số đề tài nghiên cứu trong giáo dục phổ thông mới được phát triển trong vài năm gần đây ở các trường đại học sư phạm, viện nghiên cứu giáo dục có thể kể đến như:
- Dạy học phần vec tơ của sách giáo khoa hình học 10 nâng cao theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh, Phạm Quang Anh, Luận văn Thạc sĩ LL&PP dạy học bộ môn Toán Khóa 2, Khoa Sư phạm – ĐHQGHN
- Dạy học tự học cho học sinh thông qua chương “Vec tơ trong không gian Quan hệ vuông góc” Hình học lớp 11 nâng cao trung học phổ thông, Trần Thị Thanh Nga, Luận văn Thạc sĩ LL&PP dạy học bộ môn Toán Khóa
2, Khoa Sư phạm – ĐHQGHN
Trang 9- Tổ chức hoạt động học tập tự lực – sáng tạo của học sinh trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” lớp 10 THPT Ban Cơ bản, Võ Thị Tuyết Mai, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học năm 2008, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu về việc hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh lứa tuổi Trung học cơ sở, một giai đoạn học tập mang tính bước ngoặt tạo nền tảng để học sinh dễ dàng hơn trong việc học ở các bậc học cao hơn, với những mức độ yêu cầu cao hơn của tự học
3 Mục đích nghiên cứu
- Tổng quan được những lý luận và thực tiễn về tự học và dạy học tự học áp dụng với đối tượng học sinh trung học cơ sở
- Tổng hợp được những lý luận về đặc trưng của quá trình dạy học vật
lý gắn với con đường hình thành khái niệm và hiện tượng vật lý
- Thiết kế được phương án dạy học một số bài thuộc chương I “Cơ học” – Chương trình Vật lý 8 theo hướng rèn luyện năng lực tự học của học sinh, qua đó nhằm hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
- Triển khai được các phương án dạy học đã thiết kế trên tại một trường THCS
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận về tự học và phương pháp tự học vật lý đối với học sinh trung học cơ sở
- Lý luận và việc dạy học vật lý cho học sinh trung học cơ sở
- Hoạt động tổ chức dạy học chương “Cơ học” – Chương trình Vật lý 8 nhằm qua đó hướng dẫn học sinh phương pháp tự học vật lý
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Học sinh lớp 8 trường THCS – THPT Newton - Mỹ Đình - Từ Liêm -
Trang 106 Giả thuyết nghiên cứu
Việc thiết kế và thực nghiệm các phương án dạy học một số kiến thức thuộc chương “Cơ học” – Chương trình Vật lý lớp 8 theo hướng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh, dựa trên việc kết hợp những phương pháp dạy học tích cực sẽ đáp ứng được hiệu quả học tập, học sinh hứng thú với môn học và rèn luyện được phương pháp tự học vật lý cho học sinh trung học
cơ sở
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng kết lý luận về tự học
- Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý và năng lực tự học của học sinh trung học cơ sở
- Nghiên cứu tổng kết lý luận của dạy học tự học
- Nghiên cứu những đặc trưng của dạy học vật lý và dạy học tự học vật lý
- Nghiên cứu thực trạng học và tự học vật lý hiện nay của học sinh một
số trường THCS
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung dạy học các kiến thức thuộc chương
“Cơ học” SGK Vật lý 8 để lựa chọn những nội dung dạy học qua đó hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh
- Thiết kế phương án dạy học dựa trên các phương pháp dạy học tích cực một số nội dung chương “Cơ học” – SGK Vật lý 8 nhằm rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh
- Thực nghiệm sư phạm với một phần kết quả nghiên cứu để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài
Trang 118 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý luận
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học, dạy học tự học vật lý cho học sinh THCS
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương “Cơ học” – SGK Vật lý 8 để thiết kế phương án dạy học phù hợp
- Nghiên cứu sách báo, tài liệu khoa học liên quan đến đề tài
8.2 Phương pháp điều tra khảo sát
- Điều tra khảo sát thực tiễn việc tự học vật lý của học sinh và dạy học theo hướng để học sinh rèn luyện việc tự học của giáo viên ở một số trường THCS
- Khảo sát đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm của đề tài
8.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu điều tra khảo sát
8.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Thiết kế bài soạn một số bài thuộc chương “Cơ học” SGK vật lý 8 theo hướng rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
- Thực nghiệm sư phạm một số bài soạn đã thiết kế
9 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần tổng hợp được những lý luận về tự học và dạy học
tự học vật lý phù hợp với đối tượng học sinh THCS
- Đề xuất được 4 giáo án dạy học theo hướng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh, cụ thể là các nội dung: “Biểu diễn lực”, “Sự cân bằng lực Quán tính”, “Áp suất chất lỏng”, ôn tập chủ đề “Công và Cơ năng” thuộc chương “Cơ học” chương trình Vật lý 8
- Kết quả của thực nghiệm sư phạm cho thấy đề tài có thể giúp giáo
Trang 1210 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tự học và dạy học tự học vật lý phù hợp với đối tượng học sinh trung học cơ sở
Chương 2: Tổ chức hướng dẫn học sinh trung học cơ sở tự học khi dạy học chương Cơ học, Vật lý lớp 8
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC VÀ DẠY HỌC
TỰ HỌC VẬT LÝ PHÙ HỢP VỚI ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tự học
1.1.1 Quan điểm về tự học
1.1.1.1 Khái niệm tự học
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm tự học:
- Tự học là quá trình người học nỗ lực tự chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định
- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, kết luận khác
- Tự học có nghĩa là tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng kỉ xảo với niềm say mê hứng thú của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định
- Các nhà tâm lý học cho rằng tự học là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của hoạt động lý luận và thực tiễn của cá nhân, bằng cách thiết lập các mối quan hệ mới, cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân chủ thể
- Tự học của học sinh thực chất là quá trình cá nhân nắm bắt kinh nghiệm của
xã hội loài người bao gồm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, năng lực hoạt động sáng tạo và thái độ
- Tự học là hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở trường phổ thông Theo tác giả
Trang 14nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ do chính bản thân người học tiến hành ở lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đã được ấn định” Khi người học tự giác phát huy hết phẩm chất và năng lực của mình cho quá trình chiếm lĩnh tri thức thì khi đó hãy tiến hành tự học
1.1.1.2 Vai trò của tự học
Hoạt động tự học của học sinh có tầm quan trọng đặc biệt Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công việc học tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo” Nó trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả học tập của học sinh và góp phần quyết định hiệu quả đào tạo của nhà trường Mọi tác động về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cũng phải thông qua sự nỗ lực hoạt động của mỗi cá nhân học sinh mới có hiệu quả Học sinh không chỉ là đối tượng tác động của giáo viên mà còn là chủ thể tích cực sáng tạo của quá trình dạy học
Tự học có vai trò to lớn trong giáo dục nhà trường và trong cả cuộc sống của người học Tự học giúp học sinh chủ động nắm vững tri thức, kĩ năng kĩ xảo Trong quá trình tự học, học sinh phải tự vận dụng từng bước vốn hiểu biết, kinh nghiệm của loài người biến thành tri thức của bản thân Chính trong hoạt động tự học, học sinh đã thể hiện ở trình độ cao vai trò chủ thể nhận thức của mình, kết hợp và thống nhất một cách hài hòa với vai trò đối tượng bị điều khiển trong hoạt động dạy học
Tự học không những giúp học sinh nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập ở nhà trường mà quan trọng hơn, đối với học sinh cấp THCS, nó còn giúp học sinh có được hứng thú, thói quen và phương pháp tự học thường xuyên để không ngừng làm phong phú thêm vốn hiểu biết của mình, tạo thuận lợi để học tập hiệu quả ở các cấp học cao hơn, học tập suốt đời, với những yêu cầu ở mức độ ngày càng cao của nhu cầu xã hội
Trang 15Tự học giúp học sinh hình thành niềm tin khoa học, phương pháp tư duy khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, lòng say mê nghiên cứu khoa học cũng như cách vận dụng tri thức để thành công trong cuộc sống
ý, óc phân tích, sáng tạo, năng lực khái quát hóa, tổng hợp hóa … để tiếp thu những tri thức, kĩ năng kĩ xảo theo mục tiêu mà giáo viên đã định hướng Hình thức này được thực hiện ở lớp dưới sự giám sát chặt chẽ của GV vì vậy
HS có thể lựa chọn nội dung học phù hợp, không mất nhiều thời gian tìm kiếm thông tin đồng thời cũng có thể kiểm tra, đánh giá được kết quả học tập của mình
- Hai là, hoạt động tự học của học sinh cũng có thể diễn ra khi không có sự điều khiển trực tiếp của thầy cô giáo Hình thức này có thể diễn ra trong một giai đoạn của quá trình học tập hoặc qua tài liệu hướng dẫn Ở đây học sinh phải tự sắp xếp được thời gian và điều kiện vật chất để tự ôn tập, tự củng cố,
tự suy nghĩ, tự hình thành những kĩ năng kĩ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của thầy cô giáo hoặc quy định trong chương trình đào tạo của nhà trường Hình thức tự học này yêu cầu tính tự giác cao, cũng có thể tự kiểm tra qua tài liệu hướng dẫn, có thể thực hiện ở mọi nơi, tuy vậy khi cần giúp đỡ thì không biết hỏi ai
- Ba là, hoạt động tự học của học sinh cũng có thể diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo ở
Trang 16này yêu cầu người học có tính độc lập cao, tự giác cao Đây là hình thức tự học hoàn toàn, học tập ở mức độ cao HS chủ động hoàn toàn trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp hoạt động Tuy vậy HS, nhất là ở lứa tuổi mới lớn rất khó trong việc lựa chọn nội dung phù hợp vì có nhiều loại thông tin,
HS dễ bị sự tò mò mất tập trung làm lạc hướng, đồng thời không kiểm tra được kết quả học tập của mình nên có thể dẫn đến dễ chán nản
Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên thấy rằng mỗi hình thức tự học có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS trường THCS Newton chúng tôi đề xuất một số hình thức tự học: tự học theo tài liệu hướng dẫn , tự học theo SKG , tự học theo chương trình hóa, tự học theo bản đồ tư duy và đều có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là "tự học có hướng dẫn"
1.1.2 Phương pháp dạy học tự học
1.1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học tự học
Phương pháp thường được hiểu là con đường, là cách thức để đạt được những mục tiêu nhất định
Có nhiều định nghĩa về PPDH Dưới đây sẽ nêu định nghĩa về PPDH của I.Lecne, một nhà lý luận, nhà giáo dục Xô Viết nổi tiếng, định nghĩa này
có phần thích hợp với các đặc trưng của dạy học tích cực mà đang hướng đến hiện nay: “PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần và nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định” Phương pháp dạy học liên hệ với quá trình dạy học, trong đó việc dạy (hoạt động và giao lưu của người thầy) điều khiển việc học (hoạt động và giao lưu của thầy) Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây ra cách thức hoạt động và giao lưu của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học
Trang 17Theo đó, phương pháp dạy tự học là cách thức tác động của giáo viên lên quá trình tự học của học sinh Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi đề cập chủ yếu đến hoạt động tự học có hướng dẫn của thầy, trong đó cũng chú trọng đến việc dạy để học sinh lứa tuổi THCS bước đầu xây dựng được cách tự học
ở các hình thức học tập ở mức độ cao hơn
Nói về tự học có sự hướng dẫn của thầy thì tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng học giáp mặt có khơi được khả năng tự học hay không là tùy ở nhận thức của thầy và trò Nếu nhận thức đúng về vai trò trung tâm của việc học, nhất là tự học thì sẽ sáng tạo ra được những cơ chế khác như giảm bớt thuyết giảng của thầy, tăng cường các hoạt động đòi hỏi độc lập tư duy, độc lập nghiên cứu của trò Khi vận dụng đối với trẻ em nhỏ thì người lớn phải giúp các em ý thức được phương châm “Học viên phải huy động hết mọi nguồn lực có trong tay và trong tầm tay trước khi sử dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài Như vậy, trò là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của mình, sự phát triển từ bên trong Thầy là tác nhân hướng dẫn,
tổ chức, đạo diễn học trò tự học Dạy dù sao cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò Ngoại lực đó phải tạo được sự cộng hưởng của nội lực cố gắng của trò Sự cố gắng này mới đúng là tự học.” [13, tr 37] Sự kết hợp chặt chẽ để tạo sự cộng hưởng như thế nào sẽ được làm rõ ở nội dung tiếp theo dưới đây
1.1.2.2 Chu trình dạy - tự học
Trong cuốn “Quá trình dạy - tự học” tác giả đã đưa ra chu trình dạy
tự học Chu trình dạy - tự học bao gồm chu trình tự học của trò dưới tác động của chu trình dạy của thầy nhằm biến tri thức, kĩ năng, văn hóa của nhân loại thành học vấn riêng của bản thân người học Chu trình tự học của trò và chu trình dạy của thầy gồm ba thời mà ta có thể tóm tắt qua bảng và
sơ đồ dưới đây:
Trang 18Bảng 1.1: Chu trình tự học của trò và chu trình dạy của thầy
Thời Chu trình tự học của
trò
Chu trình dạy của thầy
Tính chất của tri thức đối với trò
1 tự nghiên cứu hướng dẫn sản phẩm ban đầu
mang tính chất cá nhân
mang tính xã hội hóa
3 tự kiểm tra, tự điều
chỉnh
trọng tài cố vấn, kết luận, kiểm tra
Tri thức mà người học tìm ra giờ đây thật sự khách quan, khoa học
Trang 191.1.3 Những đặc điểm tâm sinh lý và năng lực tự học của học sinh trung học cơ sở
1.1.3.1 Cơ sở lý luận tâm lý và giáo dục
Thành tựu quan trọng nhất của tâm lý học phát triển, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược dạy học mới hiện nay là hai lý thuyết phát triển nhận thức và của Jean Piaget và Lep Vưgôtski
Lý thuyết của Pieget nhấn mạnh rằng: Học sinh giữ vai trò rất tích cực trong việc thích nghi với môi trường, thiết lập lại trạng thái cân bằng giữa chủ thể và môi trường Chính sự thích nghi với môi trường này là hoạt động thực tiễn của học sinh Ông đã xác định có ba thời điểm phát triển trí khôn ở trẻ
em Trong đó, trẻ em ở lứa tuổi 13,14 đã có khả năng tư duy logic rất rõ Trẻ
em ở lứa tuổi này có khả năng kết hợp các mệnh đề giả thiết với diễn dịch và kiểm tra chúng bằng thực nghiệm Như vậy, nhà trường cần có trách nhiệm phát triển và định hướng những năng lực như vậy để từ đó rút ra được sự giáo dục và giảng dạy các khoa học nhấn mạnh vào việc tìm tòi khám phá hơn là
mà các em cơ thể đạt được với sự giúp đỡ của người lớn hay bạn hữu khi giải quyết vấn đề Như vậy, chỗ tác động tốt nhất cho sự phát triển của trẻ là tác động vào vùng phát triển gần
Trang 20Lý thuyết hoạt động được Vưgôtski khởi xướng và sau này được phát triển bởi A.N.Leontiev Theo đó, bằng hoạt động và thông qua hoạt động, mỗi người tự tạo dựng và phát triển ý thức, nhân cách của mình Vận dụng vào dạy học, việc học tập của học sinh có bản chất hoạt động: bằng hoạt động, thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh được tri thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ Theo quan điểm này, dạy học là liên tiếp tổ chức cho học sinh tự lực hoạt động để giải quyết vấn đề, qua đó mà chiếm lĩnh kiến thức
Như vậy, đặc điểm tâm lý giáo dục của trẻ ở giai đoạn lứa tuổi THCS cho thấy học sinh sẽ có khả năng tự học và phát triển được năng lực tự học nếu người dạy có những tác động thông qua hoạt động phù hợp
1.1.3.2 Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở hiện nay
HS trường THCS - tuổi thiếu niên, trẻ em trong độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi – có một số đặc điểm mà việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực nói chung và việc hướng dẫn tự học nói riêng không thể không tính đến, đó là:
- Do hoàn cảnh và hoạt động trong nhà trường đã thay đổi so với cấp tiểu học (có nhiều môn học mới, nhiều giáo viên cùng tham gia dạy một lớp học, mức độ phức tạp của bài học tăng lên,…) Kinh nghiệm thực tế của cá nhân trong giao tiếp, cũng như các quan hệ phong phú hơn, vì vậy làm nảy sinh trong các em những nguyện vọng có được vị trí mới trong quan hệ đối với người lớn, có tính tự lập cao, có sự tự do trong hành động, … mặc dù những đòi hỏi đó lại vượt lên trước so với kinh nghiệm sống và khả năng thực hiện tính tự lập của chính các em Vì vậy, nhiệm vụ của người lớn nói chung, GV nói riêng là phải vừa giới hạn các ý muốn tự lập, vừa phải thường xuyên phát hiện ở các em nhu cầu muốn trở thành người lớn, thu hút các em vào các hoạt động thích hợp, có lợi cho sự phát triển cá nhân trong mối quan hệ với sự phát triển xã hội
Trang 21- Ưu điểm lớn của lứa tuổi thiếu niên là sự sẵn sàng đối với mọi hoạt động học tập để làm cho nó trở thành người lớn trong con mắt của mình HS THCS
bị cuốn hút vào các hình thức hoạt động tự lập trên lớp, vào tài liệu học tập có mức độ phức tạp nhất định, vào khả năng tự xây dựng hoạt động nhận thức của mình Tuy nhiên, điểm hạn chế lại ở chỗ các em chưa biết cách thể hiện
sự sẵn sàng đó, chưa nắm được các phương thức thực hiện các hình thức học tập mới Dạy cho các em những phương thức đó, trong đó có tự học mà không làm giảm sút hứng thú của các em là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của GV
- Các nguyện vọng đang phát triển mạnh mẽ của thiếu niên đối với tính tự lập
và tính người lớn sẽ không được thỏa mãn trong những trường hợp nếu GV chủ yếu sử dụng những phương pháp ít phát huy tính tích cực và chủ động của người học Học sinh có ý thức chờ đợi những hình thức tổ chức tìm hiểu mới đối với bài học mới mà ở đó tính tích cực, tính hoạt động (động não) của
tư duy và tính tự lập của HS được thể hiện, các khả năng trí tuệ được khêu gợi, yêu cầu tự suy ngẫm và tự khái quát hóa tài liệu được đề cao Phong cách
tự tìm hiểu, tự suy ngẫm, thái độ tò mò khoa học đã trở thành một đặc điểm đáng chú ý của HS THCS
- Càng về cuối cấp thì HS THCS càng nhận thức đầy đủ hơn về các hành động học tập của mình, về tính nhất quán của các hành động đó trong tổng thể hoạt động học tập, về việc lập kế hoạch cho các hành động đó và cuối cùng là
về việc thực hiện kế hoạch ấy
Ở lứa tuổi HS THCS, việc tìm kiếm lĩnh hội độc lập các tri thức ở bên ngoài nhà trường (qua sách báo và các phương tiện truyền thông khác) được thực hiện một cách có ý thức hơn với nội dung đa dạng hơn so với HS tiểu học HS THCS cũng như HS ở các cấp học khác ở nước ta và trên thế giới ngày nay có sự phát triển theo gia tốc về tâm lý, sinh lý và nhận thức So với
Trang 22tin hơn, linh hoạt hơn, có nhiều thông tin đa dạng hơn và cũng “thực tế” hơn Một số công trình nghiên cứu về chỉ số trí tuệ trong thời gian gần đây ở nước
ta đã cho thấy: HS Việt Nam không thua kém HS các nước về chỉ số thông minh (IQ) song lại thấp hơn hẳn về chỉ số sáng tạo (CQ) Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này có thể xem xét từ phía PPDH ở nhà trường phổ thông
Tóm lại, như vậy ở lứa tuổi HS THCS đã có những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành khả năng hướng đích, tự điều chỉnh trong hoạt động học tập, cho việc phát huy được tính tích cực và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động khác nhau qua giao tiếp và hợp tác với bạn bè nhằm thỏa mãn một trong các nguyện vọng là muốn có các hình thức học tập mang tính chất “người lớn” Đó cũng là những cơ sở quan trọng để GV có thể hướng dẫn, tổ chức cho HS mình tự khám phá kiến thức mới, dạy cho HS không chỉ kiến thức mà
cả phương pháp học, trong đó cốt lõi là phương pháp tự học
1.2 Những đặc trƣng của dạy học vật lý cho học sinh cấp THCS
1.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của Vật lí học
Vật lý học là ngành khoa học nghiên cứu những dạng vận động đơn giản nhất của các dạng vật chất và tương tác giữa các dạng vật chất đó Cũng như các môn khoa học tự nhiên khác, khoa học vật lý nghiên cứu thế giới tự nhiên nhằm phát hiện ra những đặc tính và quy luật khách quan của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên
Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của Vật lí học gồm: Phương pháp thực nghiệm, phương pháp tương tự, phương pháp mô hình và kết hợp với quá trình giải quyết vấn đề
Phương pháp thực nghiệm thực chất là một quá trình nghiên cứu xuất phát từ quan sát sự vật, hiện tượng rồi sau đó đưa ra các tiên đoán hoặc các giả thuyết Từ các giả thuyết đó đúc rút ra các quy luật, hệ quả hoặc định lý Cuối cùng là dùng các thực nghiệm để kiểm chứng các quy luật, định lý, hệ
Trang 23quả ấy Nếu nó còn phù hợp với thực nghiệm tức là giả thuyết đó đúng Ngược lại thì cần phải kiểm tra lại giả thuyết và điều chỉnh cho phù hợp hoặc thay vào đó một giả thuyết mới phù hợp hơn để tiếp tục nghiên cứu
Sử dụng phương pháp tương tự trong dạy học góp phần nâng cao hiệu quả giờ học, thể hiện trước hết ở tính sâu sắc, tính hệ thống của các kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát hiện những mối liên hệ giữa các hệ thống khác nhau ở các phần khác nhau của vật lý Sự tương tự là một sự dẫn đường cho nghiên cứu, cho phép xây dựng các mô hình, các lí thuyết mới, đề xuất những tư tưởng mới Phương pháp này cần trải qua các bước cơ bản sau: tập hợp các dấu hiệu về đối tượng cần nghiên cứu và các dấu hiệu về đối tượng
đã có, phân tích những dấu hiệu giống và khác nhau, kiểm tra xem các dấu hiệu có là bản chất không Tiếp đó, truyền các dấu hiệu của đối tượng đã biết cho đối tượng cần nghiên cứu bằng suy luận tương tự từ đó kiểm tra tính đúng đắn của các kết luận rút ra
Mô hình là sự phản ánh những thuộc tính bản chất của đối tượng nghiên cứu hoặc tái tạo đối tượng đó Việc nghiên cứu mô hình sẽ cung cấp cho ta những thông tin mới về đối tượng Trong vật lí, phương pháp mô hình nói chung gồm bốn giai đoạn sau: yêu cầu những tính chất của đối tượng gốc; xây dựng mô hình; thao tác trên mô hình để suy ra hệ quả lý thuyết; thực nghiệm và kiểm tra
Tất các các phương pháp nghiên cứu trên đều cần đến các thao tác tư duy và góp phần phát triển các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa, suy luận quy nạp, suy luận diễn dịch, suy luận tương tự Vấn đề là để những học sinh ở lứa tuổi THCS biết tư duy và phát triển những tư duy đó, điều quan trọng là người dạy cần biết lựa chọn, vận dụng các phương pháp nghiên cứu vào dạy học như thế nào, cụ thể hóa thành việc tổ chức hoạt động nhận thức ra sao
Trang 241.2.2 Những hành động phổ biến trong hoạt động nhận thức vật lí
Để hướng đến việc tự học, người học trước hết cần nhận thức được quy trình sáng tạo khoa học mà lịch sử đã nghiên cứu và để lại Những khía cạnh
cơ bản của quy trình này đã được khái quát bởi V.G.Razumôpxki trên cơ sở những tích lũy của các nhà vật lý nổi tiếng, thể hiện qua chu trình dưới đây:
Sơ đồ 1.2 Chu trình sáng tạo khoa học vật lí theo V.G.Razumôpxki
Theo đó, việc sáng tạo khoa học vật lí là một chu trình gồm bốn giai đoạn chính không khép kín mà được xem xét liên tục, được mở rộng dần làm giàu có thêm tri thức khoa học Từ con đường sáng tạo khoa học dẫn đến rất nhiều hành động khác nhau trong việc nhận thức và nghiên cứu vật lí Theo tác giả Nguyễn Đức Thâm, trong học tập vật lí ở trường phổ thông có những hành động phổ biến sau:
- Quan sát, nhận biết dấu hiệu đặc trưng của sự vật hiện tượng;
- Phân tích một hiện tượng phức tạp ra thành những hiện tượng đơn giản;
- Xác định những giai đoạn diễn biến của hiện tượng;
- Tìm các dấu hiệu giống nhau của các sự vật hiên tượng;
- Bố trí một thí nghiệm để tạo ra một hiện tượng trong những điều kiện xác định;
- Tìm những tính chất của nhiều sự vật hiện tượng;
- Tìm mối quan hệ phổ biến, khách quan giữa các sự vật hiện tượng;
Trang 25- Tìm mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng;
- Mô hình hóa những sự kiến thực tế quan sát được dưới dạng những khái niệm, mô hình lí tưởng để sử dụng chúng làm công cụ tư duy;
- Đo một đại lượng vật lí;
- Tìm mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng vật lí, biểu diễn chúng bằng công cụ toán học;
- Dự đoán diễn biến của một hiện tượng trong những điều kiện xác định;
- Giải thích một hiện tượng thực tế;
- Xây dựng một giả thuyết;
- Từ giả thuyết suy ra một hệ quả;
- Lập phương án thí nghiệm suy ra một giả thuyết (hệ quả);
- Tìm những biểu hiện cụ thể trong thực tế của những khái niệm, định luật vật lí;
- Diễn đạt bằng lời những kết quả thu được qua hành động;
- Tìm phương pháp chung để giải quyết một loạt vấn đề
Để thực hiện những hành động vật lí trên thì ngoài các thao tác tư duy
đã trình bày ở phần trên, học sinh cần dùng những thao tác vật chất phổ biến sau:
- Nhận biết bằng các giác quan;
- Tác động lên các vật thể bằng công cụ;
- Sử dụng các dụng cụ đo;
- Làm thí nghiệm (bố trí, lắp ráp, vận hành thiết bị);
- Thu thập tài liệu, số liệu thực nghiệm;
- Thay đổi các điều kiện thí nghiệm;
Căn cứ vào việc nghiên cứu các hoạt động học, đặc điểm hoạt động của mỗi đối tượng cụ thể mà ở đây học sinh cấp THCS, giáo viên định ra những hành động dạy thích hợp, nhất là phải tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp học sinh có thể tự lực thực hiện tốt các hành động học tập
Trang 261.2.3 Hoạt động dạy học vật lí cho học sinh cấp trung học cơ sở
Trên cơ sở hoạt động học, những hành động học tập vật lí phù hợp với lứa tuổi, những hành động chủ yếu của giáo viên trong dạy học vật lí, với đặc thù học sinh THCS gồm có:
- Xây dựng tình huống có vấn đề Xây dựng tình huống có vấn đề nhằm tạo ra hứng thú ban đầu cho học sinh, đó là điều thực sự cần thiết Tuy nhiên với lứa tuổi học sinh THCS, hứng thú ban đầu có thể dễ dàng mất đi do đặc điểm tâm sinh lý, muốn duy trì được hứng thú, sự tích cực, tự giác trong suốt quá trình hoạt động thì cần phải giúp đỡ học sinh sao cho họ có thể thực hiện thành công các hoạt động Càng thành công, học sinh càng cố gắng vươn lên thực hiện các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn
- Lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp;
- Rèn luyện kĩ năng cho học sinh thực hiện một số thao tác cơ bản, một số hoạt động nhận thức phổ biến;
- Cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức được sử dụng rộng rãi trong hoạt động nhận thức vật lí (coi trong kiến thức về phương pháp hoạt động như là một kiến thức công cụ);
- Hướng dẫn, tạo điều kiện để học sinh phát biểu, trao đổi, tranh luận về các kết quả hành động của mình, động viên khuyến khích kịp thời;
- Lựa chọn và cung cấp cho học sinh những phương tiện, công cụ cần thiết để thực hiện các hành động
Tóm lại, nếu học là hành động của học sinh xây dựng và vận dụng kiến thức cho mình thì dạy học là dạy hành động chiếm lĩnh và vận dụng tri thức
đó Vì vậy trong dạy học, giáo viên cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi
sự thích ứng của học sinh, qua đó học sinh tự mình chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển được trí tuệ và nhân cách toàn diện Trong quá trình dạy học, học sinh phải được hoạt động trong sự hợp tác giữa giáo viên và học sinh
Trang 27và giữa học sinh với nhau Giáo viên là người tạo ra các điều kiện khách quan giúp cho học sinh độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhận thức; là người giúp đỡ, định hướng, điều chỉnh hoạt động của học sinh Có như vậy người học mới có thể tiến tới cấp độ tự học một cách hiệu quả
1.2.4 Tổ chức hoạt động học tập vật lí nhằm hướng dẫn học sinh trung học
1.2.4.1 Định hướng hành động học tập vật lí cho học sinh
Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Hữu Tòng thì có ba kiểu định hướng
cơ bản ứng với những cấp độ nhận thức khác nhau, đó là:
- Định hướng tái tạo: Đó là kiểu định hướng mà người dạy hướng học sinh vào việc huy động áp dụng những kiến thức, cách thức đã được dạy vào việc thực hiện nhiệm vụ tương tự mà họ đảm nhận Trong định hướng này lại có thể chia ra hai trình độ khác nhau: định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể riêng rẽ (học sinh bắt chước theo thao tác mẫu đã có) và định hướng tái tạo khái quát tổng thể trình tự hành động để học sinh tự giải quyết Đối với học sinh THCS, kiểu định hướng này là rất cần thiết, tùy vào trình độ nhận thức
mà giáo viên có thể từng bước áp dụng
- Định hướng tìm tòi: Đó là kiểu định hướng mà giáo viên chỉ đề ra mục đích cần đạt đến và vạch ra phương pháp chung nhất, những gợi ý tổng quát để học sinh tự lực hành động đạt đến mục đích cuối cùng Học sinh THCS có đặc điểm là tò mò, ưa khám phá nên khi giáo viên có tác động thích hợp, lựa chọn đối tượng phù hợp thì kiểu định hướng này sẽ mang lại hiệu quả học tập cao
Trang 28- Định hướng khái quát chương trình hóa: Đó là kiểu định hướng hành động theo từng bước, được chương trình hóa liên tiếp theo một trình tự chặt chẽ, giúp học sinh biết hành động từng bước cụ thể rõ ràng Kiểu định hướng này phối hợp các đặc điểm của định hướng tái tạo và định hướng tìm tòi Nghĩa là trước hết giáo viên cũng định hướng cho học sinh tự tìm tòi, nhưng chú ý giúp học sinh ý thức được đường lối khái quát và sự định hướng được chương trình hóa từ cao đến thấp đối với học sinh: từ tổng quát, tổng thể, toàn bộ đến riêng biệt, chi tiết, bộ phận; từ tìm tòi đến tái tạo sao cho vừa sức học sinh Với kiểu định hướng này thì học sinh khá giỏi có thể tích cực, tự lực tìm tòi để giải quyết vấn đề từ sự định hướng khái quát ban đầu, còn học sinh yếu hơn thì tham gia giải quyết từng phần cụ thể Có thể thấy, kiểu định hướng này phù hợp với việc chia nhóm các đối tượng học sinh
Vậy để hướng dẫn học sinh tự học và phát triển năng lực tự học cho học sinh, ngoài việc giáo viên phải luôn chú ý lựa chọn cách xây dựng kiến thức vật lý theo tiến trình khoa học như đã trình bày ở các mục trên, trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi sẽ phối hợp các kiểu định hướng từ mức độ cao (tìm tòi sáng tạo) đến các mức độ thấp hơn là khái quát chương trình hóa
và làm mẫu, tái tạo Tuy nhiên, do đặc điểm đối tượng là học sinh cấp THCS
kĩ năng giải quyết vấn đề còn hạn chế nên chúng tôi chỉ đề xuất yêu cầu hành động tìm tòi sáng tạo ở một số khâu cơ bản như phát hiện vấn đề, dự đoán giải pháp giải quyết vấn đề, đề xuất phương án kiểm chứng Muốn đạt hiệu quả dạy tự học trong một lớp với nhiều cá thể, giáo viên phải có những phương án chuyển sang các kiểu định hướng khác nhau, tương ứng là việc chuẩn bị nhiều tình huống có vấn đề đưa ra cho học sinh tự lực xử lý
Tình huống học tập là những tác động dưới mọi hình thức của GV vào
HS nhằm chỉ ra mục đích hành động, cung cấp những dữ liệu cần thiết, tạo các điều kiện, hứng thú để HS có thể dựa vào đó tự lực hành động Tình
Trang 29huống phải phù hợp với logic nhận thức của HS (trình độ nhận thức, kinh nghiệm và kiến thức hiện có, …) Một tình huống học tập vật lí là một nhiệm
vụ nhận thức mà HS muốn thực hiện được thì bắt buộc phải có thêm kiến thức mới, kĩ năng mới, nghĩa là phải có sự sáng tạo trong quá trình giải quyết vấn
đề Tuy nhiên, tình huống đó phải có đủ những điều kiện để chủ thể có thể hành động được
Trong các tình huống vật lí, để chỉ rõ mục đích hành động cần phải có các lệnh hoặc các câu hỏi Việc đặt câu hỏi thích hợp và rõ ràng rất quan trọng vì nó chỉ rõ mục đích hành động, làm cho HS phải hành động chứ không phải thực hiện các thao tác Nó định hướng HS hành động, vì vậy nó giúp HS tự lực trong học tập Về cơ bản, với HS THCS, các câu hỏi cần được sắp xếp có hệ thống với các mức độ phân cấp theo loại, gồm có:
- Loại câu hỏi phát hiện vấn đề;
- Loại câu hỏi tạo tình huống có vấn đề;
- Loại câu hỏi nêu vấn đề cần giải quyết;
- Loại câu hỏi giải quyết vấn đề;
- Loại câu hỏi khảo sát lý thuyết;
- Loại câu hỏi khảo sát thực nghiệm;
- Loại câu hỏi (câu lệnh) yêu cầu diễn đạt chính xác, cô đọng kiến thức xây dựng được
1.2.4.2 Quy trình tổ chức hoạt động học tập vật lí hướng dẫn tự học cho học sinh trung học cơ sở
* Quy trình chuẩn bị bài học của giáo viên
- Bước 1: Lập sơ đồ xây dựng kiến thức cần dạy (sơ đồ 1.3): nhằm định hướng hoạt động học tập của HS Từ sơ đồ này giáo viên có thể xác định mục tiêu, phương tiện, tổ chức các tình huống, …
Trang 30
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức
Điều kiện xuất phát
(có thể là một hiện tượng vật lí, một lí thuyết vật lí hay một thí nghiệm trong đó
có
Tiến hành thí nghiệm
Thực hiện giải pháp
(trình bày chi tiết các hành động thao tác cần thực hiện theo giải pháp đã đề ra)
Kết quả suy luận
Kết quả thí nghiệm
Kết luận hoặc nhận định
(câu trả lời cho vấn đề đặt ra)
Trang 31- Bước 2: Xác định mục tiêu của bài học: Căn cứ vào chương trình và SGK và
sơ đồ tiến trình trên để xác định mục tiêu bài học Đó vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học, giúp GV xác định rõ các nhiệm phải làm Để dạy học một kiến thức vật lí cần xác định rõ hai mục tiêu cơ bản: mục tiêu thao tác (chỉ rõ những hành động HS cần đạt được trong quá trình làm việc) và mục tiêu kết quả (kiến thức, kĩ năng, thái độ) theo các thang bậc nhận thức nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá (theo thang bậc nhận thức của B.S Bloom)
- Bước 3: Chuẩn bị tài liệu - Xây dựng các tình huống vật lí và hệ thống câu hỏi: Với mỗi bài học, giáo viên phải chuẩn bị cho HS một hệ thống các tình huống vật lý và các câu hỏi theo các yêu cầu từ cao đến thấp, từ tổng quát đến
cụ thể, từ tìm tòi đến tái tạo để HS tự tìm hiểu kiến thức mới ở nhà trước khi đến lớp Từng bước thực hiện công việc này, GV cũng đồng thời hướng dẫn
bị cho HS những hiểu biết và kĩ năng cơ bản về những thiết bị thí nghiệm cần thiết đó
+Về hình thức tổ chức dạy học thì GV có thể phát trước cho HS các phiếu tình huống và hệ thống câu hỏi theo yêu cầu mỗi bài để HS tự tìm hiểu trước khi chính thức vào bài học Khi đến lớp, thay bằng việc kiểm tra miệng truyền thống, GV có thể tổ chức cho HS trao đổi, trình bày ý kiến và thảo luận giữa các nhóm, phản biện và bảo vệ ý kiến Khi HS gặp khó khăn thì GV có thể bổ sung thêm các dữ kiện hoặc gợi ý thích hợp để giúp các em tự lực giải quyết
Trang 32vấn đề GV phải có kiến thức sâu rộng để theo dõi, tóm lược, tổng hợp, đóng vai trò trọng tài và là người cho kết luận cuối cùng về vấn đề nghiên cứu + Cuối cùng, GV nên đa dạng hóa các hình thức đánh giá và khích lệ nhằm kích thích HS tự học
- Bước 5: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS Đây chính là công việc đánh giá mức độ khả thi của giáo án sao cho phù hợp với trình độ và năng lực nhận thức của HS Công việc này đòi hỏi GV phải dự kiến trước và luôn đặt ra các phương án tổ chức thay thế khi cần thiết Trong hoạt động này GV cũng cần kiểm tra hiệu quả của hoạt động tự học của HS thông qua sản phẩm như các phiếu học tập, phần trình bày và tranh luận giữa các nhóm và các báo cáo nhóm hoặc cá nhân
- Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học từng đơn vị kiến thức (soạn thảo giáo án chi tiết)
* Quy trình tự học của học sinh:
- Chuẩn bị các kiến thức đã học liên quan đến nội dung bài học mới
- Chuẩn bị các tài liệu theo hướng dẫn tham khảo của GV
-Tự đọc SGK, tài liệu tham khảo, xác định hình thức cơ bản, trọng tâm nội dung của bài học Từ đó phân tích, đánh giá thông tin, sử dụng thông tin bằng việc tự đặt ra các câu hỏi và câu trả lời
- Tham gia thảo luận trong nhóm, đưa ra các ý kiến phản biện và nhận xét từ
đó có thể tự kiểm tra, đánh giá kết quả, chất lượng học tập của bản thân và bạn bè
- Làm các phiếu học tập và bài kiểm tra của GV (tại lớp và về nhà)
1.3 Thực tiễn hoạt động dạy học vật lý của giáo viên và học sinh THCS
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng
- Phương pháp điều tra khảo sát: Thực hiện trên cơ sở các phiếu điều tra đối với 110 học sinh THCS và các giáo viên dạy Vật lí cấp THCS tại các trường THCS – THPT Newton - Từ Liêm – Hà Nội và THCS Giảng Võ – Ba Đình – Hà Nội
Trang 33- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu đối với HS và GV Vật lí Trường THCS – THPT Newton
1.3.2 Kết quả khảo sát
1.3.2.1 Nhận định về hoạt động dạy học vật lý của giáo viên và học sinh THCS
Tại các trường THCS trên địa bàn nội thành Hà Nội những năm gần đây, hoạt động dạy học vật lý đã và đang có biến chuyển tích cực Nhờ sự đổi mới về nội dung chương trình, SGK, sự trang bị đầy đủ một cách cơ bản về trang thiết bị phục vụ học tập và giảng dạy, các trường học đều có định hướng đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường các phương pháp dạy học tích cực Đặc biệt trong năm học 2011-2012, một số phương pháp dạy học tích cực đã được các giáo viên Vật lí triển khai tích cực Từ dạy học thông báo, giải thích, minh họa sang dạy học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà bước đầu đã trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để HS chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Một số phương pháp đã được áp dụng phải kể đến như dạy học gợi mở - vấn đáp, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác trong nhóm, dạy học dự
án và dạy học bằng bản đồ tư duy Có thể nói đây là những tiền đề thuận lợi
để GV kết hợp triển khai các phương pháp hướng dẫn HS học tập ở mức độ cao hơn là tự học
Tuy nhiên, hoạt động đổi mới và áp dụng các PPDH tích cực vào dạy học Vật lí ở các trường THCS tại Hà Nội không đồng đều và chưa thường xuyên Với đặc thù lớp đông (40-45 HS) tại các trường công lập và thời lượng dành cho môn học là 1tiết/ tuần (các khối lớp 6, 7, 8), để có được 1 tiết học tích cực như vậy GV phải chuẩn bị rất công phu, do đó hầu hết các tiết học đó vẫn chủ yếu dừng lại ở các tiết dạy chuyên đề và thi GV giỏi các cấp Ở một
số trường THCS ngoài công lập, một số khó khăn của GV được phần nào giải
Trang 34về phương tiện dạy học hiện đại Tuy nhiên, việc dạy học để hướng dẫn HS tự học vẫn cần rất nhiều sự nỗ lực và đầu tư thời gian, công sức của GV Vì vậy, nhiều GV vẫn sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống với sự trợ giúp của các phương tiện máy tính, máy chiếu, vv…
1.3.2.2 Thực trạng về việc tự học vật lý của học sinh THCS
- Hầu hết học sinh đều thấy cần thiết phải học Vật lí (100% số HS được điều tra), nhưng chưa có ý thức tự giác tự học, ít có hứng thú mà chủ yếu do áp lực kiểm tra, thi cử, gia đình Học sinh cũng nhận thức được vai trò của việc tự học (61%) song do chưa có nhiều trải nghiệm nên chưa thấy được ý nghĩa của việc tự học sẽ tạo hứng thú học tập, tạo phong cách làm việc khoa học, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, tạo thế chủ động trong việc lựa chọn kiến thức cần ghi nhớ
- Việc tự học của học sinh đa phần chỉ dừng lại ở việc học bài cũ, làm bài tập về nhà và thực hiện một số yêu cầu của GV HS một số lớp đã từng được giao làm báo cáo, thuyết trình theo nhóm về một số vấn đề trong bài học và lập sơ đồ tư duy khi ôn tập, tuy nhiên những hình thức này chỉ chủ yếu được áp dụng trong một số ít các buổi học ngoại khóa và ôn tập cuối kì Còn lại đa số học sinh (83%) chưa chú ý tìm hiểu sâu về các kiến thức liên quan đến bài học qua các tài liệu tham khảo, học sinh cũng chưa có ý thức tự học kiến thức mới Ở trên lớp gần như học sinh chỉ nghe giảng, trả lời các câu hỏi giáo viên đặt ra
- Đa số các em có góc học tập riêng ở nhà tuy nhiên thời gian tự học còn ít, chủ yếu chỉ ôn lại bài cũ nên chất lượng tự học chưa cao Chương trình SGK THCS hiện nay được biên soạn theo hướng gợi mở, giảm tải một số nội dung với cách viết tình huống - vấn đề - giải quyết rất khuyến khích việc tự học, tự tìm hiểu trước ở nhà Nhưng các em không có nhiều thời gian cho việc tự học ở nhà, thời gian của các em gần như bị kín vì thời khóa biểu học thêm, học gia sư, chưa kể rất nhiều trường ngoài công lập thực hiện việc dạy bán trú Theo điều tra thì có tới 70% HS cho biết không tự học được vì không có thời gian
Trang 35- Một bộ phận không nhỏ HS vẫn còn tâm lý ỉ lại vào các bạn khác khi kiểm tra đánh giá, làm hoạt động nhóm, hoặc ỉ lại vào các sách tham khảo hướng dẫn giải bài tập, để học tốt Các liệu tham khảo cho môn Vật lí nhiều nhưng lại chưa hướng dẫn hoạt động tự học, dẫn đến các em học lực trung bình gần như ghi ngay lời giải không chịu tự mình suy nghĩ, khả năng tự lực bị ảnh hưởng đáng kể
Để khắc phục tình trạng này, yêu cầu GV phải có những biện pháp kích thích, điều khiển, kiểm tra việc tự học của HS
1.3.2.2 Thực trạng về việc dạy học theo hướng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh của giáo viên THCS
Trong những năm dạy học vật lí tại Trường THCS Newton và sự giao lưu tìm hiểu việc dạy học vật lí ở một số trường bạn khu vực Từ Liêm và nội thành Hà Nội, tôi nhận thấy:
- Phần lớn giáo viên chưa chú ý đến việc tự học của học sinh, ít chú ý đến việc hướng dẫn tự học tập ở nhà Hầu hết giáo viên vẫn chưa dạy học sinh phương pháp tự học Việc học ở trường THCS hiện nay tuy có sự trợ giúp của rất nhiều phương tiện học dạy học trực quan nhưng đa phần vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu
- Một số giáo viên đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học như dạy học gợi mở vấn đáp nhiều hơn, tăng cường soạn giảng theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, khuyến khích học sinh làm việc nhóm, thuyết trình, lập sơ
đồ tư duy khi ôn tập Tuy nhiên do hầu hết GV vẫn phải đảm nhận nhiều tiết dạy, nhiều nhiệm vụ giáo dục khác trong khi vẫn phải đảm bảo tiến độ chương trình trong khoảng thời gian giới hạn nên các phương pháp trên thường chỉ được áp dụng dạy học trên lớp, với một số nội dung hạn chế, chưa
có sự đầu tư để hướng dẫn HS tự học một cách có hệ thống
Thực trạng trên chính là một nguyên nhân khiến HS chưa thực sự hứng
Trang 36quả trung bình khá cao khi được ôn tập chu đáo, đặc biệt một số trường thường giới hạn kiến thức tương đối hẹp song các khả năng ghi nhớ lâu, tổng hợp kiến thức, sự tự chủ tự tin của HS về kiến thức đã học còn rất hạn chế
Kết luận chương 1
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn như trình bày ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng: HS càng được sớm hướng dẫn việc tự học thì càng tự chủ, độc lập hơn trong học tập và công việc HS THCS hoàn toàn có đủ năng lực nhận thức để
tự học Tuy vậy để việc tự học của học sinh THCS thực sự phát huy được hiệu quả, tính tích cực, chủ động trong học tập thì không tách khỏi vai trò điều khiển của giáo viên
Trong thời gian lên lớp, vai trò của giáo viên ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động học và chất lượng học tập của học sinh cả ở trường và ngoài trường Nếu giáo viên biết hướng dẫn học sinh phương pháp học hiệu quả thì vừa tiết kiệm được thời gian vừa mang lại kết quả học tập tốt Từ đó học sinh
có thể học được ở mọi nơi, mọi lúc, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau
Phương pháp dạy học tự học là một trong những đổi mới phương pháp dạy học nhằm tăng cường khả năng chiếm lĩnh tri thức mới, khả năng tự khám phá do đó học sinh THCS đều rất hào hứng trong học tập
Tuy phương pháp dạy học tự học là một phương pháp tích cực nhưng lại đòi hỏi nhiều thời gian Trong khi đó thời gian trên lớp có hạn, khối lượng kiến thức các em phải ghi nhớ nhiều và không phải khối kiến thức nào cũng
có thể áp dụng phương pháp dạy học tự học, do đó giáo viên phải biết kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp sao cho có hiệu quả nhất
Trang 37CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THCS TỰ HỌC KHI DẠY HỌC
CHƯƠNG CƠ HỌC, VẬT LÝ LỚP 8 2.1 Giới thiệu nội dung kiến thức chương “Cơ học”, Vật lý lớp 8
2.1.1 Nội dung và thời lượng
Nội dung chương “Cơ học” Vật lí 8 là sự tiếp nối chương trình Cơ học Vật lí 6, mở đầu cho giai đoạn 2 của chương trình Vật lí THCS Đến giai đoạn này, chương trình được thiết kế với những mục tiêu cao hơn về khả năng tư duy trừu tượng, khái quát cũng như những yêu cầu về mặt định lượng trong việc hình thành các khái niệm và định luật vật lí so với giai đoạn 1 Cơ học 8 bao hàm những kiến thức cơ bản đúng nghĩa của nó, là ngành khoa học nghiên cứu chuyển động của vật chất trong không gian và tương tác giữa chúng, với các chủ đề chính:
- Chuyển động cơ học (Chuyển động cơ, các dạng chuyển động cơ; Vận tốc)
- Lực cơ học (Biểu diễn lực; Cân bằng lực; Quán tính; Lực ma sát)
- Áp suất và Lực đẩy Ác-si-met (Khái niệm áp suất; Áp suất chất lỏng và ứng dụng; Áp suất khí quyển; Lực đẩy Ác-si-mét và sự nổi)
- Công và Cơ năng (Công và định luật về công; Công suất; Cơ năng và định luật bảo toàn cơ năng)
Về thời lượng, với phân phối 1 tiết/tuần, nội dung chương “Cơ học” Vật lí 8 được trải hết phân phối chương trình học kì I và phần đầu học kì II bao gồm 20 tiết (từ tiết thứ 1 đến hết tiết thứ 20), trong đó có 01 tiết ôn tập,
01 tiết thực hành và 02 tiết kiểm tra, còn lại là các tiết lý thuyết
Trang 382.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Cơ học” Vật lí lớp 8
Áp suất
và lực đẩy Ác- si-met
Tính chất
Các dạng
Ý nghĩa
Công thức
Hai lực cân bằng
Quán tính
Đặc điểm
Cách biểu diễn
Đặc điểm
Tác dụng
Lực ma sát Nhận
Áp suất vật rắn
Áp suất chất lỏng
Áp suất khí quyển
Lực đẩy Acsimet Đặc
điểm
Công thức
Công suất
Điều kiện vật nổi, chìm
Nhận biết
Công thức
Định luật
Ý nghĩa
Công thức
Cơ
năng
Đông năng
Định luật bảo toàn
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cấu trúc chương “Cơ học” Vật lí 8
Trang 392.2 Quy trình và phương pháp hướng dẫn học sinh trung học cơ sở tự học
2.2.1 Nguyên tắc tổ chức dạy học tự học cho học sinh trung học cơ sở
Qua việc điều tra, phỏng vấn các GV, chúng tôi cho rằng khi tổ chức
tự học cho học sinh THCS, GV cần phải chú ý một số nguyên tắc sau:
- Phải làm cho học sinh thấy việc tự học là cần thiết và có thể thực hiện được
- Học sinh THCS thường còn non yếu trong kĩ năng đọc, ghi chép và làm chủ thời gian của mình, vì vậy trước quá trình dạy tự học, GV cần đảm bảo
có sự hướng dẫn hoặc thảo luận để HS tăng cường rèn luyện các kĩ năng rất cần thiết này
- Đảm bảo cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống, đảm bảo hình thành ở HS kĩ năng tự học từ thấp lên cao, tự học từng phần cho đến
tự học hoàn toàn
- Hệ thống câu hỏi và nhiệm vụ phải có sự phân cấp để phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh: Với nhóm HS khá, giỏi thì có thể sử dụng hệ thống câu hỏi khái quát, câu hỏi và nhiệm vụ mở; với nhóm HS từ trung bình trở xuống thì câu hỏi và nhiệm vụ cần phải rõ ràng, chi tiết và dần dần chuyển lên mức độ khái quát hơn
- Phải đảm bảo cho tất cả học sinh đều được tham gia vào hoạt động học tập
- GV phải đảm bảo thu nhận được thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS sau quá trình tự học và giúp đỡ điều chỉnh nhịp độ học tập của HS khi cần thiết
2.2.2 Các hình thức tổ chức dạy học tự học và quy trình thực hiện
Việc phân tích, tổng hợp về phương pháp dạy tự học cho thấy có nhiều hình thức dạy tự học khác nhau nhưng hình thức dạy tự học trên lớp chủ yếu là các hình thức sau:
Trang 402.2.2.1 Hình thức tổ chức hoạt động học tập tự học với sách giáo khoa và tài liệu tham khảo (nếu có)
Sách giáo khoa là công cụ cơ bản và trọng tâm để bắt đầu việc tự học Trong việc giảng dạy Vật lý ở trường THCS hiện nay, vẫn tồn tại tình trạng GV hệ thống nội dung trong sách giáo khoa thành các ý một cách rõ ràng mạch lạc; sau đó sử dụng phương pháp thuyết trình để giảng giải cho học sinh nội dung đã phân tích Tuy vậy về hình thức tổ chức dạy học đã tích cực hơn nhờ việc đa phần giáo viên soạn các câu hỏi theo logic cấu trúc nội dung; sau đó kết hợp dạy học thuyết trình minh họa với hình thức vấn đáp gợi mở Để phát huy tối đa tính tự lực trong học tập, GV nên chuyển hai hoạt động này cho học sinh tự thực hiện, nhưng để phù hợp với đối tượng HS, hoạt động này vẫn nằm dưới sự hướng dẫn có hệ thống của
GV Đây chính là hoạt động tự học với SGK mà chúng tôi thực hiện trong
đề tài
SGK Vật lí THCS hiện hành có ưu điểm là trình bày kiến thức trọng tâm nhất mà học sinh phải ghi nhớ một cách tương đối rõ ràng, đạt được hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông, cơ bản và phù hợp với quan điểm hiện đại, có nhiều minh họa và đều có hệ thống câu hỏi dẫn dắt trong mỗi bài Tuy vậy, nội dung SGK không phải lúc nào cũng dễ đọc đối với HS, nhất
là với những HS có nhận thức trung bình Khi chưa hiểu được tiến trình logic của bài học hoặc gặp những bài có nhiều vấn đề thì HS thường dễ bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khi học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho các bài sau Vì vậy, trong bước đầu tự học, hơn ai hết GV phải có những chỉ dẫn, hướng dẫn cách đọc sách, cung cấp thêm tài liệu khi cần và dần hướng dẫn HS cách tìm tài liệu