Nợ nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp.Nợ nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp.Nợ nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp.Nợ nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp.Nợ nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ LỆ THỦY
NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngành: Kinh tế quốc tế LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trongluận văn là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬ N VĂN vii
PHẦN MỞ Đ ẦU 1
1 Tính cấp thiết củ a đ ề tài 1 2 Mục tiêu nghiên cứu 1 3 Đ ối t ư ợng và phạm vi nghiên cứu 2 4 Ph ương pháp nghiên cứu 2 5 Kết cấu của luận văn 2 CH ƯƠNG 1: CƠ S Ở LÝ LUẬN VỀ NỢ N Ư ỚC NGOÀI 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản
3
1.1.1 công Nợ
3
1.1.2 Nợ n ư ớc ngoài của quốc gia
7
1.1.3 Phân loại nợ n ư ớc ngoài
10
1.2 Quản lý nợ n ư ớc ngoài của quốc gia
11
1.3 Các nhân tố tác đ ộng tới nợ n ư ớc ngoài
13
1.3.1 Thâm hụt ngân sách nhà n ư ớc
13
1.3.2 Hệ số tín nhiệm quốc gia
14
1.3.3 Tổng sản phẩm quốc nội và tố c đ ộ tăng tr ư ởng kinh tế
Trang 514
1.3.4 Hội nhập kinh tế quốc tế 15
1.3.5 Đ ặ c đi ểm quốc gia 15
1.4 Kinh nghiệm các n ư ớc và bài học cho rút ra cho Việt Nam 15
1.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ n ư ớc ngoài 15
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27 CH
ƯƠNG 2: TH ỰC TRẠNG NỢ N Ư ỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 30
Trang 62.1 Tổn
g quan nợ công Việt Nam 30
2.1.1 Quy mô
giá hiệu quả quản lý nợ n ư ớc ngoài của quốc gia 44
2.3.1 Các chính sách kiểm soát nợ n ư ớc ngoài 44
2.3.2 Nhữ
ng thành công ban đ ầu 46
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân 48 CH
ƯƠNG 3: M ỘT SỐ Đ ỊNH H Ư ỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NỢ N Ư ỚC NGOÀI 52
3.1 Đ ịn h
h ư ớng quản lý nợ n ư ớc ngoài của Việt Nam 52
3.1.1 Cơ
s ở xây dựng các trần nợ n ư ớc ngoài 52
3.1.2 Đ ịn h
h ư ớng cho trần nợ n ư ớc ngoài của quốc gia 53
3.2 Nhó m
giải phép đ ảm bảo khả năng tiếp nhận nợ vay n ư ớc ngoài 55
3.2.1 Gia tăng d ự trữ ngoại hối 55
3.2.2 Chí
nh sách tỷ giá hối đoái 56
3.2.3 Ổ n đ
ịnh lạm phát 57
3.2.4 Gia tăng tín nhi ệm quốc gia 58
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ n ư ớc ngoài 58
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện chiến l ư ợc quản lý nợ n ư ớc ngoài 58
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thố ng văn b ản pháp luật về quản lý nợ
Trang 7ư ớc ngoài 61
3.3.3 Giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý nợ n ư ớc ngoài 62
3.3.4 Giải pháp nâng cao chất l ư ợng quản trị nội bộ củ a cơ quan qu ản lý nợ
n ư ớc ngoài 63
3.3.5 Nhó m
giải pháp nâng cao chất l ư ợng nợ n ư ớc ngoài 64
3.3.6 Các giải pháp có tính hỗ trợ 67 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Cấu trúc nợ công của Việt Nam
Hình 2.1: Nợ công Việt Nam và trần nợ công từ 2011 đến 2017
Hình 2.2: Tỷ lệ % dư nợ của các cấp so với GDP giai đoạn 2011 – 2017Hình 2.3: Nợ Chính phủ/GDP và trần nợ do Quốc hội quy định (2011-2017)Hình 2.4: Cơ cấu giữa nợ trong nước và nợ nước ngoài (2011 – 2018)Hình 2.5: Các nhóm nợ hiện tại của Việt Nam
Hình 2.6: Tỷ lệ nợ nước ngoài (%GDP) so với mức trần của Quốc hộiHình 2.7: Bức tranh nợ nước ngoài của Việt Nam
Hình 2.8: Tỷ lệ nợ nước ngoài dài hạn và ngắn hạn của Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Nợ công Việt Nam từ 2011 – 2017
Bảng 2.2: Nợ công/ người và GDP/ người của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017Bảng 2.3: Cơ cấu nợ công của các cấp theo GDP giai đoạn 2011 – 2017
Bảng 2.4: Cơ cấu nợ công trong nước và nợ nước ngoài của Chính phủ (2011 2018)
Bảng 2.5: Khối lượng phát hành TPCP giai đoạn 2011 – 2017
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA Hỗ trợ phát triển chính thứcQĐ-BTC Quyết định của Bộ Tài chính
UNCTAD Liên hiệp quốc về Thương mại và
Phát triển
Trang 11TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Qua những phân tích và nghiên cứu về nợ nước ngoài, có thể thấy rằng việcquản lý nợ kém hiệu quả dẫn đến hậu quả đưa đất nước vào tình trạng báo động vềtài chính và khó khăn trong hội nhập, nguy hiểm hơn có thể đưa cả đất nước vàotình trạng khủng hoảng nợ như bài học đắt giá từ Hy Lạp Nợ nước ngoài được coi
là một nhân tốt quan trọng bậc nhất và cũng thực sự cần thiết trong suốt quá trỉnhxây dựng, phát triển và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước Đặc biệt
là đối với Việt Nam – một quốc gia đang phát triển, có hội nhập kinh tế sâu rộng vàđang trở nên phổ biến
Việc vay nợ nước ngoài không đảm bảo tính kiểm soát chặt chẽ và tính trungthực trong các báo cáo về kết quả của quản lý nợ công có sai lệch thì hậu quả đi đến
sự mất cân bằng một cách đặc biệt nghiêm trọng trong nền tài chính quốc gia Hơnhết vốn vay từ nước ngoài được sử dụng một cách kém hiệu quả, sai mục tiêu và lýtưởng ban đầu, đồng thời các chính sách để hợp tác và thích nghi với hội nhập quốc
tế có sự tụt hậu và không cập nhật thì dẫn đến việc các quốc gia vay nợ có nguy cơtrở thành những con nợ đang lâm nguy đối với nền kinh tế thế giới Vì vậy trongnghiên cứu này, tác giả đã khẳng định rằng việc kiểm soát nợ nước ngoài một cáchhiệu quả không phải là vấn đề có thể giải quyết một cách dễ dàng và thuận lợi đốivới Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Từ những thực trạng đó, tác giả đã đưa ra những nhận định cụ thể và hệ thốnglại những lý luận cơ bản về nợ nước ngoài, những bài học kinh nghiệm thành công
và thất bại về nợ nước ngoài trên thế giới, và những định hướng, giải pháp để nângcao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nợ nước ngoài là nguồn lực tài chính từ nước ngoài nhằm bổ sung cho sựthiếu hụt về vốn đầu tư trong nước Nợ nước ngoài được xem là một yếu tố quantrọng và cần thiết cho quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của các nướcđang phát triển, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi mà xu hướng mở cửa hòanhập nền kinh tế đã trở thành phổ biến
Tuy nhiên, việc quản lý nợ không hiệu quả có thể đưa một nước lâm vào tìnhtrạng khó khăn về tài chính, thậm chí có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ Việcgiám sát úa trình vay và trả nợ nước ngoài không chặt chẽ có thể dẫn tới sự mất cânđối nghiêm trọng cho nền tài chính quốc gia Việc sử dụng nguồn vốn vay nước ngoàikém hiệu quả, sai mục tiêu và sự trì trệ trong thay đổi chính sách để thích nghi với bốicảnh quốc tế có thể khiến các nước vay nợ có nguy cơ trở thành những nước mắc nợtrầm trọng Chính vì vậy, quản lý nợ nước ngoài như thế nào cho hiệu quả là vấn đề vôcùng quan trọng và cấp bách trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Trong thực tế hiện nay, chính phủ Việt Nam đã có một loạt những quy định đổimới trong quản lý vay và trả nợ nước ngoài Có thể thấy rằng sự cấp bách trong cáchthức đổi mới trên toàn hệ thống quản lý nợ của quốc gia Tuy nhiên trước yêu cầu đổimới quản lý kinh tế, trong đó có đổi mới quản lý tài chính cho phù hợp với thông lệquốc tế, công tác quản lý nợ vay nước ngoài của Chính phủ bộc lộ khác nhiều hạn chế
về cả cơ chế lẫn nghiệp vụ Xuất phát từ những thực tiễn trên về nợ nước ngoài củaViệt Nam, tác giả nhận ra nhu cầu nghiên cứu về nhận thức đúng đắn về vấn đề nợnước ngoài cái mà nên là một công cụ để phát triển nền kinh tế, đồng thời làm giảmthiểu những mối nguy cơ với an ninh tài chính quốc gia và không phải dựa vào kinh tế
chính trị từ nước ngoài Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nợ nước ngoài ở Việt Nam:
thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu sau:
Trang 13- Xây dựng hệ thống lý luận về nợ nước ngoài và quản lý nợ nước ngoài, các lýthuyết liên quan đến vấn đề xác định nợ nước ngoài, các chỉ tiêu đánh giá tính bềnvững nợ trong việc quản lý nợ nước ngoài.
- Phân tích thực trạng nợ nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua và đề xuấtnhững giải pháp nhằm duy trì được trạng thái nợ bền vững và nâng cao hiệu quả quản
lý nợ nước ngoài
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình quản lý nợ vay
nước ngoài của Chính phủ, tình hình vay nợ nước ngoài, các yếu tố ảnh hưởng đếnquản lý nợ nước ngoài
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản: phương pháp phântích, tổng hợp, thống kê, so sánh, dự báo,…
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 5chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ nước ngoài
Chương 2: Thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp quản lý nợ nước ngoài
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Nợ công
Một cách tổng quát, nợ công (public debt) là tổng giá trị các khoản nợ của chínhphủ và vì thế đôi khi còn được gọi là nợ chính phủ (government debt) Các khoản nợnày bao gồm số tiền nợ của tất cả các cơ quan của Chính phủ (trực tiếp hoặc gián tiếp
do Chính phủ kiểm soát) từ cấp trung ương đến cấp địa phương Nguồn gốc của nợcông đến từ việc các khoản thu (trong đó thuế chiếm tỷ trọng cao nhất) của Chính phủkhông bù đắp được các khoản chi, từ đó dẫn đến thâm hụt ngân sách Để tài trợ chothâm hụt ngân sách Chính phủ sẽ phải đi vay nợ Khoản vay nợ ròng hàng năm củaChính phủ (nợ ròng bằng tổng nợ bao gồm cả gốc và lãi trừ đi số tiền đã trả được) tíchlũy dần lại ra tổng nợ công của quốc gia hay nợ chính phủ
Hiện nay, trên thế giới chưa có khái niệm chung nào cho khái niệm về nợ công,nhưng phổ biến nhất và được các quốc gia sử dụng nhiều nhất là các quan điểm củacác tổ chức tài chính, kinh tế quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thếgiới (WB) và diễn đàn Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đưa ra.Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nợ công theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khuvực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địaphương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập với nguồn vốn hoạt động dongân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trongtrường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay Ngoài ra nợ công còn bao gồm các khoản
nợ của tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán ví dụ như các khoản nợcủa doanh nghiệp nhà nước (IMF, 2015)
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) nợ công là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của khu vựccông, bao gồm nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và của các tổ chức công Khu vực Chínhphủ bao gồm chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Các tổ chức công làcác tổ chức công phi tài chính và các tổ chức tài chính công như ngân hàng trung ương(NHTW), các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi như ngân hàng thương mại nhà nước.Ngoài ra giống như IMF, nợ của các thể chế độc lập nhưng nguồn vốn hoạt động dongân sách nhà nước quyết đinh (trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước) và trong trường
Trang 15hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay cho thể chế đó cũng được tính vào nợ công (WB,2019).
Diễn đàn Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) còn tính đếnkhoản nợ trong quỹ lương hưu quốc gia vào nợ công Hàng năm quỹ lương hưu quốcgia (ở Việt Nam là Bảo hiểm xã hội quốc gia) là một định chế công cộng phải trảlương hưu cho người về hưu và nếu như giá trị hiện tại của quỹ lương hưu quốc giakhông đủ để trả lương cho tương lai (kể cả tính thêm các khoản thu thêm trong tươnglai) thì khoản thiếu hụt này sẽ được tính vào nợ công (UNCTAD, 2008)
Như vậy, theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), nợ cônghay còn gọi là nợ chính phủ, là những phần nghĩa vụ nợ trực tiếp hoặc được thừa nhậncủa chính phủ một quốc gia với phần còn lại của nền kinh tế và nước ngoài Khu vựcchính phủ bao gồm chính phủ trung ương, chính quyền liên bang và chính quyền địaphương Khu vực được thừa nhận của chính phủ hay còn được hiểu là khu vực các tổchức công là tổ chức công phi tài chính, tổ chức công tài chính, ngân hàng trung ương(NHTW), các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi (trừ NHTW) và các tổ chức tài chínhcông khác Khái quát lại, nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể baogồm:
(1) nợ của Chính phủ và các Bộ, ban, ngành trung ương;
(2) nợ của các cấp chính quyền địa phương;
(3) nợ của Ngân hàng trung ương;
(4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn hay quyết toánngân sách của tổ chức được Chính phủ phê duyệt hoặc Chính phủ phải chịu tráchnhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ
Đối với Việt Nam, theo Điều 4 Luật Quản lý nợ công mới nhất của Việt Namnăm 2017 thì nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ củachính quyền địa phương Trong đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoảnvay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước nhân danhChính phủ Nợ được Chính phủ bảo lãnh khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chínhsách của Nhà nước vay được chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản
nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay
Trang 16(1) Nợ Chính phủ khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ;
(2) Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của Nhà nước vay được Chính phủ bảo lãnh;
(3) Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay
Hình 1.1: Cấu trúc nợ công của Việt Nam
Nguồn:Nguyễn Thị Liên Hương (2019)
Trên thực tế, tùy vào quan điểm của từng quốc gia mà nợ công theo khái niệmrộng nhất của các tổ chức quốc tế sẽ loại bổ một số thành phần nhất định Ví dụ,Bungari hay Macedonia loại bỏ nợ của ngân hàng trung ương (NHTW) trừ trường hợpchính phủ bảo lãnh, Thái Lan và Macedonia loại bỏ nợ của NHTM nhà nước và hoặcđịnh chế tài chính nhà nước, Việt Nam loại bỏ nợ của các DNNN trừ trường hợp đượcchính phủ bảo lãnh ra khỏi nợ công
Như vậy, khái niệm về nợ công của các tổ chức quốc tế như IMF, WB, UNCTAD
là chi tiết và có tính bao trùm cao Phạm vi của nợ công, theo quan điểm của những tổchức trên, không chỉ bao gồm nợ của Chính phủ ma còn bao gồm các khoản nợ đượcchính phủ kiểm soát hay các khoản nợ chính phủ chịu trách nhiệm liên
Trang 17đới (Chính phủ có nghĩa vụ ngầm định) Khái niệm nợ công của Việt Nam nếu so sánhvới khái niệm của các tổ chức quốc tế thì hẹp hơn trong đó chỉ khoanh vùng nợ công lànhững khoản nợ trực tiếp liên quan đến chính phủ bao gồm nợ chính quyền các cấp và
nợ được chính phủ bảo lãnh Nhiều lúc nợ công được dùng một cách thay thế cho nợchính phủ tuy nhiên thuật ngữ nợ chính phủ có phạm vi hẹp hơn nợ công Tùy từngquốc gia thì phạm vi hẹp hơn này đến đâu, có quốc gia tính nợ Chính phủ bao gồm cả
nợ của chính quyền trung ương đến địa phuòng và nợ được chính phủ bảo lãnh vì thế
nợ chính phủ trong trường hợp này hẹp hơn ở khoản các khoản nợ của các tổ chứcđịnh chế công; nếu nợ chính phủ chỉ tính nợ của chính quyền trung ương và các khoản
nợ do chính phủ bảo lãnh thì nợ chính phủ trong trường hợp này hẹp hơn ở khoản mục
nợ của chính quyền địa phương và các khoản nợ của các tổ chức, định chế công
Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếuchính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân Việc phát hành trái phiếu chính phủ đượcthực hiện thông qua cả nội tệ và ngoại tệ; tuy nhiên trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệthường có rủi ro tín dụng cao hơn vì dễ xảy ra rủi ro về tỷ giá hối đoái Ngoài ra, chínhphủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chínhquốc tế, chẳng hạn Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)… Hình thức vay này thường được chínhphủ của các nước có độ tín nhiệm tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằnghình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao
Chính phủ có thể bảo lãnh cho các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tàichính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài bằng nhiều cách khác nhau như bảo lãnhphát hành trái phiếu doanh nghiệp, phát hành thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh.Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở lên, dodoanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho dự án đầu tư theo chỉ định của Thủtướng Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh
Theo điều 32 Luật quản lý nợ công năm 2009, đối tượng được Chính phủ bảolãnh là doanh nghiệp thực hiện chương trình, dự án theo quy định tại Điều 33 của luậtnày hoặc Ngân hàng chính sách của Nhà nước và tổ chức tài chính, tín dụng thực hiệnchương trình tín dụng có mục tiêu của Nhà nước Tuy nhiên, đây mới chỉ là các khoản
Trang 18nợ được chính phủ bảo lãnh công khai Trên thực tế, còn có những khoản nợ đượcchính phủ bảo lãnh một cách không chính thức.
Theo điều 40 Luật quản lý nợ công năm 2009, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chứcphát hành trái phiếu chính quyền địa phương để vay vốn trong nước thông qua Khobạc Nhà nước hoặc uỷ quyền cho tổ chức tài chính, tín dụng trên địa bàn phát hànhtheo quy định của Chính phủ và ký kết thoả thuận vay từ các nguồn tài chính hợp phápkhác theo quy định của pháp luật
Như vậy, có thể thấy quan điểm về nợ công của Việt Nam có sự khác biệt đángchú ý về việc xác định phạm vi của nợ công Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trongtừng thời kỳ và nợ của các doanh nghiệp nhà nước tự vay tự trả mà không có sự bảolãnh của Chính phủ Theo quan điểm của IMF và WB thì nợ công bao gồm cả nợ củaNHTW để thực hiện chính sách tiền tệ và nợ của doanh nghiệp nhà nước Từ đó dẫnđến sự khác nhau trong cách tính nợ công của Việt Nam so với IMF và WB
Ngoài ra, chúng ta cần phân biệt nợ công với nợ quốc gia Trong khi nợ côngnhấn mạnh đối tượng chịu trách nhiệm trả khoản nợ là chính phủ hay rộng hơn là khuvực công thì nợ quốc gia nhấn mạnh đối tượng chịu trách nhiệm trả khoản nợ là cả khuvực công và khu vực tư nhân của quốc gia đó Nói cách khác nợ quốc gia là một kháiniệm rộng hơn so với nợ công khi tính cả phần vay nợ của khu vực tư nhân Và cũngcần lưu ý rằng nếu nợ công có nguồn gốc từ nợ trong nước và nợ nước ngoài thì nợ tưnhân cũng tương tự có nguồn gốc cũng từ nợ trong nước và nợ nước ngoài Và nếugộp nợ công nước ngoài và nợ tư nhân nước ngoài lại chúng ta sẽ có tổng nợ nướcngoài của quốc gia
1.1.2 Nợ nước ngoài của quốc gia
Theo diễn đàn Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), nợnước ngoài hay nợ quốc tế của một quốc gia tại một thời điểm nhất định là tổng số nợtheo hợp đồng chưa được thanh toán mà người cư trú của quốc gia đó có trách nhiệmphải thanh toán cho người không cư trú, bao gồm việc hoàn trả nợ gốc kèm (hoặckhông kèm) với lãi, hoặc trả nợ lãi kèm (hoặc không kèm) với gốc
Trang 19Để phù hợp với thông lệ quốc tế về nợ nước ngoài của quốc gia, Điều 3 LuậtQuản lý nợ công năm 2009 của Việt Nam nêu rõ nợ nước ngoài của quốc gia là tổngcác khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanhnghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định củapháp luật Việt Nam.
Nợ nước ngoài chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản nước ngoài, được
ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác
do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật
Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hànhnhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ nước ngoài được Chính phủbảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay nước ngoàiđược Chính phủ bảo lãnh Nếu gộp cả hai khoản nợ nước ngoài này, chúng ta sẽ có nợcông nước ngoài
Nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trảtheo quy định của pháp luật Việt Nam, thường là doanh nghiệp lớn, có uy tín và giá trịcác khoản vay phải được sự giám sát và cho phép của Thủ tướng theo từng thời kỳ Vànhư vậy, khoản nợ này sẽ được gọi là nợ tư nước ngoài
Nợ nước ngoài của quốc gia nếu phân theo nguồn gốc nợ sẽ gồm nợ công nướcngoài và nợ tư nước ngoài
Nợ công nước ngoài nhấn mạnh đối tượng chịu trách nhiệm trả khoản nợ kàChính phủ hay rộng hơn là khu vực công Các khoản vay vốn nước ngoài thường đượcdùng để bù đắp thâm hụt ngân sách Phần lớn các khoản vay này là các khoản vay hỗtrợ phát triển chính thức (vay ODA – Offical Development Assistance) và khảon vay
ưu đãi
Vay ODA là khoản vay nước ngoài có thành tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối vớikhoản vay có điều kiện ràng buộc liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ theoquy định của nhà tài trợ nước ngoài hoặc ít nhất 25% đối với khoản vay không có điềukiện ràng buộc
Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưngthành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA Theo đó, tại Khoản 5 Điều 3 Luật
Trang 20Quản lý nợ công 2017, thành tố ưu đãi là tỷ lệ phần trăm giá trị danh nghĩa của cáckhoản vay phản ánh mức ưu đãi của vốn vay nước ngoài được tính toán trên cơ sở cácyếu tố về đồng tiền, thời hạn vay, thời gian ân hạn, lãi suất, phí và chi phí khác với tỷ
lệ chiết khấu tương ứng lãi suất vay của Chính phủ Việt Nam trên thị trường tại thờiđiểm tính toán
Bên cạnh đó, Chính phủ có thể phát hành các công cụ nợ là tín phiếu, hối phiếu,trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ ra thị trường vốnquốc tế Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu chính phủ bằng đồng ngoại tệ thườngđem lại nhiều rủi ro tỷ hơn khi có sự biến động về tỷ giá hối đoái, hay thị trường tàichính quốc tế gặp những bất ổn lớn
Hơn nữa, tuy rằng chính quyền địa phương không được trực tiếp vay nước ngoàinhưng UBND cấp tỉnh có thể được vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ(chủ yếu là vay ODA) để chi cho các dự án cơ sở hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của ngânsách địa phương và địa phương chịu trách nhiệm bố trí từ nguồn ngân sách của địaphương để trả nợ khi đến hạn Và trên thực tế, các dự án đầu tư ở các tỉnh bằng vốnvay lại của Chính phủ thì hiệu quả hiện chưa tốt, đây cũng là một phần làm gia tăng nợnước ngoài của quốc gia hiện nay
Nợ tư nước ngoài là các khoản vay nợ do các doanh nghiệp tư nhân đứng ra vaykhông có sự bảo lãnh của Nhà nước (các ngân hàng, công ty tài chính, các tổ chức tíndụng khác), thường là các doanh nghiệp lớn, có uy tín và thương hiệu nổi tiếng Cáckhoản vay này xuất phát từ các khoản vay thương mại, hay các công cụ nợ như tráiphiếu doanh nghiệp Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường tương tựcác điều kiện vay tín dụng xuất khẩu hoặc huy động trên thị trường vốn quốc tế
Dường như với quan niệm vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp theo hình thức tựvay tự trả là chuyện của doanh nghiệp nhưng đó là điểm nguy hiểm khi sự gia tăngnhanh của nợ bằng ngoại tệ của doanh nghiệp sẽ làm gia tăng nhanh chóng mức độ rủi
ro gây ra đổ vỡ cho nền kinh tế, châm ngòi cho cuộc khủng hoảng nợ, có khả nằng làmsụp đổ cả một nền kinh tế Khi nợ nước ngoài của doanh nghiệp tăng, sẽ không cónhiều điều đáng để nói nếu doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp bằng ngoại tệcũng tăng nhanh tương ứng để đảm bảo khả năng chi trả thông suốt và đúng hạn
Trang 21Nhưng nếu chí có một phần doanh thu/lợi nhuận bằng ngoại tệ hoặc tệ hơn, toàn bộdoanh thu/lợi nhuận của doanh nghiệp là bằng bản tệ, doanh nghiệp sẽ phải đối mặtvới khả năng rất có thể xảy ra vỡ nợ trong bối cảnh tỷ giá, vì một lý do nào đó, tănglên đột ngột và mạnh.
1.1.3 Phân loại nợ nước ngoài
Các khoản nợ nước ngoài của quốc gia được phân loại theo nhiều cách thức khácnhau
Căn cứ vào thời hạn đi vay
Nợ ngắn hạn và nợ trung hạn gồm các khoản vay có thời hạn dưới 3 năm Cáckhoảng vay này thường chiếm một tỉ lệ nhỏ (khoảng dưới 10% - 20%) trông tổng số
nợ vay
Nợ dài hạn gồm các khoản vay từ 3 năm trở lên và thường chiếm tỉ lệ lớn khoảng80% - 90% trong tổng số nợ
Căn cú vào hình thức vay
Vay ưu đãi là các khoản vay chủ yếu là do Chính phủ các nước phát triển choChính phủ các nước đang phát triển vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạnthanh toánh, thời hạn ân hạn (khoảng thời gian từ khi ký hiệp định vay vốn đến lần đầutiên phải trả vốn gốc), và phương thức thanh toán
Vay thương mại là các khoản vay do các tổ chức tín dụng và ngân hàng tư nhânnước ngoài cho Chính phủ, doanh nghiệp vay với điều kiện khó khăn, phức tạp hơnvay ưu đãi Thường được thực hiện thông qua các tổ hợp ngân hàng
Căn cứ vào lãi suất cho vay
Vay với lãi suất cố định là các khoản vay mà hằng năm người nợ phải trả cho chủ
nợ một số tiền lãi bàng số dư nợ nhân với lãi suất cố định được quy định trong hợpđồng
Vay với lãi suất thả nổi là các khoản vay mà hằng năm người nợ phải trả cho chủ
nợ một số tiền lãi theo lãi suất thị trường tư do
Vay với lãi suất LIBOR là các khoản vay mà người nợ phải trả cho chủ nợ mộtkhoản tiền lãi căn cứ theo lãi suất LIBOR và công thêm một khoản phụ phí từ 0,5% -3% do các ngân hàng cho vay xác định
Trang 221.2 Quản lý nợ nước ngoài của quốc gia
Theo nghĩa hẹp, quản lý nợ bao hàm việc khống chế mức gia tăng nợ trong quan
hệ với năng lực tăng trưởng GDP và tăng trưởng xuất khẩu của đất nước, hay nói cáchkhác, giữa mức nợ nước ngoài tương ứng với năng lực trả nợ của một quố gia Cụ thểhơn là giảm mức nợ gốc, nợ lãi phải trả cho tương xứng khả năng kinh tế của nước vay
nợ và tránh nợ chồng chất vượt quá mức vay nợ thận trọng của quốc gia, đảm bảo khảnăng thanh toán của quốc gia đó
Xét theo nghĩa rộng, việc quản lý nợ nước ngoài hàm chứa trong nó hệ thốngđiều hành vĩ mô sao cho vốn nước ngoài được sử dụng có hiệu quả và không gia tăngđến mức vượt quá khả năng thanh toán để không làm tích lũy nợ Nói cách khác, quản
lý nợ nước ngoài là đảm bảo một cơ cấu vốn một cách hợp lý và kiểm soát động thái
nợ và sự vận hành của vốn vay Theo cách hiểu chung của cộng đồng tài chính quốc
tế, quản lý nợ nước ngoài là một phần của công tác quản lý nền kinh tế vĩ mô bao gồmviệc hoạch định, triển khai, duy trì và từ bỏ các khoản nợ nước ngoài để tạo đièu kiệnthuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, giảm tình trạng nghèo đói và tiếp tục duy trì sự pháttriển mà không tạo ra khó khăn cho tương lai
Như vậy, quản lý nợ nước ngoài kông tác rời khỏi quản lý chính sách vĩ mô vớiquản lý nợ công, quản lý ngân sách nhà nước, dự trữ quốc tế và cán cân thanh toán.Quản lý nợ nước ngoài hiệu quả đòi hỏi các chính sách tốt và thể chế mạnh nhằm điềuhành và phối hợp các hoạt động vay mượn Quản lý nợ nước ngoài không đơn thuần làvay và trả mà phải làm sao cho đảm bảo nguồn vốn tăng trưởng, duy trì ổn định trongphát triển kinh tế và tương xứng khả năng thanh toán của nền kinh tế
Để giám sát nợ nước ngoài thì Chính phủ có đưa ra các ngưỡng nợ an toàn đượcQuốc hội cho phép
Theo Điều 21 Luật Quản lý nợ công năm 2017 của Việt Nam có quy định 5 chỉtiêu an toàn về nợ công Chỉ tiêu an toàn về nợ công là hệ thống chỉ tiêu quy định mứctrần và ngưỡng cảnh báo về nợ công do Quốc hội quyết định Đó là:
(1) Nợ công so với tổng sản phẩm quốc nội;
(2) Nợ của chính phủ so với tổng sản phẩm quốc nội;
(3) Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không bao gồm cho vay lại) so với tổng thu ngân sách nhà nước hằng năm;
Trang 23(4) Nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng sản phẩm quốc nội;
(5) Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩuhàng hóa và dịch vụ
Có thể thấy, theo quy định trong Luật quản lý nợ công năm 2017, Việt Nam chỉđang sử dụng hai chỉ tiêu về nợ nước ngoài của quốc gia để giám sát và quản lý cáckhoản nợ có nguồn gốc từ ngoài nước
Theo thông lệ quốc tế, để xác định ngưỡng an toàn của nợ công người ta thường
sử dụng 2 tiêu chí tỷ lệ % nợ công so với GDP và số nợ công tính theo đầu người
Và theo IMF và WB, để đánh giá mức độ an toàn của nợ công cần xét đến tiêuchí mức độ chỉ tiêu an toàn nợ nước ngoài Xác định mức độ này có ý nghĩa rất quantrọng trong việc quyết định xem xét nên tăng thêm nợ hay giảm nợ, hoặc lựa chọnnguồn vốn nào tài trợ cho thích hợp Một khi sự ổn định của nợ nước ngoài và nghĩa
vụ nợ không được đảm bảo thì việc tăng thêm gánh nặng đồng nghĩa với việc gia tăngthêm nguy cơ vỡ nợ quốc gia và xảy ra khủng hoảng
Đánh giá tính ổn định nợ nước ngoài theo các ngưỡng mức của HIPCs:
- Tỉ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu (NPV/X): đo lường giá trị hiện tại ròng của nợnước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu xuất nhậpkhẩu Ngưỡng an toàn của tỉ lệ này là 150%
- Tỉ lệ nợ nước ngoài/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): đo lường giá trị hiệntại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồnngân sách nhà nước Ngưỡng an toàn của tỉ lệ này là 250% Chỉ tiêu này chỉ được ápdụng nếu đáp ứng hai điều kiện: Tỉ lệ xuất khẩu/GDP phải lớn hơn hoặc bằng 30%, tỉ
lệ thu ngân sách nhà nước/GDP phải lớn hơn 15%
- Tỉ lệ dịch vụ nợ nước ngoài/xuất khẩu (TDS/X) và dịch vụ nợ nước ngoài/thungân sách (TDS/DBR): là những chỉ tiêu đo lường tính lỏng được WB và IMF đưa ra
để đánh giá mức độ bền vững nợ công TDS/X đo lường khả năng thanh toán lãi từnguồn thu xuất khẩu Còn TDS/DBR đo lường khả năng thanh toán lãi từ thu ngân
Trang 24sách nhà nước Một quốc gia đảm bảo tính lỏng, TDS/X phải thấp hơn 15% và
TDS/DBR thấp hơn 10%
Ngoài ra, nợ nước ngoài của quốc gia cũng được đánh giá dựa trên khả năngthanh toán
Chỉ số đánh giá khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán một khoản nợ công phụ thuộc vào quy mô của khoản nợ
đó so với khả năng chi trả đo lường theo GDP, giá trị xuất khẩu hoặc tổng thu củaChính phủ:
- Nợ Chính phủ được coi là có khả năng thanh toán nếu như giá trị chiết khấu củacán cân ngân sách, không tính chi trả lãi vay và nợ, trong tương lai lớn hơn hoặc bằnggiá trị hiện tại của khoản nợ
- Nợ nước ngoài được coi là có khả năng thanh toán nếu như giá trị chiết khấucủa cán cân thương mại trong tương lai lớn hơn so với giá trị các khoản nợ nước ngoàiròng
Ngoài ra, cũng có thể sử dụng các chỉ số sau: tỉ lệ nợ/GDP, tỉ lệ nợ công nướcngoài/GDP, tỉ lệ nợ công/tổng thu ngân sách….Dựa vào các chỉ số này trong hiện tại
so sánh với các mức trong quá khứ với kế hoạch thi tiêu, phân bổ ngân sách, mục tiêutrong năm tới mà chính phủ ban hành sẽ có được những đánh giá chính xác về khảnăng thanh toán của một quốc gia
Chỉ số đánh giá khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản phản ánh khả năng trả nợ nhanh đối với các khoản nợnước ngoài Nếu cơ cấu nợ các khoản nợ nước ngoài phần lớn là nợ dài hạn, lãi suấtthấp thì khả năng thanh khoản sẽ rất cao Một số chỉ số có thể sử dụng như
- Tỉ lệ nợ nước ngoài/ dự trữ ngoại hối
- Tỉ lệ nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/dự trữ ngoại hối
1.3 Các nhân tố tác động tới nợ nước ngoài
1.3.1 Thâm hụt ngân sách nhà nước
Nợ công hình thành từ thâm hụt ngân sách trong nền kinh tế Trong đó, thâm hụtngân sách được hiểu là khi mức tổng chi cao hơn mức tổng thu của Chính phủ Thực tếchứng minh rằng có hai phương pháp để cắt giảm thâm hụt ngân sách Thứ nhất,
Trang 25phương pháp cắt giảm chi tiêu, tuy nhiên phương pháp này không phát huy tác dụngtrong ngắn hạn Thứ hai, phương pháp tăng nguồn thu nhập ngân sách thông qua tăngthuế hoặc tăng vay nợ, trong đó tăng vay nợ là cách làm phổ biến nhất mà các Chínhphủ thường sử dụng Mặt khác, thâm hụt ngân sách là một yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến vay nợ nước ngoài khi mức thâm hụt càng cao thì mức vay nợ nước ngoàicàng tăng để Chính phủ có bù đắp được khoản thâm hụt khi đã sử dụng hết lựa chọnvay dân Trên cả khía cạnh lý thuyết và các minh chứng thực tiễn trên thế giới, mốiquan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài của quốc gia tỷ lệ thuận với nhau.
1.3.2 Hệ số tín nhiệm quốc gia
Hệ số tín nhiệm quốc gia là chỉ số phản ánh tổng quan diễn biến tình hình chínhtrị, kinh tế - xã hội, tài chính - tiền tệ, tín dụng, khả năng hoàn trả đúng hạn tiền gốclẫn lãi trong danh mục nợ của một quốc gia và đóng vai trò quan trọng trong xác địnhtrần nợ nước ngoài của quốc gia đó Các yếu tố về triển vọng tăng trưởng, chính sách
vĩ mô, thâm hụt ngân sách, nợ công, sức khoẻ hệ thống ngân hàng hay thâm hụt vãnglai đều là thước đo cho định mức tín nhiệm nợ của một quốc gia Nói cách khác, hệ sốtín nhiệm càng cao thì việc vay nợ nhanh chóng hơn, lãi suất ưu đãi hơn dẫn đến nợnước ngoài có xu hướng cao lên và ngược lại Trên thế giới hiện nay có ba tổ chức xếphạng tín nhiệm quốc tế uy tín nhất đó là Fitch Ratings, Moody’s và Standard and Poor(S&P)
1.3.3 Tổng sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ bị chi phối bởi nợ công trong cả hai hình tháitích cực khi nợ công là công cụ hỗ trợ vốn đầu tư và tiêu cực khi nợ công đạt đỉnh vàcản trở sự phát triển kinh tế như: giảm đầu tư khu vực tư nhân; giảm tiết kiệm quốcgia; lạm phát; cản trở hoạt động kinh tế - xã hội Mặt khác, mỗi quốc gia có chính sáchkinh tế và chu kỳ kinh tế riêng nên không phải mọi thời điểm khi quốc gia đó có sự giatăng trong tăng trưởng kinh tế liên hệ nợ công cao hoặc thấp là không hoàn toàn chínhxác và phải tuỳ từng quốc gia Nợ công tăng cao cho tăng trưởng kinh tế thường gắnliền đến nợ nước ngoài tăng nhanh
Trang 261.3.4 Hội nhập kinh tế quốc tế
Tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế là mang lại nhiều giải pháp trong khủnghoảng nợ công của các quốc gia hay nợ nước ngoài của quốc gia khi xác định đượctrần nợ và giải quyết được mối lo về vỡ nợ quốc gia Không thể phủ nhận rằng hộinhập kinh tế quốc tế ở thời điểm hiện tại có ảnh hưởng lớn nhất đến nền kinh tế củacác quốc gia đang phát triển, từ đó làm giảm áp lực nợ nước ngoài và trần qua sự hìnhthành của các khối liên minh kinh tế, chính trị và các Hiệp định song phương
1.3.5 Đặc điểm quốc gia
Tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ, nợ nước ngoài có những khác biệt nhất định.Đại diện cho khu vực Châu Á có Indonesia với mức dư nợ công phải nhỏ hơn 60%GDP và mức bội chi ngân sách mỗi năm nhỏ hơn 3% GDP, đồng nghĩa với nợ nướcngoài của Indonesia phải được kiểm soát chặt trong khuôn khổ cho phép Tại khu vực
EU, các nước nằm trong khối Đồng tiền chung Châu Âu có mức trần nợ công chung lànhỏ hơn 60% GDP và thâm hụt ngân sách nhỏ hơn 3% GDP Tại New Zealand có mức
nợ công nhỏ hơn 30% GDP
1.4 Kinh nghiệm các nước và bài học cho rút ra cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ nước ngoài
1.4.1.1 Các kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài tốt
Kinh nghiệm quản lý nợ công của Thái Lan
Quy mô và tốc độ gia tăng của nợ công Thái Lan ở mức trung bình Năm 2015theo báo cáo của Bộ Tài chính Thái Lan, nợ công đạt 163,4 tỷ USD (5.867.373 tỷ Baht),
ở mức 43,8% GDP, trong đó nợ ngắn hạn chiếm 4% tổng nợ (238.798 tỷ Baht); nợ dàihạn chiếm 96% tổng nợ (5.628.574 tỷ Baht) Nợ trong nước chiếm 94% tổng nợ(5.514.663 tỷ Baht); nợ nước ngoài chiếm 6% tổng nợ (352.710 tỷ Baht) Nợ Chínhphủ chiếm 72,5% nợ công Thái Lan (4.255.904 tỷ Baht) Qua số liệu thống kê ở trêncho thấy nợ công Thái Lan có cơ cấu danh mục nợ rất lành mạnh, điều đó cho thấykinh nghiệm quản lý nợ công của Thái Lan là đáng để học hỏi
Luật Quản lý nợ công của Thái Lan được ra đời khá sớm so với các nước trongcùng khu vực, năm 2005 đánh mốc sự ra đời của luật Quản lý nợ công đã tạo cơ sởpháp lý tương đối hoàn chỉnh cho Chính phủ thực hiện các hoạt động quản lý nợ củaThái Lan
Trang 27Theo đó, phạm vi tính toán nợ công của Thái Lan bao gồm nợ của Chính phủ, nợcủa các doanh nghiệp nhà nước phi tài chính và các quỹ phát triển doanh nghiệp tàichính – là đơn vị pháp lý độc lập có vai trò và trách nhiệm là cung cấp hỗ trợ thanhkhoản Có thể thấy mục tiêu quản lý nợ công của Thái Lan là rất rõ ràng chi phí vay thấpnhất có thể, phù hợp với mức độ rủi ro, đảm bảo nhu cầu vốn của Chính phủ và quantrọng hơn là thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn Từ đó Thái Lan có thể nâng cao năng lựccạnh tranh trên trường quốc tế và nâng cao tín nhiệm quốc gia.
Để kiểm soát được nợ nước ngoài của quốc gia ở mức thấp, Thái Lan đã xâydựng cho mình một chiến lực quản lý nợ công với bốn chiến lược cụ thể:
(1) Quản lý nợ công để đạt được chi phí thấp với các rủi ro chấp nhận được(2) Phát triển thị trường trái phiếu trong nước là một trong ba trụ cột chính của thị trường tài chính
(3) Đánh giá và huy động vốn khả thi đê tài trợ cho các sản phẩm cơ sở hạ tầng của Chính phủ
(4) Hiện đại hóa công nghệ hóa để hỗ trợ hoạt động của Ủy ban Quản lý nợ công
Việc đẩy mạnh thị trường trái phiếu chính phủ gắn liền với chiến lực (2) đã tạođiều kiện huy động tối đa nguồn lực trong nước dưới hình thức bán lẻ qua các hệ thốngngân hàng, bảo lãnh phát hàng cũng như đấu thầu qua ngân hàng trung ương Thái Lan
Sử dụng tốt các nguồn lực từ trong nước là nguyên nhân chính giúp cho Thái Lan duytrì mức nợ nước ngoài của quốc gia tương đối thấp 6% tổng nợ công năm 2015
Để có được kết quả nợ công khả quan, Thái Lan phải xây dựng được một môhình tổ chức bộ máy quản lý nợ công rất hiệu quả Kế hoạch vay nợ hàng năm doChính phủ phê duyệt, với sự tham mưu của Ủy ban Giám sát và Quản lý nợ công thựchiện đưa ra chính sách lớn và giám sát tầm vĩ mô công tác quản lý nợ công với chủtịch là Bộ trưởng Bộ Tài chính Với ba tuyến rõ ràng trong khâu quản lý: Phòng Tiềntuyến bao gồm: Phòng Quản lý nợ Chính phủ, phòng quản lý nợ doanh nghiệp nhànước; Phòng Trung tuyến gồm: phòng Chính sách và Kế hoạch, phòng Phát triển thịtrường Trái phiếu; phòng Hậu tuyến: phòng Quản lý nợ, văn phòng Thư ký và bộ phậnIT
Trang 28Qua tất cả những hành động của Thái Lan trong việc quản lý nợ công, sự chủđộng với nội dung bao trùm chính là yếu tố giúp việc kiểm soát nợ công hay nợ nướcngoài của Thái Lan đã có được những kết quả tích cực Việc đánh giá mức độ bềnvững nợ công, phối hợp với chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; Kế họach pháttriển thị trường trái phiếu nội địa; Thực hiện quản trị rủi ro nợ công, … cơ cấu, tái cơcấu nợ công theo chiến lược nợ được định sẵn, đảm bảo tiết kiệm chi phí và giãn tiến
độ trả nợ Các chiến lược nợ được xây dựng theo quy trình nhất định và được sử dụnguyển chuyển với yếu tối vĩ mô và điều kiện thị trường trong việc điều hành chiến lược
Kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài của Malaysia
Một cường quốc khác trong khu vực Đông Nam Á là Malaysia Đất nước này đã
có sự phát triển kinh ngạc trong việc khôi phục nền kinh tế sau ba năm khủng hoảngtài chính châu Á (1997) Thậm chí, trong khoảng thời gian đó, Malaysia đã từ chốikhoản hỗ trợ tài chính của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Điều này đặt ra một câu hỏi lớncho các nước láng giềng nói riêng và toàn châu Á nói chung là lý do tại sao Malaysia
có thể đứng vững và phát triển nhanh đến vậy Trong khi Phillipines và Indonesia lạithất bại và khó khăn trong việc vực dậy nền kinh tế và để lại hệ lụy tới tận thời điểmhiện tại
Thực tế, quy những nghiên cứu và báo cáo đã chỉ ra rằng chính phủ Malaysia đãrất nhanh nhạy và thông minh trong việc quản lý nợ tốt và ứng xử linh hoạt trong việcđiều tiết nền kinh tế và trong các khoản nợ nước ngoài
Mỗi quốc gia đều có luật quy định riêng về việc vay nợ và Malaysia cũng khôngnằm ngoài các quốc gia này Điều này thể hiện rõ trong hiến pháp của Malaysia, cụ thểnhư việc cho phép chính phủ vay nợ trong nước hoặc vay nợ nước ngoài Một giới hạnmức vay nợ tối đa đã được Quốc hội Malaysia ấn định cho chính phủ nước này Sựthành công của Malaysia được thể hiện qua việc xây dựng chiến lược quản lý nợ nướcngoài bao gồm hai mục tiêu hết sức cụ thể:
- Chính phủ duy trì một nguồn tiền thanh toán các khoản nợ nước ngoài đúng hạn
mà có thể kiểm soát được khả năng trả nợ của nền kinh tế
- Đảm bảo được sự cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu
Một bước tiến đúng đắn nữa là chính phủ Malaysia đã rất linh hoạt trong việcgiảm bội chi ngân sách và thâm hụt cán cân thanh toán để đạt được mục tiêu giữ nợ ởmức cân bằng Bên cạnh đó, việc tối đa giảm chi phí tiền lãi của các khoản nợ đến hạn
Trang 29được chính phủ Malaysia ưu tiên thanh toán trước, mặc dù có thể phải vay mới để trả
nợ cũ hoặc để kéo dài thời hạn vay Hơn nữa, để quản lý nợ nước ngoài của quốc giathì chính phủ đã thành lập Ủy Ban Quản lý Nguồn thu từ Nước Ngoài – một cơ quanquản lý nợ thống nhất quốc gia Nhiệm vụ của Ủy Ban này là phối hợp để quản lý nợnước ngoài với sự tham gia của cán bộ các cục: Cục Kho Bạc, Cục Kế toán, Ngânhàng Trung Ương Malaysia dưới sự hướng dẫn của Chủ tịch là Tổng giám đốc Khobạc Malaysia Cụ thể hơn trong vấn đề này, trách nhiệm quản lý trực tiếp đối với quản
lý nợ nước ngoài của khu vực Nhà nước là do Kho bạc liên bang quản lý và chỉ đạothực hiện
Ngoài ra, việc thực hiện toàn bộ các giao dịch thanh toán nợ cho các cơ quanthanh toán bằng tiền của Ngân sách liên bang do Cục Kế toán đảm nhiệm Cục nàycũng có trách nhiệm đảm bảo và giữ gìn các tài khoản của Chính phủ về nợ trong khốinhà nước
Ngân hàng Trung ương cũng không nằm ngoài nhiệm vụ chung Đơn vị này cónhiệm vụ kiểm tra và giám sát tất cả nguồn ngoại hối Trách nhiệm chính của cơ quannày là thay mặt chính phủ đất nước chỉ đạo, thực hiện việc chuyển ngoại tệ thanh toáncho phía cho vay nước ngoài
Mặc dù không có mỗi liên kết trực tiếp đến việc quản lý nợ nhưng Cơ quan Kếhoạch hóa trực tiếp là đơn vị có sự liên quan trong quá trình xây dựng kế hoạch ngânsách ngoại hối của Malaysia
Tiếp theo đó, Cục Kho bạc và Ngân hàng Negara (tức Ngân hàng Trung ươngMalaysia) đều được bố trí và xây dựng hệ thống máy tính hiện đại để phục vụ chocông tác thi hành thu thập, xử lý và lan tỏa thông tin liên quan về các vấn đề nợ, nghĩa
vụ thanh toán nợ, cơ cấu nợ và duy trì nợ ở mức trần để quản lý
Như vậy, công việc chính của Ủy Ban Quản lý nguồn thu từ Nước Ngoài có tráchnhiệm tư vấn và đưa ra các giải pháp cho Chính phủ Malaysia về khả năng trả nợ vàmức vay nợ thích hợp để giảm bớt gánh nặng này; đặc biệt là việc giám sát và xem xét
về thời gian và điều khoản của các khoản vay trong khu vực nhà nước
Vậy lại đặt ra câu hỏi tại sao chính phủ Malaysia lại vận dụng được các phươngpháp xử lý nợ để quản lý và giảm bớt gánh nặng nợ một các linh hoạt đến vậy? Thực
Trang 30tế đã cho thấy chính phủ Malaysia đã dựa vào thị trường tài chính để có thể quản lý cơcấu tiền tệ Cụ thể hơn, chính phủ đã chọn phương án phát hành trái phiếu chính phủbằng các đồng ngoại tệ như đô la Mỹ, bảng Anh dưới hình thức trái phiếu Samurai,trái phiếu Bulldog và các khoản vay đa tiền tệ.
Việc phản ứng đối phó với khủng hoảng nợ đã được Malaysia giải quyết mộtcách đúng đắn vì nhiều lý do
Trước hết, chính phủ Malaysia đã chuẩn bị và xây dựng được một thị trường vốn
tự do và hội nhập kinh tế quốc tế trước khi khủng hoảng năm 1997 xảy ra Một minhchứng rõ ràng là thị trường chứng khoán của Malaysia mạnh hơn các nước quốc gialáng giềng trong cơn khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng nợ như Indonesia hayPhillipines
Chính phủ này cũng có cách thức duy trì nợ ngắn hạn nhỏ hơn khác nhiều so vớicác đất nước khác
Chính phủ cũng chuẩn bị nguồn dự trữ ngoại tệ khá lớn và xây dựng hệ thốngngân hàng có tỷ lệ nợ không sinh lãi thấp hơn Tại điểm này, ngân hàng Trung ương là
cơ quan duy nhất tập trung nguồn ngoại tệ mà không có sự phân chia lẻ tẻ trong các cơquan khác hay bộ tài chính của Malaysia Vì vậy kể cả khi đồng Ringgit bị mất giá thìnền kinh tế của Malaysia đã không bị ảnh hưởng quá nặng nề
Có thể thấy rằng nền kinh tế của Malaysia tuy có sự ảnh hưởng bởi khủng hoảngnhưng vẫn đứng vững và trên đà phục hồi Trong cơn khủng hoảng chính phủ nướcnày đã chuẩn bị một cách kịp thời và ứng xử linh hoạt khi chi rả 2 tỷ đô la Mỹ để trợgiá cho đồng Ringgit Bên cạnh đó, chính phủ cũng thắt chặt quy định các giao dịchphi thương mại trong giới hạn 2 triệu đô la để ngăn chặn trường hợp đầu cơ đồngRinggit
1.4.1.2 Sự thất bại trong việc quản lý nợ nước ngoài
Trường hợp thất bại của Phillipines
Lịch sử kinh tế thế giới đã cho thấy có rất nhiều các cuộc khủng hoảng kinh tế vàkhủng nợ đã từng xảy ra ở hầu hết các châu lục Có thể nói đến một minh chứng điểnhình trong cuộc khủng hoảng nợ Mexicô 1982 Đất nước này đã rơi vào suy thoái kinh
tế và lan ra toàn thế giới bắt nguồn từ cú sốc giá dầu, nguyên nhân là do sự tác động
Trang 31của việc cố định tỷ giá Hay một minh chứng rất rõ ràng khác tại đất nước Nam Mỹ Argentina (2001) vì cùng một nguyên nhân cố định tỷ giá và thực tế năng lực quản lý
-nợ tại quốc gia này yếu kém Cuối cùng có thể kể đến sự thất bại trong việc quản lý -nợnước ngoài của Phillipines trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1985
Về mặt địa lý, Phillipines được xem là một đất nước hay gặp thiên tai vì vậy nềnkinh tế giữ ở mức không ổn định Hơn nữa, đây lại là một quốc gia có tỷ lệ nợ caotrong suốt lịch sử kinh tế của quốc gia này và tỷ lệ đó còn kéo dài cho tới hiện nay.Nếu như Malaysia và Thái Lan được coi là những đất nước có khả năng kiểm soát vàphát triển sau khủng hoảng thành công thì người anh em Phillipines lại là một hìnhmẫu trong quản lý nợ nước ngoài thất bại đặc biệt là trong thời điểm thập niên 80.Theo các báo cáo vào và tình hình cập nhật kinh tế hiện nay, thì Phillipines đang
có khả năng cao trong việc đứng trước nguy cơ mới, đó là nguy cơ khủng hoảng tàichính Nguyên nhân của thực tế này do tỷ lệ nợ của Phillipines đang ở mức cao Gánhnặng lớn đối với nền kinh tế của Phillipines chính là thanh toán lãi suất và nợ chiếmđến 68% chi tiêu của chính phủ trong năm 2004
Hơn nữa, quốc tế đã phản ánh rất nhiều trong những năm vừa qua, hệ số tínnhiệm của Phillipines liên tục bị hạ thấp trong bảng xếp hạng của các tổ chức đánh giá
hệ số tín nhiệm quốc tế có thể lấy một ví dụ rất điển hình là sự sụt giảm ngày càng sâucủa dòng FDI vào quốc gia này và theo dự đoán năm 2004 chỉ còn 0,1 tỷ đô la Mỹ.Mặt khác, tình hình kinh tế vĩ mô của Phillipines cũng đứng chững lại và rấtkhông khả quan khi các nguồn thu để trả nợ gần như cạn kiệt trước cơn khủng hoảng
1983 - 1984 Điều này được phân tích và thể hiện ở rất nhiều các nghiên cứu và đánhgiá về tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước ngày Thực tế cho thấy tốc độ tăngtrưởng của Phillipines giảm từ 5,15% (năm 1980) xuống đến mức 1,87% (năm 1983)
và đột ngột tụt dốc còn – 7,32% (năm 1984) Bên cạnh đó, giá trị âm trong giai đoạn
1982 – 1985 cũng thể hiện trong mức độ tăng trưởng xuất khủng tụt giảm đáng kể.Chính phủ Phillipines cũng có những thất bại trong định hướng dự trữ ngoại tệ quámỏng Tình hình xuất nhập khẩu cũng không mấy khả quan khi vào thời điểm hai nămtrước khủng hoảng 1982, đất nước này chỉ có hơn 7 tuần nhập khẩu Từ một nướckhông có nợ quá hạn (trước năm 1975) tình trạng nợ nần bắt đầu xuất hiện và bắt đầu
Trang 32tăng tốc quá hạn với mức tăng kỷ lục từ một triệu đô la mỹ trong khoản thời gian từ
1976 đến năm 1982 lên ngưỡng 762 triệu đô la mỹ vào khủng hoảng năm 1985 Tất cảnhững lý do đó đẩy Phillipines rơi vào khủng hoảng nợ
Thời điểm lãi suất toàn thế giới tăng cao và dầu mỏ lại trở thành một cơn sốc lầnthứ hai đã khiến cho chi phí vay vốn tăng lên rất cao ở cuối thập niên 70 Bên cạnh đó
sự suy thoái của các quốc gia công nghiệp cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tếthế giớ, đã là giảm nguồn cung cấp vốn từ bên ngoài Hơn nữa, tốc độ tăng xuất khẩu
và tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp hơn hẳn lãi suất thời kỳ này Cùng với cáckhoản vay mượn vốn nhỏ lẻ trước khi con sốt dầu mỏ thực sự xảy ra đến khi đáo hạntrả nợ làm dòng vốn chảy ra bên ngoài càng lớn và ngày càng tăng Chương trình mởrộng đầu tư và tăng cường quốc phòng một cách đầy tham vọng của chính quyềnPhillipines đã làm thâm hụt ngân sách đất nước một cách nặng nề Đỉnh điểm là thờiđiểm chiến lược tranh cử đầy lãng phí trong lịch sử đất nước Phillipines từ nằm 1969khi ngân sách tăng lên nhanh chóng Nợ của Phillipines tích lũy liên tục tăng cao vìnguyên nhân chênh lệch giữa tỷ lệ đầu tư và tỷ lệ tích lũy và cơ cấu đầu tư không hợp
lý Sai lầm của Phillipines trong thời điểm này là đi theo một chiến lược xuất khẩu đadạng hóa và tập trung vào lĩnh vực sản xuất hàng công nghiệp Trong khi ngành côngnghiệp của đất nước này quá non trẻ mà lại được bảo hộ với quy mô sản xuất lớn Màtrong tình hình thực tế, Phillipines lại là một đất nước thuần nông với việc canh tácnông nghiệp là chủ yếu đó chính là thất khi cơ cấu đầu tư không hợp lý Vì cơ cấu đầu
tư bị sai lệch từ đầu nên dẫn theo việc phân bố nguồn lực không dựa trên lợi thế sosánh cạnh tranh, không những không tạo ra được nguồn thu ngoại tệ để trả nợ mà cònlàm tăng gánh nặng về nợ do việc nhập khẩu tư liệu sản xuất công nghiệp và khả năngthực thi kém hiệu quả của nền kinh tế
Sự thất bại của Phillipines còn thể hiện rất rõ trong sự yếu kém của hệ thống tàichính Điều này tác động tiêu cực và ảnh hưởng rất lớn lên nền kinh tế vĩ mô nóichung, tính thanh khoản và khả năng trả nợ nước ngoài nói riêng Hệ lụy của việc này
là nợ nước ngoài tiếp tục ra gia tăng, tiết kiệm tài chính ở mức thấp, dẫn đến hệ lụy đấtnước này đi đến suy thoái Cụ thể hơn, việc không thành công ở Phillipines được liệt
kê trong những mặt sau
Trang 33Hệ thống ngân hàng của Phillipines không có phân khúc rõ ràng và thiếu tínhcạnh tranh vì đây là ngành quản lý độc quyền của quốc gia này Hai phân khúc chínhcủa hệ thống ngân hàng của Phillipines đó là hệ thống thị trường tài chính không chínhthức và hệ thống ngân hàng chính thức Trong đó, các ngân hàng mà nhà nước sở hữuđược đánh giá bằng các tiêu chuẩn khác hẳn ngân hàng tư nhân mà hệ thống ngânhàng chính thức chủ yếu là các ngân hàng này Những ngân hàng thuộc hệ thống ngânhàng chính thức này chỉ tập trung cho một số rất ít doanh nghiệp lớn thuộc các ngànhsản xuất công nghiệp và điện tử Dẫn đến tình trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùngvới các hộ sản xuất không tiếp cận được với nguồn vốn chính thức mà lại phải vay thịtrường phi chính thức với lãi suất cao.
Mặt khác, như đã nói ở trên, hệ thống tài chính của Phillipines có sự quản lý vàvận hành yếu kém, dẫn đến sự mất kiểm soát hay kiểm soát yếu kém tỷ giá hối đoái.Trong khi thực hiện tự do hóa dòng vốn khá sơm khiến cho hiện tượng chảy máu vốntăng cao Ngân hàng Trung ương bắt buộc thường xuyên sử dụng nghiệp vụ trung hòa
để giữ tỷ giá cố định làm tăng tích tụ nợ và làm mất đi cơ hội sư dụng ngoại tệ dự trữ
để đầu tư Ngoài ra sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu giảm do việc cố định tỷ giálàm giảm việc nguồn thu ngoại tệ trả nợ
Tất cả nhưng nguyên nhân đã đề cập ở trên khiến cho trạng thái kinh tế của đấtnước Phillipines luôn là thiếu khả năng trả nợ Và điều này dẫn đến hậu quả hiển nhiên
là khi những cú sốc từ bên ngoài xảy đến thì đất nước sẽ rơi vào tình trạng khủnghoảng và các doanh nghiệp lớn rơi vào tình trạng khó khăn tài chính khi lãi suất thếgiới tăng do cơn sốt dầu mỏ lần hai
Sự thất bại của Hy Lạp
Trong giai đoạn từ 2001 đến 2010, 60%GDP là ngưỡng cho phép theo quy địnhcủa Hiệp hội các nước trong khu vực đồn tiền chung Euro mà trần nợ công của Hy Lạplại luôn vượt qua con số này Vào năm 2010, nợ chính phủ của Hy Lạp tăng lên 329,6
tỷ Euro tương đương 142,8% GDP vượt xa ngưỡng nợ của Ủy ban châu Âu (EuropeanCommission - EC) cho phép
Theo báo cáo số phần trăm trái phiếu đang được nước ngoài sở hữu rơi vào tỷ lệ80% số trái phiếu được phát hành Cũng trong những báo cáo đã nêu ra rằng các ngân
Trang 34hàng châu Âu chính là chủ nợ lớn nhất của Hy Lạp Tình trạng nợ công cao của HyLạp bắt nguồn từ nguyên nhân trực tiếp, đó là sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách từmốc thời gian 2008 đến 2009 Tình trạng nợ công cao của Hy Lạp có nguyên nhân trựctiếp, chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng Tỷ lệthâm hụt ngân sách chiếm 15,2% GDP trong giai đoạn năm 2009 Ở giai đoạn này con
số đã vượt quá mức an toàn là 5% GDP Song song với đó là 3% GDP vượt mức chophép của khu vực đồng tiền chung Euro.Vay nợ tăng lên dưới nhiều hình thức mà cáchthức mà chính phủ Hy Lạp đã thực hiện là mục tiêu nhằm hỗ trợ, bù đắp cho việc thâmhụt ngân sách Và sau khi thực hiện nhiều các biện pháp “thắt lưng buộc bụng”, thâmhụt ngân sách của quốc gia này đã dừng ở con số 11,2% GDP Tỷ lệ này được đánh giávẫn là mức khá cao so với chỉ tiêu mà Ủy ban châu Âu hoạch định
Trong lịch sử kinh tế của Hy Lạp thì điểm nhấn nổi bật nhất đó là tháng 12 năm
2009 khi cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp xảy ra một cách phức tạp Trong rấtnhiều các báo cáo vào tin tức thông tin về cựu thủ tướng của Hy Lạp được công khai
do chính thủ tướng mới – Geogre Papandreou tuyên bố Cụ thể là vị cựu lãnh đạo đãkhông thông báo diễn biến thâm hụt ngân sách ở con số choáng ngợp mà Hy Lạp đangphải gánh vác Sai số được công bố không phải là dừng ở mức 3,7% GDP mà thực tếlại gấp 4 lần là 12,7% GDP Vậy tại sao Hy Lạp lại che giấu những con số này và làmđẹp sổ sách trong diễn biến về ngân sách và nợ công của chính phủ nước này, đó chính
là mục đích đánh lừa thị trường để tiếp tục vay với lãi suất thấp Điều hiển nhiên xảy
ra là sự hạ bậc tín dụng trong trái phiếu của Hy Lạp do Standard & Poor’s – tổ chứcxếp hạng tín dụng uy tín bậc nhất của Thế giới đưa ra Sau công bố này sự bán tháocác loại trái phiếu từ những quỹ đầu tư lớn cùng với đó là các đợt phát hành trái phiếutiếp sau đều bị từ chối mua Lý do để chính phủ Hy Lạp tiếp tục bị đánh giá và hạ bậctín nhiệm quốc gia là do mong muốn được huy động nguồn tiền trong thị trường tàichính mà họ sẵn sàng đồng ý với việc chi phí ốn rất cao Việc công khai những thôngtin này như là một ngã rẽ bất ngờ ngày càng làm cho nền kinh tế của Hy Lạp rơi sâuvào khủng hoảng, khó khăn và kết quả cuối cùng là vỡ nợ
Trang 35Xuất phát từ nguyên nhân chính là các khoản chi tiêu quá lớn của Chính phủcùng với khả năng quản lý tài chính yếu kém, chúng ta có thể đưa ra những nguyênnhân chính gây ra cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp như sau:
Thứ nhất, việc thâm hụt ngân sách do nguyên nhân chi tiêu công tăng vượt mức.
Trước đây, vào giai đoạn của thập kỷ 2001 tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hy Lạp có tốc
độ tăng trường trung bình là 4,3% / năm con số này được đánh giá là ổn định, thậm chí
có những lúc còn lớn hơn con số 3,1% của khu vực châu Âu Sự bất cân đối trong mứctăng chi và thu của chính phủ Hy Lạp có thể kể đến như việc tăng 87% trong mức chitiêu trung bình mà còn số chỉ là 31% ở mức thu Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến uytín của Hy Lạp và xảy ra vi phạm về quy định của khối liên minh châu Âu trong thâmhụt ngân sách Thực tế cho thấy vào năm 2004, chi ngân sách của Hy Lạp tính trongtổng chi tiêu công đã vượt xa hơn rất nhiều các nước trong Tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế (OECD) Mặc dù việc không cải thiện về số lượng và chất lượng dịch vụcủa quốc gia này là không đáng kể Điều này dẫn đến hệ lụy cho Hy Lạp vào năm
2008 khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trên toàn thế giới đã tác động trực tiếp vàmạnh mẽ lên các ngành công nghiệp cốt yếu của quốc gia này Con số mà các báo cáotrên thế giới đưa ra có thể kể đến là ngành du lịch – vận tải biển là một ngành dịch vụmũi nhọn của Hy Lạp trong thời kỳ khủng hoảng đã tụt dốc doanh thu quá 15% (năm2009) Vì vậy với những khó khăn và cách thức lên nền kinh tế của Hy Lạp, sự xuốngdốc mạnh trong nguồn thu nhằm mục đích tài trợ cho ngân sách thiếu đi ý nghĩa Bêncạnh đó để gồng mình trong cơn khủng hoảng, chính phủ nước này phải có những biệnpháp khác như chi tiêu công phải tăng cường để đảm bảo duy trì và phát triển nền kinh
tế Theo những số liệu được đưa ra, đến cuối thập niên 2010, con số 216 tỷ euro cùngvới 130% GDP của mức nợ lũy kế là những con số khổng lồ của nền kinh tế Hy Lạp.Bên cạnh đó, một vấn đề làm đau đầu các chuyên gia kinh tế của quốc gia này đó làdân số của Hy Lạp ngày càng già đi, đồng nghĩa với việc các chi phí dành cho lươnghưu (lương hưu của Hy Lạp luôn được coi là con sô đáng mơ ước trên toàn châu Âu).Giờ đây lại trở thành một rào cản cho chi tiêu công
Trang 36Thật vậy, các nghiên cứu khác cho thấy mức tăng cho lương hưu trong khu vựccông của Hy Lạp sẽ gia tăng từ 15,5% tới 24% GDP trong giai đoạn từ năm 2005 đếnnăm 2050.
Thứ hai, sự thâm hụt ngân sách đi kèm với gia tăng nợ công là một yếu tố quan
trọng do nguồn thu sụt giảm bên cạnh đó, một yếu tố để nguồn thu ngân sách của HyLạp giảm sâu đó là các hoạt động kinh tế ngầm và trốn thuế tại quốc gia này Con sốgây bất ngờ của Hy Lạp trong nền kinh tế “không chính thức” lên đến 25% - 30%GDP dựa trên báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) Bộ luật Kinh doanh và Thuế quáphức tạp, đi cùng với mức thuế rất cao, điều tiết dư thừa gây nên sự thất bại của cơquan quản lý Đây là lý do để Hy Lạp xảy ra tình hình hoạt động kinh tế ngầm hoạtđộng rất phát triển và tỷ lệ trốn thuế cao
Điều đáng nói ở đây bên cạnh việc thâm hụt ngân sách thì tỷ lệ tham nhũng ở HyLạp được đánh giá là cao nhất châu Âu, dựa trên báo cáo của Tổ chức minh bạch quốc
tế Lấy một ví dụ điểm hình là tiền hối lộ mà người dân ở quốc gia này đã chi ra chocác vị lãnh đạo và quản lý ở cả hai khu vực công và tư đã đạt tới con số 750 triệu euro.Đặc biệt hơn là ngành có tỷ lệ tham nhũng cao nhất tại Hy Lạp là ngành y khi mà bác
sỹ yêu cầu tiền hối lộ vao hơn cả hiệu quả ca phẫu thuật, các vụ việc nhận hối lộ đạttới con số khổng lồ tại các thành phố lớn của Hy Lạp Chính thủ tướng và người dâncủa Hy Lạp cũng phải thừa nhận rằng “tham nhũng mang tính hệ thống” Đây chính làmấu chốt cho tình trạng nợ công của Hy Lạp ngày càng nặng nề và gây thiệt hại lớncho nền kinh tế
Các trường hợp trốn thuế xảy ra do tham nhũng tăng cao Không chỉ dừng lại ở
đó tình trạnh dẫn tới chi tiêu của chính phủ tăng vọt khi mà việc duy trì mức tiền lươngcao cho cán bộ công chức và thực thi vào hoạch định những dự án với vốn đầu tư rấtlớn mà không ra được kết quả , thay cho việc hướng đến những dự án xây dựng việclàm cho người lao động và tăng năng suât lao động Sự cạnh tranh trong nền kinh tếlao dốc cùng với gánh nặng trong ngân sách của Hy Lạp đã khiến cho hậu quả làthương mại của Hy Lạp không còn đủ sức để cạnh tranh với những sản phẩm đến từnhững đất nước khác Điều này lý giải hiển nhiên cho việc thâm hụt từ năm này sangnăm khác của cán cân thương mại Hy Lạp
Trang 37Thứ ba, người dân Hy Lạp chưa có ý thức về gửi tiết kiệm nên dẫn đến tiết kiệm
trong nước của quốc gia này ở mức thấp gây nên việc nợ nước ngoài do chi tiêu công
Để so sánh con số tiết kiệm trong nước trung bình của Hy Lạp so với các nước lánggiềng như Ý, Tây Ban Nha thì Hy Lạp chỉ đạt mức 11% và vẫn còn trên đà sụt giảmnghiêm trọng còn tỷ lệ lần lượt của các quốc gia đã nêu là 20% Tham gia liên minhchâu Âu là đòn bẩy và cũng là chói buộc cho Hy Lạp về đầu tư trong nước Tỷ lệ bántháo các loại trái phiếu từ người dân thể hiện khả năng yếu kém của Hy Lạp khi để mất
cơ hội xây dựng một kênh phục vụ cho việc huy đồng nguồn vốn sẵn có Điều này dẫntới kết quả là chính phủ Hy Lạp bắt buộc phải vay nợ tăng cường để có thể hỗ trợ và
bù đắp cho chi tiêu công
Thứ tư, vì lí do Hy Lạp là thành viên của liên minh châu Âu EU mà quốc gia này
đã coi việc sử dụng và tiếp cận các nguồn vốn đầu tư nước ngoài một cách dễ dàng và
sử dụng chúng một cách yếu kém Việc tham gia vào khu vực châu Âu đã mở ra cho
Hy Lạp một cánh cửa lớn đầy hy vọng trong việc tiếp cận với thị trường vốn quốc tế.Với việc được đứng ngang hàng trong việc sử dụng chung một đồng tiền tệ với cácnước có nền kinh tế lớn như Đức và Pháp nên Hy Lạp đã chủ quan coi bản thân quốcgia này có giá trị cao và có sự đảm bảo trong các dự án lớn đối với nhà đầu tư tiềmnăng Từ đó, việc tự cho là dễ dàng trong kích thích và hấp dẫn đầu tư nước ngoài vớimức lãi suất thấp đã đẩy Hy Lạp tới những sai lầm gây thiệt hại cho nền kinh tế nướcnày Minh chứng cho vấn đề này đó là khi không những người dân và cả chính phủ Hy
Lạ bán tháo trái phiếu để thu về được còn số lên đến hàng trăm tỷ đô la Mỹ Nếu như
Hy Lạp là một quốc gia có đầu tư trong suy nghĩ cách thức vận hành hệ thống tài chínhthì số tiền họ thu về được do bán trái phiếu có thể hỗ trợ rất nhiều cho nền kinh tế đangkhủng hoảng và phát triển kinh tế khi họ có kế hoạch chi tiêu phù hợp Tuy nhiên,chính phủ nước này đã đi ngược lại những kỳ vọng cho việc sử dụng số tiền bán tráiphiếu, quốc gia này đã chi tiêu quá đà mà hầu như cho xây dựng các cơ sở hạ tầng làmđẹp bộ mặt quốc gia mà không xây dựng được kế hoạch thiết yếu cho việc trả nợ
Thứ năm, như đã phân tích ở trên việc công khai chỉ trích lẫn nhau của lãnh đạo
Hy Lạp cho thấy tính thiếu minh bạch và che giấu thông tin của chính phủ này Vì vậy,niềm tin của người dân và các nhà đầu tư đến từ nước ngoài sụt giảm mạnh Điển hình
Trang 38cho thấy trong cơn khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng nợ của Hy Lạp, các nhà đầu
tư đã rút vốn một cách liên tục và ồ ạt ra khỏi tất cả các thị trường của Hy Lạp gây nên
sự khó khăn trong huy động vốn trong thị trường vốn quốc tế mà Hy Lạp đang phảiđối mặt
Ngoài ra, sự lệ thuộc vào nguồn tài chính đến từ nước ngoài đã làm cho đất nướcnày rất dễ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những định kiến và thay đổi về niềm tin tronggiới đầu tư Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi mà thời đại hội nhập đang đượcđẩy mạnh thì tính công khai và minh bạch luôn là một điều kiện tiên quyết mà nhà đầu
tư nhìn vào Mà khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp nguyên nhân chính là do tính thiếuminh bạch về số liệu mà chính phủ lại còn cố để vẽ nên những bức tranh không có thật
để giải thích về thâm hụt ngân sách, điều này dẫn đến khi những chính sách được đưa
ra để giúp đỡ và khắc phục những yếu kém về ngân sách, các vấn đề kinh tế quốc tế,kinh tế vĩ mô đều không có tác dụng và bị hạn chế
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những nghiên cứu, phân tích, đánh giá về các câu chuyện thành công cũngnhư thất bại trong việc quản lý nợ nước ngoài như Malaysia, Thái Lan, Phillipines, HyLạp, Việt Nam có thể rút ra những bài học kinh nghiệm dựa vào thực tế kể trên Nhữngbài học kinh nghiệm này có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nợ nướcngoài và phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh hiện nay
Thứ nhất, cần có sự thừa hưởng các quyết sách của Malaysia trong việc sử dụng
các công cụ tài chính một các linh hoạt và đa dạng để thu hút nguồn ngoại tệ trong thịtrường tài chính quốc tế Bài học đặt ra ở đây là không nên phụ thuộc quá nhiều vàonguồn vốn vay bên ngoài, mà phải chủ động đưa ra sự lựa chọn những hình thức phùhợp để giảm nợ Có thể kể đến như việc thanh toán trả trước các khoản nợ để giảm bớtchi phí trả lãi vay và kéo dài thời hạn vay Hiệu quả khi thực hiện tốt những vấn đềnày là sẽ giảm được những gánh nặng về nợ trong khi có thể sử dụng tối đa các nguồnvốn lại vừa thực hiện được việc chia sẻ rủi ro
Thứ hai, từ bài học kinh nghiệm về thất bại của Phillipines trong tự do hóa tài
khoản vốn quá sớm và quá nhanh mà không có các biện pháp hiệu quả Điều này hiểnnhiên sẽ dẫn đến sự leo vọt số dư nợ nước ngoài và không đảm bảo tình hình an ninh tài
Trang 39chính quốc gia Vì vậy Việt Nam cần xây dựng một lộ trình tự do hóa thích hợp cho cácgiao dịch trên tài khoản vốn thích hợp Từ đó đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế.
Thứ ba, quay trở lại trường hợp Phillipines và Hy Lạp khi gặp khủng hoảng tài
chính có một nguyên nhân trực tiếp liên quan đến việc không kiểm soát được dòng vốnngắn hạn để tăng quá nhanh rồi đột ngột đổi hướng khiến cho mất khả năng thanh toánquốc tế của đất nước và tạo sức ép lên tỷ giá hối đoái Vì vậy để tránh rủi ro, Việt Namnên duy trì và xây dựng tỷ lệ nợ ngắn hạn một cách hợp lý và có kiểm soát để dòngvốn ngắn hạn khi có vấn đề có thể can thiệp kịp thời Câu chuyện quản lý nợ thànhcông ở các quốc gia cho thấy tỷ lệ ngắn hạn thấp thì khả năng quản lý nợ cao
Thứ tư, Malaysia đã làm rất tốt các cân đối vĩ mô Và Việt Nam nên học hỏi và
đảm bảo duy trì ba cân đối vĩ mô chính: cân đối giữa nguồn tài trợ từ tiết kiệm và nhucầu đầu tư và cân đối giữa nguồn ngoại tệ ra vào Việc này sẽ duy trì một nguồn tiềnthanh toán nợ nước ngoài hợp lý với khả năng trả nợ của quốc gia
Thứ năm, việc chính phủ ấn định mức vay nợ sẽ hạn chế được việc vay mượn
quá khả năng để chi trả Việt Nam cần rút ra kinh nghiệm đảm bảo một cơ sở thể chếquản lý nợ mang tính pháp lý cao Việc thống nhất quản lý này sẽ đảm bảo cho xâydựng một cơ sở dữ liệu nợ đồng nhất, chuyên trách phục vụ cho công tác phân tích nợmột cách tối ưu, chính xác và giúp đưa ra hoạch định chính sách một cách cụ thể và tốtnhất
Thứ sáu, vấn đề then chốt nhất trong quản lý nợ công là quản lý chặt chẽ trần nợ
công đối với vay nước ngoài Tỷ lệ nợ nước ngoài cao và rủi ro tỷ giá là các nguy cơtiềm ẩn mất khả năng thanh toán dẫn đến vỡ nợ công sẽ kèm theo mất chủ quyền tàichính quốc gia Kinh nghiệm của Hy Lạp cho thấy, khi tỷ lệ nợ vay nước ngoài quácao (năm 2011 xấp xỉ 80%), nền tài chính Quốc gia sẽ bị phụ thuộc vào nguồn nợ củanước ngoài
Thứ bảy, cần phải kiểm soát chặt chẽ các khoản “nợ công ngầm, tiềm ẩn” phát
sinh từ nợ của khu vực tư nhân chuyển thành nợ công, có thể phá vỡ trần nợ công antoàn mà chính phủ không lường trước được Bài học kinh nghiệm biến nợ của các DNcác thành phần kinh tế và tư nhân thành nợ công đã xảy ra rất phổ biến đối với nhiềunước trên thế giới
Trang 40Mỗi đất nước đều có những thể chế kinh tế và đặc điểm xã hội khác nhau Vì vậybài học kinh nghiệm chỉ ở trong khuôn khổ những đặc điểm chung mà các nước đangthực hiện Nên sẽ xảy ra câu chuyện kinh nghiệm của đất nước này sẽ rất khó để ápdụng với quốc gia khác Cụ thể như trong bài học của Malaysia việc tự do hóa nguồnvốn không phải là tự do một cách tự phát giống như Phillipines mà là có sự chuẩn bị từtrước Cũng có thể nói rằng đối với các nước khủng hoảng tài chính thì Malaysia làquốc gia có thị trường chứng khoán mở hơn mà lại có sự phát triển nhanh hơn Điềunày cũng giải thích rằng không phải chọn tự do hóa nguồn vốn là hoàn toàn xấu vấn
đề then chốt ở đây là mỗi quốc gia phải tự đánh giá được tiềm năng và tiềm lực củamình Mỗi quốc gia có một đặc điểm riêng nên không thể chạy theo xu hướng toàn cầumột cách quá nhanh và thiếu cân nhắc, cũng không nên né tránh để không bị ảnhhưởng từ những tác động và biến đổi của nền kinh tế thế giới Các quốc gia này phải tựđặt ra đánh giá cách thức tham gia vào xu hướng hội nhập và mở cửa của nền kinh tếthị trường để có thể đạt được lợi ích nhiều nhất
Tựu chung lại, bài học về kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài của các quốc giamặc dù chưa được hoàn thiện và nghiên cứu một cách toàn diện Với những điểm đãđược liệt kê lưu ý ở trên Việt Nam nên là một quốc gia đươc thừa hưởng và phát triểnnên kinh tế dựa trên những kinh nghiệm quý báu từ các nước bạn Từ đó thay đổinhững suy nghĩ nhằm giúp cho Việt Nam có thể vững vàng cạnh tranh được trêntrường quốc tế, đồng thời thu hẹp chênh lệch về trình độ quản lý nợ nước ngoài so vớicác nước trong khu vực nói riêng và thế giới nói chung