1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình giải phẫu người

198 106 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 17,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMở đầu.............................................................................................................................. 1I. Mục đích, tầm quan trọng, phương pháp nghiên cứu bộ môn giải phẫucơ thể người............................................................................................................1II. Sơ lược lịch sử phát triển bộ môn...........................................................................5III. Vị trí con người trong giới tự nhiên.......................................................................8Chương I: Các loại mô.................................................................................................. 14I. Vài nét về mô............................................................................................................14II. Mô thượng bì............................................................................................................14III. Mô liên kết (mô dinh dưỡng, mô đệm)........... ...................................................16IV. Mô cơ..................................?............ 25V. Mô thần kinh........................................................................................................... 29Chương II: Hệ xương..................................................................................................... 32I. Khái niệm chung về hệ xương............................................................................... 32II. Xương sọ.................................................................................................................. 34A. Sọ não............................................................................................................34B. Sọ mặt (sọ tạng).......................................................................................... 40c. Sự liên kết giữa các xương sọ............................... 43D. Sự tiến hoá của xương sọ...........................................................................44III. Xương thân.............................................................................................................45A. Cột sống ......................................................................................................45B. Lồng ngực ....................................................................................... 51IV. Xương chi....7..................... 53A. Xương chi trên............................................................................................. 53B. Xương chi dưới............................................................................................ 60Chương III: Hệ cơ.......................................................................................................... 70I. Khái niệm chung về hệ cơ.......................................................................................70II. Các cơ ở đầu và mặt............................................................................................... 73III. Các cơ ở thân và cổ............................................................................................... 75IV. Các cơ chi trên....................................................................................................... 80V. Các cơ chi dưới.......................................................................................................85Chương IV: Hệ tiêu hoá................................................................................................. 91I. Đại cương và sự phát triển của hệ tiêu hoá......................................................... 91.II. Ống tiêu hoá............................................................................................................ 91III. Các tuyến tiêu hoá.............................................................................................. 101IV. Màng bụng...........................................................................................................104Chương V: Hệ tuần hoàn.............................................................................................105I. Khái quát chung..................................................................................................... 105II. Tim.........................................................................................................................108III. Hệ động mạch.....................................................................................................A. Động mạch phổi..................................................................................................R Đông mach ptin .....................................................................................IV. Hệ tĩnh mạch .....................................................................................................V. Hệ bạch huyết......................................................................................................VI. Tuần hoàn bào thai............................................................................................111111111117121122Chương VI: Hệ hô hấp...............................................................................................124I. Vai trò và sự phát triển của hệ hô hấp................ 124II. Đường hô hấp.........................................................................................................126III. Phổi........................................................................................................................130Chương VII: Hệ tiết niệu..............................................................................................132I. Nguồn gốc và sự phát triển của hệ tiết niệu.........................................................132II. Cơ quan tạo nước tiểu thận ...............................................................................133III. Đường dẫn nước tiểu (đường dẫn niệu)............................................................ 135Chương VIII: Hệ nội tiết..............................................................................................137I. Đại cương về hệ nội tiết......................................................................................... 137II. Các tuyến nội tiết............................................. 138Chương IX: Hệ sinh dục..............................................................................................141I. Khái niệm chung về hệ sinh dục.......................................................................... 141II. Cơ quan sinh dục nam.......................................................................................... 141III. Cơ quan sinh dục nữ............................................................................................144Chương X: Hệ thần kinh.............................................................................. 149I. Đại cương về hệ thần kinh.................................................................................... 149n. Tuỷ sống................................................................................................................ 152III. Não bộ.......................................................................................................... 157A. Thân não................................................................................................................ 157B. Bán cầu đại não .................................................................................................... 165C Các đường dẫn truyền chủ yếu trong hệ thần kinh..........................................172IV. Hệ thần kinh thực vật tính (hệ thần kinh dinh dưỡng)..................................177Chương XI: Các cơ quan cảm giác.............................................................................181I. Đại cương về các cơ quan cảm giác.....................................................................181II. Cơ quan thị giác mắt......................................................................................... 181III. Cơ quan thính giác và thăng bằng tai........................................................... 186IV. Cơ quan cảm giác xúc thống nhiệt da.......................................................... 191Tài liệu tham khảo....................................................................................................... 194MỞ ĐẦUI. MỤC ĐÍCH, TẦM QUAN TRỌNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU BỘ MÔN GIẢI PHẪU Cơ THỂ NGƯỜI1. Mục đíchGiải phẫu cơ thể người là một bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc cơthể, nó được giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng sư phạm, tổng hợp, ykhoa, thể dục thể thao, hội hoạ, điêu khắc.v.v...Học môn giải phẫu cơ thể người là nhằm mục đích nghiên cứu, hiểu biếtvà nắm được cấu tạo và hình thái của cơ thể người phù hợp với chức phận. Nóinhư thế có nghĩa là: Chức phận của các cơ quan trong cơ thể đã quy định nên cấutrúc của chính các cơ quan đó. Thí dụ: Chi trước của thú dùng để vận động cơthể nên cấu tạo của nó nói chung là giống chi sau. Còn ở người, do chức phậnkhác nhau nên chi trên (tay) và chi dưới (chân) có sự khác biệt rõ ràng về cấutạo. Tay của người dùng để lao động nên ở phần xương cẳng tay: xương quay cóthể vắt chéo qua trên xương trụ làm cho bàn tay có thể sấp ngửa được dễ dàng dohoạt động của cơ sấp và cơ ngửa bàn tay. Còn bàn tay dùng để cầm nắm nênngón tay cái đã tách khỏi mặt phẳng của bàn tay và đứng đối diện với bốn ngóncòn lại. Khớp cổ tay là một khớp động làm cho cổ tay của người rất mềm dẻo vàlinh hoạt. Chân của người dùng để vận chuyển cơ thể nên các xương cổ chân,xương đốt bàn và xương đốt ngón đều cùng nằm trên một mặt phẳng. Xương gótphát triển mạnh về phía sau cùng với xương đốt bàn và xương đốt ngón tạo thànhmột chân đế vững chắc giữ cho cơ thể có dáng đứng thẳng. Cơ thể con ngườikhông phải là tổng số các cơ quan riêng rẽ mà là một khối thống nhất. Hình thái,cấu tạo và chức phận của các cơ quan trong cơ thể liên quan chặt chẽ với nhau.Chúng ta không thể hiểu một cách đúng đắn về cấu tạo và chức phận của một cơquan nào đó nếu tách nó ra khỏi cơ thể con người. Để tiện cho học tập và nghiêncứu, người ta chia cơ thể thành nhiều hệ cơ quan như hệ xương cơ (hệ vậnđộng), hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hoá... nhưng sự phân chia này chỉ mangtính chất tương đối, sự thực hoạt động của hệ cơ quan này ảnh hưởng đến hệ cơquan kia. Thí dụ: Các tuyến nội tiết nếu hoạt động không bình thường sẽ làm chocơ thể hoặc không phát triển, không có khả năng sinh sản, bị mắc bệnh tiểuđường, đần độn về trí tuệ hoặc lại phát triển quá mức.về nguồn gốc: Con người là một sinh vật (con người, con vật) nhưng làmột sinh vật ở đỉnh cao trong bậc thang tiến hoá. Con vật chỉ có một môi trườngtự nhiên bao gồm đất, nước, khí hậu... còn con người ngoài môi trường tự nhiêncòn có thêm môi trường xã hội rất quan trọng, đó là quan hệ giữa con người vớicon người về lao động, sản xuất, về giao lưu, giao tiếp, về trao đổi .v.v... chínhmôi trường xã hội này mới là động lực thúc đẩy sự phát triển của con người. Nếukhông có lao động, sản xuất thì con người không thể có được dáng đứng thẳngvà đôi bàn tay khéo léo. Để nêu lên tầm quan trọng của lao động đối với conngười, F. Engels đã nói: “lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” (cuốnsách: Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người).Như thế có nghĩa là lao động sản xuất đã tác động mạnh mẽ và đã quy định nênhình thái và cấu trúc cơ thể con người.

Trang 1

Lời nói đầu

Giáo trình, tập bài hỉảng là những tài liệu chuyên môn giúp cho sinh

viên nghiên cứu, nâng cao năng lực chủ động sáng tạo trong lĩnh hội kiến

thức khoa học.

Xu thế hiện nay trong các trường đại học là giảm bớt công việc của

giảng viên trên giảng đường, tăng cường giờ tự học, nghiên cứu bài giảng

của sinh viên Với xu thế đó, để sinh viên có tài liệu học tập, tôi đã tiến

hành biên soạn giáo trình "Giải phẫu người" Nội dung của giáo trình là những kiêh thức cơ bản về cấu tạo và chức phận của các hệ thống cơ quan

trong cơ thể người Tuy nhiên cấu tạo đố phải được đặt trong mối quan hệ

với chức phận nghĩa là cấu tạo đó phải phù hợp với chức năng. Trên quan.,

điểm tiến hoá, giáo trình còn đề cập đến những đặc điểm hơn hẳn về cấu

tạo và chức phận của cơ thể người so với động vật.

Giáo trình này là cơ sở cho sinh viên khoa Sinh - KTNN học tiếp bộ

môn Sinh lý người và động vật.

Vì là lần đầu tiên biên soạn, giáo trình không khỏi có những thiếu

sót, nhược điểm, mong bạn đọc đóng góp ý kiến.

TÁC GIẢ

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

I Mục đích, tầm quan trọng, phương pháp nghiên cứu bộ môn giải phẫu cơ thể người 1

II Sơ lược lịch sử phát triển bộ môn 5

III Vị trí con người trong giới tự nhiên 8

Chương I: Các loại mô 14

I Vài nét về mô 14

II Mô thượng bì 14

III Mô liên kết (mô dinh dưỡng, mô đệm) 16

IV Mô cơ ? 25

V Mô thần kinh 29

Chương II: Hệ xương 32

I Khái niệm chung về hệ xương 32

II Xương sọ 34

A Sọ não 34

B Sọ mặt (sọ tạng) 40

c Sự liên kết giữa các xương sọ 43

D Sự tiến hoá của xương sọ 44

III Xương thân 45

A Cột sống 45

B Lồng ngực 51

IV Xương chi 7 53

A Xương chi trên 53

B Xương chi dưới 60

Chương III: Hệ cơ 70

I Khái niệm chung về hệ cơ 70

II Các cơ ở đầu và mặt 73

III Các cơ ở thân và cổ 75

IV Các cơ chi trên 80

V Các cơ chi dưới 85

Chương IV: Hệ tiêu hoá 91

I Đại cương và sự phát triển của hệ tiêu hoá 91

II Ống tiêu hoá 91

III Các tuyến tiêu hoá 101

IV Màng bụng 104

Trang 4

Chương V: Hệ tuần hoàn 105

I Khái quát chung 105

II Tim 108

III Hệ động mạch

A Động mạch phổi

R Đông mach ptin

IV Hệ tĩnh mạch

V Hệ bạch huyết

VI Tuần hoàn bào thai

111 111 111 117 121 122 Chương VI: Hệ hô hấp 124

I Vai trò và sự phát triển của hệ hô hấp 124

II Đường hô hấp 126

III Phổi 130

Chương VII: Hệ tiết niệu 132

I Nguồn gốc và sự phát triển của hệ tiết niệu 132

II Cơ quan tạo nước tiểu - thận 133

III Đường dẫn nước tiểu (đường dẫn niệu) 135

Chương VIII: Hệ nội tiết 137

I Đại cương về hệ nội tiết 137

II Các tuyến nội tiết 138

Chương IX: Hệ sinh dục 141

I Khái niệm chung về hệ sinh dục 141

II Cơ quan sinh dục nam 141

III Cơ quan sinh dục nữ 144

Chương X: Hệ thần kinh 149

I Đại cương về hệ thần kinh 149

n Tuỷ sống 152

III Não bộ 157

A Thân não 157

B Bán cầu đại não 165

C Các đường dẫn truyền chủ yếu trong hệ thần kinh 172

IV Hệ thần kinh thực vật tính (hệ thần kinh dinh dưỡng) 177

Chương XI: Các cơ quan cảm giác 181

I Đại cương về các cơ quan cảm giác 181

II Cơ quan thị giác - mắt 181

III Cơ quan thính giác và thăng bằng - tai 186

IV Cơ quan cảm giác xúc thống nhiệt - da 191

Tài liệu tham khảo 194

Trang 5

Học môn giải phẫu cơ thể người là nhằm mục đích nghiên cứu, hiểu biết

và nắm được cấu tạo và hình thái của cơ thể người phù hợp với chức phận Nói như thế có nghĩa là: Chức phận của các cơ quan trong cơ thể đã quy định nên cấu trúc của chính các cơ quan đó Thí dụ: Chi trước của thú dùng để vận động cơ thể nên cấu tạo của nó nói chung là giống chi sau Còn người, do chức phận khác nhau nên chi trên (tay) và chi dưới (chân) có sự khác biệt rõ ràng về cấu tạo Tay của người dùng để lao động nên ở phần xương cẳng tay: xương quay có thể vắt chéo qua trên xương trụ làm cho bàn tay có thể sấp ngửa được dễ dàng do hoạt động của cơ sấp và cơ ngửa bàn tay Còn bàn tay dùng để cầm nắm nên ngón tay cái đã tách khỏi mặt phẳng của bàn tay và đứng đối diện với bốn ngón còn lại Khớp cổ tay là một khớp động làm cho cổ tay của người rất mềm dẻo và linh hoạt Chân của người dùng để vận chuyển cơ thể nên các xương cổ chân, xương đốt bàn và xương đốt ngón đều cùng nằm trên một mặt phẳng Xương gót phát triển mạnh về phía sau cùng với xương đốt bàn và xương đốt ngón tạo thành một chân đế vững chắc giữ cho cơ thể có dáng đứng thẳng Cơ thể con người không phải là tổng số các cơ quan riêng rẽ mà là một khối thống nhất Hình thái, cấu tạo và chức phận của các cơ quan trong cơ thể liên quan chặt chẽ với nhau Chúng ta không thể hiểu một cách đúng đắn về cấu tạo và chức phận của một cơ quan nào đó nếu tách nó ra khỏi cơ thể con người Để tiện cho học tập và nghiên cứu, người ta chia cơ thể thành nhiều hệ cơ quan như hệ xương - cơ (hệ vận động), hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hoá nhưng sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, sự thực hoạt động của hệ cơ quan này ảnh hưởng đến hệ cơ quan kia Thí dụ: Các tuyến nội tiết nếu hoạt động không bình thường sẽ làm cho

cơ thể hoặc không phát triển, không có khả năng sinh sản, bị mắc bệnh tiểu đường, đần độn về trí tuệ hoặc lại phát triển quá mức

Trang 6

về nguồn gốc: Con người là một sinh vật (con người, con vật) nhưng là một sinh vật ở đỉnh cao trong bậc thang tiến hoá Con vật chỉ có một môi trường

tự nhiên bao gồm đất, nước, khí hậu còn con người ngoài môi trường tự nhiên còn có thêm môi trường xã hội rất quan trọng, đó là quan hệ giữa con người với con người về lao động, sản xuất, về giao lưu, giao tiếp, về trao đổi v.v chính môi trường xã hội này mới là động lực thúc đẩy sự phát triển của con người Nếu không có lao động, sản xuất thì con người không thể có được dáng đứng thẳng

và đôi bàn tay khéo léo Để nêu lên tầm quan trọng của lao động đối với con người, F Engels đã nói: “lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” (cuốn sách: Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người) Như thế có nghĩa là lao động sản xuất đã tác động mạnh mẽ và đã quy định nên hình thái và cấu trúc cơ thể con người

2 Tầm quan trọng

Giải phẫu cơ thể người có tầm quan trọng đặc biệt vì nó là môn khoa học

cơ sở từ đó có thể liên quan đến các môn khoa học tự nhiên và xã hội khác như gĩải phẫu so sánh, sinh lý người và động vật, nliârrchủn^ học, dân tộc học, phôi sinh học, điêu khắc, hội hoạ, thể dục thể thao, y học.v.v

Giải phẫu cơ thể được ứng dụng nhiều trong y học Một bác sĩ phẫu thuật nếu không nắm vững được vị trí, cấu tạo và chức phận của các cơ quan trong cơ thể thì khi mổ xẻ một bộ phận sẽ gây thương tổn đến các bộ phận xung quanh

Những người làm công tác nghệ thuật như hội hoạ, điêu khắc, tạc tượng thì nhất thiết phải nắm vững về hệ xương cơ, tỷ lệ các phần của cơ thể, tỷ lệ các

bộ phận giữa cơ thể nam và nữ: vai nam rộng hơn vai nữ, thân nam dài hơn thân

nữ, hông nam nhỏ và dài hơn hông của nữ.v.v Không những thế họ còn phải hiểu rõ sinh lý hoạt động của các cơ trong những trạng thái tình cảm khác nhau: lúc vui vẻ tươi cười, khi trầm ngâm tư lự, lúc tức giận, khi yêu thương, lúc lao động, khi nghỉ ngơi.v.v có thế tác phẩm nghệ thuật của họ mới đạt trình độ nghệ thuật cao

Những người làm công tác giáo dục nhất là những giáo viên dạy môn sinh

• học càng cần phải nắm vững bộ môn này để có đủ trình độ giảng dạy phần giải phiu sinh lý người ở các trường phổ thông, đồng thời hướng dẫn học sinh biết giữ gìn vệ sinh làm sạch môi trường sống và bảo vệ sức khoẻ

Các nhà tâm lý học không thể hiểu được tâm lý của con người nói chung

và tâm lý của từng lứa tuổi khác nhau nói riêng nếu họ không có kiến thức về

Trang 7

giải phẫu cơ thể đặc biệt là giải phẫu hệ thần kinh trung ương.

Trong thể dục, thể thao, học môn giải phẫu cơ thể là cơ sở để hiểu được các quy luật hoạt động sinh lý thể thao vì trong quá trình huấn luyện, cơ thể vân động viên có sự thay đổi hình dạng của các cơ quan Ví dụ: luyện tập làm cho cơ bắp nở nang, độ dày của tâm thất tăng lên.v.v Trong tuyển chọn năng khiếu thể thao và vận động viên, một trong những vấn đề không thể thiếu được là phải nghiên cứu và nắm vững hình thái và giải phẫu của vân động viên

3 Các phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của bộ môn này là các cơ quan của cơ thể người và các phương pháp nghiên cứu thì bao gồm:

+ Phương pháp giải phẫu hệ thống: Nghiên cứu từng hệ cơ quan, được áp dụng trong các trường tổng hợp, sư phạm, thể dục thể thao.v.v Ưu điểm của phương pháp này làm cho người ta nắm được cấu tạo và sự phát triển có hệ thống của từng hệ cơ quan

+ Phương pháp định khu: Nghiên cứu từng vùng một nghĩa là toàn bộ những phần gì có trong khu đó là được xem xét và nghiên cứu đến như xương,

cơ, mạch máu, thần kinh, dây chằng.v.v nó được áp dụng trong các bệnh viện và các trường y khoa Ưu điểm của phương pháp này là giúp cho các nhà phẫu thuật

mổ sẻ được chính xác

+ Phương pháp giải phẫu tạo hình: Đo đạc trên các phần của các cơ thể

để biết được sự khác nhau về tầm vóc và kích thước giữa nam và nữ, tỷ lệ giữa các bộ phận của cơ thể Phương pháp này được áp dụng ở các trường hội hoạ, điêu khắc

+ Phương pháp tiêm màu: Tiêm một số chất lỏng có màu sắc vào các cơ quan có cấu tạo hình ống như khí quản, phế quản, huyết quản, niệu quản, thực quản.v.v Nhờ màu sắc của chất lỏng mà người ta biết được sự phân bố của các

cơ quan trên

+ Phương pháp định hình: Dùng cồn hoặc foocmon ngâm toàn bộ hoặc một số cơ quan của cơ thể để lưu giữ mẫu tiện cho việc nghiên cứu lâu dài

+ Phương pháp trong suốt: Ngâm các bộ phân hoặc cơ thể cần nghiên cứuvào một loại hoá chất đặc biệt, hoá chất này sẽ làm cho các phần ngoài trở nêntrong suốt nhờ đó có thể quan sát được các bộ phận bên trong

_ + Phương pháp tiêu bản: Dùng máy vi phẫu (Microtom) cắt các loại mô

Trang 8

cần nghiên cứu (mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh.v.v.) sau đó tẩy mỡ, nhuộm màu tiêu bản Khi cần quan sát thì soi trên kính hiển vi.

Ngoài các phương pháp đã nêu trên, ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, người ta còn áp dụng những phương pháp nghiên cứu rất hiện đại trên cơ thể người sống như chụp ảnh, chiếu X quang, đã sử dụng kính hiển vi điện tử để nghiên cứu cơ thể con người ở mức độ phan lử Hoặc w the đưa vào cơ thể một số chất đồng vị phóng xạ và theo dõi ảnh hưởng của các chất

đó đối với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể Người ta còn dùng siêu âm để phát hiện hình dạng khối u trong các nội quan, sử dụng tia lade trong phẫu thuật.v.v

Để nghiên cứu giải phẫu cần hiểu và nắm được một số khái niệm và danh

từ Khi mô tả cơ thể, người ta xuất phát từ vị trí đứng thẳng của con ngưòi với hai bàn tay buông thõng và lòng bàn tay hướng về phía trước Do vậy ta sẽ xác định

vị trí của cơ thể con người và các cơ quan bằng các mặt phẳng và các trục sau: +Mặt phẳng nằm ngang: Mặt phẳng này song song với mặt đất, nó chia

cơ thể thành 2 phần: trên vầ dữởĩ -

-+ Mặt phẳng đứng giữa: Chia cơ thể làm 2 phần trái và phải đối xứng nhau+ Mặt phẳng đứng ngang: Mặt phẳng này song song với trán, nó chia cơ thể thành 2 phần trước và sau

Tương ứng với 3 mặt phẳng trên có 3 trục cơ bản, trong vân động, các bộ phân của cơ thể sẽ quay quanh các trục cơ bản này:

+ Trục thẳng đứng: là trục chạy từ đầu xuống đến chân, trục này vuông góc và đi xuyên qua mặt phẳng nằm ngang Nếu trục là tâm, khi cơ thể vận động

sẽ gây ra động tác quay: quay vào quay ra hoặc quay trong và quay ngoài

+ Trục ngang trái phải: Trục này vuông góc và đi xuyên qua mặt phẳng đứng giữa Khi cơ thể vận động theo trục này thì gây ra các động tác gấp duỗi

+ Trục ngang trước sau: Trục này vuông góc và xuyên qua mặt phẳng đứng ngang Khi cơ thể vận động theo trục này thì gây ra động tác nghiêng mình

Ngoài các khái niệm trên người ta còn thường dùng một số danh từ sau đây để chỉ vị trí: trước (anterior), sau (posterior), trên (superior), dưới (inferrior), trong (intemus), ngoài (extemus), trái (dexter), phải (sinister), sâu (profundus)

•I nông (superficialis), bụng (ventralis), lưng (dorsalis)

\

\

Trang 9

II sơ Lược LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN bộ môn

1 Trước thòi trung cổ

Lịch sử bộ môn giải phẫu cơ thể người được bắt đầu từ thời cổ Hy Lạp, cổ

La Mã với nhiều nhà giải phẫu nổi tiếng

4- Hipocrate (460 - 377 TCN): Vừa là nhà giải phẫu vừa là thầy thuốc cổ

+ Herophin (304 TCN): Đã mổ sẻ tử thi, nghiên cứu các phần của não bộ:

mô tả màng não, các não thất, cầu não, phân biệt được dây thần kinh vận động và cảm giác Chính ông đã phát hiện ra hệ mạch bạch huyết trong ruột non Ông nghiên cứu cấu tạo của tim và đã chứng minh được sự trùng hợp giữa sự co giãn của tim với mạch đập Ông còn chỉ ra sự khác nhau về cấu tạo giữa động mạch

và tĩnh mạch

+ Eraditrate (300 - 250 TCN): Ông đã xác định rằng: trong mạch máu có máu chảy chứ không phải là khí Máu từ phổi chảy về tâm nhĩ rồi xuống tâm thất sau đấy theo động mạch chủ và các động mạch khác đến các cơ quan Ông đã

mô tả cấu tạo van hai lá và van ba lá của tim Ông là người đầu tiên cho rằng: động mạch và tĩnh mạch được nối với nhau bởi một hệ mạch nào đấy

+ Galien (130 - 201 SON): Là nhà giải phẫu vĩ đại, một bác sĩ lỗi lạc Ông

đã mô tả vị trí, hình dạng, cấu tạo của các xương, xác định được chức năng của nhiều cơ Ông cho rằng sự vân động của cơ có liên quan đến hệ thần kinh nên ông đã nói: “Không có thần kinh thì không có một cử động nào cả”

2 Thời trung cổ.

Thời này bắt đầu từ thế kỷ V và kết thúc vào thế kỷ XV Thời bấy giờ những tư tưởng siêu hình của nhà thờ đã thôhg trị trên mọi -lĩnh vực, khơa học ở

Trang 10

thời đó không những không được phát triển mà còn bị vùi dập Trong gần 1000 năm ấy, cùng chung số phận với các môn khoa học khác, bộ môn giải phẫu cơ thể đã chìm đắm trong một thời kỳ đen tối Chỉ xuất hiện một người tên là Avixen (980 - 1037): là bác sĩ, nhà giải phẫu, nhà toán học, nhà triết học Ông cho rằng: thế giới phát sinh không phải do ý chí của thượng đế mà là do những quy luật khách quan Ông đã viết nhiều sách trình bày những lý thuyết chung về

y học, giải phẫu sinh lý người, phương pháp phẫu thuật và chẩn đoán bệnh lý Ông đã đưa ra giả thuyết về sự truyền bệnh do những vật thể không nhìn thấy được Những vật thể này được truyền đến bởi nước và không khí Tuy nhiên ông

đã bị giáo hội kết tội

3 Thòi phục hưng

Ở thời kỳ những tư tưởng siêu hình của nhà thờ và giáo hội đã bị đánh đổ Các ngành khoa học tự nhiên và xã hội lại được phát triển, bộ môn giải phẫu cơ thể lại xuất hiện nhiều nhà khoa học nổi tiếng

+ Andre Vezali (1514 - 1564): một nhà giải phẫu lỗi lạc năm 28 tuổi, bằng tích luỹ kiến thức và quan sát thực tế, ông đã viết cuốn sách: Nói về cấu tạo cơ thể con người (Xuất bản 1543) Pavlov đã đánh giá tác phẩm này của ông như sau: “đây là tác phẩm đầu tiên về giải phẫu người của lịch sử nhân loại, nó không lặp lại những ý kiến của các tác giả xưa, mà nó dựa trên sự quan sát thực nghiệm của chính bản thân mình” Đồng thời với Vezali, trong thời kỳ này còn xuất hiện nhiều nhà giải phẫu khác mà ngày nay tên tuổi của họ đã được gắn liền với những cơ quan mà họ đã nghiên cứu: Eustache (phát hiện ra ống Eustache: thông xoang tai giữa với phần mũi hầu), Sylvius (phát hiện ra khe Sylvius ở võ bán cầu đại não, cống sylvius: thông não thất tư với não thất ba của phần thân não), Botal (phát hiện ra ống Botal: nối động mạch chủ với động mạch phổi trong tuần hoàn bào thai)

+ Leona De Vinxi (1452 - 1519): là một hoạ sĩ, nhà kiến trúc, nhà triết học Ông không những chỉ nghiên cứu hình dạng bên ngoài của cơ thể mà còn

mổ các tử thi để vẽ nên những bản vẽ có giá trị cả trong thời đại ngày nay

+ Williams Harvey (1578 - 1657): một thầy thuốc, một nhà giải phẫu, nhà sinh lý học người Anh Ông chuyên nghiên cứu về “sự vận động của tim và máu

ở động vật” nên ông đã viết: “máu chảy theo động mạch từ trung tâm ra ngoài biên và theo tĩnh mạch từ ngoại biên về trung tâm với một khối lượng rất lớn Khối lượng máu này cung cấp chất dịnh dưỡng cho cơ thể, do đó máu phải được

Trang 11

thường xuyên ở trong vòng tuần hoàn và luôn luôn vận chuyển Vì vây vận động của tim và mạch là một điều thống nhất” công trình nghiên cứu của ông là một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực sinh học và y học.

Công trình phát minh ra kính hiển vi vào thế kỷ XVII đã làm cho cấu tạo

vi thể của các cơ quan được phát hiện Leuwhen Hoek lần đầu tiên quan sát thấy hồng cầu và sự vận chuyển máu trong các mao mạch

Macxenlo Malpighi ( ): tiếp tục công trình của Eraditrate,Harvey đã phát hiện ra hệ mao mạch nối liền động mạch với tĩnh mạch Ông còn tìm ra tháp thân, vi thể thận trong cấu trúc của thận mà ngày nay các phần đó đã mang tên ông

Thế kỷ XIX Schwann (1810 - 1882) đã xuất bản vào năm 1839 quyển “sự nghiên cứu hiển vi của tế bào động vật và thực vật” để trình bày học thuyết tế bào: tất cả động vật và thực vật tồn tại trên trái đất đều được cấu tạo bởi những đơn vị cơ sở là tế bào Sự sinh trưởng và phát triển của bất cứ một cơ quan nào đều phụ thuộc vào sự phát triển của tế bào

Sau đó tiếp tục sự nghiệp phát triển môn giải phẫu còn nhiều nhà khoa học khác đáng kể nhất là các nhà giải phẫu học người Nga:

- Protaxop (1724-1796): nhà hàn lân giải phẩu đầu tiên của nước Nga, có nhiều công trình nghiên cứu giải phẫu đặc biệt là về dạ dày

- Mukhin (1766-1860) đã nhận định: người thầy thuốc nếu không phải là nhà phẫu thuật thì không những không ích lợi mà còn có hại

- Vorobiep (1876-1937): đã được chính quyền Xô viết trao nhiệm vụ ướp thi hài Lênin

- Trong lịch sử giải phẫu Xô viết có hai nhà sinh lý học lỗi lạc là Xechenov và Paplop mà những công trình nghiên cứu của hai ông đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự phát triển của giải phẫu

4 Vài nét về môn giải phẫu ở Việt Nam.

Y học và giải phẫu học của nước ta cũng có truyền thống và lịch sử từ lâu đời được phản ánh trong các công trình khoa học cổ truyền của Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh

Giải phẫu học ở nước ta được hình thành vào khoảng đầu thế kỷ XX nhất

là từ khi thành lập Viện Giải phẫu (1932). _

Trang 12

Dưói thời Pháp thuộc, môn Giải phẫu người ít được chú ý Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, các nhà giải phẫu Việt Nam như Giáo sư Đỗ Xuân Hợp và Tôn Thất Tùng đã xây dựng khoa giải phẫu

và phẫu thuật để phục vụ quân đội và nhân dân

Từ năm 1950, sách giải phẫu đã được biên soạn bằng tiếng Việt và ứng dụng trong giảng dạy, mở đầu là cuốn “Giải phẫu tứ chi” Giải phẫu học đã mở rộng phạm vi nghiên cứu, hướng về giải thích cấu tạo (giải phẫu chức phận), nguồn gốc của loài người (giải phẫu tiến hoá), tìm ra các đặc điểm của người Việt Nam xưa kia và ngày nay ở từng lứa tuổi, từng dân tộc, tìm ra các quy luật phát triển của con người trong các điều kiện thiên nhiên và xã hội thay đổi Do

đó giải phẫu học Việt Nam đã đạt được một số thành tích đáng kể: đặt cơ sở cho việc phẫu thuật các cơ quan trong cơ thể, điều tra cơ bản về con người Việt Nam,

đo đạc các kích thước trên cơ thể người Việt Nam ở các lứa tuổi, giới tính, dân tộc Năm 1972, lần đầu tiên Hội nghị khoa học về hằng số sinh học (HSSH) của người Việt Nam được tổ chức Năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” ra đời do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên, trong đó tập trung — hàng trăm các công trình nghiên cứu về con người Việt Nam Cuốn sách này là

cơ sở cho việc tìm ra các quy luật phát triển của các cơ quan của cơ thể, định ra các dấu hiệu bệnh lý để có biện pháp phòng và chữa bệnh; đề ra các chế độ lao động, luyện tập, sinh hoạt thích hợp Bên cạnh đó còn cải tiến các công cụ lao đông, vật dụng sinh hoạt: quần áo, giày dép phù hợp với kích thước người Việt Nam để tăng năng suất lao động và tiết kiệm nguyên vật liệu

in VỊ TRÍ CON NGƯỜI TRONG GIỚI Tự NHIÊN.

1 Nguồn gốc loài ngưòi.

Bàn về nguồn gốc con người và xác định vị trí con người trong giới tự nhiên không chỉ là vấn đề khoa học đơn thuần mà còn liên quan đến cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai trường phái có quan điểm đối lập nhau:

+ Phái duy tâm cho rằng: Thượng đế đã tạo ra muôn loài trong đó có loài người

+ Phái duy vật biến chứng đã xác định: người có nguồn gốc từ động vật thông qua các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa người với động vật Họ đã tìm ra được cội nguồn của con người mà từ đó trải qua các giai đoạn phát triển,

Trang 13

quá trình tiến hoá dưới ảnh hưởng của môi trường để hình thành nên nhân loại ngày nay.

Nghiên cứu về nguồn gốc loài người đã có các nhà khoa học sau:

+ Năm 1735, C.Linne (1707-1778) - người Thuỵ Điển xuất bản cuốn “Hệ thống phân loại động vật”, trong đó ông đã xếp loài người vào lớp động vật có

vú, bộ linh trưởng cùng với loài khỉ và vượn

+ Năm 1871, R.Darwin (1809-1882), nhà bác học sinh vật người Anh đã cho ra đời cuốn “Nguồn gốc loài người và chọn lọc giới tính” và kết luận về mối quan hệ gần gũi giữa vượn người và người Ông đã chứng minh: loài người được phát triển từ một loài vượn đã tuyệt chủng

Theo quan điểm của Linne và Darwin, bộ linh trưởng được phân loại như sau:Bộ

quan điểm của Linne và ông tách loài người ra khỏi bộ linh trưởng (primates)

Trang 14

+ Năm 1809, Lamark (1744-1829): nhà bác học người Pháp đã xuất bản cuốn “Triết học động vật” trong đó trình bày một cách có hệ thống lý luân tiến hoá về thế giới sinh vật và ông cho rằng khỉ nhân hình là tổ tiên của loài người.

+ Huxley (1825-1895) - người Anh, phản đối quan điểm bộ hai tay, bộ bốn tay, ủng hộ quan điểm của Linne và khẳng định vị trí con người thuộc bộ linh trưởng trong hệ thống phân loại động vật

2 Những nét tương đồng giữa người và động vật có vú.

Các dẫn liệu sinh học đã khẳng định vị trí con người nằm trong bộ linh trưởng thuộc lớp động vật có vú, nên người và động vật có vú có những đặc điểm giống nhau sau đây:

+ Hệ thần kinh: có thần kinh trung ương phát triển cao độ về số lượng và chất lượng Bán cầu đại não có lớp vỏ não phát triển mạnh bao trùm lên các phần khác của não bộ, điều khiển các cơ quan hoạt động nhanh, nhậy bén; nhờ đó có thể luôn thích nghi với những thay đổi của điều kiện môi trường

xương vói-đốt cổ đáu tiên bằng hai lồi cầuchẩm Đoạn cổ của cột sống chỉ có 7 đốt

4- Hệ tiêu hoá: đã xuất hiện 2 lứa răng: răng sữa và răng trưởng thành Thức ăn được nghiền nát dễ dàng do xương hàm dưới khớp động với xương sọ

+ Hệ tuần hoàn: tim được chia làm 4 ngăn: 2 tâm nhĩ, 2 tâm thất Các tâm nhĩ và tâm thất ở hai bên tim không thông nhau nên máu động mạch (giàu 02) đi đến các tế bào mô không trộn lẫn với máu tĩnh mạch (nhiều CO2) Chỉ có một cung động mạch chủ uốn sang trái

4- Hệ hô hấp: phổi có túi khí (phế nang) vói số lượng rất nhiều làm diện tích hô hấp được tăng cường Xuất hiện cơ hoành ngăn cách khoang ngực và khoang bụng tạo điều kiện thuận lợi cho sự trao đổi khí

4- Hệ sinh dục: phôi thai được phát triển trong tử cung người mẹ, có nhau thai là nơi trao đổi chất giữa cơ thể mẹ và con Con đẻ ra được nuôi bằng sữa mẹ nên bảo đảm sự tồn tại của con

+ Cơ quan cảm giác: bề ngoài của da có lông mịn bao phủ, bên trong

da có nhiều tuyến nhờn và tuyến mồ hôi- đó là những bộ phận điều hoà nhiệt

độ cơ thể nên thân nhiệt thường ổn định Trong tai giữa có 3 xương nhỏ là xương búa, xương đe và xương bàn đạp để dẫn truyền và khuếch đại tần số của âm thanh

Trang 15

3 Những nét giống nhau giữa người và bộ linh trưởng.

a) Các đặc điểm giải phẫu - sinh lý.

+ Hệ xương:

- Phần cẳng tay có xương trụ trong và xương quay ngoài Xương quay

có thể vắt chéo qua trên xương trụ vì vậy có cử động lật sấp hoặc lật ngửa cẳng tay và bàn tay

- Phần bàn tay có xương đốt bàn ngón cái khớp với xương thang bằng khớp yên ngựa nên ngón cái tách khỏi mặt phẳng của bàn tay và có thể chạm tới 4 ngón còn lại, các ngón tay thì dài và có khả năng cầm nắm, còn móng tay thì dẹt Đây chính là đặc điểm làm cho bàn tay con người chuyển thành cơ quan lao động

+ Hệ tiêu hoá: đều có 3 loại răng: răng cửa (I), răng nanh (C), răng hàm với răng trước hàm (P) và răng hàm chính thức (M) Công thức răng như sau:

- Răng trưởng thành của linh trưởng:

Đều cùng có ruột thừa ở cuối manh tràng

+ Hệ sinh dục: có tử cung đơn, tinh trùng có hình dạng và kích thước giống nhau, có một đôi tuyến vú ở ngực, nhau thai có dạng hình đĩa Hoạt động sinh dục thường xuyên không theo mùa, mỗi lần đẻ thường chỉ một con, nuôi con bằng sữa Các chu kỳ kinh nguyệt, chu kỳ mang thai, thời gian nuôi con và các thời kỳ phát triển sau khi sinh đều như nhau

+ Nhóm máu: Trong hệ thống máu ABO, người và linh trưởng đều có 4 nhóm máu cơ bản là A, B, o, AB Huyết sắc tố - hemoglobin chi khác nhau có 2 axit amin

+ Nhiễm sắc thể: số lượng gần bằng nhau, người có 46NST, linh trưởng có

48 NST; sự sai khác về AND rất nhỏ (khoảng 1,1%)

b) Các đặc điểm phôi sinh học.

Sự phát triển của phôi người và linh trưởng tương tự như nhau và đều trải

Trang 16

+ Khi phôi được 10-20 ngày thì xuất hiện dấu vết khe mang như mang cá.+ Phôi một tháng: tim bắt đầu đập, não có 5 phần giống như não cá dần dần não trước phát triển mạnh bán cầu đại não.

+ Phôi 2 tháng: xuất hiện đuôi dài 10 đốt, sau đó các đốt 6-> 10 rụng đi và

Hỉ 191 1.9 Hrít p.ốĩiơ dit* /tXí

vxx UVAl VVAẲ x«xx AU MAưt vik/v.

4- Thai 5 tháng: có lông rậm bao phủ cơ thể trừ gan bàn chân, bàn tay

Thai 7 tháng thì lông rậm rụng đi thay vào đó là lông thứ cấp mọc ở đầu

4 Những đặc điểm tiến hoá của người.

Con người là đỉnh cao của sự phát triển sinh giới có các hệ thống cơ quan hoàn thiện về cấu tạo và hoàn chỉnh về chức năng Theo I.Mesnhicov

và Videchem, người có nhiều đặc điểm tiến hoá hơn so với linh trưởng và thú bậc cao:

+ Xương sọ phát triển hơn hẳn, thể tích hộp sọ lớn hơn 140cm3 do xương chẩm phát triển về phía sau, 2 xương đỉnh phát triển lên phía trên, xương trán phát triển mạnh về phía trước

+ Lỗ chẩm của người lùi về đáy hộp sọ thích nghi với dáng đứng thẳng.+ Chỉ có người hiện đại mới có mỏm chũm ở xương thái dương để mắc cơ

ức đòn chũm, giữ cho cổ thẳng

+ Tỷ lệ sọ não/sọ mặt khoảng 48%/36% (sọ não lớn hơn sọ mặt) Sọ mặt

có số lượng xương tiêu giảm (2 xương hàm trên gắn lại thành một, 2 xương hàm dưới cũng gắn lại thành một) và rút gọn về sau nên bớt vẩu Xương hàm dưới có cấu tạo gọn, nhẹ, xuất hiện gai cằm và lồi cằm để bám cổ cằm lưỡi tạo điều kiện thuận lợi cho phát âm

+ Não bộ với khoảng 12-15 tỉ tế bào thần kinh, có lớp chất xám - vỏ não dày chừng 2 mm với nhiều khe, rãnh, khúc cuộn và các trung khu (căn cứ) thần kinh Sự hoạt động của não người tinh vi hơn hẳn mọi động vật khác do ở người tồn tại hệ thống tín hiêụ thứ 2 (tiếng nói và chữ viết) Nhờ có hệ thống tín hiệu này mà xã hội loài người mới được hình thành và không ngừng phát triển

+ Cột sống của người có dạng hình chữ s với 4 đoạn cong: đoạn cổ và thắt lưng lồi ra trước, đoạn ngực và đoạn cùng lồi về sau và dạng hình tháp: kích thước đốt sống to dần từ trên xuống dưới Hai hình dạng trên làm cột sống vừa mềm dẻo vừa vững chắc

Trang 17

+ Lồng ngực có dạng hình nón cụt, dẹt trước sau do đó đã đẩy 2 đầu ngoài của 2 xương đòn ra xa nhau nên 2 chi trên (tay) của người vận động được dễ dàng.

+ Xương bả vai có dạng hình tam giác rõ rệt: dáy trên đỉnh dưới với hố trên gai nhỏ, hố dưới gai lớn hơn

+ Bàn tay con người thực sự trở thành cơ quan lao động vì ngón cái chạm được với 4 ngón còn lại làm tăng khả năng cầm nắm công cụ và thực hiện các động tác

+ Xương chi dưới có kích thước dài hơn xương chi trên phù hợp với chức năng vận động và lao động

+ Phần tự do của chi dưới có cấu tạo thích nghi với tư thế đứng thẳng và chức năng vận động cơ thể

- Cổ chân to, khớp cổ chân kém linh hoạt Xương gót có củ gót to lùi về sau

- Xương đốt bàn chân lõm ở dưới tạo nên gan bàn chân Khi bước đi chỉ có gót chân, các ngón chân và bờ ngoài bàn chân chạm đất nên hạn chế được sự ma sát với mặt đất do vậy di chuyển được nhanh

- Các xương ngón chân ngắn lại để khi đi không phải nhắc chân lên cao.+ Các cơ chi dưới rất phát triển như các cơ vùng mông, cơ tứ đầu đùi, có tam đầu cẳng chân

+ Người có lao động - đó là đặc điểm cơ bản khác biệt giữa người và các động vật bậc cao khác Lao động đã làm con người hoàn thiện thêm về cấu tạo hoàn chỉnh hơn về chức năng

Trang 18

đó trên con đường phát triển, phôi được chia ra thành 3 lá: phôi ngoài, phôi giữa

và phôi trong Các lá phôi này lại tiếp tục phân chia thành nhiều tế bào, lúc đầu các nhóm tế bào có cấu trúc giống nhau, nhưng sau một quá trình biến đổi để thích nghi vói ngoại cảnh, những nhóm tế bào đó phân chia thành nhiều nhóm tế bào có cấu trúc và chức phận chuyên hoá tạo nên các cơ quan khác nhau của cơ thể Những nhóm tế bào đó được gọi là mô Trong thành phần của mô có 2 yếu tố: yếu tố có cấu trúc tế bào và yếu tố không có cấu trúc tế bào nằm xen kẽ giữa các tế bào gọi là chất gian bào với chức năng chống đỡ hoặc làm giá đệm

Vậy mô là một tập hợp các yếu tố tế bào và chất gian bào có cùng một hình dạng, cấu trúc, cùng chung chức năng và nguồn gốc

Căn cứ vào cấu trúc, chức phận và nguồn gốc người ta chia mô thành các loại: mô thượng bì, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh

II MÔ THƯỢNG BÌ

Nguồn gốc: các mô thượng bì khác nhau thì có nguồn gốc từ các lá phôi khác nhau

2 Phân loại

Theo hình dạng và chức năng, người ta chia mô thượng bì làm 2 loại: thượng bì bao phủ và thượng bì tuyến

Trang 19

a Thượng bì bao phủ

Thượng bì này có cấu trúc rất khác nhau, có thể gồm một lớp hay nhiều lớp tế bào Hình dạng của các tế bào thượng bì cũng khác nhau: hình dẹt, hình trụ, hình khối và nằm ở nhiều vị trí khác nhau Thượng bì bao phủ được chia thành các loại sau:

+ Thượng bì da: gồm nhiều tầng tế bào có trong lớp biểu bì của da và lót ở phần đầu của ống tiêu hoá (khoang miệng) Từ thượng bì da tạo thành một số phần phụ như lông, móng, các tuyến của da Tầng sâu nhất của thượng bì da có khả năng sinh sản - tầng Malpighi

Nguồn gốc: từ lá phôi ngoài+ Thượng bì lót: gồm một tầng tế bào dẹt làm nên màng lót khoang bụng hay màng bọc một số nội quan

+ Thượng bì thận: gồm một lớp tế bào hình khối lập phương ở mặt trong của các ống niệu Chức năng: hấp thụ lại nước và một số chất khi nước tiểu ban đầu chảy qua các ống niệu

Nguồn gốc: từ lá phôi giữa

+ Thượng bì ruột: gồm một tầng tế bào hình trụ lót ở mặt trong của dạ dày

và ruột non Chức năng: hấp thụ các chất dinh dưỡng

Nguồn gốc: từ lá phôi trong

b Thượng bì tuyến

Thượng bì này gồm những nhóm tế bào được chuyên hoá cao độ để thích

ở ruột non người

Trang 20

Dưa vào hình thái, cấu tạo thì có 2 loạỹtuyến:

- Tuyến đơn bào: chỉ có 1 tế bào ví dụ tế bào tuyến hình cốc nằm rải rác xen kẽ trong thượng bì ruột làm nhiệm vụ tiết dịch ruột

- Tuyến da bào: gồm nhiều tế bào lập irung ỉại ihành khối hay đám tế bào.Dựa vào cách bài xuất chất tiết người ta chia các tuyến thành:

- Tuyến nội tiết: là những tuyến hình chùm hay hình túi không có ống dẫn Chất tiết được đổ thẳng vào máu để tới các cơ quan Ví dụ tuyến yên, tuyến giáp, tuyến trên thận

- Tuyến ngoại tiết: là những tuyến có ống dẫn, chất tiết được chảy theo ống dẫn tới cơ quan tác dụng Ví dụ tuyến nước bọt, tuyến gan, tuyến mồ hôi

- Tuyến kép; là những tuyến vừa có những nhóm tế bào không có ống dẫn vừa có những nhóm tế bào có ống dẫn chất tiết ra ngoài, ví dụ tuyến tuỵ, tinh hoàn, buồng trứng

in MÔ LIÊN KẾT (MÔ DINH DƯỠNG, MÔ ĐỆM)

Mô liên kết được tạo nên từ một loại mô gọi là trung mô, trung mô có nguồn gốc từ lá phôi giữa Thành phần chủ yếu trong cấu tạo của mô liên kết là chất gian bào còn tế bào với số lượng ít nằm rải rác trong chất gian bào

Dựa vào chức phận, mô liên kết được chia làm 2 loại: loại có chức năng dinh dưỡng: võng mô, máu, bạch huyết, loại có chức năng đệm - cơ học: xương, sụn, sợi Sự phân chia chỉ là tương đối vì các loại mô liên kết vừa có chức năng dinh dưỡng vừa có chức năng đệm cơ học như mô sợi xốp, mô sợi chắc

Mô liên kết có thể được phân loại theo sơ đồ sau:

Trang 21

1 Võng mô

Đó là loại mô liên kết ít phân hoá nhất Các tế bào của võng mô có hình sao và nối với nhau bằng những nhánh nguyên sinh chất tạo thành khối hỗn bào Chất gian bào có những sợi mảnh nối với chất nguyên sinh làm thành mạng lưới

vì vậy mô này được gọi là võng mô

Võng mô là cơ sở của các cơ quan tạo huyết như tuỷ đỏ xương, hạch bạch huyết, lá lách Ngoài chức năng tạo huyết nó còn có chức phận bảo vệ cơ thể nhờ những tế bào tự do có khả năng thực bào

Máu gồm các tế bào đã được phân hoá cao độ để thực hiện các chức năng quan trọng:

+ Hô hấp: trao đổi khí oxy và khí cacbonic Sự trao đổi này được thực hiện

mức độ tế bào trong phổi và các cơ quan khác

- Điều hoà thân nhiệt: chuyển nhiệt từ gan và cơ là những cơ quan sinh

Trang 22

Máu có 2 phần:

Huyết thanhHuyết tương - > Fibrinogen

Hồng cầuBạch cầu —> Bạch câu có hạt

Bạch cầu không hạtTiểu cầu

dự trữ ở gan hoặc bị thải ra ngoài cơ thể bằng đường tiết niệu hay mổ hôi

Nếu lấy máu ra khỏi mạch (thịt gà, thịt vịt ) để lắng một thời gian thì nó biến thành một khối dính đặc gọi là khối máu đông Nổi lên trên khối máu này là một chất lỏng màu vàng sáng gọi là huyết thanh Huyết thanh và huyết tương khác nhau ở các đặc điểm sau:

- Là phần lỏng của máu không đông - Là phần lỏng nổi lên trên khối máu (máu đang chảy trong lòng mạch) đông

- Chứa fibrinogen dạng hoà tan - Chứa các sợi fibrin không hoà tan

* Hồng cầu (Hematide)

Hổng câu là một tế bào đặc biệt có sự tiến hoá cao độ thểhiênở dạng hình đĩa lõm 2 mặt và không có nhân trong cấu trúc Đường kính hồng cầu: 7 - 8 p,

độ dày ở giữa: 1 p, ở 2 đầu: 2,2 p Diện tích một hồng cầu: 123 ỊÀ2, tổng diện tích

là 3000 m2 do đó diên tích tiếp xúc của hồng cầu với không khí rất lớn

SỐ lượng hồng cầu: ở trẻ sơ sinh: 6-7 triệu/mm3 máu, sau 3 tháng tuổi thì giảm bằng của người lớn: 4,2 triệu/mm3 máu (đối với nam) và 3,8 triệu/mm3 máu

Trang 23

Bạch cầu

Tiểu cầu

Hình 3: Các thể hữu hình trong máu người

đối với nữ Số lượng này được thay đổi tuỳ theo lứa tuổi, trạng thái: lúc làm việc hồng cầu tăng hơn lúc nghỉ ngơi, vào địa dư: dân sống ở vùng núi cao có hồng cầu nhiều hơn so với vùng thấp hoặc khi vào môi trường nóng đột ngột hồng cầu cũng tăng.Thành phần của hồng cầu: Nước 60%; protit, muối kim loai và 1 hợp chất quan trọng gọi là hemoglobin- chiếm 40%tron^- dó hemoglobin chiếm 90% số còn lại

Hemoglobin - Hb (hem + globin):

có màu hổng

Đó là một loại protit mà phân tử của nó có 4 chuỗi polypeptit (2 chuỗi a

và 2 chuỗi ”3) được nối với 4 nhóm ngoại hem (Fe), nghĩa là mỗi một chuỗi được kết hợp với một nhóm ngoại hem Nhóm ngoại hem có vòng pocphirin, vòng này được tạo bởi 4 vòng pừon ở xung quanh và nguyên tử Fe ở giữa Các vòng pừon này được nối với nhau tạo thành vòng tetrapừon Nguyên tử Fejpua Hb có khả nàng kết hợp vói O; ờ phế nang của phổi và với co2 ớ tố bào mô của các cơ quan Nhờ khả năng kết hợp này của nguyên tử Fe trong Hb mà hồng cầu cồ vai trò quan trọng tham gia vào vận chuyển khí^trong quá trình hô hấp của cơ thể

Sự sinh sản của hồng cầu: Vì thiếu nhân nên hổng cầu khống có khả năng tựjphân chia đê tạo ra các hồng cầu mới, do đó một số cơ quan trong cơ thể phải dảm nhận nhiệm vụ sản xuất ra hổng cầu:

- Lá phôi giữa tạo hồng cầu vào cuối tháng đầu của sự phát triển phôi

- Gan và lá lách tạo hồng cầu từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 4 của bào thai,

từ tháng thứ 5 trở đi do tuỷ đỏ của các xương dài như xương đùi, xương cánh tay, cẳng tay, cẳng chân Tế bào lưới trong tuỷ đỏ của xương sinh ra nguyên mô bào máu từ đó biến thành nguyên bào máu, dạng này được chuyển thành tiền nguyên hồng cầu có nhân, số này cho ra 3 dạng: Nguyên hồng cẩu ưa toan có nhân có

Hb, nguyên hồng cầu ưa kiềm có nhân có Hb và nguyên hồng cầu trung tính có nhân c"ó Hb cả 3 dạng trên sẽ dổi thành hổng cầu thường với lượng Hb tăng lên,

Trang 24

nhân bị teo dần hoặc bị tống ra khỏi nguyên sinh chất Sau đó hồng cầu rời tuỷ

đỏ xương và đi vào vòng tuần hoàn máu

Sự tiêu huỷ của hồng cầu: tuổi thọ của hồng cầu là khoảng 120 ngày, các hồng cầu già khi đi qua gan và lá lách sẽ bị tiêu huỷ bởi những tế bào đặc biệt nằm trong thành mạch gọi là tế bào Cutfer bằng cách thực bào Hồng cầu tan vỡ,

Hb bị phân huỷ, Fe được dòng máu đưa trở lại tuỷ đỏ xương để tiếp tục sản xuất

Đời sống của bạch cầu rất ngắn 2-4 ngày Nó được sinh ra từ tuỷ đỏ xương, lá lách, ruột thừa, các hạch bạch huyết và bị tiêu diệt bởi vi khuẩn, vi trùng Nếu các tế bào tạo bạch cầu vì lý do nào đó sản sinh ra rất nhanh, rất nhiều bạch cầu non yếu và đưa vào vòng tuần hoàn thì số lượng bạch cầu tăng vọt lên đó là biểu hiện của bệnh máu trắng - leucose

Phân loại: dựa vào hình thái và cấu tạo,Jbạch cầu được chia làm các loại sau:

(bạch cầu đa nhân)

Bạch cầu ưa axit ""

Bạch cầu trụng tínhBạch cầu ưa bazơBạch cai

Bạch cầu không hạt > Tế bào limpho(bạch cầu đơn nhân) Tệbàơmono

+ Bạch cáu có hạt: trong bào

nhuộm:

iều hạt bắt màu khác nhau khi

- Bạch cầu trung tính - Bạch cáu ưa axitBắt màu đỏ và xanh Bắt màu đỏ

Trang 25

Chúng có đường kính: 10 - 12p, nhân thắt lại chia thành 2 hay nhiều múi nên còn được gọi là bạch cầu đa nhân.

+ Bạch cầu không hạt: trong bào tương không có hạt bắt mầu khi nhuộm, nhân không chia múi nên còn gọi là bạch cầu đơn nhân và có 2 loại:

- Tế bào limpho (bạch huyết bào nhỏ): kích thước 8 - 10 p, nhân to tròn

- Tế bào mono (bạch huyết bào lớn): kích thước 10 - 15p, nhân to, hìnhhạt đâu

Chức năng của bach cầu: nhờ đặc điểm có thể thay đổi hình dáng như trùng biến hinhjnd có khả nâng ỵận chuyển theo kiểu amip, đi ngược dòng máu, chui qua thành mach vào tận các mô để thực bào các yi khuẩn, vi trùng gây bệnh

vì vậy chức năng cùa bạch cầu là bảo vệ cơ thể

* Tiểu cầu (Trombocite) hay tấm máu hoặc huyết bài: Đó là những mảnh rất nhỏ: 2 - 3p, không có nhân, hình dáng không dồng nhất: thoi, sao hay hình cầu Số lượng 20.000 - 40.000/mm3 máu, sống được 3-5 ngàỵ

Sinh sản: tiểu cầu được sinh ra từ tuỷ dò xương, trong đó có 1 loại tế bào rất to gọi là nguyên bào nhân khổng lồ (nhân chiếm gần hết diện tích), loại này

sẽ biến thành một dạng mới gọi là tế bào nhân khổng ,lổ Sau khi rời tuỷ đỏ của xương, tế bào này thò chân giả của mình vào dòng máu rồi vỡ vụn ra thành những mảnh nhỏ còn nhần thì bị tiêu biến

Chức năng: tiểu cầu tham gia vào quá trình đông máu, bịt miệng vết thương và làm mạch máu nơi bị đứt co lại

3 Mô liên kết sọi

Mô liên kết sợi bao gồm 2 loại: mô liên kết sợi xốp và mô liên kết sợi chắc

a Mô liên kết sợi xốp

Đó là màng lưới sợi rối bời, khá dày bao quanh các tế bào liên kết Nó được phân bố ở nhiều nơi trong cơ thể như lớp dưói bì, quanh mạch máu, mạch bạch huyết, quanh các cơ vân tạo thành bao cân cơ Chức năng: bảo vệ các cơ quan Mô này có thể được biến thành mô mỡ bằng cách chất lipit được tăng lên nhiều lần trong bào tương

b Mô liên kết sợi chắc

Mô này bao gồm dây chằng và gân - đó là những dạng đặc biệt của mô liên kết, ngoài ra còn lớp bì của da

Trang 26

Dây chằng có độ đàn hồi nhất định, có chức phận nối các xương với nhau.Gân là những sợi có độ đàn hồi kém nhưng rất mềm dẻo, có chức phận gắn các cơ vân vào xương, khi cơ co sẽ làm xương được chuyển động theo.

Về cấu tạo: Yếu tố gian bào là chủ yếu trong đó có nhiều sợi sinh keo, ở dâv chằns và sân các sơi này nằm song song với nhan còn Ci lớn bì của da có nơi chúng xếp song song với nhau có nơi thì không quy luật (xếp lung tung) vì vậy

có những vết thương mau khép kín miệng, vết khác thì lâu hơn

4 Mô sụn

Đây là một loại mô liên kết đệm cơ học về cấu tạo thì chất gian bào chiếm phần chủ yếu, phần thứ yếu là các tế bào với kích thước khá to và có khả năng đàn hồi lớn

Chức năng: - Chống đỡ, làm giá đệm cho các cơ quan khác như sụn hầu,

sụn tai, sụn khí quản, sụn gian đốt

- Làm trơn như sụn đầu xương

Phân loại: trong chất giarTbào của mô này có một số sợi keõ và sợi chun.Căn cứ vào các sợi đó, người ta chia mô sụn làm 3 loại:

+ Sụn trong: gồm sụn mũi, sụn thanh quản, sụn khí quản, sụn sườn

Hình 4 Mô sụn trong

Nó được bọc ở phía ngoài bởi 1 màng sụn mỏng với các tế bào nhỏ hình thoi nằm dài theo mặt phẳng của màng sụn.Tiếp đó là lớp tế bào ngoài với hình dáng tế bào tương tự như màng sụn nhưng số lượng ít hơn và kích thước to hơn Kế đó là lớp tế bào trong với tế bào

có dáng hình tròn và to Bào tương của lớp trong chứa nhiều glycogen, lipit và một mạng lưới nội chất phát triển nênviệc tổng hợp protit diễn ra ở đây rất mạnh

+ Sụn sợi: gồm các đĩa sụn gian đốt sống Chất gian bào chiếm phần chủ yếu tạo thành các sợi sinh keo rất lớn, các sợi này đan thành mạng lưới, trong các mắt lưới là các tế bào sụn

+ Sụn chun: gồm sụn vành tai, sụn ống tai ngoài, sụn thanh thiệt Cấu tạo

Trang 27

tương tự như sụn trong Chất gian bào có những sợi to nhỏ khác nhau, rất đàn hồi

và xếp thành mạng lưới (còn được gọi là sụn lưới) Các tế bào sụn nằm tập thành cụm từ 2 đến 3 tế bào

5 Mô xương

a Đặc điểm

Tạo nên mô xương có 3 yếu tố: tế bào xương, chất gian bào và màng xương.+ Tế bào xương: Thân của tế bào xương có dạng hình thoi hoặc hình sao, ở giữa có 1 nhân tròn Từ thân phát ra nhiều sợi dài và mảnh, trong đó chứa dịch để nuôi tế bào xương, các sợi này nối tế bào xương nọ với tế bào xương kia Nguyên sinh chất ưa kiềm, chứa glycogen, lipit và các hạt bắt mầu

+ Chất gian bào: gồm các chất hữu cơ và các chất vô cơ Chất hữu cơ chiếm 35% trọng lượng xương khô, tồn tại dưới dạng chất keo gọi là cốt giao có khả năng ngấm Ca, p và biến thành phiến xương Các chất vô cơ xuất hiện dưới dạng muối: Ca3(PO4)2: 40%; CaCO3: 10%; Na2CO3 và các muối khác 10%

+ Màng xương: Còn gọi là cốt mạc, đó là một loại mô liên kết bọc ngoài

mô xương và được chia làm 2 lớp

- Lớp ngoài: được tạo nên từ mô liên kết sợi chắc kết hợp với mạng lưới sợi keo, có nhiều mạch máu và đầu mút dây thần kinh đi tới

- Lớp trong có các tế bào xương, các sợi chun, sợi keo Các tế bào xương của lớp này có khả năng biến đổi thành xương gọi là tạo cốt bào

b Cấu tạo của xương

Khi cắt ngang qua một xương người ta thấy có 2 loại chất xương: chất xương đặc và chất xương xốp với vị trí khác nhau ở các loại xương: với những xương ngắn và đầu các xương dài thì chất xương đặc ở ngoài còn chất xương xốp

ở trong Với những xương dẹt thì chất xương đặc ở ngoài và trong còn chất xương xốp ở giữa thân của các xương ống chủ yếu là chất xương đặc

Chất xương xốp gồm một hệ thống các nan xương đan vào nhau tạo thành những bè xương, các bè xương xếp theo một số chiều nhất định Hướng của các

bè xương phụ thuộc vào lực tác dụng, nếu lực tác dụng đổi thì hướng của bè xương cũng thay đổi theo Bè xương có nhiều mắt lưới trong đó là những khoang chứa tuỷ đỏ xương - là cơ quan sản xuất ra hồng cầu Trong thân xương của người trưởng thành chứa tuỷ vàng

Trang 28

Chất xương đặc: khi cắt ngang qua chất đặc của một xương ống người ta thấy từ ngoài vào trong có 3 lớp: lớp ngoài, lớp giữa, lớp trong.

- Lớp ngoài cùng: nằm sát với màng xương, gồm nhiều tấm mảnh và cong gọi là phiến xương, các phiến xương xếp đều đặn và đồng tâm với nhau Trên các phiến xương có các tế bào xương

- Lớp giữa được tạo nên từ nhiều ống nhỏ gọi là ống Havers, chạy dọc suốt chiều dài của xương, quanh mỗi ống có từ 8-15 phiến xương tạo nên từ các sợi keo mảnh, trên đó có nhiều tế bào xương Các phiến xương xếp đồng tâm phía ngoài

có giới hạn ngoài, phía trong có giới hạn trong Các ống Havers được thông với nhau bằng Lẹ thống ống ngang hoặc chéo gọi

Hình 5: Sơ đồ cấu tạo xương đặc là ống Volkmann, ống này được

nối với mạch máu, dây thần kinh

ở mặt ngoài giáp với màng xương và với ống tuỷ ở thân xương

- Lớp trong cùng: Cấu tạo tương tự như lớp ngoài cùng nhưng số lượng phiến xương có ít hơn và gồ ghề hơn

c Sự phát triển của mô xương

Từ tháng thứ hai của quá trình phát triển phôi thai ở các mầm chỉ đã xuất hiện các tấm sụn còn ở đầu thì xuất hiện tấm màng Từ các tấm sụn và màng sẽ dần biến đổi thành xương Quá trình biến đổi này được gọi là cốt hoá với 2 hình thức: sụn hoá xương và màng hoá xương

+ Sụn hoá xương (sụn cột hoá): thường gặp ở các xương dài, những xương được biến đổi thành từ sụn thì gọi là xương thứ cấp Sụn hoá xương gồm 2 quá trình xảy ra song song: cốt hoá nội sụn và cốt hoá ngoại sụn

+ Cốt hoá nội sụn: sụn được hoá thành xương từ trong ra ngoài Vào cuối tháng thứ hai của quá trình phát triển phôi thai ở giữa thỏi sụn có một số tế bào tạo xương với nguồn gốc từ lá phôi giữa Xung quanh các tế bào này xuất hiện

Trang 29

một lớp cốt giao, lớp này ngấm rất nhiều tinh thể muối canxi, fosfor và dần tạo thành các phiến xương cong còn các tế bào tạo xương thì được chuyển thành các

tế bào xương và được di đến các phiến xương

- Cốt hoá ngoại sụn: sụn được hoá thành xương từ ngoài vào trong Quá trình diễn ra tương tự như cốt hoá nội sụn vói chiều ngược lại Khi cốt hoá ngoại sụn gặp với cốt hoá nội sụn thì thỏi sụn biến thành thỏi xương Hai đầu của thỏi xương còn chừa lại 2 sụn: sụn diện khớp để khới vói một xương khác và sụn đầu xương làm cho xương được tiếp tục phát triển dài ra nhờ đó cơ thể mới có thể tăng chiều cao

+ Màng cốt hoá (màng hoá xương): cũng vào tháng thứ hai của quá trình phát triển phôi thai ở đầu xuất hiện những tấm màng với nhiều tế bào tạo xương, quanh chúng cũng xuất hiện lớp cốt giao Quá trình màng hoá xương diễn ra tương tự như sụn hoá xương nhưng tấm màng không được hoá xương hoàn toàn

mà còn chừa lại các góc tạo thành các thóp, sau đó trong quá trình phát triển cơ thể màng ở các thóp này mới được cốt hoá hoàn toàn

Đồng thời với quá trình tạo xương thì cũng diễn ra quá trình tiêu xương và sụn Trong tấm sụn đang biến thành xương và trong các xương xuất hiện 1 loại tế bào gọi là huỷ cốt bào với kích thước 8O|I, 60 nhân có khả năng thực bào mạnh hoặc tiết ra một loại men để tiêu huỷ xương tạo thành ống tuỷ ở thân xương và các xoang rỗng ở 2 đầu của xương dài

IV MÔ Cơ

Mô cơ được tạo nên từ những tế bào gọi là sợi cơ với dạng hình ống như

cơ vân hoặc hình thơi như cơ trơn Trong nguyên sinh chất của nó (còn gọi là cơ tương) có nhiều sợi nhỏ gọi là tơ cơ các tơ cơ tập trung lại tạo nên sợi cơ Tính nhạy cảm và tính co giãn được thể hiện mạnh mẽ ở các sợi cơ nhất là khi chúng

bị kích thích Khi co, nghĩa là trở nên ngắn và dày hơn, các tế bào cơ sinh ra công cơ học, cơ hoạt động gây ra sự vận chuyển các cơ quan và thực hiện quá trình trao đổi chất Trong nguyên sinh chất còn chứa một số chất như miozin, glycogen, albumin, các hạt sắc tố, các loại protein đặc biệt là ATP - nguồn cung cấp năng lượng cho cơ hoạt động

Trong cơ có rất nhiều mạch máu để tải chất dinh dưỡng đến và đưa các chất cặn ra khỏi cơ sự phân bố máu ờ các cơ không, đồng đều: những cơ hoạt

đưa đến nhiều và ngược lại

Trang 30

Tuỳtheođặcđiểmhmhthái,.cấutrúc và chứcnăngngười ta chia mô cơ làm 3 loại: mô cơ vân, mô cơ trơn và mô cơ tim.

Trong cơ còn có nhiều sợi thần kinh Đầu tận cùng của các sợi thần kinh cảm giác nằm trong cơ tạo thành cơ quản thụ cảm bản thể với chức năng thu nhận những thay đổi xảy ra trong cơ để truyền về trung ương thần kinh Đầu tận cùng của các sợi thần kinh vận động (đối với cơ vân), của các sợi thần kinh giao cảm (đối với cơ trơn và cơ tim) làm thành cơ quan hiệu ứng nằm ngay trong sợi

cơ Cơ quan hiệu ứng nhận lệnh trả lời kích thích từ trung ương thần kinh đến cơ gây nên sự co rút các sợi cơ

1 Mô cơ vân

Cơ vân chiếm tỷ lệ lớn trong cơ thể Tất cả những cơ bám vào xương, cơ vận động cầu mắt, một phần cơ của ống tiêu hoá như cơ ở khoang miệng, ở lưỡi,

ở hầu, ở phần trên của thực quản và phần cuối của trực tràng đều là cơ vân

Mô cơ vân được hệ thần kinh động vật tính trực tiếp điều khiển, nó hoạt động tuỳ theo ý muôn cùa con người

Khi cắt ngang qua một bắp cơ vân người ta thấy có nhiều bó sợi gọi là bó Coihain, trong mỗi bó có nhiều sợi cơ nhỏ, mỗi sợi cơ ấy chính là một tế bào cơ, sơi cơ có tên là miofibrin

Hình 6. Mô cơ vân

A. Bắp cơ cắt ngang B Một sợi cơ c Lồng Krause

Mỗi tế bào cơ có hình trụ dài nằm song song với trục của bắp cơ, nó có thể dài từ vài mm đến 12 cm hoặc hơn nữa vói đường kính: 20 - 100 pm Mỗi sợi cơ

Trang 31

có màng bọc ở phía ngoài gọi là sarcolem, sát màng bọc phía trong có rất nhiều nhân, chính vì vậy người ta còn gọi tế bào cơ là một hỗn bào.

về cấu tạo khi bổ dọc sợi cơ dưới kính hiển vi điện tử người ta thấỵ trong

cơ tương có nhiều tơ cơ, chúng nằm song song vái nhau dọc theo chiều dài của sợi cơ Tơ cơ có những vân ngang nối tiếp nhau theo một thứ tự nhất định: cứ môt doansang màu lại đến một đoạn tối màu Cấu trúc vân ngang này được hình thành là do các đoạn có mật độ quang học khác nhau Đoan tối màu đươc goi là đĩa tối - đĩadị hướng A (anizotrop) bắt màu mạnh, khoảng giữa của đĩa A có một mĩen nhạt màu gọi là miền H (miền Hensen), miền này chia đĩa A làm 2 phần và

nó bị thu ngắn lại khi cơ CQ

Đoạn sáng màu được gọi là đĩa sáng - đĩa đẳng hướng I (izotrop) ít bắt mầu, khoảng giữa của đĩa I có một đường đậm màu gọi là tấm z Đoạn tơ cơ nằm ở giữa 2 tấm z được gọi là lồng Krause hay khúc tơ cơ, lồng này bao gồm 1 đĩa A ở giữa, 2 đầu là 2 phần của 2 đĩa I cho tới 2 tấm z Tơ cơ có 2 loại:

+ Tơ cơ dày: đường kính 150 - 170Ả, dài 1,5pm, được tạo nên từ một loại protein gọi là miozin, đó là protit co giãn có chứa enzim ATP-aza

+ Tơ cơ mỏng: đường kính 50 - 70Â, dài lpm, nó được tạo nên bởi một loại protein khác có tên là actin, nó có thể kết hợp với miozin tạo nên phừc hệ actinomiozin

Ảnh hiển vi điện tử cho thấy: ở đĩa sáng I chỉ có các tơ cơ actin mỏng, đĩa tối A có cả tơ cơ miozin dày và tơ cơ actin mỏng, riêng miền H chỉ có các tơ cơ dày Các tơ cơ mỏng thì trơn còn các tơ cơ dày thì có nhiều mấu lồi nhỏ nằm ngang gọi là cầu nối ngang Khi cơ co thì các cầu nối này chìa ra và móc vào tơ

cơ mỏng bên cạnh

Một trong những protit tự do của cơ là mioglobin một chất có chứa sắc tố

đỏ gần vói màu của huyết sắc tố làm cơ vân có mầu đỏ Mioglobin có khả năng

dễ kết hợp với oxy và cũng dễ nhả oxy cho cơ

2 Mô cơ trơn

Trong cơ thể người, cơ trơn chiếm tỷ lệ ít hơn so với cơ vân, nó có ở thành ống tiêu hoá như thực quản, dạ dày, ruột, ở thành ống dẫn khí như khí quản, phế quản, ở thành ống dẫn nước tiểu như niệu quản, bóng đái, niệu đạo, ở thành mạch máu như động mạch, tĩnh mạch, mạch bạch huyết, ở thành của cơ quan

Trang 32

sinh dục như tử cung, ống dẫn trứng, ống dẫn tinh, thành của các tuyến ngoại tiết như ống dẫn nước bọt, ống dẫn mật, ống dẫn tuỵ.

Mô cơ trơn được tạo nên từ nhiều tế bào Mỗi tế bào cơ trơn đều có dạng hình thoi, dài 50 - 200pm, đường kính 5 - lOpm, đều được tạo bởi 3 phần là màng, cơ tương và nhân

Màng: ở bên ngoài, bao bọc cơ tương và có nhiều chỗ lồi lõm

Cơ tương: ngoài các bào quan như lưới nội bào, bộ gơlgi, tiểu vật.v.v giống như mọi tế bào cha cơ thể thì còn có rất nhiều sợi nhỏ gọi là tơ cơ Các tơ

cơ, nằm dọc theo trục tế bào, có tính đồng nhất về mặt quang học nên mới gọi là

cơ trơn Cho đến nay những thay đổi của tơ cơ khi tế bào cơ trơn co và giãn vẫn chưa được biết rõ

Mỗi tế bào cơ trơn là một sợi cơ trơn Các sợi cơ trơn kết với nhau thành

bó sợi, các bó sợi xếp song song với nhau theo chiều ngang hoặc dọc theo chiều dài của các cơ quan có dạng hình ống, tạo nên các tầng cơ với các vị trí: tầng cơ vòng ở trong tầng cơ dọc ở ngoài Ở dạ dày ngoài 2 tầng cơ này còn có thêm tầng cơ xiên, ở dạ con còn có thêm tầng cơ mạng nhện làm tăng khả năng co bóp của lớp cơ trơn So vói cơ vân thì sự co rút của lớp cơ trơn không tạo ra lực mạnh

xe, được ngăn cách nhau bởi cơ tương Trong cơ tương có rất nhiều mioglobin làm cho cơ tim có màu đỏ, còn nhân thì nằm ở giữa cơ tương

Trang 33

Tim co bóp được nhịp nhàng và liên tục

không phải do hệ thần kinh trung ương trực tiếp

điều khiển mà do một hệ thống sợi đặc biệt gọi là

mô nút, đó là những tế bào cơ hình đa giác hay

hình cầu vói nhân nằm ở giữa và có nhiều bào

tương Nút đó bao gồm nút xoang, nút nhĩ thất,

bó Hiss và mạng lưới sợi Purkinge Hệ thần kinh

1 Tế bào thần kinh - nơron

a Cấu trúc của nơron

Mỗi một nơron được tạo nên bời một

thân tế bào và các nhánh

Thân nơron: có nhiều dạng: hình sao,

hình tròn, đa giác v.v và bao gồm: màng,

nguyên sinh chất và nhân

Màng nơron: dưới kính hiển vi điện tử,

màng này được tạo nên từ 2 lá: lá trong sẫm

màu với bản chất protein, lá ngoài sáng màu với

bản chất lipit

Nguyên sinh chất: Choán đầy thân tế

bào, chứa những hạt khi nhuộm theo phương

pháp Nissl thì các hạt đó bắt màu xanh xám và

được gọi là thể Nissl, chúng tập trung thành

từng đám nằm gần với nhân hoặc sát mặt trong của màng tế bào Thể Nissl chỉẹótrong bào tương vì vậy nơi nào tập trung nhiều thân nơron thì tạo nên chất xám của hệ thần kinh với chức năng: tổng hợp phân tích và đưa ra sự trả lời đốivới các kích thích Thể Nissl được tạo bởi các phân tử ARN với chức năng tham

Trang 34

gìa vào quá trình tổng hợp protit Trong bào tương còn có nhiều tơ thần kinh gọi

là neurofibrin với đường kính 60Â Các tơ thần kinh này ở thân tế bào thì xếp theo nhiều hướng khác nhau và đan thành mạng lưới còn ở các nhánh thì chúng lại xếp song song

Nhân- to tròn, sáng màu vì chứa ít bạt bắt màu được tạo bởi các đại phân

tử ARN, chúng có thể qua lỗ màng nhân rate bào chất để tham gia tích cực vào quá trình tổng hợp protein

Nhánh cùa nơron: bao gồm các tua gai và sợi trục:

+ Tua gai - dendrrit: đó là những tua nguyên sinh chất ngắn phátra từ thân nơron, chúng chứa thể Nissl và neurofibrin

+ Sợi trục - axon: Đó là một tua nguyên sinh chất dài từ vài pm đến 90cm Tận cùng của sợi trục chia làm nhiều nhánh nhỏ để tiếp xúc với sợi cơ hoặc để tiếp hợp với 1 nơron khác tạo thành xinap Đôi khi xuất phát khỏi thân nơron, sợi trục kết hợp với tua gai tạo nên mộtdoạn sợi chung Những tế bào như vậy gọi là

Bao Schwann: đó là những tế bào xếp cạnh nhau bọc ở phía ngoài bao mielin, các tế bào của bao Schwann rất mỏng nên màu trắng của bao mielin được hiên ra ngoài Giữa 2 tế bào của bao Schwann có 1 khe không chứa mielin gọi là

eo Ranvier, qua eo Ranvier bao Schwann được tiếp xúc với sợi trục Chức năng của bao Schwann là bảo vệ sợi trục

Trang 35

Hình 9. Sơ đồ các loại nơ-ron

+ Tế bào lưỡng cực (hai

cực): Điển hình là tế bào cảm giác

ở niêm mạc khoang mũi và màng

thần kinh của cầu mắt Có một

thân và 2 nhánh: nhánh chính là sợi

trục kéo dài, nhánh phụ là tua gai

với đầu phân nhánh

+ Tế bào đa cực: Là loại phổ biến, điển hình là tế bào vận động ở sừng trước của tuỷ sống, tế bào hình tháp của vỏ não, tế bào màng thần kinh của cầu mắt Có thân hình tam giác hoặc đa giác từ đó mọc ra nhiều nhánh trong đó nhánh dài là sợi trục các nhánh khác ngắn là tua gai

2 Thần kinh đệm

Các tế bào thần kinh đệm là phần phụ trong hệ thần kinh, chúng được xếp

ở giữa các nơron hoặc chêm giữa nơron và mạch máu, chúng có nguổn gốc chung với nơron dều cùng từ lá phôi ngoài

Chức năng: bảo vệ mô thần kinh Những tế bào thán kinh đệm ở màng não

và thành của các não thất còn có nhiệm vụ nuôi dường tế bào thân kinh

Trang 36

Bộ xương của người có nhiều chức năng quan trọng:

+ Chống đỡ: bộ xương là một các khung vững chắc để nâng đỡ cơ thể, để nhiều cơ quan bám vào

+ Bảo vệ: Bộ xương bảo vệ các cơ quan khỏi bị thương tổn: hộp sọ bảo vệ não bộ, tạo ra các hốc hố để chứa đựng các giác quan như mắt, tai Xương ức cùng các xương sườn tạo nên lồng ngực để bảo vệ tim phổi Các đốt sống tạo nên cột sống để bảo vệ tuỷ sống ở bên trong Các xương chậu tạo nên hố chậu để bảo

vệ cơ quan sinh dục và bộ máy tiết niệu

+ Vận động: Bộ xương được gắn với hệ cơ thông qua hệ thống gân, các xương nối với nhau bởi dây chằng Khi cơ co dãn thì các xương được vận động làm con người hoạt động, lao động tạo của cải, vật chất

+ Tạo huyết: tuỷ đỏ xương là cơ quan sản sinh ra hồng cầu, một thể hữu hình không thể thiếu được của máu trong hê tuần hoàn Ngoài ra xương còn là cơ quan tham gia vào trao đổi chất Fe và Ca

vô cơ bị hoà tan làm xương rất mềm

Tỷ lệ các chất hữu cơ và vô cơ trong xương có thể bị thay đổi và phụ thuộc vào:

- Chế độ dinh dưỡng: nếu trong khẩu phần ăn nhất là của trẻ em mà bị thiếu vitamin D, phôtpho thì xương của trẻ không có khả năng giữ được muối Ca

Trang 37

nên xương trở nên mềm và biến dạng (bệnh còi xương).

- Lứa tuổi: ở trẻ em tỷ lệ chất hữu cơ lớn hơn vô cơ nên xương mềm ngược lại người lớn và người già có tỷ lệ chất vô cơ cao hơn nên xương rất cứng nhưng lại giòn

+ Xương ngắn: cấu tạo nói chung giống xương dài, gồm các xương ngón tay, ngón chân

+Xương dẹt: có lớp xương đặc bao quanh lớp xương xốp chứa tuỷ dỏ Gồm các xương cổ tay, cổ chân, xương sọ não như xương chẩm, xương đỉnh, xương thái dương, xương trán, xương bả vai, xương chậu

+ Xương hình bất dinh: Các xương có hình dạng phức tạp như các đốt sống, xương hàm trên, xương hàm dưới, khẩu cái

+ Xương vừng: có hình bầu dục giống hạt vừng, gồm xương bánh chè và một vài xương nhỏ ở 2 bên ngón tay cái, ngón chân cái

Trang 38

- Sọ não: gồm 8 xương làm thành hộp sọ chứa đựng não bộ

- Sọ mặt: gồm 14 xương bảo vệ phần đầu của hệ tiêu hoá, hệ hô hấp

+ Xương thân

- Cột sống: gồm 33 - 34 đốt sống chứa tuỷ sống ở bên trong

- Long ngực: gốm 12 đôi xương sườn và 1 xương ức

+ Xương chi:

- Xương chi trên: Phần đai vai: xương bả vai, xương đòn

Phần tự do: xương cánh tay, xương cẳng tay, xương bàn

- Xương chi dưới: Phần đai hông: Xương cánh chậu

Phần tự do: xương đùi, xương cẳng chân, xương bàn chân

n XƯƠNG sọ

Xương sọ của người được

cấu tạo hoàn toàn bằng xương,

phần sụn chỉ còn lại một ít ở

trong xương lá mía Số lượng

xương có phần tiêu giảm so với

động vật có xương do các xương

nối liền với nhau Xương sọ

được chia làm 2 phần: sọ não và

sọ mặt (sọ tạng), trong đó sọ não

phát triển mạnh và bao trùm lên

cả phần sọ mặt

A SỌ NÃO Hình 11. Hộp sọ (nhìn bêri)

Sọ não gồm 8 xương khớp với nhau bằng kiểu khớp bất động tạo nên hộp

sọ cứng rắn Trong 8 xương có 2 xương chẵn: xương đỉnh, xương thái dương, 4 xương lẻ; xương chẩm, xương bướm, xương sàng và xương trán

1 Xương chẩm (Os occipitale)

Vị trí của nó ở phía sau hộp sọ, có chức phận tạo nên thành sau hộp sọ Giữa xương có 1 lỗ to gọi là lỗ chẩm, lỗ này dichjveday hộp sọ, làm nhiệm vụ nối với cột sống giúp con người có dáng dứngjhẳng

Ở trẻ sơ sinh, xương chẩm bao gồm 4 xương: 2 xương bên chẩm, 1 xương

Trang 39

trên chẩm và 1 xương dưới

chẩm Từ 5 tuổi trở đi, các

xương có chiều hướng gắn

chặt lại với nhau tạo thành 1

xương Cấu tạo của nó gồm 3

Đường cong chẩm trên

Hình 12 Xương chẩm (mặt ngoài)

ngoài chạy xuống đến lỗ chắm Từmào chẩm ngoài phát ra 2 bên 2 đôi đưèttĩg cong: dường cong chẩm trên và-dường cong chẩm dưới, Các đường con này là cơ Bạmcùa các cơ vùng gáy (

Mặt trong: ứng với u chẩm ngoài mặt trong có u chẩm trong, từ u này có maochay lên trên gọi là mào thẳng trên; cómào-chẩmlĩong-chạyxuống lổ chẩm -và 2 mào ngang chạy sang 2 bên Các mào đó chia mặt trong của xương chẩm ra làm 4 hố: 2 hố trên dựng 2 thuỳ chám của bán cáu đại não, 2 hố dưới đựng 2 bán cầu tiểu não

Phán bên chẩm: ờ 2 bên lỗ chẩm, có 2 lói cầu chẩm hình dế giày hướng xuống dưới để khớp với hõm khớp ở mặt trêncủaylốuđội Phía trước lồi cầu châm có lỗ lói câu Jrưác -lừ nơi đi racuadaythan kinh sọ số XII, phía sau là lỗ lôi cầu sau cho tĩnh mạch màng não đi qua

Phầnưiền-chẩin: ờ trước lỗ chẩm Mặt ngoài của phần này có 1 u lồi nhỏ gọi là củ hầu Mặt trong nhẵn và lõm để chứa dựng hành tùy và cầu não của não bộ

2 Xương bướm (Os sphenoidale)

Vị trí cùa nó nằm ở phía trước phần nền xương chẩm, 2 bên giáp với 2 xương thái dương, trước nó là xương sàng Nó tham gia vào tạo nên dáy hộp sọ,

có dang hình con bướm và gồm 3 phán: cánh bướm, thân bướm, chân

Trang 40

bướm,-Thận bưám: nằm ờ trước phần nền xương chẩm Mặt trên thân lõm xuống tạo nên hố yên để đựng tuyến yên (tuyến mấu não dưới), trong thân rỗng có

Qánh bướm: gồny 2đôi,

đéu xuấtpháttừ thân bưâm

Đôi cánh bướm lớn:

mọc từ thân hướng ra 2 bên-

Ở gốc cánh phần giáp với

thân.có-3đê-i4<m(từ trước ra

sau): lỗ tròn lớn cho dây thần

kinhhàm trên (1 nhánh của

dây thần kinh sọ số V) đi ra,

lỗ bầu dục là nơi đi qua của

dáyĩhần kinh hàm dưởrCT

Hình 13 Xương bướm (mặt trên)

nhánh của dây V) và lỗ tròn bé để cho động mạch màng não cứng (1 nhánh của động mạch hàm) di vào hộp sọ nuôi màng não

Đôi cánh bướm bé: mọc ra từ thân hưởng về phía trước và chếch ra 2 bên

ở gổc

dí vào trong não bộ để đến thuỳ chẩm của bán cầu đại não Nơi tiếp giáogiữa cánh bướm bé và cánh bướm lớn cùa môt bên có 1 khe hờ goi là khe bưám (khe thị giác) cho các dây thần kinh sọ số in, IV, VI ra tới cầu mắt và nhánh ổ mắt của dây V đi từ cầu mắt vào trong hộp sọ ■ ——— _

Chân bướm: Xuất phát từ thân bướm mọc xuống phía dưới ở mỗi bên đều

co 1 dôi chairphiangoaico chân bướm ngoài phía trong có chân bưởm trong giữa 2 chân bướm cùa mỗi bên cQ.lhấchânbựớm._Chân bướm ngoài là nơi bám cua cơ chân bướm ngoài, chân bướm trong là bám của cơ chân bướm trong Hai ,cợ này cùng hướng ra ngoài dể bám vàomặttrong của góc hàm dưới, khi hai cơ này co sệ làm hàm dưới đựợc dẩy sang phải và trái để thực hịện động tác nhai

3 Xương sàng (Os ethmoiaale)

Vị trí: xương này nằm ở phía trước xương bướm Nó tham gia vào tạo nên vách ngoài hốc mũi và thành trong của ổ mắt Cấu tạo gồm 3 phần: mảnh thẳng, mảnh sàng và 2 khối bên

ưũh -nhẨ - 'W) ■ ứ

Ngày đăng: 30/07/2020, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w