Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu sau: Xây dựng hệ thống lý luận về nợ nước ngoài và quản lý nợ nước ngoài, các lý thuyết liên quan đến vấn đề xác định nợ nước ngoài, các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững nợ trong việc quản lý nợ nước ngoài. Phân tích thực trạng nợ nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất những giải pháp nhằm duy trì được trạng thái nợ bền vững và nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài.
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Nợ công 3
1.1.2 Nợ nước ngoài của quốc gia 7
1.1.3 Phân loại nợ nước ngoài 10
1.2 Quản lý nợ nước ngoài của quốc gia 11
1.3 Các nhân tố tác động tới nợ nước ngoài 13
1.3.1 Thâm hụt ngân sách nhà nước 13
1.3.2 Hệ số tín nhiệm quốc gia 14
1.3.3 Tổng sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng kinh tế 14
1.3.4 Hội nhập kinh tế quốc tế 15
1.3.5 Đặc điểm quốc gia 15
1.4 Kinh nghiệm các nước và bài học cho rút ra cho Việt Nam 15
1.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ nước ngoài 15
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 30
Trang 52.1 Tổng quan nợ công Việt Nam 30
2.1.1 Quy mô nợ công 30
2.1.2 Cơ cấu nợ công của Việt Nam 32
2.2 Thực trạng quản lý nợ nước ngoài tại Việt Nam 39
2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của quốc gia 44
2.3.1 Các chính sách kiểm soát nợ nước ngoài 44
2.3.2 Những thành công ban đầu 46
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân 48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI 52
3.1 Định hướng quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam 52
3.1.1 Cơ sở xây dựng các trần nợ nước ngoài 52
3.1.2 Định hướng cho trần nợ nước ngoài của quốc gia 53
3.2 Nhóm giải phép đảm bảo khả năng tiếp nhận nợ vay nước ngoài 55
3.2.1 Gia tăng dự trữ ngoại hối 55
3.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 56
3.2.3 Ổn định lạm phát 57
3.2.4 Gia tăng tín nhiệm quốc gia 58
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài 58
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện chiến lược quản lý nợ nước ngoài 58
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nợ nước ngoài 61
3.3.3 Giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý nợ nước ngoài 62
3.3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị nội bộ của cơ quan quản lý nợ nước ngoài 63
3.3.5 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nợ nước ngoài 64
3.3.6 Các giải pháp có tính hỗ trợ 67
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Cấu trúc nợ công của Việt Nam
Hình 2.1: Nợ công Việt Nam và trần nợ công từ 2011 đến 2017
Hình 2.2: Tỷ lệ % dư nợ của các cấp so với GDP giai đoạn 2011 – 2017
Hình 2.3: Nợ Chính phủ/GDP và trần nợ do Quốc hội quy định (2011-2017)
Hình 2.4: Cơ cấu giữa nợ trong nước và nợ nước ngoài (2011 – 2018)
Hình 2.5: Các nhóm nợ hiện tại của Việt Nam
Hình 2.6: Tỷ lệ nợ nước ngoài (%GDP) so với mức trần của Quốc hội
Hình 2.7: Bức tranh nợ nước ngoài của Việt Nam
Hình 2.8: Tỷ lệ nợ nước ngoài dài hạn và ngắn hạn của Việt Nam
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Nợ công Việt Nam từ 2011 – 2017
Bảng 2.2: Nợ công/ người và GDP/ người của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017
Bảng 2.3: Cơ cấu nợ công của các cấp theo GDP giai đoạn 2011 – 2017
Bảng 2.4: Cơ cấu nợ công trong nước và nợ nước ngoài của Chính phủ
(2011 2018)
Bảng 2.5: Khối lượng phát hành TPCP giai đoạn 2011 – 2017
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UNCTAD Liên hiệp quốc về Thương mại và
Phát triển
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Qua những phân tích và nghiên cứu về nợ nước ngoài, có thể thấy rằng việc quản lý nợ kém hiệu quả dẫn đến hậu quả đưa đất nước vào tình trạng báo động về tài chính và khó khăn trong hội nhập, nguy hiểm hơn có thể đưa cả đất nước vào tình trạng khủng hoảng nợ như bài học đắt giá từ Hy Lạp Nợ nước ngoài được coi
là một nhân tốt quan trọng bậc nhất và cũng thực sự cần thiết trong suốt quá trỉnh xây dựng, phát triển và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước Đặc biệt
là đối với Việt Nam – một quốc gia đang phát triển, có hội nhập kinh tế sâu rộng và đang trở nên phổ biến
Việc vay nợ nước ngoài không đảm bảo tính kiểm soát chặt chẽ và tính trung thực trong các báo cáo về kết quả của quản lý nợ công có sai lệch thì hậu quả đi đến
sự mất cân bằng một cách đặc biệt nghiêm trọng trong nền tài chính quốc gia Hơn hết vốn vay từ nước ngoài được sử dụng một cách kém hiệu quả, sai mục tiêu và lý tưởng ban đầu, đồng thời các chính sách để hợp tác và thích nghi với hội nhập quốc
tế có sự tụt hậu và không cập nhật thì dẫn đến việc các quốc gia vay nợ có nguy cơ trở thành những con nợ đang lâm nguy đối với nền kinh tế thế giới Vì vậy trong nghiên cứu này, tác giả đã khẳng định rằng việc kiểm soát nợ nước ngoài một cách hiệu quả không phải là vấn đề có thể giải quyết một cách dễ dàng và thuận lợi đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Từ những thực trạng đó, tác giả đã đưa ra những nhận định cụ thể và hệ thống lại những lý luận cơ bản về nợ nước ngoài, những bài học kinh nghiệm thành công
và thất bại về nợ nước ngoài trên thế giới, và những định hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nợ nước ngoài là nguồn lực tài chính từ nước ngoài nhằm bổ sung cho sự thiếu hụt về vốn đầu tư trong nước Nợ nước ngoài được xem là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi mà xu hướng mở cửa hòa nhập nền kinh tế đã trở thành phổ biến
Tuy nhiên, việc quản lý nợ không hiệu quả có thể đưa một nước lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, thậm chí có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ Việc giám sát úa trình vay và trả nợ nước ngoài không chặt chẽ có thể dẫn tới sự mất cân đối nghiêm trọng cho nền tài chính quốc gia Việc sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài kém hiệu quả, sai mục tiêu và sự trì trệ trong thay đổi chính sách để thích nghi với bối cảnh quốc tế có thể khiến các nước vay nợ có nguy cơ trở thành những nước mắc nợ trầm trọng Chính vì vậy, quản lý nợ nước ngoài như thế nào cho hiệu quả là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp bách trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Trong thực tế hiện nay, chính phủ Việt Nam đã có một loạt những quy định đổi mới trong quản lý vay và trả nợ nước ngoài Có thể thấy rằng sự cấp bách trong cách thức đổi mới trên toàn hệ thống quản lý nợ của quốc gia Tuy nhiên trước yêu cầu đổi mới quản lý kinh tế, trong đó có đổi mới quản lý tài chính cho phù hợp với thông lệ quốc tế, công tác quản lý nợ vay nước ngoài của Chính phủ bộc lộ khác nhiều hạn chế
về cả cơ chế lẫn nghiệp vụ Xuất phát từ những thực tiễn trên về nợ nước ngoài của Việt Nam, tác giả nhận ra nhu cầu nghiên cứu về nhận thức đúng đắn về vấn đề nợ nước ngoài cái mà nên là một công cụ để phát triển nền kinh tế, đồng thời làm giảm thiểu những mối nguy cơ với an ninh tài chính quốc gia và không phải dựa vào kinh tế chính trị
từ nước ngoài Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nợ nước ngoài ở Việt Nam: thực trạng
và giải pháp” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu sau:
Trang 11- Xây dựng hệ thống lý luận về nợ nước ngoài và quản lý nợ nước ngoài, các lý thuyết liên quan đến vấn đề xác định nợ nước ngoài, các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững nợ trong việc quản lý nợ nước ngoài
- Phân tích thực trạng nợ nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất những giải pháp nhằm duy trì được trạng thái nợ bền vững và nâng cao hiệu quả quản
lý nợ nước ngoài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình quản lý nợ vay
nước ngoài của Chính phủ, tình hình vay nợ nước ngoài, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, dự báo,…
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 5 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ nước ngoài
Chương 2: Thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp quản lý nợ nước ngoài
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Nợ công
Một cách tổng quát, nợ công (public debt) là tổng giá trị các khoản nợ của chính phủ và vì thế đôi khi còn được gọi là nợ chính phủ (government debt) Các khoản nợ này bao gồm số tiền nợ của tất cả các cơ quan của Chính phủ (trực tiếp hoặc gián tiếp
do Chính phủ kiểm soát) từ cấp trung ương đến cấp địa phương Nguồn gốc của nợ công đến từ việc các khoản thu (trong đó thuế chiếm tỷ trọng cao nhất) của Chính phủ không bù đắp được các khoản chi, từ đó dẫn đến thâm hụt ngân sách Để tài trợ cho thâm hụt ngân sách Chính phủ sẽ phải đi vay nợ Khoản vay nợ ròng hàng năm của Chính phủ (nợ ròng bằng tổng nợ bao gồm cả gốc và lãi trừ đi số tiền đã trả được) tích lũy dần lại ra tổng nợ công của quốc gia hay nợ chính phủ
Hiện nay, trên thế giới chưa có khái niệm chung nào cho khái niệm về nợ công, nhưng phổ biến nhất và được các quốc gia sử dụng nhiều nhất là các quan điểm của các tổ chức tài chính, kinh tế quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và diễn đàn Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đưa ra Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nợ công theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập với nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay Ngoài ra nợ công còn bao gồm các khoản
nợ của tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán ví dụ như các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước (IMF, 2015)
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) nợ công là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của khu vực công, bao gồm nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và của các tổ chức công Khu vực Chính phủ bao gồm chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Các tổ chức công là các tổ chức công phi tài chính và các tổ chức tài chính công như ngân hàng trung ương (NHTW), các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi như ngân hàng thương mại nhà nước Ngoài ra giống như IMF, nợ của các thể chế độc lập nhưng nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết đinh (trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước) và trong trường
Trang 13hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay cho thể chế đó cũng được tính vào nợ công (WB, 2019)
Diễn đàn Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) còn tính đến khoản nợ trong quỹ lương hưu quốc gia vào nợ công Hàng năm quỹ lương hưu quốc gia (ở Việt Nam là Bảo hiểm xã hội quốc gia) là một định chế công cộng phải trả lương hưu cho người về hưu và nếu như giá trị hiện tại của quỹ lương hưu quốc gia không đủ để trả lương cho tương lai (kể cả tính thêm các khoản thu thêm trong tương lai) thì khoản thiếu hụt này sẽ được tính vào nợ công (UNCTAD, 2008)
Như vậy, theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công hay còn gọi là nợ chính phủ, là những phần nghĩa vụ nợ trực tiếp hoặc được thừa nhận của chính phủ một quốc gia với phần còn lại của nền kinh tế và nước ngoài Khu vực chính phủ bao gồm chính phủ trung ương, chính quyền liên bang và chính quyền địa phương Khu vực được thừa nhận của chính phủ hay còn được hiểu là khu vực các tổ chức công là tổ chức công phi tài chính, tổ chức công tài chính, ngân hàng trung ương (NHTW), các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi (trừ NHTW) và các tổ chức tài chính công khác Khái quát lại, nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm:
(1) nợ của Chính phủ và các Bộ, ban, ngành trung ương;
(2) nợ của các cấp chính quyền địa phương;
(3) nợ của Ngân hàng trung ương;
(4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn hay quyết toán ngân sách của tổ chức được Chính phủ phê duyệt hoặc Chính phủ phải chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ
Đối với Việt Nam, theo Điều 4 Luật Quản lý nợ công mới nhất của Việt Nam năm 2017 thì nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương Trong đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước nhân danh Chính phủ Nợ được Chính phủ bảo lãnh khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của Nhà nước vay được chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản
nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay
Trang 14(1) Nợ Chính phủ khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ;
(2) Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của Nhà nước vay được Chính phủ bảo lãnh;
(3) Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay
Hình 1.1: Cấu trúc nợ công của Việt Nam
Nguồn:Nguyễn Thị Liên Hương (2019)
Trên thực tế, tùy vào quan điểm của từng quốc gia mà nợ công theo khái niệm rộng nhất của các tổ chức quốc tế sẽ loại bổ một số thành phần nhất định Ví dụ, Bungari hay Macedonia loại bỏ nợ của ngân hàng trung ương (NHTW) trừ trường hợp chính phủ bảo lãnh, Thái Lan và Macedonia loại bỏ nợ của NHTM nhà nước và hoặc định chế tài chính nhà nước, Việt Nam loại bỏ nợ của các DNNN trừ trường hợp được chính phủ bảo lãnh ra khỏi nợ công
Như vậy, khái niệm về nợ công của các tổ chức quốc tế như IMF, WB, UNCTAD là chi tiết và có tính bao trùm cao Phạm vi của nợ công, theo quan điểm của những tổ chức trên, không chỉ bao gồm nợ của Chính phủ ma còn bao gồm các khoản nợ được chính phủ kiểm soát hay các khoản nợ chính phủ chịu trách nhiệm liên
Trang 15đới (Chính phủ có nghĩa vụ ngầm định) Khái niệm nợ công của Việt Nam nếu so sánh với khái niệm của các tổ chức quốc tế thì hẹp hơn trong đó chỉ khoanh vùng nợ công là những khoản nợ trực tiếp liên quan đến chính phủ bao gồm nợ chính quyền các cấp và
nợ được chính phủ bảo lãnh Nhiều lúc nợ công được dùng một cách thay thế cho nợ chính phủ tuy nhiên thuật ngữ nợ chính phủ có phạm vi hẹp hơn nợ công Tùy từng quốc gia thì phạm vi hẹp hơn này đến đâu, có quốc gia tính nợ Chính phủ bao gồm cả
nợ của chính quyền trung ương đến địa phuòng và nợ được chính phủ bảo lãnh vì thế
nợ chính phủ trong trường hợp này hẹp hơn ở khoản các khoản nợ của các tổ chức định chế công; nếu nợ chính phủ chỉ tính nợ của chính quyền trung ương và các khoản
nợ do chính phủ bảo lãnh thì nợ chính phủ trong trường hợp này hẹp hơn ở khoản mục
nợ của chính quyền địa phương và các khoản nợ của các tổ chức, định chế công Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân Việc phát hành trái phiếu chính phủ được thực hiện thông qua cả nội tệ và ngoại tệ; tuy nhiên trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ thường có rủi ro tín dụng cao hơn vì dễ xảy ra rủi ro về tỷ giá hối đoái Ngoài ra, chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc
tế, chẳng hạn Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)… Hình thức vay này thường được chính phủ của các nước có độ tín nhiệm tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao
Chính phủ có thể bảo lãnh cho các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài bằng nhiều cách khác nhau như bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, phát hành thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trở lên, do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho dự án đầu tư theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh
Theo điều 32 Luật quản lý nợ công năm 2009, đối tượng được Chính phủ bảo lãnh là doanh nghiệp thực hiện chương trình, dự án theo quy định tại Điều 33 của luật này hoặc Ngân hàng chính sách của Nhà nước và tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện chương trình tín dụng có mục tiêu của Nhà nước Tuy nhiên, đây mới chỉ là các khoản
Trang 16nợ được chính phủ bảo lãnh công khai Trên thực tế, còn có những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh một cách không chính thức
Theo điều 40 Luật quản lý nợ công năm 2009, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để vay vốn trong nước thông qua Kho bạc Nhà nước hoặc uỷ quyền cho tổ chức tài chính, tín dụng trên địa bàn phát hành theo quy định của Chính phủ và ký kết thoả thuận vay từ các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
Như vậy, có thể thấy quan điểm về nợ công của Việt Nam có sự khác biệt đáng chú ý về việc xác định phạm vi của nợ công Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và nợ của các doanh nghiệp nhà nước tự vay tự trả mà không có sự bảo lãnh của Chính phủ Theo quan điểm của IMF và WB thì nợ công bao gồm cả nợ của NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ và nợ của doanh nghiệp nhà nước Từ đó dẫn đến sự khác nhau trong cách tính nợ công của Việt Nam so với IMF và WB
Ngoài ra, chúng ta cần phân biệt nợ công với nợ quốc gia Trong khi nợ công nhấn mạnh đối tượng chịu trách nhiệm trả khoản nợ là chính phủ hay rộng hơn là khu vực công thì nợ quốc gia nhấn mạnh đối tượng chịu trách nhiệm trả khoản nợ là cả khu vực công và khu vực tư nhân của quốc gia đó Nói cách khác nợ quốc gia là một khái niệm rộng hơn so với nợ công khi tính cả phần vay nợ của khu vực tư nhân Và cũng cần lưu ý rằng nếu nợ công có nguồn gốc từ nợ trong nước và nợ nước ngoài thì nợ tư nhân cũng tương tự có nguồn gốc cũng từ nợ trong nước và nợ nước ngoài Và nếu gộp nợ công nước ngoài và nợ tư nhân nước ngoài lại chúng ta sẽ có tổng nợ nước ngoài của quốc gia
1.1.2 Nợ nước ngoài của quốc gia
Theo diễn đàn Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), nợ nước ngoài hay nợ quốc tế của một quốc gia tại một thời điểm nhất định là tổng số nợ theo hợp đồng chưa được thanh toán mà người cư trú của quốc gia đó có trách nhiệm phải thanh toán cho người không cư trú, bao gồm việc hoàn trả nợ gốc kèm (hoặc không kèm) với lãi, hoặc trả nợ lãi kèm (hoặc không kèm) với gốc
Trang 17Để phù hợp với thông lệ quốc tế về nợ nước ngoài của quốc gia, Điều 3 Luật Quản lý nợ công năm 2009 của Việt Nam nêu rõ nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam
Nợ nước ngoài chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản nước ngoài, được
ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác
do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật
Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nếu gộp cả hai khoản nợ nước ngoài này, chúng ta sẽ có nợ công nước ngoài
Nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam, thường là doanh nghiệp lớn, có uy tín và giá trị các khoản vay phải được sự giám sát và cho phép của Thủ tướng theo từng thời kỳ Và như vậy, khoản nợ này sẽ được gọi là nợ tư nước ngoài
Nợ nước ngoài của quốc gia nếu phân theo nguồn gốc nợ sẽ gồm nợ công nước ngoài và nợ tư nước ngoài
Nợ công nước ngoài nhấn mạnh đối tượng chịu trách nhiệm trả khoản nợ kà Chính phủ hay rộng hơn là khu vực công Các khoản vay vốn nước ngoài thường được dùng để bù đắp thâm hụt ngân sách Phần lớn các khoản vay này là các khoản vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA – Offical Development Assistance) và khảon vay
ưu đãi
Vay ODA là khoản vay nước ngoài có thành tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có điều kiện ràng buộc liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ theo quy định của nhà tài trợ nước ngoài hoặc ít nhất 25% đối với khoản vay không có điều kiện ràng buộc
Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA Theo đó, tại Khoản 5 Điều 3 Luật
Trang 18Quản lý nợ công 2017, thành tố ưu đãi là tỷ lệ phần trăm giá trị danh nghĩa của các khoản vay phản ánh mức ưu đãi của vốn vay nước ngoài được tính toán trên cơ sở các yếu tố về đồng tiền, thời hạn vay, thời gian ân hạn, lãi suất, phí và chi phí khác với tỷ
lệ chiết khấu tương ứng lãi suất vay của Chính phủ Việt Nam trên thị trường tại thời điểm tính toán
Bên cạnh đó, Chính phủ có thể phát hành các công cụ nợ là tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ ra thị trường vốn quốc tế Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu chính phủ bằng đồng ngoại tệ thường đem lại nhiều rủi ro tỷ hơn khi có sự biến động về tỷ giá hối đoái, hay thị trường tài chính quốc tế gặp những bất ổn lớn
Hơn nữa, tuy rằng chính quyền địa phương không được trực tiếp vay nước ngoài nhưng UBND cấp tỉnh có thể được vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ (chủ yếu là vay ODA) để chi cho các dự án cơ sở hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương và địa phương chịu trách nhiệm bố trí từ nguồn ngân sách của địa phương để trả nợ khi đến hạn Và trên thực tế, các dự án đầu tư ở các tỉnh bằng vốn vay lại của Chính phủ thì hiệu quả hiện chưa tốt, đây cũng là một phần làm gia tăng nợ nước ngoài của quốc gia hiện nay
Nợ tư nước ngoài là các khoản vay nợ do các doanh nghiệp tư nhân đứng ra vay không có sự bảo lãnh của Nhà nước (các ngân hàng, công ty tài chính, các tổ chức tín dụng khác), thường là các doanh nghiệp lớn, có uy tín và thương hiệu nổi tiếng Các khoản vay này xuất phát từ các khoản vay thương mại, hay các công cụ nợ như trái phiếu doanh nghiệp Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường tương tự các điều kiện vay tín dụng xuất khẩu hoặc huy động trên thị trường vốn quốc tế
Dường như với quan niệm vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp theo hình thức tự vay tự trả là chuyện của doanh nghiệp nhưng đó là điểm nguy hiểm khi sự gia tăng nhanh của nợ bằng ngoại tệ của doanh nghiệp sẽ làm gia tăng nhanh chóng mức độ rủi
ro gây ra đổ vỡ cho nền kinh tế, châm ngòi cho cuộc khủng hoảng nợ, có khả nằng làm sụp đổ cả một nền kinh tế Khi nợ nước ngoài của doanh nghiệp tăng, sẽ không có nhiều điều đáng để nói nếu doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp bằng ngoại tệ cũng tăng nhanh tương ứng để đảm bảo khả năng chi trả thông suốt và đúng hạn
Trang 19Nhưng nếu chí có một phần doanh thu/lợi nhuận bằng ngoại tệ hoặc tệ hơn, toàn bộ doanh thu/lợi nhuận của doanh nghiệp là bằng bản tệ, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với khả năng rất có thể xảy ra vỡ nợ trong bối cảnh tỷ giá, vì một lý do nào đó, tăng lên đột ngột và mạnh
1.1.3 Phân loại nợ nước ngoài
Các khoản nợ nước ngoài của quốc gia được phân loại theo nhiều cách thức khác nhau
Căn cứ vào thời hạn đi vay
Nợ ngắn hạn và nợ trung hạn gồm các khoản vay có thời hạn dưới 3 năm Các khoảng vay này thường chiếm một tỉ lệ nhỏ (khoảng dưới 10% - 20%) trông tổng số
nợ vay
Nợ dài hạn gồm các khoản vay từ 3 năm trở lên và thường chiếm tỉ lệ lớn khoảng 80% - 90% trong tổng số nợ
Căn cú vào hình thức vay
Vay ưu đãi là các khoản vay chủ yếu là do Chính phủ các nước phát triển cho Chính phủ các nước đang phát triển vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn thanh toánh, thời hạn ân hạn (khoảng thời gian từ khi ký hiệp định vay vốn đến lần đầu tiên phải trả vốn gốc), và phương thức thanh toán
Vay thương mại là các khoản vay do các tổ chức tín dụng và ngân hàng tư nhân nước ngoài cho Chính phủ, doanh nghiệp vay với điều kiện khó khăn, phức tạp hơn vay ưu đãi Thường được thực hiện thông qua các tổ hợp ngân hàng
Căn cứ vào lãi suất cho vay
Vay với lãi suất cố định là các khoản vay mà hằng năm người nợ phải trả cho chủ
nợ một số tiền lãi bàng số dư nợ nhân với lãi suất cố định được quy định trong hợp đồng
Vay với lãi suất thả nổi là các khoản vay mà hằng năm người nợ phải trả cho chủ
nợ một số tiền lãi theo lãi suất thị trường tư do
Vay với lãi suất LIBOR là các khoản vay mà người nợ phải trả cho chủ nợ một khoản tiền lãi căn cứ theo lãi suất LIBOR và công thêm một khoản phụ phí từ 0,5% - 3% do các ngân hàng cho vay xác định
Trang 201.2 Quản lý nợ nước ngoài của quốc gia
Theo nghĩa hẹp, quản lý nợ bao hàm việc khống chế mức gia tăng nợ trong quan
hệ với năng lực tăng trưởng GDP và tăng trưởng xuất khẩu của đất nước, hay nói cách khác, giữa mức nợ nước ngoài tương ứng với năng lực trả nợ của một quố gia Cụ thể hơn là giảm mức nợ gốc, nợ lãi phải trả cho tương xứng khả năng kinh tế của nước vay
nợ và tránh nợ chồng chất vượt quá mức vay nợ thận trọng của quốc gia, đảm bảo khả năng thanh toán của quốc gia đó
Xét theo nghĩa rộng, việc quản lý nợ nước ngoài hàm chứa trong nó hệ thống điều hành vĩ mô sao cho vốn nước ngoài được sử dụng có hiệu quả và không gia tăng đến mức vượt quá khả năng thanh toán để không làm tích lũy nợ Nói cách khác, quản
lý nợ nước ngoài là đảm bảo một cơ cấu vốn một cách hợp lý và kiểm soát động thái
nợ và sự vận hành của vốn vay Theo cách hiểu chung của cộng đồng tài chính quốc
tế, quản lý nợ nước ngoài là một phần của công tác quản lý nền kinh tế vĩ mô bao gồm việc hoạch định, triển khai, duy trì và từ bỏ các khoản nợ nước ngoài để tạo đièu kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, giảm tình trạng nghèo đói và tiếp tục duy trì sự phát triển mà không tạo ra khó khăn cho tương lai
Như vậy, quản lý nợ nước ngoài kông tác rời khỏi quản lý chính sách vĩ mô với quản lý nợ công, quản lý ngân sách nhà nước, dự trữ quốc tế và cán cân thanh toán Quản lý nợ nước ngoài hiệu quả đòi hỏi các chính sách tốt và thể chế mạnh nhằm điều hành và phối hợp các hoạt động vay mượn Quản lý nợ nước ngoài không đơn thuần là vay và trả mà phải làm sao cho đảm bảo nguồn vốn tăng trưởng, duy trì ổn định trong phát triển kinh tế và tương xứng khả năng thanh toán của nền kinh tế
Để giám sát nợ nước ngoài thì Chính phủ có đưa ra các ngưỡng nợ an toàn được Quốc hội cho phép
Theo Điều 21 Luật Quản lý nợ công năm 2017 của Việt Nam có quy định 5 chỉ tiêu an toàn về nợ công Chỉ tiêu an toàn về nợ công là hệ thống chỉ tiêu quy định mức trần và ngưỡng cảnh báo về nợ công do Quốc hội quyết định Đó là:
(1) Nợ công so với tổng sản phẩm quốc nội;
(2) Nợ của chính phủ so với tổng sản phẩm quốc nội;
(3) Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không bao gồm cho vay lại) so với tổng thu ngân sách nhà nước hằng năm;
Trang 21(4) Nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng sản phẩm quốc nội;
(5) Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
Có thể thấy, theo quy định trong Luật quản lý nợ công năm 2017, Việt Nam chỉ đang sử dụng hai chỉ tiêu về nợ nước ngoài của quốc gia để giám sát và quản lý các khoản nợ có nguồn gốc từ ngoài nước
Theo thông lệ quốc tế, để xác định ngưỡng an toàn của nợ công người ta thường
sử dụng 2 tiêu chí tỷ lệ % nợ công so với GDP và số nợ công tính theo đầu người
Và theo IMF và WB, để đánh giá mức độ an toàn của nợ công cần xét đến tiêu chí mức độ chỉ tiêu an toàn nợ nước ngoài Xác định mức độ này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định xem xét nên tăng thêm nợ hay giảm nợ, hoặc lựa chọn nguồn vốn nào tài trợ cho thích hợp Một khi sự ổn định của nợ nước ngoài và nghĩa
vụ nợ không được đảm bảo thì việc tăng thêm gánh nặng đồng nghĩa với việc gia tăng thêm nguy cơ vỡ nợ quốc gia và xảy ra khủng hoảng
Đánh giá tính ổn định nợ nước ngoài theo các ngưỡng mức của HIPCs:
- Tỉ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu (NPV/X): đo lường giá trị hiện tại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu xuất nhập khẩu Ngưỡng an toàn của tỉ lệ này là 150%
- Tỉ lệ nợ nước ngoài/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): đo lường giá trị hiện tại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn ngân sách nhà nước Ngưỡng an toàn của tỉ lệ này là 250% Chỉ tiêu này chỉ được áp dụng nếu đáp ứng hai điều kiện: Tỉ lệ xuất khẩu/GDP phải lớn hơn hoặc bằng 30%, tỉ
lệ thu ngân sách nhà nước/GDP phải lớn hơn 15%
- Tỉ lệ dịch vụ nợ nước ngoài/xuất khẩu (TDS/X) và dịch vụ nợ nước ngoài/thu ngân sách (TDS/DBR): là những chỉ tiêu đo lường tính lỏng được WB và IMF đưa ra
để đánh giá mức độ bền vững nợ công TDS/X đo lường khả năng thanh toán lãi từ nguồn thu xuất khẩu Còn TDS/DBR đo lường khả năng thanh toán lãi từ thu ngân
Trang 22sách nhà nước Một quốc gia đảm bảo tính lỏng, TDS/X phải thấp hơn 15% và TDS/DBR thấp hơn 10%
Ngoài ra, nợ nước ngoài của quốc gia cũng được đánh giá dựa trên khả năng thanh toán
Chỉ số đánh giá khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán một khoản nợ công phụ thuộc vào quy mô của khoản nợ
đó so với khả năng chi trả đo lường theo GDP, giá trị xuất khẩu hoặc tổng thu của Chính phủ:
- Nợ Chính phủ được coi là có khả năng thanh toán nếu như giá trị chiết khấu của cán cân ngân sách, không tính chi trả lãi vay và nợ, trong tương lai lớn hơn hoặc bằng giá trị hiện tại của khoản nợ
- Nợ nước ngoài được coi là có khả năng thanh toán nếu như giá trị chiết khấu của cán cân thương mại trong tương lai lớn hơn so với giá trị các khoản nợ nước ngoài ròng
Ngoài ra, cũng có thể sử dụng các chỉ số sau: tỉ lệ nợ/GDP, tỉ lệ nợ công nước ngoài/GDP, tỉ lệ nợ công/tổng thu ngân sách….Dựa vào các chỉ số này trong hiện tại
so sánh với các mức trong quá khứ với kế hoạch thi tiêu, phân bổ ngân sách, mục tiêu trong năm tới mà chính phủ ban hành sẽ có được những đánh giá chính xác về khả năng thanh toán của một quốc gia
Chỉ số đánh giá khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản phản ánh khả năng trả nợ nhanh đối với các khoản nợ nước ngoài Nếu cơ cấu nợ các khoản nợ nước ngoài phần lớn là nợ dài hạn, lãi suất thấp thì khả năng thanh khoản sẽ rất cao Một số chỉ số có thể sử dụng như
- Tỉ lệ nợ nước ngoài/ dự trữ ngoại hối
- Tỉ lệ nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/dự trữ ngoại hối
1.3 Các nhân tố tác động tới nợ nước ngoài
1.3.1 Thâm hụt ngân sách nhà nước
Nợ công hình thành từ thâm hụt ngân sách trong nền kinh tế Trong đó, thâm hụt ngân sách được hiểu là khi mức tổng chi cao hơn mức tổng thu của Chính phủ Thực tế chứng minh rằng có hai phương pháp để cắt giảm thâm hụt ngân sách Thứ nhất,
Trang 23phương pháp cắt giảm chi tiêu, tuy nhiên phương pháp này không phát huy tác dụng trong ngắn hạn Thứ hai, phương pháp tăng nguồn thu nhập ngân sách thông qua tăng thuế hoặc tăng vay nợ, trong đó tăng vay nợ là cách làm phổ biến nhất mà các Chính phủ thường sử dụng Mặt khác, thâm hụt ngân sách là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến vay nợ nước ngoài khi mức thâm hụt càng cao thì mức vay nợ nước ngoài càng tăng để Chính phủ có bù đắp được khoản thâm hụt khi đã sử dụng hết lựa chọn vay dân Trên cả khía cạnh lý thuyết và các minh chứng thực tiễn trên thế giới, mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài của quốc gia tỷ lệ thuận với nhau
1.3.2 Hệ số tín nhiệm quốc gia
Hệ số tín nhiệm quốc gia là chỉ số phản ánh tổng quan diễn biến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính - tiền tệ, tín dụng, khả năng hoàn trả đúng hạn tiền gốc lẫn lãi trong danh mục nợ của một quốc gia và đóng vai trò quan trọng trong xác định trần nợ nước ngoài của quốc gia đó Các yếu tố về triển vọng tăng trưởng, chính sách
vĩ mô, thâm hụt ngân sách, nợ công, sức khoẻ hệ thống ngân hàng hay thâm hụt vãng lai đều là thước đo cho định mức tín nhiệm nợ của một quốc gia Nói cách khác, hệ số tín nhiệm càng cao thì việc vay nợ nhanh chóng hơn, lãi suất ưu đãi hơn dẫn đến nợ nước ngoài có xu hướng cao lên và ngược lại Trên thế giới hiện nay có ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế uy tín nhất đó là Fitch Ratings, Moody’s và Standard and Poor (S&P)
1.3.3 Tổng sản phẩm quốc nội và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ bị chi phối bởi nợ công trong cả hai hình thái tích cực khi nợ công là công cụ hỗ trợ vốn đầu tư và tiêu cực khi nợ công đạt đỉnh và cản trở sự phát triển kinh tế như: giảm đầu tư khu vực tư nhân; giảm tiết kiệm quốc gia; lạm phát; cản trở hoạt động kinh tế - xã hội Mặt khác, mỗi quốc gia có chính sách kinh tế và chu kỳ kinh tế riêng nên không phải mọi thời điểm khi quốc gia đó có sự gia tăng trong tăng trưởng kinh tế liên hệ nợ công cao hoặc thấp là không hoàn toàn chính xác và phải tuỳ từng quốc gia Nợ công tăng cao cho tăng trưởng kinh tế thường gắn liền đến nợ nước ngoài tăng nhanh
Trang 241.3.4 Hội nhập kinh tế quốc tế
Tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế là mang lại nhiều giải pháp trong khủng hoảng nợ công của các quốc gia hay nợ nước ngoài của quốc gia khi xác định được trần nợ và giải quyết được mối lo về vỡ nợ quốc gia Không thể phủ nhận rằng hội nhập kinh tế quốc tế ở thời điểm hiện tại có ảnh hưởng lớn nhất đến nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển, từ đó làm giảm áp lực nợ nước ngoài và trần qua sự hình thành của các khối liên minh kinh tế, chính trị và các Hiệp định song phương
1.3.5 Đặc điểm quốc gia
Tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ, nợ nước ngoài có những khác biệt nhất định Đại diện cho khu vực Châu Á có Indonesia với mức dư nợ công phải nhỏ hơn 60% GDP và mức bội chi ngân sách mỗi năm nhỏ hơn 3% GDP, đồng nghĩa với nợ nước ngoài của Indonesia phải được kiểm soát chặt trong khuôn khổ cho phép Tại khu vực
EU, các nước nằm trong khối Đồng tiền chung Châu Âu có mức trần nợ công chung là nhỏ hơn 60% GDP và thâm hụt ngân sách nhỏ hơn 3% GDP Tại New Zealand có mức
nợ công nhỏ hơn 30% GDP
1.4 Kinh nghiệm các nước và bài học cho rút ra cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ nước ngoài
1.4.1.1 Các kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài tốt
Kinh nghiệm quản lý nợ công của Thái Lan
Quy mô và tốc độ gia tăng của nợ công Thái Lan ở mức trung bình Năm 2015 theo báo cáo của Bộ Tài chính Thái Lan, nợ công đạt 163,4 tỷ USD (5.867.373 tỷ Baht),
ở mức 43,8% GDP, trong đó nợ ngắn hạn chiếm 4% tổng nợ (238.798 tỷ Baht); nợ dài hạn chiếm 96% tổng nợ (5.628.574 tỷ Baht) Nợ trong nước chiếm 94% tổng nợ (5.514.663 tỷ Baht); nợ nước ngoài chiếm 6% tổng nợ (352.710 tỷ Baht) Nợ Chính phủ chiếm 72,5% nợ công Thái Lan (4.255.904 tỷ Baht) Qua số liệu thống kê ở trên cho thấy nợ công Thái Lan có cơ cấu danh mục nợ rất lành mạnh, điều đó cho thấy kinh nghiệm quản lý nợ công của Thái Lan là đáng để học hỏi
Luật Quản lý nợ công của Thái Lan được ra đời khá sớm so với các nước trong cùng khu vực, năm 2005 đánh mốc sự ra đời của luật Quản lý nợ công đã tạo cơ sở pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho Chính phủ thực hiện các hoạt động quản lý nợ của Thái Lan
Trang 25Theo đó, phạm vi tính toán nợ công của Thái Lan bao gồm nợ của Chính phủ, nợ của các doanh nghiệp nhà nước phi tài chính và các quỹ phát triển doanh nghiệp tài chính – là đơn vị pháp lý độc lập có vai trò và trách nhiệm là cung cấp hỗ trợ thanh khoản
Có thể thấy mục tiêu quản lý nợ công của Thái Lan là rất rõ ràng chi phí vay thấp nhất có thể, phù hợp với mức độ rủi ro, đảm bảo nhu cầu vốn của Chính phủ và quan trọng hơn là thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn Từ đó Thái Lan có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế và nâng cao tín nhiệm quốc gia
Để kiểm soát được nợ nước ngoài của quốc gia ở mức thấp, Thái Lan đã xây dựng cho mình một chiến lực quản lý nợ công với bốn chiến lược cụ thể:
(1) Quản lý nợ công để đạt được chi phí thấp với các rủi ro chấp nhận được (2) Phát triển thị trường trái phiếu trong nước là một trong ba trụ cột chính của thị trường tài chính
(3) Đánh giá và huy động vốn khả thi đê tài trợ cho các sản phẩm cơ sở hạ tầng của Chính phủ
(4) Hiện đại hóa công nghệ hóa để hỗ trợ hoạt động của Ủy ban Quản lý nợ công Việc đẩy mạnh thị trường trái phiếu chính phủ gắn liền với chiến lực (2) đã tạo điều kiện huy động tối đa nguồn lực trong nước dưới hình thức bán lẻ qua các hệ thống ngân hàng, bảo lãnh phát hàng cũng như đấu thầu qua ngân hàng trung ương Thái Lan
Sử dụng tốt các nguồn lực từ trong nước là nguyên nhân chính giúp cho Thái Lan duy trì mức nợ nước ngoài của quốc gia tương đối thấp 6% tổng nợ công năm 2015
Để có được kết quả nợ công khả quan, Thái Lan phải xây dựng được một mô hình tổ chức bộ máy quản lý nợ công rất hiệu quả Kế hoạch vay nợ hàng năm do Chính phủ phê duyệt, với sự tham mưu của Ủy ban Giám sát và Quản lý nợ công thực hiện đưa ra chính sách lớn và giám sát tầm vĩ mô công tác quản lý nợ công với chủ tịch là Bộ trưởng Bộ Tài chính Với ba tuyến rõ ràng trong khâu quản lý: Phòng Tiền tuyến bao gồm: Phòng Quản lý nợ Chính phủ, phòng quản lý nợ doanh nghiệp nhà nước; Phòng Trung tuyến gồm: phòng Chính sách và Kế hoạch, phòng Phát triển thị trường Trái phiếu; phòng Hậu tuyến: phòng Quản lý nợ, văn phòng Thư ký và bộ phận
IT
Trang 26Qua tất cả những hành động của Thái Lan trong việc quản lý nợ công, sự chủ động với nội dung bao trùm chính là yếu tố giúp việc kiểm soát nợ công hay nợ nước ngoài của Thái Lan đã có được những kết quả tích cực Việc đánh giá mức độ bền vững nợ công, phối hợp với chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; Kế họach phát triển thị trường trái phiếu nội địa; Thực hiện quản trị rủi ro nợ công, … cơ cấu, tái cơ cấu nợ công theo chiến lược nợ được định sẵn, đảm bảo tiết kiệm chi phí và giãn tiến
độ trả nợ Các chiến lược nợ được xây dựng theo quy trình nhất định và được sử dụng uyển chuyển với yếu tối vĩ mô và điều kiện thị trường trong việc điều hành chiến lược
Kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài của Malaysia
Một cường quốc khác trong khu vực Đông Nam Á là Malaysia Đất nước này đã
có sự phát triển kinh ngạc trong việc khôi phục nền kinh tế sau ba năm khủng hoảng tài chính châu Á (1997) Thậm chí, trong khoảng thời gian đó, Malaysia đã từ chối khoản hỗ trợ tài chính của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Điều này đặt ra một câu hỏi lớn cho các nước láng giềng nói riêng và toàn châu Á nói chung là lý do tại sao Malaysia
có thể đứng vững và phát triển nhanh đến vậy Trong khi Phillipines và Indonesia lại thất bại và khó khăn trong việc vực dậy nền kinh tế và để lại hệ lụy tới tận thời điểm hiện tại
Thực tế, quy những nghiên cứu và báo cáo đã chỉ ra rằng chính phủ Malaysia đã rất nhanh nhạy và thông minh trong việc quản lý nợ tốt và ứng xử linh hoạt trong việc điều tiết nền kinh tế và trong các khoản nợ nước ngoài
Mỗi quốc gia đều có luật quy định riêng về việc vay nợ và Malaysia cũng không nằm ngoài các quốc gia này Điều này thể hiện rõ trong hiến pháp của Malaysia, cụ thể như việc cho phép chính phủ vay nợ trong nước hoặc vay nợ nước ngoài Một giới hạn mức vay nợ tối đa đã được Quốc hội Malaysia ấn định cho chính phủ nước này Sự thành công của Malaysia được thể hiện qua việc xây dựng chiến lược quản lý nợ nước ngoài bao gồm hai mục tiêu hết sức cụ thể:
- Chính phủ duy trì một nguồn tiền thanh toán các khoản nợ nước ngoài đúng hạn
mà có thể kiểm soát được khả năng trả nợ của nền kinh tế
- Đảm bảo được sự cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu
Một bước tiến đúng đắn nữa là chính phủ Malaysia đã rất linh hoạt trong việc giảm bội chi ngân sách và thâm hụt cán cân thanh toán để đạt được mục tiêu giữ nợ ở mức cân bằng Bên cạnh đó, việc tối đa giảm chi phí tiền lãi của các khoản nợ đến hạn
Trang 27được chính phủ Malaysia ưu tiên thanh toán trước, mặc dù có thể phải vay mới để trả
nợ cũ hoặc để kéo dài thời hạn vay Hơn nữa, để quản lý nợ nước ngoài của quốc gia thì chính phủ đã thành lập Ủy Ban Quản lý Nguồn thu từ Nước Ngoài – một cơ quan quản lý nợ thống nhất quốc gia Nhiệm vụ của Ủy Ban này là phối hợp để quản lý nợ nước ngoài với sự tham gia của cán bộ các cục: Cục Kho Bạc, Cục Kế toán, Ngân hàng Trung Ương Malaysia dưới sự hướng dẫn của Chủ tịch là Tổng giám đốc Kho bạc Malaysia Cụ thể hơn trong vấn đề này, trách nhiệm quản lý trực tiếp đối với quản
lý nợ nước ngoài của khu vực Nhà nước là do Kho bạc liên bang quản lý và chỉ đạo thực hiện
Ngoài ra, việc thực hiện toàn bộ các giao dịch thanh toán nợ cho các cơ quan thanh toán bằng tiền của Ngân sách liên bang do Cục Kế toán đảm nhiệm Cục này cũng có trách nhiệm đảm bảo và giữ gìn các tài khoản của Chính phủ về nợ trong khối nhà nước
Ngân hàng Trung ương cũng không nằm ngoài nhiệm vụ chung Đơn vị này có nhiệm vụ kiểm tra và giám sát tất cả nguồn ngoại hối Trách nhiệm chính của cơ quan này là thay mặt chính phủ đất nước chỉ đạo, thực hiện việc chuyển ngoại tệ thanh toán cho phía cho vay nước ngoài
Mặc dù không có mỗi liên kết trực tiếp đến việc quản lý nợ nhưng Cơ quan Kế hoạch hóa trực tiếp là đơn vị có sự liên quan trong quá trình xây dựng kế hoạch ngân sách ngoại hối của Malaysia
Tiếp theo đó, Cục Kho bạc và Ngân hàng Negara (tức Ngân hàng Trung ương Malaysia) đều được bố trí và xây dựng hệ thống máy tính hiện đại để phục vụ cho công tác thi hành thu thập, xử lý và lan tỏa thông tin liên quan về các vấn đề nợ, nghĩa
vụ thanh toán nợ, cơ cấu nợ và duy trì nợ ở mức trần để quản lý
Như vậy, công việc chính của Ủy Ban Quản lý nguồn thu từ Nước Ngoài có trách nhiệm tư vấn và đưa ra các giải pháp cho Chính phủ Malaysia về khả năng trả nợ và mức vay nợ thích hợp để giảm bớt gánh nặng này; đặc biệt là việc giám sát và xem xét
về thời gian và điều khoản của các khoản vay trong khu vực nhà nước
Vậy lại đặt ra câu hỏi tại sao chính phủ Malaysia lại vận dụng được các phương pháp xử lý nợ để quản lý và giảm bớt gánh nặng nợ một các linh hoạt đến vậy? Thực
Trang 28tế đã cho thấy chính phủ Malaysia đã dựa vào thị trường tài chính để có thể quản lý cơ cấu tiền tệ Cụ thể hơn, chính phủ đã chọn phương án phát hành trái phiếu chính phủ bằng các đồng ngoại tệ như đô la Mỹ, bảng Anh dưới hình thức trái phiếu Samurai, trái phiếu Bulldog và các khoản vay đa tiền tệ
Việc phản ứng đối phó với khủng hoảng nợ đã được Malaysia giải quyết một cách đúng đắn vì nhiều lý do
Trước hết, chính phủ Malaysia đã chuẩn bị và xây dựng được một thị trường vốn
tự do và hội nhập kinh tế quốc tế trước khi khủng hoảng năm 1997 xảy ra Một minh chứng rõ ràng là thị trường chứng khoán của Malaysia mạnh hơn các nước quốc gia láng giềng trong cơn khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng nợ như Indonesia hay Phillipines
Chính phủ này cũng có cách thức duy trì nợ ngắn hạn nhỏ hơn khác nhiều so với các đất nước khác
Chính phủ cũng chuẩn bị nguồn dự trữ ngoại tệ khá lớn và xây dựng hệ thống ngân hàng có tỷ lệ nợ không sinh lãi thấp hơn Tại điểm này, ngân hàng Trung ương là
cơ quan duy nhất tập trung nguồn ngoại tệ mà không có sự phân chia lẻ tẻ trong các cơ quan khác hay bộ tài chính của Malaysia Vì vậy kể cả khi đồng Ringgit bị mất giá thì nền kinh tế của Malaysia đã không bị ảnh hưởng quá nặng nề
Có thể thấy rằng nền kinh tế của Malaysia tuy có sự ảnh hưởng bởi khủng hoảng nhưng vẫn đứng vững và trên đà phục hồi Trong cơn khủng hoảng chính phủ nước này đã chuẩn bị một cách kịp thời và ứng xử linh hoạt khi chi rả 2 tỷ đô la Mỹ để trợ giá cho đồng Ringgit Bên cạnh đó, chính phủ cũng thắt chặt quy định các giao dịch phi thương mại trong giới hạn 2 triệu đô la để ngăn chặn trường hợp đầu cơ đồng Ringgit
1.4.1.2 Sự thất bại trong việc quản lý nợ nước ngoài
Trường hợp thất bại của Phillipines
Lịch sử kinh tế thế giới đã cho thấy có rất nhiều các cuộc khủng hoảng kinh tế và khủng nợ đã từng xảy ra ở hầu hết các châu lục Có thể nói đến một minh chứng điển hình trong cuộc khủng hoảng nợ Mexicô 1982 Đất nước này đã rơi vào suy thoái kinh
tế và lan ra toàn thế giới bắt nguồn từ cú sốc giá dầu, nguyên nhân là do sự tác động
Trang 29của việc cố định tỷ giá Hay một minh chứng rất rõ ràng khác tại đất nước Nam Mỹ - Argentina (2001) vì cùng một nguyên nhân cố định tỷ giá và thực tế năng lực quản lý
nợ tại quốc gia này yếu kém Cuối cùng có thể kể đến sự thất bại trong việc quản lý nợ nước ngoài của Phillipines trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1985
Về mặt địa lý, Phillipines được xem là một đất nước hay gặp thiên tai vì vậy nền kinh tế giữ ở mức không ổn định Hơn nữa, đây lại là một quốc gia có tỷ lệ nợ cao trong suốt lịch sử kinh tế của quốc gia này và tỷ lệ đó còn kéo dài cho tới hiện nay Nếu như Malaysia và Thái Lan được coi là những đất nước có khả năng kiểm soát và phát triển sau khủng hoảng thành công thì người anh em Phillipines lại là một hình mẫu trong quản lý nợ nước ngoài thất bại đặc biệt là trong thời điểm thập niên 80 Theo các báo cáo vào và tình hình cập nhật kinh tế hiện nay, thì Phillipines đang
có khả năng cao trong việc đứng trước nguy cơ mới, đó là nguy cơ khủng hoảng tài chính Nguyên nhân của thực tế này do tỷ lệ nợ của Phillipines đang ở mức cao Gánh nặng lớn đối với nền kinh tế của Phillipines chính là thanh toán lãi suất và nợ chiếm đến 68% chi tiêu của chính phủ trong năm 2004
Hơn nữa, quốc tế đã phản ánh rất nhiều trong những năm vừa qua, hệ số tín nhiệm của Phillipines liên tục bị hạ thấp trong bảng xếp hạng của các tổ chức đánh giá
hệ số tín nhiệm quốc tế có thể lấy một ví dụ rất điển hình là sự sụt giảm ngày càng sâu của dòng FDI vào quốc gia này và theo dự đoán năm 2004 chỉ còn 0,1 tỷ đô la Mỹ Mặt khác, tình hình kinh tế vĩ mô của Phillipines cũng đứng chững lại và rất không khả quan khi các nguồn thu để trả nợ gần như cạn kiệt trước cơn khủng hoảng
1983 - 1984 Điều này được phân tích và thể hiện ở rất nhiều các nghiên cứu và đánh giá về tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước ngày Thực tế cho thấy tốc độ tăng trưởng của Phillipines giảm từ 5,15% (năm 1980) xuống đến mức 1,87% (năm 1983)
và đột ngột tụt dốc còn – 7,32% (năm 1984) Bên cạnh đó, giá trị âm trong giai đoạn
1982 – 1985 cũng thể hiện trong mức độ tăng trưởng xuất khủng tụt giảm đáng kể Chính phủ Phillipines cũng có những thất bại trong định hướng dự trữ ngoại tệ quá mỏng Tình hình xuất nhập khẩu cũng không mấy khả quan khi vào thời điểm hai năm trước khủng hoảng 1982, đất nước này chỉ có hơn 7 tuần nhập khẩu Từ một nước không có nợ quá hạn (trước năm 1975) tình trạng nợ nần bắt đầu xuất hiện và bắt đầu
Trang 30tăng tốc quá hạn với mức tăng kỷ lục từ một triệu đô la mỹ trong khoản thời gian từ 1976 đến năm 1982 lên ngưỡng 762 triệu đô la mỹ vào khủng hoảng năm 1985 Tất cả những
lý do đó đẩy Phillipines rơi vào khủng hoảng nợ
Thời điểm lãi suất toàn thế giới tăng cao và dầu mỏ lại trở thành một cơn sốc lần thứ hai đã khiến cho chi phí vay vốn tăng lên rất cao ở cuối thập niên 70 Bên cạnh đó
sự suy thoái của các quốc gia công nghiệp cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế thế giớ, đã là giảm nguồn cung cấp vốn từ bên ngoài Hơn nữa, tốc độ tăng xuất khẩu
và tốc độ tăng trưởng kinh tế còn thấp hơn hẳn lãi suất thời kỳ này Cùng với các khoản vay mượn vốn nhỏ lẻ trước khi con sốt dầu mỏ thực sự xảy ra đến khi đáo hạn trả nợ làm dòng vốn chảy ra bên ngoài càng lớn và ngày càng tăng Chương trình mở rộng đầu tư và tăng cường quốc phòng một cách đầy tham vọng của chính quyền Phillipines đã làm thâm hụt ngân sách đất nước một cách nặng nề Đỉnh điểm là thời điểm chiến lược tranh cử đầy lãng phí trong lịch sử đất nước Phillipines từ nằm 1969 khi ngân sách tăng lên nhanh chóng Nợ của Phillipines tích lũy liên tục tăng cao vì nguyên nhân chênh lệch giữa tỷ lệ đầu tư và tỷ lệ tích lũy và cơ cấu đầu tư không hợp
lý Sai lầm của Phillipines trong thời điểm này là đi theo một chiến lược xuất khẩu đa dạng hóa và tập trung vào lĩnh vực sản xuất hàng công nghiệp Trong khi ngành công nghiệp của đất nước này quá non trẻ mà lại được bảo hộ với quy mô sản xuất lớn Mà trong tình hình thực tế, Phillipines lại là một đất nước thuần nông với việc canh tác nông nghiệp là chủ yếu đó chính là thất khi cơ cấu đầu tư không hợp lý Vì cơ cấu đầu
tư bị sai lệch từ đầu nên dẫn theo việc phân bố nguồn lực không dựa trên lợi thế so sánh cạnh tranh, không những không tạo ra được nguồn thu ngoại tệ để trả nợ mà còn làm tăng gánh nặng về nợ do việc nhập khẩu tư liệu sản xuất công nghiệp và khả năng thực thi kém hiệu quả của nền kinh tế
Sự thất bại của Phillipines còn thể hiện rất rõ trong sự yếu kém của hệ thống tài chính Điều này tác động tiêu cực và ảnh hưởng rất lớn lên nền kinh tế vĩ mô nói chung, tính thanh khoản và khả năng trả nợ nước ngoài nói riêng Hệ lụy của việc này
là nợ nước ngoài tiếp tục ra gia tăng, tiết kiệm tài chính ở mức thấp, dẫn đến hệ lụy đất nước này đi đến suy thoái Cụ thể hơn, việc không thành công ở Phillipines được liệt
kê trong những mặt sau
Trang 31Hệ thống ngân hàng của Phillipines không có phân khúc rõ ràng và thiếu tính cạnh tranh vì đây là ngành quản lý độc quyền của quốc gia này Hai phân khúc chính của hệ thống ngân hàng của Phillipines đó là hệ thống thị trường tài chính không chính thức và hệ thống ngân hàng chính thức Trong đó, các ngân hàng mà nhà nước sở hữu được đánh giá bằng các tiêu chuẩn khác hẳn ngân hàng tư nhân mà hệ thống ngân hàng chính thức chủ yếu là các ngân hàng này Những ngân hàng thuộc hệ thống ngân hàng chính thức này chỉ tập trung cho một số rất ít doanh nghiệp lớn thuộc các ngành sản xuất công nghiệp và điện tử Dẫn đến tình trạng doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng với các hộ sản xuất không tiếp cận được với nguồn vốn chính thức mà lại phải vay thị trường phi chính thức với lãi suất cao
Mặt khác, như đã nói ở trên, hệ thống tài chính của Phillipines có sự quản lý và vận hành yếu kém, dẫn đến sự mất kiểm soát hay kiểm soát yếu kém tỷ giá hối đoái Trong khi thực hiện tự do hóa dòng vốn khá sơm khiến cho hiện tượng chảy máu vốn tăng cao Ngân hàng Trung ương bắt buộc thường xuyên sử dụng nghiệp vụ trung hòa
để giữ tỷ giá cố định làm tăng tích tụ nợ và làm mất đi cơ hội sư dụng ngoại tệ dự trữ
để đầu tư Ngoài ra sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu giảm do việc cố định tỷ giá làm giảm việc nguồn thu ngoại tệ trả nợ
Tất cả nhưng nguyên nhân đã đề cập ở trên khiến cho trạng thái kinh tế của đất nước Phillipines luôn là thiếu khả năng trả nợ Và điều này dẫn đến hậu quả hiển nhiên
là khi những cú sốc từ bên ngoài xảy đến thì đất nước sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng và các doanh nghiệp lớn rơi vào tình trạng khó khăn tài chính khi lãi suất thế giới tăng do cơn sốt dầu mỏ lần hai
Sự thất bại của Hy Lạp
Trong giai đoạn từ 2001 đến 2010, 60%GDP là ngưỡng cho phép theo quy định của Hiệp hội các nước trong khu vực đồn tiền chung Euro mà trần nợ công của Hy Lạp lại luôn vượt qua con số này Vào năm 2010, nợ chính phủ của Hy Lạp tăng lên 329,6
tỷ Euro tương đương 142,8% GDP vượt xa ngưỡng nợ của Ủy ban châu Âu (European Commission - EC) cho phép
Theo báo cáo số phần trăm trái phiếu đang được nước ngoài sở hữu rơi vào tỷ lệ 80% số trái phiếu được phát hành Cũng trong những báo cáo đã nêu ra rằng các ngân
Trang 32hàng châu Âu chính là chủ nợ lớn nhất của Hy Lạp Tình trạng nợ công cao của Hy Lạp bắt nguồn từ nguyên nhân trực tiếp, đó là sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách từ mốc thời gian 2008 đến 2009 Tình trạng nợ công cao của Hy Lạp có nguyên nhân trực tiếp, chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng Tỷ lệ thâm hụt ngân sách chiếm 15,2% GDP trong giai đoạn năm 2009 Ở giai đoạn này con
số đã vượt quá mức an toàn là 5% GDP Song song với đó là 3% GDP vượt mức cho phép của khu vực đồng tiền chung Euro.Vay nợ tăng lên dưới nhiều hình thức mà cách thức mà chính phủ Hy Lạp đã thực hiện là mục tiêu nhằm hỗ trợ, bù đắp cho việc thâm hụt ngân sách Và sau khi thực hiện nhiều các biện pháp “thắt lưng buộc bụng”, thâm hụt ngân sách của quốc gia này đã dừng ở con số 11,2% GDP Tỷ lệ này được đánh giá vẫn là mức khá cao so với chỉ tiêu mà Ủy ban châu Âu hoạch định
Trong lịch sử kinh tế của Hy Lạp thì điểm nhấn nổi bật nhất đó là tháng 12 năm
2009 khi cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp xảy ra một cách phức tạp Trong rất nhiều các báo cáo vào tin tức thông tin về cựu thủ tướng của Hy Lạp được công khai
do chính thủ tướng mới – Geogre Papandreou tuyên bố Cụ thể là vị cựu lãnh đạo đã không thông báo diễn biến thâm hụt ngân sách ở con số choáng ngợp mà Hy Lạp đang phải gánh vác Sai số được công bố không phải là dừng ở mức 3,7% GDP mà thực tế lại gấp 4 lần là 12,7% GDP Vậy tại sao Hy Lạp lại che giấu những con số này và làm đẹp sổ sách trong diễn biến về ngân sách và nợ công của chính phủ nước này, đó chính
là mục đích đánh lừa thị trường để tiếp tục vay với lãi suất thấp Điều hiển nhiên xảy
ra là sự hạ bậc tín dụng trong trái phiếu của Hy Lạp do Standard & Poor’s – tổ chức xếp hạng tín dụng uy tín bậc nhất của Thế giới đưa ra Sau công bố này sự bán tháo các loại trái phiếu từ những quỹ đầu tư lớn cùng với đó là các đợt phát hành trái phiếu tiếp sau đều bị từ chối mua Lý do để chính phủ Hy Lạp tiếp tục bị đánh giá và hạ bậc tín nhiệm quốc gia là do mong muốn được huy động nguồn tiền trong thị trường tài chính mà họ sẵn sàng đồng ý với việc chi phí ốn rất cao Việc công khai những thông tin này như là một ngã rẽ bất ngờ ngày càng làm cho nền kinh tế của Hy Lạp rơi sâu vào khủng hoảng, khó khăn và kết quả cuối cùng là vỡ nợ
Trang 33Xuất phát từ nguyên nhân chính là các khoản chi tiêu quá lớn của Chính phủ cùng với khả năng quản lý tài chính yếu kém, chúng ta có thể đưa ra những nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp như sau:
Thứ nhất, việc thâm hụt ngân sách do nguyên nhân chi tiêu công tăng vượt mức
Trước đây, vào giai đoạn của thập kỷ 2001 tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hy Lạp có tốc
độ tăng trường trung bình là 4,3% / năm con số này được đánh giá là ổn định, thậm chí
có những lúc còn lớn hơn con số 3,1% của khu vực châu Âu Sự bất cân đối trong mức tăng chi và thu của chính phủ Hy Lạp có thể kể đến như việc tăng 87% trong mức chi tiêu trung bình mà còn số chỉ là 31% ở mức thu Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Hy Lạp và xảy ra vi phạm về quy định của khối liên minh châu Âu trong thâm hụt ngân sách Thực tế cho thấy vào năm 2004, chi ngân sách của Hy Lạp tính trong tổng chi tiêu công đã vượt xa hơn rất nhiều các nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Mặc dù việc không cải thiện về số lượng và chất lượng dịch vụ của quốc gia này là không đáng kể Điều này dẫn đến hệ lụy cho Hy Lạp vào năm
2008 khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trên toàn thế giới đã tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên các ngành công nghiệp cốt yếu của quốc gia này Con số mà các báo cáo trên thế giới đưa ra có thể kể đến là ngành du lịch – vận tải biển là một ngành dịch vụ mũi nhọn của Hy Lạp trong thời kỳ khủng hoảng đã tụt dốc doanh thu quá 15% (năm 2009) Vì vậy với những khó khăn và cách thức lên nền kinh tế của Hy Lạp, sự xuống dốc mạnh trong nguồn thu nhằm mục đích tài trợ cho ngân sách thiếu đi ý nghĩa Bên cạnh đó để gồng mình trong cơn khủng hoảng, chính phủ nước này phải có những biện pháp khác như chi tiêu công phải tăng cường để đảm bảo duy trì và phát triển nền kinh
tế Theo những số liệu được đưa ra, đến cuối thập niên 2010, con số 216 tỷ euro cùng với 130% GDP của mức nợ lũy kế là những con số khổng lồ của nền kinh tế Hy Lạp Bên cạnh đó, một vấn đề làm đau đầu các chuyên gia kinh tế của quốc gia này đó là dân số của Hy Lạp ngày càng già đi, đồng nghĩa với việc các chi phí dành cho lương hưu (lương hưu của Hy Lạp luôn được coi là con sô đáng mơ ước trên toàn châu Âu) Giờ đây lại trở thành một rào cản cho chi tiêu công
Trang 34Thật vậy, các nghiên cứu khác cho thấy mức tăng cho lương hưu trong khu vực công của Hy Lạp sẽ gia tăng từ 15,5% tới 24% GDP trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2050
Thứ hai, sự thâm hụt ngân sách đi kèm với gia tăng nợ công là một yếu tố quan
trọng do nguồn thu sụt giảm bên cạnh đó, một yếu tố để nguồn thu ngân sách của Hy Lạp giảm sâu đó là các hoạt động kinh tế ngầm và trốn thuế tại quốc gia này Con số gây bất ngờ của Hy Lạp trong nền kinh tế “không chính thức” lên đến 25% - 30% GDP dựa trên báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) Bộ luật Kinh doanh và Thuế quá phức tạp, đi cùng với mức thuế rất cao, điều tiết dư thừa gây nên sự thất bại của cơ quan quản lý Đây là lý do để Hy Lạp xảy ra tình hình hoạt động kinh tế ngầm hoạt động rất phát triển và tỷ lệ trốn thuế cao
Điều đáng nói ở đây bên cạnh việc thâm hụt ngân sách thì tỷ lệ tham nhũng ở Hy Lạp được đánh giá là cao nhất châu Âu, dựa trên báo cáo của Tổ chức minh bạch quốc
tế Lấy một ví dụ điểm hình là tiền hối lộ mà người dân ở quốc gia này đã chi ra cho các vị lãnh đạo và quản lý ở cả hai khu vực công và tư đã đạt tới con số 750 triệu euro Đặc biệt hơn là ngành có tỷ lệ tham nhũng cao nhất tại Hy Lạp là ngành y khi mà bác
sỹ yêu cầu tiền hối lộ vao hơn cả hiệu quả ca phẫu thuật, các vụ việc nhận hối lộ đạt tới con số khổng lồ tại các thành phố lớn của Hy Lạp Chính thủ tướng và người dân của Hy Lạp cũng phải thừa nhận rằng “tham nhũng mang tính hệ thống” Đây chính là mấu chốt cho tình trạng nợ công của Hy Lạp ngày càng nặng nề và gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế
Các trường hợp trốn thuế xảy ra do tham nhũng tăng cao Không chỉ dừng lại ở
đó tình trạnh dẫn tới chi tiêu của chính phủ tăng vọt khi mà việc duy trì mức tiền lương cao cho cán bộ công chức và thực thi vào hoạch định những dự án với vốn đầu tư rất lớn mà không ra được kết quả , thay cho việc hướng đến những dự án xây dựng việc làm cho người lao động và tăng năng suât lao động Sự cạnh tranh trong nền kinh tế lao dốc cùng với gánh nặng trong ngân sách của Hy Lạp đã khiến cho hậu quả là thương mại của Hy Lạp không còn đủ sức để cạnh tranh với những sản phẩm đến từ những đất nước khác Điều này lý giải hiển nhiên cho việc thâm hụt từ năm này sang năm khác của cán cân thương mại Hy Lạp
Trang 35Thứ ba, người dân Hy Lạp chưa có ý thức về gửi tiết kiệm nên dẫn đến tiết kiệm
trong nước của quốc gia này ở mức thấp gây nên việc nợ nước ngoài do chi tiêu công
Để so sánh con số tiết kiệm trong nước trung bình của Hy Lạp so với các nước láng giềng như Ý, Tây Ban Nha thì Hy Lạp chỉ đạt mức 11% và vẫn còn trên đà sụt giảm nghiêm trọng còn tỷ lệ lần lượt của các quốc gia đã nêu là 20% Tham gia liên minh châu Âu là đòn bẩy và cũng là chói buộc cho Hy Lạp về đầu tư trong nước Tỷ lệ bán tháo các loại trái phiếu từ người dân thể hiện khả năng yếu kém của Hy Lạp khi để mất
cơ hội xây dựng một kênh phục vụ cho việc huy đồng nguồn vốn sẵn có Điều này dẫn tới kết quả là chính phủ Hy Lạp bắt buộc phải vay nợ tăng cường để có thể hỗ trợ và
bù đắp cho chi tiêu công
Thứ tư, vì lí do Hy Lạp là thành viên của liên minh châu Âu EU mà quốc gia này
đã coi việc sử dụng và tiếp cận các nguồn vốn đầu tư nước ngoài một cách dễ dàng và
sử dụng chúng một cách yếu kém Việc tham gia vào khu vực châu Âu đã mở ra cho
Hy Lạp một cánh cửa lớn đầy hy vọng trong việc tiếp cận với thị trường vốn quốc tế Với việc được đứng ngang hàng trong việc sử dụng chung một đồng tiền tệ với các nước có nền kinh tế lớn như Đức và Pháp nên Hy Lạp đã chủ quan coi bản thân quốc gia này có giá trị cao và có sự đảm bảo trong các dự án lớn đối với nhà đầu tư tiềm năng Từ đó, việc tự cho là dễ dàng trong kích thích và hấp dẫn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp đã đẩy Hy Lạp tới những sai lầm gây thiệt hại cho nền kinh tế nước này Minh chứng cho vấn đề này đó là khi không những người dân và cả chính phủ Hy
Lạ bán tháo trái phiếu để thu về được còn số lên đến hàng trăm tỷ đô la Mỹ Nếu như
Hy Lạp là một quốc gia có đầu tư trong suy nghĩ cách thức vận hành hệ thống tài chính thì số tiền họ thu về được do bán trái phiếu có thể hỗ trợ rất nhiều cho nền kinh tế đang khủng hoảng và phát triển kinh tế khi họ có kế hoạch chi tiêu phù hợp Tuy nhiên, chính phủ nước này đã đi ngược lại những kỳ vọng cho việc sử dụng số tiền bán trái phiếu, quốc gia này đã chi tiêu quá đà mà hầu như cho xây dựng các cơ sở hạ tầng làm đẹp bộ mặt quốc gia mà không xây dựng được kế hoạch thiết yếu cho việc trả nợ
Thứ năm, như đã phân tích ở trên việc công khai chỉ trích lẫn nhau của lãnh đạo
Hy Lạp cho thấy tính thiếu minh bạch và che giấu thông tin của chính phủ này Vì vậy, niềm tin của người dân và các nhà đầu tư đến từ nước ngoài sụt giảm mạnh Điển hình
Trang 36cho thấy trong cơn khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng nợ của Hy Lạp, các nhà đầu
tư đã rút vốn một cách liên tục và ồ ạt ra khỏi tất cả các thị trường của Hy Lạp gây nên
sự khó khăn trong huy động vốn trong thị trường vốn quốc tế mà Hy Lạp đang phải đối mặt
Ngoài ra, sự lệ thuộc vào nguồn tài chính đến từ nước ngoài đã làm cho đất nước này rất dễ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những định kiến và thay đổi về niềm tin trong giới đầu tư Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi mà thời đại hội nhập đang được đẩy mạnh thì tính công khai và minh bạch luôn là một điều kiện tiên quyết mà nhà đầu
tư nhìn vào Mà khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp nguyên nhân chính là do tính thiếu minh bạch về số liệu mà chính phủ lại còn cố để vẽ nên những bức tranh không có thật
để giải thích về thâm hụt ngân sách, điều này dẫn đến khi những chính sách được đưa
ra để giúp đỡ và khắc phục những yếu kém về ngân sách, các vấn đề kinh tế quốc tế, kinh tế vĩ mô đều không có tác dụng và bị hạn chế
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những nghiên cứu, phân tích, đánh giá về các câu chuyện thành công cũng như thất bại trong việc quản lý nợ nước ngoài như Malaysia, Thái Lan, Phillipines, Hy Lạp, Việt Nam có thể rút ra những bài học kinh nghiệm dựa vào thực tế kể trên Những bài học kinh nghiệm này có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nợ nước ngoài và phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh hiện nay
Thứ nhất, cần có sự thừa hưởng các quyết sách của Malaysia trong việc sử dụng
các công cụ tài chính một các linh hoạt và đa dạng để thu hút nguồn ngoại tệ trong thị trường tài chính quốc tế Bài học đặt ra ở đây là không nên phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay bên ngoài, mà phải chủ động đưa ra sự lựa chọn những hình thức phù hợp để giảm nợ Có thể kể đến như việc thanh toán trả trước các khoản nợ để giảm bớt chi phí trả lãi vay và kéo dài thời hạn vay Hiệu quả khi thực hiện tốt những vấn đề này là sẽ giảm được những gánh nặng về nợ trong khi có thể sử dụng tối đa các nguồn vốn lại vừa thực hiện được việc chia sẻ rủi ro
Thứ hai, từ bài học kinh nghiệm về thất bại của Phillipines trong tự do hóa tài
khoản vốn quá sớm và quá nhanh mà không có các biện pháp hiệu quả Điều này hiển nhiên sẽ dẫn đến sự leo vọt số dư nợ nước ngoài và không đảm bảo tình hình an ninh tài
Trang 37chính quốc gia Vì vậy Việt Nam cần xây dựng một lộ trình tự do hóa thích hợp cho các giao dịch trên tài khoản vốn thích hợp Từ đó đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế
Thứ ba, quay trở lại trường hợp Phillipines và Hy Lạp khi gặp khủng hoảng tài
chính có một nguyên nhân trực tiếp liên quan đến việc không kiểm soát được dòng vốn ngắn hạn để tăng quá nhanh rồi đột ngột đổi hướng khiến cho mất khả năng thanh toán quốc tế của đất nước và tạo sức ép lên tỷ giá hối đoái Vì vậy để tránh rủi ro, Việt Nam nên duy trì và xây dựng tỷ lệ nợ ngắn hạn một cách hợp lý và có kiểm soát để dòng vốn ngắn hạn khi có vấn đề có thể can thiệp kịp thời Câu chuyện quản lý nợ thành công ở các quốc gia cho thấy tỷ lệ ngắn hạn thấp thì khả năng quản lý nợ cao
Thứ tư, Malaysia đã làm rất tốt các cân đối vĩ mô Và Việt Nam nên học hỏi và
đảm bảo duy trì ba cân đối vĩ mô chính: cân đối giữa nguồn tài trợ từ tiết kiệm và nhu cầu đầu tư và cân đối giữa nguồn ngoại tệ ra vào Việc này sẽ duy trì một nguồn tiền thanh toán nợ nước ngoài hợp lý với khả năng trả nợ của quốc gia
Thứ năm, việc chính phủ ấn định mức vay nợ sẽ hạn chế được việc vay mượn
quá khả năng để chi trả Việt Nam cần rút ra kinh nghiệm đảm bảo một cơ sở thể chế quản lý nợ mang tính pháp lý cao Việc thống nhất quản lý này sẽ đảm bảo cho xây dựng một cơ sở dữ liệu nợ đồng nhất, chuyên trách phục vụ cho công tác phân tích nợ một cách tối ưu, chính xác và giúp đưa ra hoạch định chính sách một cách cụ thể và tốt nhất
Thứ sáu, vấn đề then chốt nhất trong quản lý nợ công là quản lý chặt chẽ trần nợ
công đối với vay nước ngoài Tỷ lệ nợ nước ngoài cao và rủi ro tỷ giá là các nguy cơ tiềm ẩn mất khả năng thanh toán dẫn đến vỡ nợ công sẽ kèm theo mất chủ quyền tài chính quốc gia Kinh nghiệm của Hy Lạp cho thấy, khi tỷ lệ nợ vay nước ngoài quá cao (năm 2011 xấp xỉ 80%), nền tài chính Quốc gia sẽ bị phụ thuộc vào nguồn nợ của nước ngoài
Thứ bảy, cần phải kiểm soát chặt chẽ các khoản “nợ công ngầm, tiềm ẩn” phát
sinh từ nợ của khu vực tư nhân chuyển thành nợ công, có thể phá vỡ trần nợ công an toàn mà chính phủ không lường trước được Bài học kinh nghiệm biến nợ của các DN các thành phần kinh tế và tư nhân thành nợ công đã xảy ra rất phổ biến đối với nhiều nước trên thế giới
Trang 38Mỗi đất nước đều có những thể chế kinh tế và đặc điểm xã hội khác nhau Vì vậy bài học kinh nghiệm chỉ ở trong khuôn khổ những đặc điểm chung mà các nước đang thực hiện Nên sẽ xảy ra câu chuyện kinh nghiệm của đất nước này sẽ rất khó để áp dụng với quốc gia khác Cụ thể như trong bài học của Malaysia việc tự do hóa nguồn vốn không phải là tự do một cách tự phát giống như Phillipines mà là có sự chuẩn bị từ trước Cũng có thể nói rằng đối với các nước khủng hoảng tài chính thì Malaysia là quốc gia có thị trường chứng khoán mở hơn mà lại có sự phát triển nhanh hơn Điều này cũng giải thích rằng không phải chọn tự do hóa nguồn vốn là hoàn toàn xấu vấn
đề then chốt ở đây là mỗi quốc gia phải tự đánh giá được tiềm năng và tiềm lực của mình Mỗi quốc gia có một đặc điểm riêng nên không thể chạy theo xu hướng toàn cầu một cách quá nhanh và thiếu cân nhắc, cũng không nên né tránh để không bị ảnh hưởng từ những tác động và biến đổi của nền kinh tế thế giới Các quốc gia này phải tự đặt ra đánh giá cách thức tham gia vào xu hướng hội nhập và mở cửa của nền kinh tế thị trường để có thể đạt được lợi ích nhiều nhất
Tựu chung lại, bài học về kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài của các quốc gia mặc dù chưa được hoàn thiện và nghiên cứu một cách toàn diện Với những điểm đã được liệt kê lưu ý ở trên Việt Nam nên là một quốc gia đươc thừa hưởng và phát triển nên kinh tế dựa trên những kinh nghiệm quý báu từ các nước bạn Từ đó thay đổi những suy nghĩ nhằm giúp cho Việt Nam có thể vững vàng cạnh tranh được trên trường quốc tế, đồng thời thu hẹp chênh lệch về trình độ quản lý nợ nước ngoài so với các nước trong khu vực nói riêng và thế giới nói chung
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan nợ công Việt Nam
2.1.1 Quy mô nợ công
Quy mô nợ công của Việt Nam đã tăng hơn 2,3 lần, từ 1.093 nghìn tỷ đồng năm
2011 lên đến 2.587 nghìn tỷ đồng năm 2017 theo các Ban tin nợ công số 5, số 6 và số
7 của Bộ Tài Chính Nếu tính theo tỷ lệ so với GDP thì nợ công đã tăng từ mức 54,9% GDP năm 2011 lên mức 63,7% GDP năm 2016 và 61,4% năm 2017 Theo Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia (2016), tốc độ tăng bình quân nợ công giai đoạn 2011 –
2016 vào khoảng 17,5%, gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn này
Tỷ lệ nợ công so với GDP của Việt Nam tuy được cải thiện ở năm 2012 nhưng lại tăng mạnh từ năm 2013 đến năm 2016 Đặc biệt là tỷ lệ nợ công/GDP năm 2016 là 63,7% GDp đã tiến sát ngưỡng cho phép 65% GDP của Quốc hội Theo Nghị quyết số 25/2016/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 9/11/2016 quy định trần nợ công từ
2016 – 2020 là: nợ công không quá 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 54% GDP và
nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP Năm 2017, do kết quả của chính sách thắt chặt vay nợ nên nợ công năm 2017 có dấu hiệu tăng chậm lại và có tỷ lệ nợ công so với GDP giảm xuống còn 61,4% GDP
Đối với tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP từ năm 2012 có chiều hướng giảm nhưng đã quay lại tăng vào năm 2014 và tang mạnh từ năm 2015 Đặc biệt là năm
2017, chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP là 49% GDP, tiệm cận ngưỡng
nợ nước ngoài quốc gia được Quốc hội phê duyệt là 50% GDP
Bảng 2.1: Nợ công Việt Nam từ 2011 – 2017
Trang 40Hình 2.1: Nợ công Việt Nam và trần nợ công từ 2011 đến 2017
Nguồn: Tổng hợp từ Bản tin nợ công số 5, số 6 và số 7 của Bộ Tài chính
(2017,2018), Nghị quyết số 10/2011/QH13 và Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, quy mô nợ công thực tế của Việt Nam có thể cao hơn so với mức công bố do các thức xác định nợ công Việt Nam so với thông lệ quốc tế có sự khác biệt Cụ thể, nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam dựa trên nguyên tắc: trách nhiệm thanh toán thuộc về chủ thể đi vay; còn nợ công theo thông lệ quốc tế xác định trên cơ sở: chủ sở hữu thực sự hay pháp nhân đứng sau chủ thể đi vay phải có trách nhiệm thanh toán Theo đó, nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ bằng nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam cộng với nợ của: Ngân hàng Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội và một số địa phương Nếu tính
cả nợ của các doanh nghiệp nhà nước thì con số nợ công có thể lên đến 100% Thêm nữa, tốc độ gia tăng nợ 17,5%/năm trong giai đoạn 2011 – 2016 đang đe dọa đến khả năng trả nợ của Chính phủ và an ninh tài chính quốc gia
Nếu tỷ lệ nợ công so với GDP phản ánh quy mô nợ công của nền kinh té và khả năng trả nợ của quốc gia thì tỷ lệ nợ công bình quân đầu người cho biết gánh nặng nợ công của người dân của quốc gia đó Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2017