Để trả lời những câu hỏi trên, bài tiểu luận của nhóm chúng em sẽ đưa ra mộtgóc nhìn bao quát về nợ nước ngoài, từ cơ cấu cho đến tính an toàn của nợ nước ngoàicủa các quốc gia đang phát
Trang 1Bài tiểu luận môn Kinh tế phát triển GVHD: TS Nguyễn Chí Hải
1
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 4
I Lý luận về nợ nước ngoài 4
II A Nợ công 4
III B Nợ nước ngoài 5
1 Nguồn gốc hình thành nợ nước ngoài: 6
2 Phân loại nợ nước ngoài: 6
3 Các tiêu chí đánh giá nợ nước ngoài: 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 14
I Tình hình chung nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển 14
1 Nguyên nhân các cuộc khủng hoảng nợ của các nước đang phát triển 16
2 Hậu quả của nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển 16
3 Những giải pháp mà các nước đang phát triển đã sử dụng trong việc xử lý nợ nước ngoài 17
II Vấn đề nợ nước ngoài ở một số nước trên Thế giới hiện nay 18
1 Khu vực Châu Á 18
2 Khu vực Châu Âu 21
3 Khu vực Mỹ La-tinh 24
4 Châu Phi 29
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM HIỆN NAY 33
I Một số biện pháp chung mà các nước đang phát triển đã sử dụng để khắc phục nợ nước ngoài hiện nay 33
Trang 2II Một số kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng nợ nước ngoài của các nước đang
phát triển hiện nay 33
III Bài học cho Việt Nam 34
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Bảng biểu
Bảng4: Chỉ số nợ ở các nhóm nước giai đoạn 2000-2009 15
Bảng 5: Tình hình nợ nước ngoài của Nam Phi (ĐVT: tỷ USD) 19
Bảng 6: Tình hình nợ nước ngoài của Ai Cập (ĐVT: tỷ USD) 32
Biểu đồ
Hình 1: Tình hình nợ nước ngoài ở Indonesia 2006-2012 21
Hình 2: Giá trị xuất khẩu của Indonesia qua các năm 2000-2013) 23
Hình 3: Tình hình nợ nước ngoài Hy Lạp năm 2006-2013 23
Hình 4: Nợ nước ngoài của Liên Bang Nga năm 2004-2011 25
Hình 6: Nợ nước ngoài của Brazil từ năm 2006 đến năm 2013 27
Hình 7: Nợ nước ngoài của Mexico năm 2000-2013 27
Hình 8: GDP của Mexico 2004-2012 (đơn vị tỷ USD) 29
Hình 9: Xuất khẩu, Nhập khẩu và Cán cân thương mại 30
Hình 10: Tình hình nợ nước ngoài của Nam Phi 2000-2012 31
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn hiện nay, tính an toàn trong việc sử dụng
nợ công nói chung và nợ nước ngoài nói riêng bỗng trở thành vấn đề bàn luận nóngbỏng Đặc biệt Vấn đề nợ nước ngoài cũng đang được các nhà hoạch định chính sáchlưu tâm Bài học vỡ nợ đến từ Hy Lạp và Eurozone vẫn còn đó, vẫn đặt ra những tháchthức và những kinh nghiệm sâu sắc đối với chúng ta Vậy:
Nợ nước ngoài là gì, có khác biệt gì với nợ công, nợ chính phủ?
Nợ nước ngoài bao gồm những thành phần nào, phân loại ra sao?
Nợ nước ngoài của các nước đang phát triển có tiềm ẩn những rủi ro gì? Liệunhững rủi ro đó có đáng quan ngại hay không?
Làm sao để quản lý nợ nước ngoài an toàn?
Để trả lời những câu hỏi trên, bài tiểu luận của nhóm chúng em sẽ đưa ra mộtgóc nhìn bao quát về nợ nước ngoài, từ cơ cấu cho đến tính an toàn của nợ nước ngoàicủa các quốc gia đang phát triển, từ đó đề ra những giải pháp tạo dựng nên một chínhsách, một cơ chế quản lý nợ minh bạch và hiệu quả
Kết cấu tiểu luận gồm 3 chương :
CHƯƠNG I: Một số vấn đề cơ bản về nợ nước ngoài
CHƯƠNG II:Thực trạng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển
CHƯƠNG III: Một số giải pháp và kiến nghị khắc phục tình trạng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam hiện nay
Trang 4CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI
I Lý luận về nợ nước ngoài
II A Nợ công
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp Tuy nhiên, hầu hếtnhững cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của mộtquốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó Chính vì vậy, thuật ngữ
nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợChính phủ
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là
nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Nợ Chínhphủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, pháthành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tàichính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ Chính phủkhông bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiệnchính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ củadoanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủbảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phảitrả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân(doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân) Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia
Trang 5vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay lànước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước Nợ chínhphủ, là một phần thuộc Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền màchính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay.
Nợ chính phủ thường được phân loại như sau:
Nợ trong nước (các khoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từ người cho vay ngoài nước)
Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10 năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm)
Như vậy nợ nước ngoài là một phần của nợ chính phủ
Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản
lý nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cáncân thanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằmđảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếubằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác
B Nợ nước ngoài
Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do nhómcông tác liên ngành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì khái niệm nợ nước ngoài đượchiểu như sau: “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số dư nợ của các công
nợ thường xuyên thực tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanhtoán gốc và/hoặc lãi tại một (số) thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại mộtnền kinh tế nợ đối tượng không cư trú”
Theo định nghĩa được quốc tế thừa nhận rộng rãi này, nợ nước ngoài của mộtnước là tất cả các khoản nợ của nước đó với nước ngoài, bất kể người đi vay làChính phủ, các Tổ chức của Chính phủ hay các doanh nghiệp tư nhân; các chủ nợ có thể
là các Tổ chức quốc tế, Chính phủ, các Tổ chức thuộc Chính phủ hoặc các doanhnghiệp tư nhân nước ngoài
Trang 6Tại Việt Nam, theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài (Ban hànhkèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ)thì: “Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành (không bao gồmnghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nướcngoài tại Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vựccông và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân” Như vậy, theo cách hiểu này nợ nướcngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nướcngoài và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình).
1 Nguồn gốc hình thành nợ nước ngoài:
Đối với các nước cho vay (các nước phát triển): Có nguồn vốn tích tụ, tập trung lớn nhưng không sử dụng hết
Đối với các nước đang phát triển: Luôn thiếu vốn trong nước, có nhu cầu vốn lớn để đẩy mạnh đầu tư sản xuất, nhằm tăng trưởng và phát triển kinh tế
Do vậy mà các nhóm nước hợp tác với nhau để thỏa mãn nhu cầu về vốn của hai bên, thông qua việc cho vay, thường là ODA
2 Phân loại nợ nước ngoài:
Việc phân loại nợ nước ngoài có vai trò quan trọng trong việc theo dõi và quản lý
nợ có hiệu quả Phân loại nợ nước ngoài được chia theo các hình thức chủ yếu sau
Phân loại theo chủ thể đi vay:
Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh
Nợ công là các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và bao gồm nợ của khu vựccông cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh được xác định làcác công nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theohợp đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế vớibên nợ đó
Trang 7 Nợ tư nhân
Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được khu vựccông của nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng Về bản chất đây là các khoản nợ dokhu vực tư nhân tự vay, tự trả
Phân loại theo thời hạn vay:
Nợ dài hạn
Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã giahạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoảnthanh toán cuối cùng Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khảnăng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia
Phân loại theo loại hình vay:
Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):
Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), hỗ trợ pháttriển chính thức bao gồm các chuyển khoản song phương (giữa các Chính phủ) hoặc
đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho Chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trịchuyển khoản là cho không
Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức: Vay hỗ trợ phát triển chính thức
là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian
ân hạn Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vaythương mại Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài (có thể từ 10, 15 hay 20năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các nước đang phát triển thường hướng tới và tậndụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dựng và phát triển đất
Trang 8Tuy nhiên, vay hỗ trợ phát triển chính thức cũng có những mặt trái của nó Tính
ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức rất rõ rệt, bên cạnh đó, việc vay nợ hỗ trợphát triển chính thức đôi khi kèm theo các điều kiện ràng buộc khiến cái giá phải trảtăng đáng kể
Vay thương mại:
Khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không có ưu đãi cả vềlãi suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính quốc
tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường Chính vì vậy, vay thương mại thường
có giá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro Việc vay thương mại của Chính phủ phải đượccân nhắc hết sức thận trọng và chi quyết định vay khi không còn cách nào khác
Phân loại nợ theo chủ thể cho vay:
Nợ đa phương đến chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc, Ngân hàng Thếgiới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các ngân hàng phát triển trong khu vực, các
cơ quan đa phương như OPEC và liên chính phủ, các tổ chức như CLB Paris, CLBLuân Đôn
Nợ song phương đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ chứcOECD và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một Chính phủduy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật
3 Các tiêu chí đánh giá nợ nước ngoài:
Các chỉ tiêu phản ánh mức độ nợ:
Quy mô nợ và quy mô trả nợ, trả lãi so với nguồn thu trực tiếp và gián tiếp để trả
nợ thường được dùng để đánh giá mức độ nợ Mức độ nợ cũng ngầm cho biết khả năngtrả nợ của các quốc gia trong trung và dài hạn Các chỉ tiêu thường dùng:
Nợ/Xuất khẩu (bao gồm cả chuyển tiền của lao động xuất khẩu): Nhiều nhà kinh
tế học cho rằng thu nhập xuất khẩu là chỉ tiêu đánh giá đúng về khả năng trả nợ củamột nước chứ không phải là GNI (WB thay đổi thuật ngữ GNP thành GNI từ khi sử
Trang 9dụng hệ thống tài khoản quốc gia năm 1993) vì thu nhập xuất khẩu là nguồn thu ngoại
tệ trực tiếp và thường xuyên của một quốc gia
Nợ/GNI: Tỷ lệ nợ so với thu nhập quốc dân tạo ra Đây là chỉ tiêuđánh giá khả năng trả nợ quốc gia thông qua thu nhập quốc dân được tạo ra Tuynhiên, tình trạng nợ có thể kh ôn g đ ược đánh giá đú n g m ức do xác đ ịnh tỷ
gi á hố i đoá i qu y đ ổ i , thô n g thường các nước đang phát triển hay đánh giá caogiá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầmtrọng của nợ
Trả nợ/Xuất khẩu hay còn gọi là tỷ lệ dịch vụ nợ (nợ gốc và lãi phải thanh toán
so với giá trị xuất khẩu) Đây là một tiêu chí quan trọng, phản ánh quan hệ giữa nghĩa
vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của quốc gia
đi vay Tỷ lệ này thường được dùng để dự đoán dịch vụ nợ đã tích lũy đến mứcnghiêm trọng thế nào trong trung hạn
Lãi/Xuất khẩu: Còn gọi là tỷ lệ dịch vụ lãi hay tỷ lệ giữa tổng lãi phải trả hàngnăm so với kim ngạch xuất khẩu hàng năm Một quốc gia phải thanh toán lãi với mứclãi suất được quy định trong cam kết cho vay, thông thường lãi này được trích từ thunhập xuất khẩu Quốc gia mắc nợ trong quá khứ thì hiện tại và tương lai họ sẽtrích thu nhập từ xuất khẩu càng nhiều, hạn chế khối lượng ngoại tệ dành cho nhậpkhẩu Đây là chỉ tiêu tốt nhất để đánh giá nợ vì nó không chỉ chỉ ra gánh nặng nợ màcòn chỉ ra chi phí vay nợ
Lãi/ GNI: Tổng lãi phải trả so với GNI, phản ánh tiềm năng trả lãi của nước đivay
Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ:
Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việcvaynợ Thông thường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ thương mại và tỷ
lệ nợ song phương cao Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu gồm:
Nợ ngắn hạn/Tổng nợ: phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toántrong thời gian nhỏ hơn một năm trong tổng nợ Tỷ lệ này càng cao, áp lực trả nợcàng lớn
Trang 10 Nợ ưu đãi /Tổng nợ: tỷ lệ này càng cao, gánh nặng nợ nước ngoài càng nhẹ.
Nợ đa phương/Tổng nợ: các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích hỗ trợ,
ít mưu cầu về lợi nhuận, do đó việc tăng tỷ trọng nợ đa phương trong tổng nợphản ánh tình hình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng khá tốt
Các chỉ tiêu đánh giá tính thanh khoản:
Các chỉ tiêu thuộc nhóm này thường thể hiện khả năng trả nợ tức thời haynói cách khác khả năng đối phó nhanh của nền kinh tế đối với các biến động bấtthường của dòng tiền vay mượn, đặc biệt là luồng tiền ngắn hạn Các chỉ tiêu gồm có:
Dự trữ quốc tế/Tổng nợ: phản ánh khả năng sử dụng dự trữ ngoại hối để trả nợcủa Ngân hàng Trung ương một nước
Tỷ lệ dịch vụ nợ/Tổng thu ngân sách: có giới hạn an toàn từ 10% -12%
Dự trữ quốc tế/Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, theo tiêu chuẩn quốc
tế, dự trữ quốc tế cần đạt tối thiểu ở mức 12 tuần nhập khẩu để có đủ tiềm lực canthiệp tỷ giá khi mở rộng biên độ, tiến tới thả nổi tỷ giá và nâng cao quy mô vay vốnnước ngoài trong giới hạn an toàn
Nhóm chỉ tiêu nợ theo Ngân hàng Thế giới:
Theo Ngân hàng Thế giới, từ năm 1989 đến năm 1992 các quốc gia mắc nợđược phân thành 3 nhóm: nợ quá nhiều, nợ vừa phải, nợ ít theo 4 chỉ tiêu Nợ/GNI,Nợ/Xuất khẩu, Trả nợ/ Xuất khẩu, Trả lãi/ Xuất khẩu tính theo giá trị danh nghĩa Mộtquốc gia được xếp vào nhóm nợ quá nhiều nếu có 3 trong 4 chỉ tiêu rơi vào mứctới
Bảng 1: Phân loại nợ theo nhóm các quốc gia
Trang 11Nguồn: Hjertholm Peter (2001), Debt Relief and the Rule of Thumb: Analytical Historyof HIPC Debt Sustainability Targets , Wider Conference on Debt Relief,
Henlsinki,17-18 /08/2001
Tuy nhiên, đánh giá nợ dựa trên giá trị danh nghĩa không đủ để phản ánh khả năngthanh toán thực sự của một quốc gia và cũng không cho thấy được bức tranh toàncảnhvề khả năng thanh toán dịch vụ nợ của quốc gia, đặc biệt trong dài hạn Chonên đến năm 1992, trong WDT 1992-1993, Ngân hàng Thế giới đã điều chỉnh các chỉtiêu, các chỉ tiêu bây giờ được tính theo giá trị hiện tại của tổng nợ Ngân hàng thế giớikhông sử dụng tổ hợp 4 chỉ tiêu nữa mà coi trọng chỉ tiêu Nợ/GNI và Nợ/ Xuất khẩu vàdùng các chỉ tiêu đó để đánh giá và xếp loại mức độ nghiêm trọng về nợ của một quốcgia Thông thường Ngân hàng Thế giới xếp loại nhóm nước theo cách kết hợpgiữa tình trạng nợ và thu nhập trong bảng 2
Bảng 2: Phân nhóm các quốc gia theo thu nhập
< 48%
thấp nợ nghiêm trọng
Nhóm nước thu nhậpthấp nợ trung bình
Nhóm nước thu nhập thấp nợ ít
TN trung bình Nhóm nước thu nhập
trung bình nợ nghiêmtrọng
Nhóm nước thu nhậptrung bình nợ trung bình
Nhóm nước thunhập trung bình
nợ ít
TN cao Không xếp loại tình trạng nợ đối với nhóm nước thu nhập cao
Nguồn: World Bank (2005), Global Development Finance 2005: Mobilizing Financeand Managing Vulnerability.
Trang 12Nhóm chỉ số đánh giá tình trạng nợ theo sáng kiến các nước nghèo nợ nghiêm trọng (HPICs)
Một nước được xem là nợ không bền vững nếu rơi vào các giá trị tới hạn bảng 3
Giá trị hiện tại của Nợ/ Xuất khẩu >200-250% (1) >150% (2)
Giá trị hiện tại của Trả nợ/ Xuất khẩu >20-25% >20-25%
Giá trị hiện tại của Nợ/ Thu ngân sách >250% >280%
Bảng 3: Giá trị tới hạn nợ nghiêm trọng
Nguồn: Hjertholm Peter (2001), Debt Relief and the Rule of Thumb: Analytical History of HIPC Debt Sustainability Targets, Wider Conference on Debt Relief, Henlsinki, 17-18 /08/2001.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá nợ theo IMF
IMF đánh giá nợ qua một hệ thống chỉ tiêu gồm:
- Chỉ số về gánh nặng nợ, tỷ lệ về gánh nặng nợ thường được sử dụng nhiều nhất làtổng số nợ công so với tổng sản phẩm quốc nội theo giá thị trường Nợ công đượcđịnh nghĩa là tất cả các khoản nợ do Chính phủ đi vay (cả trong nước và nước ngoài)
Tỷ lệ nợ công theo tiêu chuẩn của các nước châu Âu muốn gia nhập Liên minh theotheo Hiệp ước Maastricht là 60%
- Chỉ số về khả năng trả nợ so với tiền mặt, tỷ lệ này cho thấy nhu cầu tiền mặt cần đểtrả nợ trong tương lai gần: Trả nợ / Xuất khẩu và Trả nợ / Thu ngân sách
- Các chỉ số về khả năng trả nợ theo giá trị hiện tại, các chỉ số về khả năngtrả nợ theo giá trị hiện tại là một thước đo về khả năng của một đất nước trong việcthanh toán các khoản chi trả trong tương lai vào thời điểm hiện tại: Nợ/Xuất khẩu,
Nợ nước ngoài của khu vực công/ Thu chính phủ
- Chỉ số về sự thay đổi mức độ bền vững nợ, chỉ số này cho thấy sự thay đổi về mức
độ bền vững nợ do có sự thay đổi về các biến số kinh tế vĩ mô khác Thước đo thườngđược sử dụng trong việc phân tích tính bền vững nợ là mức độ chênh lệch giữa tốc độtăng trưởng GDP thực tế và lãi suất thực tế: gY- i; nếu (gY– i) >0, thì tình hình vay
Trang 13nợ vẫn còn đƣợc kiểm soát; nếu (gY– i) <0 thì Chính phủ cần phải điều chỉnhcán cân ngân sách cơ bản của mình đủ để có tình trạng nợ bền vững.
- Các rủi ro về đồng tiền vay: cơ cấu đồng tiền chi trả nợ Đối với một số khoảnvay thì số tiền vay nợ có thể là bằng một loại đồng tiền, giải ngân bằng một loại đồngtiền khác và chi trả bằng một loại khác nữa Rủi ro gắn liền với vay nợ đối với mộtquốc gia đi vay chính là về đồng tiền dùng để thanh toán chi trả nợ Ngoài
ra, việc lựa chọn cơ cấu tiền vay thích hợp còn hạn chế việc bùng nổ rủi ro hốiđoái
Trang 14CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
I Tình hình chung nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển
Nợ nước ngoài là cần thiết đối với sự phát triển của nhiều nền kinh tế Tuy nhiênmức nợ, tính chất nợ và cách sử dụng nợ thế nào là vấn đề quan trọng Hiện nay, giảiquyết vấn đề nợ nước ngoài đang là bài toán “đau đầu“ của các nhà lãnh đạo các nướctrên Thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Từ năm 2000 đến năm 2008, tỷ lệ nợ/xuất khẩu ở các nước đang phát triển giảm hơnmột nửa, từ 124,8% xuống còn 58,4%, và tỷ lệ nợ/GNI giảm từ 37,8% xuống 20,6%.Tuy nhiên, xu hướng này bất ngờ thay đổi vào năm 2009 khi tốc độ tăng trưởng giảm
và thu nhập từ xuất khẩu giảm mạnh trong hầu hết các nước đang phát triển do sự ảnhhưởng của nền kinh tế toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lúc này Thunhập từ xuất khẩu năm 2009 giảm gần 20% so với mức năm 2008, cùng với việc giatăng nợ nước ngoài của các nước này đã đẩy tỷ lệ nợ/xuất khẩu lên 74,6%, mức caonhất từ năm 2005 Tỷ lệ trả nợ/xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng tương tự, tăng từ 9,2%năm 2008 lên 11,3% năm 2009 Ít thấy có sự thay đổi trong tỷ lệ nợ/GNI nhưng nócũng tăng lên năm 2009
Bảng dưới đây cho thấy sự tăng lên của các tỷ lệ nợ là khác nhau giữa từng khu vực.Khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và khu vực Trung Đông - Bắc Á có tỷ lệ nợ nướcngoài thấp nhất ở cả hai chỉ tiêu là nợ/GNI và nợ/xuất khẩu Năm 2009, các nhóm nướcnày trải qua một sự tăng nhẹ trong hai chỉ tiêu nợ Ngược lại, châu Âu và Trung Á làkhu vực tăng tỷ lệ nợ/GNI cao nhất, từ 35,1% năm 2008 lên 44,7% năm 2009, gấp 3 lần
tỷ lệ của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, và gấp 2 lần khu vực Mỹ La-tinh vàCaribê
Trang 15Bảng 4: Chỉ số nợ ở các nhóm nước giai đoạn 2000-2009
Chỉ số nợ ở các nhóm nước giai đoạn 2000-2009 (%)
2000 2008 2009 2000 2008 2009Đông Á và Thái Bình Dương 29,6 12,9 13,2 78,1 30,9 39,0
Mỹ La-tinh và Caribê 38,3 21,5 23,7 169,6 85,2 111,4Trung Đông và Bắc Á 38,4 14,9 15,4 118,4 33,9 37,4
Nguồn: World Bank Debtor Reporting System and IMF
Trong giai đoạn 9 năm, từ 2000 đến 2009, đã có một sự cải thiện đáng kể trongvấn đề xử lý nợ nước ngoài của các nước đang phát triển thông qua chỉ tiêu trả nợ/xuấtkhẩu Tỷ lệ này giảm hơn một nửa từ năm 2000 đến 2008, từ 20,9% xuống 9,2% đối vớinhóm nước có thu nhập trung bình, và từ 12,2% xuống 4,9% đối với nhóm nước có thunhập thấp Năm 2009 có một sự giảm mạnh trong thu nhập từ xuất khẩu, làm giảm đáng
kể tỷ lệ nợ/xuất khẩu và điều này tác động mạnh hơn đối với nhóm nước có thu nhậptrung bình hơn là nhóm nước có thu nhập thấp Thu nhập từ xuất khẩu giảm gần 20%trong năm 2009, và vì vậy, tỷ lệ chi phí trả lãi vay so với xuất khẩu tăng tới 11,3% (tăng22% so với năm 2008) Ngược lại, các nước có thu nhập thấp lại giảm không đáng kể(10% so với mức năm 2008) trong thu nhập từ xuất khẩu, và tỷ lệ trả nợ/xuất khẩukhông bị ảnh hưởng khi có sự tăng nhẹ từ 4,9% lên 5,1% năm 2009
Trang 161 Nguyên nhân các cuộc khủng hoảng nợ của các nước đang phát triển
Các cuộc khủng hoảng nợ xuất phát từ khả năng quản trị tài chính công yếu kémcộng với những khoản chi tiêu của chính phủ quá lớn, vượt tầm kiểm soát Cuộc khủnghoảng dầu mỏ thế giới 1973 đã làm cho giá dầu tăng chóng mặt, tốc độ tăng trưởngkinh tế của các nước đều giảm mạnh Để duy trì được tốc độ tăng trưởng, các nướcđang phát triển tăng cường vay nợ Nhu cầu vốn của các nước tăng mạnh, trong khinguồn vốn vay song phương có giới hạn, và nguồn vốn rẻ từ tổ chức IMF lại có nhiềuđiều kiện ràng buộc, khiến các nước này tìm đến các ngân hàng thương mại và các chủ
nợ tư nhân khác nhằm tài trợ cán cân thanh toán quốc gia Do đó, số nợ nước ngoài củacác nước đang phát triển này tăng lên nhanh chóng, từ 180 tỷ năm 1975 lên 406 tỷ năm
1987 Trong đó, nợ không được ưu đãi, và kỳ hạn nợ ngắn và lãi suất theo thị trườngchiếm tỷ lệ cao, lên tới 40% trong tổng số nợ năm 1971, 68% năm 1975 và lên tới hơn77% năm 1979 Tuy nhiên, sự gia tăng khối lượng nợ và lãi vay chưa là vấn đề đối vớicác nước đang phát triển giai đoạn này do giá dầu thực tế lúc này giảm do lạm phát, lãisuất thực tế thấp và thu nhập xuất khẩu tăng cho phép các nước này thu hẹp thâm hụt tàikhoản vãng lai và duy trì tốc độ tăng trưởng nhất định Bên cạnh đó, việc chuyển một sốvốn tư nhân lớn ra nước ngoài để đầu tư của cư dân các nước mắc nợ vì những lý dochính trị, kinh tế làm tình hình nợ các quốc gia này thêm khủng hoảng
2 Hậu quả của nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển
Lệ thuộc về kinh tế và chính trị ở các quốc gia chủ nợ
Từ những điều kiện ràng buộc từ các quốc gia chủ nợ, các quốc gia con nợ bị lệthuộc kinh tế vào chủ nợ, qua đó đã tiến dần đến chỗ bị lệ thuộc cả chính trị Ví dụ,Chính phủ Mê-hi-cô cam kết sẽ bồi thường cho bất kỳ công ty Mỹ nào bị thiệt hại dothay đổi chính sách ở nước này Điều đó dẫn đến một vụ việc là Chính phủ Mê-hi-cô đãđồng ý cho một công ty Mỹ đầu tư vào bãi chứa chất thải độc hại ở Mê-hi-cô Nhưngkhi chính quyền thành phố nơi có bãi chứa từ chối bởi lo sợ hiểm hoạ môi trường, công
ty Mỹ đã kiện và Chính phủ Mê-hi-cô đã phải bồi thường cho họ số tiền mà họ có thểkiếm được nếu được phép đầu tư
Tác động một cách sâu sắc đến tình hình kinh tế - xã hội các quốc gia con nợ
Trang 17 Thứ nhất, nợ nước ngoài lớn làm cho đồng tiền quốc gia đó bị mất giá nghiêmtrọng, nạn lạm phát cũng gia tăng, tạo ra một tâm lý bất ổn trong dân chúng.
Thứ hai, do phải cắt giảm nhiều khoản chi ngân sách, đặc biệt là hạn chế nhậpkhẩu máy móc thiết bị để phát triển công nghiệp, các kỳ vọng vào sự tăng truởng củanền kinh tế Mỹ La-tinh đầu thập kỷ 70 đã tan như bong bóng xà phòng Thay vào đó,các quốc gia con nợ này đã chứng kiến một giai đoạn suy thoái kinh tế chưa từng có.Mức tăng GNP của Mê-hi-cô từ +8% năm 1978 đã trở thành -5% năm 1983 Suythoái kinh tế sinh ra thất nghiệp hàng loạt
Thứ ba, bất ổn chính trị bắt đầu rục rịch, các cuộc biểu tình cũng như các cuộcbạo động diễn ra thường xuyên và kéo dài khiến cho tình hình kinh tế - chính trị - xãhội không ổn định
3 Những giải pháp mà các nước đang phát triển đã sử dụng trong việc xử lý
nợ nước ngoài
Đứng trước tình hình nợ nước ngoài rất cao ở các nước phát triển thì việc chú ýđúng mức đến khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nềnkinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào…, cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòngxoáy thâm hụt ngân sách – "thắt lưng buộc bụng" – tác động tiêu cực đến tăngtrưởng… vì vậy cần phải có những biện pháp khắc phục trước tình hình trên Một sốgiải pháp được nói đến là:
Giảm chi tiêu chính phủ: trong đó chi tiêu của chính phủ được các nhà kinh tếhọc phân ra làm 3 loại chính:
- Các khoản mua hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng hiện tại được gọi là Tiêudùng của chính phủ (Government consumption)
- Các khoản chính phủ để mua các hàng hóa và dịch vụ nhằm tạo ra lợi ích trongtương lai, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nghiên cứu, được gọi là Đầu tư củachính phủ Government investment Ví dụ đầu tư vào giáo dục, y tế,
- Các khoản không phải để mua hàng hóa dịch vụ, mà chỉ là hành động dichuyển tiền, như trả cho phúc lợi xã hội
- Tăng thu ngân sách Bằng việc tăng thuế
- Giảm nhập khẩu để cân bằng cán cân thương mại
Trang 18- Tăng xuất khẩu.
II Vấn đề nợ nước ngoài ở một số nước trên Thế giới hiện nay
1 Khu vực Châu Á.
1.1 Hàn Quốc
Chúng ta không thể không nói đến Hàn Quốc - một quốc gia đạt kỷ lục trongviệc vay nợ nhưng lại rất thành công trong việc trả nợ Đó cũng là nguyên do của việchóa rồng tại nước này Năm 2011, theo ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BoK), nợnước ngoài của Hàn Quốc chạm mức kỷ lục 398 tỷ USD vào cuối tháng 6, tăng 15,4 tỷUSD so với quý trước Nợ quý II tăng mạnh chủ yếu là do nợ dài hạn nước ngoài tăngsau khi các nhà đầu tư nước ngoài tăng nắm giữ trái phiếu Hàn Quốc, khi cho rằng nềnkinh tế lớn thứ 4 khu vực châu Á có nền tảng cơ bản và tài chính lành mạnh Nợ nướcngoài dài hạn đứng ở 248,2 tỷ USD vào cuối tháng 6, tăng 14,1 tỷ USD so với 3 thángtrước Vay ngắn hạn nước ngoài tăng 1,3 tỷ USD, lên 149,7 tỷ USD, thấp hơn so vớimức tăng 13,5 tỷ USD trong quý 1 Tỷ lệ nợ nước ngoài ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ là49,2%, giảm 0,5 điểm % so với 3 tháng trước đó Nợ nước ngoài ngắn hạn chiếm37,6% tổng nợ nước ngoài vào cuối tháng 6, cho thấy khả năng trả nợ ngắn hạn củaHàn Quốc được cải thiện trong kỳ Trong khi đó, tín dụng ngoài nước ròng, hay tài sảnnước ngoài trừ nợ nước ngoài, đạt 89,5 tỷ USD, tăng 3,2 tỷ USD so với quý trước Tínhđến hết năm 2012 nợ nước ngoài đã tăng thêm 14,7 tỷ USD lên mức 413,3 tỷ USD.Chúng ta có thể xếp Hàn Quốc vào nhóm quốc gia vay nợ nhiều nhưng lại rất thànhcông trong việc trả nợ Cụ thể là Hàn Quốc đã thành công trong việc khắc phục khủnghoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000) đã trả xong nợ của IMF Dự trữ ngoại tệ đãđạt 133 tỷ USD (tháng 7/2003)
Mặc dù nợ nước ngoài ở Hàn Quốc liên tục tăng nhưng nền kinh tế Hàn Quốcvẫn tăng trưởng tốt GDP của Hàn Quốc đạt 1.000 tỷ (won) vào năm 2010 Đến quý2/2012, GDP tăng 2.3% so với cùng kỳ năm ngoái Tính chung cả thời kỳ từ 1971 đến
2012, GDP tăng với tỷ lệ trung bình là 7.3% (Năm 2011, GDP đứng thứ 13 Thế giới)