1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng và các giải pháp cho vấn đề nợ nước ngoài ở việt nam

32 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 405,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu không trả được nợ, sẽ đưa đất nước đến vỡ nợ, và chắc chắn chẳng có nước ngoài nào lại thích tiếp tục cho vay, tiếp tục phát triển quan hệ buôn bán, đầu tư vào các nước là con nợ này

Trang 1

Tự do hóa ngoại hối là một quá trình dỡ bỏ dần các hạn chế áp dụng cho các giao

dịch ngoại hối được phép mà chủ yếu là các giao dịch liên quan đến thanh toán xuất,

nhập khẩu và chi trả dịch vụ giữa nước ta với nước ngoài, việc tổ chức và cá nhân

mua, chuyển ngoại tệ vào ra khỏi lãnh thổ Quá trình này phải được thực hiện theo

lộ trình linh hoạt phù hợp với khả năng và trình độ phát triển của mỗi quốc gia Việt

Nam trong quá trình hội nhập quốc tế đã chủ trương tự do hóa các giao dịch vãng

lai như cam kết thực hiện điều IV của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và tự do hóa lựa

chọn các giao dịch vốn phù hợp với lộ trình hội nhập của nền kinh tế Trước năm

1990, với chính sách đóng cửa nền kinh tế, nợ Việt Nam hình thành chủ yếu từ khu

vực công Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao do chưa được coi trọng và tính toán trên

cơ sở hiệu quả: chưa có chiến lược nợ và chính sách quản lý nợ nước ngoài phù hợp,

chưa tính đến khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Do vậy, Việt Nam không có

khả năng trả nợ IMF khi xuất khẩu giảm mạnh do bất ổn chính trị ở các nước

XHCN

Từ năm 1991 đến nay, thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, Chính phủ đã thực

hiện hàng loạt các biện pháp xử lý nợ cũ như xin xoá nợ, hoãn nợ, chuyển đổi nợ,

vay mới trả cũ, bố trí nguồn vốn ngân sách hàng năm để trả nợ Kết quả các khoản

nợ qua Câu lạc bộ Luân Đôn giảm trên 50%, nợ Ngân hàng Đầu tư Quốc tế (MIB)

giảm khoảng 65% Đây được coi là bước đi quan trọng của Việt Nam khi thực hiện

lộ trình hội nhập quốc tế

A.Hiện trạng của vấn đề nợ nước ngoài ở Việt Nam

I Đánh giá mức độ nợ nước ngoài của nước ta

1.Phân loại các nước theo mức độ nợ nước ngoài

Nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước

nghèo phải vay của nước ngoài để có tiền trang trải cho đầu tư phát triển đất nước

Trang 2

và một phần để tiêu dùng, ngoài ra còn một số trường hợp đặc biệt, như phải chi

dùng cho chiến tranh (như nước ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước)

Các khoản nợ thường từ việc vay vốn từ bên ngoài (của chính phủ các nước, các tổ

chức quốc tế, tư nhân, ngân hàng,…), từ cán cân thương mại quốc (trị giá xuất khẩu

hàng hoá và dịch vụ < trị giá nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ) Đã nợ thì phải có

nghĩa vụ trả nợ , gồm cả nợ gốc và lãi suất của khoản nợ gốc đó Việc trả nợ phải

thực hiện bằng ngoại hối, mà nguồn ngoại hối có được để trả nợ không có cách nào

khác là đẩy nhanh xuất khẩu (đây là nguồn quan trọng nhất), giảm nhập khẩu và…

vay nước ngoài Nếu không trả được nợ, sẽ đưa đất nước đến vỡ nợ, và chắc chắn

chẳng có nước ngoài nào lại thích tiếp tục cho vay, tiếp tục phát triển quan hệ buôn

bán, đầu tư vào các nước là con nợ này (ngoại trừ trường hợp chính trị, hoặc sự

ràng buộc của những Hiệp định song phương, đa phương nào đó)

Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá nợ nước ngoài của

một nước đó là:

- Căn cứ vào GNI bình quân đầu người, chia các nước ra thành một số nhóm: Các

nước có thu nhập thấp nhất (=761 USD); Các nước có thu nhập trung bình thấp

(761 đến 3030 USD); Các nước có thu nhập trung bình cao (3031 đến 9360 USD);

Các nước có thu nhập cao (> 9360 USD) Tất nhiên các nước có thu nhập cao thì

khả năng trả nợ cao, hoặc không là nước đi vay mà còn là nước cho vay

- Căn cứ vào khả năng thanh toán để chia ra: Các nước có khả năng thanh toán là

bảo đảm việc trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi đều đặn; Các nước không có khả

năng thanh toán là các nước không trả được nợ gốc khi đến hạn do đó phải thương

lượng lại cơ cấu nợ, tiến độ trả nợ và kèm theo một ân hạn trong thời gian đó Thậm

chí có những nước không có khả năng trả nợ, dẫn đến vỡ nợ, và các nước chủ nợ

không có nào khác là phải xoá nợ, như một số nước Châu Phi đã được các nuớc G-8

phải xoá nợ tới trên 30 tỷ USD, vì có đòi nợ, các nước này cũng chẳng có gì để trả

nợ

- Đánh giá theo mức độ nợ:

Trang 3

XK

Chi phí trả nợ/

Việc phân loại theo mức độ nợ này có chủ ý chỉ ra rằng các nước nếu rơi vào các

nước nợ quá nhiều thì khả năng trả nợ là rất khó khăn, thậm chí trong đó có nước

không có khả năng trả nợ Liên Hợp Quốc đã lập danh sách Các nước nghèo, nợ

nần quá nhiều (HIPC) trên toàn thế giới, bao gồm 24 nước, hầu hết ở Châu Phi và

một số ít nước ở Châu Mỹ La tinh Với không ít nước thuộc nhóm nợ vừa phải,

nhưng cũng không có khả năng thanh toán, thì các nhà tài chính và ngân hàng của

các nước này thay mặt chính phủ để đi thương lượng nhằm có thể kéo dài thêm thời

gian trả nợ, có thể xin giảm bớt lãi suất,…

Tuy nhiên, theo tôi nhiều nước là con nợ, nhưng họ có dự trữ ngoại tệ và kim loại

quý không nhỏ Chính khoản dự trữ ngoại tệ này là một bảo đảm để họ đi vay và

các nước nhìn vào đó kết hợp với các yếu tố khác như: chế độ chính trị ổn định, nền

kinh tế tăng trưởng, vốn đi vay được sử dụng có hiệu quả, mức độ tham nhũng

không nhiều hoặc nhà nước các nước đó có nhiều biện pháp kiên quyết chống tham

nhũng,…để tiếp tục cho vay

Dưới đây, là một vài con số về nợ nước ngoài và dự trữ ngoại tệ (số liệu cuối năm)

của một số nước trong khu vực, do ADB công bố trong “Key Indicator 2005”:

Trang 4

xi-a

140814 14900 152842 36222

Ma-Lai-

xi-a

40384 24693 58561 66863

Phi-lip-

pin

44755 7775 72949 16030

Thái Lan 108625 36932 66862 49769 Trung

Quốc

133156 80255 230640 622394

Việt Nam 25792 1324 16621 6224

Cho nên phải chăng có thêm hệ số Nợ/ Dự trữ (%) là một trong những căn cứ để

đánh giá khả năng trả nợ của các nước

2) Đánh giá mức độ nợ nước ngoài của nước ta

Với nước ta, cho đến nay trong Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê

chưa công bố cả hai chỉ tiêu: nợ nước ngoài và Dự trữ ngoại tệ (ngoại tệ, quyền vay

đặc biệt - SDR, vàng và kim loại quý, hiếm), cũng như tình hình trả nợ và lãi suất

Tuy nhiên, những con số này, chắc chắn Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài Chính đều

có với số liệu chính xác

Trang 5

Theo ADB, tính đến cuối năm 2003, nợ nước ngoài của nước ta: 16,6 tỷ USD, dự

trữ ngoại tệ: 6,2 tỷ USD Con số trên chắc cũng có mức độ chính xác nhất định,

dưới đây chúng ta cũng có thể tính một số khoản nợ lớn sau:

Nhập siêu liên tục nhiều năm, mặc dù khoảng cách giữa xuất và nhập đã giảm

(tương đối): nhập siêu 1986-1990: 5,9 tỷ USD (tỷ lệ trị giá xuất khẩu so với nhập

khẩu: 54,26%), 1991-1995: 5,7 tỷ USD ( tỷ lệ: 75,77%), 1996-2000: 9,6 tỷ USD (tỷ

lệ: 84,39%), 2001-2005: 19,5 tỷ USD (tỷ lệ: 85,02%), tổng nhập siêu từ 1986 đến

2005: 40,7 Tỷ USD (trong thực tế, nước ta cũng đã thanh toán một phần chênh lệch

này hàng năm) Đây chính là khoản nợ lớn với nước ngoài mà chúng ta đang phải

trả hàng năm

Các khoản vay từ chính phủ , tư nhân và các tổ chức quốc tế Trong các khoản

vay này có khoản vốn ODA, trong 13 năm 1993-2006 các nhà tài trợ đã cam kết

cho vay ODA: 32,6 tỷ USD, từ 51 nhà tài trợ khác nhau, trong đó có 28 nhà tài trợ

song phương (nhiều nhất là Nhật Bản: 10, 2 tỷ USD, Pháp: 1,9 tỷ USD, ), 23 nhà

tài trợ đa phương (nhiều nhất là WB: 7,6 tỷ USD, ADB: 4,4 tỷ USD, các tổ chức

thuộc Liên Hợp Quốc: 2,8 tỷ USD,…) Cam kết thì nhiều như vậy, nhưng chúng ta

mới giải ngân được 15,9 tỷ USD (bằng: 48,8% cam kết), trong đó vay: 12 tỷ USD

còn lại là viện trợ (3,9 tỷ USD) Phần lớn các hiệp định vay vốn ODA đều có lãi

suất ưu đãi, thời hạn vay và ân hạn dài: 45% hiệp địng vay đã ký có mức lãi suất <

1% thời hạn vay 30 năm, trong đó có 10 năm ân hạn; 40% hiệp định vay có lãi suất

1-3%, thời hạn vay từ 12 đến 30 năm, trong đó có 5-10 năm ân hạn Do ODA lãi

suất thấp như vậy, nên không ít cơ quan thụ hưởng ODA (cả trung ương và địa

phương) đã coi vốn ODA như “tiền chùa” nên quản lý không chặt chẽ, sử dụng lãng

phí, và có nhiều kẽ hở để tham nhũng, như: PMU 18, các công trình bị “rút ruột”

như QL 1A, QL 18, QL 3, dự án cải tạo cảng Sài Gòn, Hải Phòng,… Chúng ta quên

rằng, tuy vay ODA có nhiều ưu đãi, nhưng cũng có những ràng buộc nhất định, như:

vay ODA của nước nào, vào dự án, công trình nào thì thường do người nước đó chi

Trang 6

Cũng theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) công bố trong cuốn sách trên, có

thể đánh giá mức độ nợ của nước ta và một số nước tính đến cuối năm 2003 như

xi-a

67,5 189,0

Ma-lai-xi-a 50,2 40,2 Phi-lip-pin 72,4 134,9 Thái Lan 36,9 53,5 Trung

Quốc

13,7 38,4

Việt Nam 40,4 67,2 Như vậy, nước ta cũng là con nợ, nhưng vẫn ở mức bình thường nếu so với các

nước trong khu vực

II.Nỗi lo nợ nước ngoài

Mỗi năm đến kỳ hội nghị các nhà tư vấn, thông tin thường được phổ biến rộng

rãi là kỳ này các nhà tài trợ cam kết cho VN vay khoảng 3 tỉ USD Dư luận quần

chúng được định hướng theo chiều vui mừng phấn khởi vì uy tín của VN gia tăng

trên trường quốc tế

Có một sự thật là với 80 triệu đồng bào cả nước, có thể tạm tính mỗi năm mỗi

người trong số chúng ta vay nợ nước ngoài khoảng 37,5 USD, tức là bằng 590.000

đồng Một gia đình năm người sẽ phải nợ gần 3 triệu đồng/năm, còn những gia đình

Trang 7

con cái đông đúc khoảng 8-9 người ở các vùng nông thôn sẽ phải nợ 5 triệu

đồng/năm, một con số khổng lồ mà người dân nghèo phải tích cóp cả cuộc đời mình

Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2006-2010, Việt Nam phải trả nước ngoài

10-11 tỷ USD nợ quốc gia, bằng 6-7% tổng kim ngạch xuất khẩu Cũng trong giai

đoạn này, Việt Nam phải trả nước ngoài 5-5,5 tỷ USD nợ của Chính phủ, bằng

9-10% tổng thu ngân sách Nhà nước

Tuy các món nợ trên không ngoài khả năng thanh toán, song cùng với những sự

cố “bất minh” (không chỉ) ở PMU18 đang ầm ĩ, nhất định đã đến lúc nhìn lại vấn đề

nợ nước ngoài một cách sòng phẳng hơn

Trong thời gian từ năm 1997-2001, số giải ngân về nợ nước ngoài đạt mức trung

bình là 1,199 tỉ USD/năm, trong khi đó số tiền chi trả nợ đáo hạn cả gốc và lãi là

1,120 tỉ USD/năm Cũng thế, nếu so sánh số ODA được giải ngân và số nợ trả hằng

năm, nhất là từ 2006-2010 mỗi năm sẽ trả nợ hơn 2 tỉ USD, thì sẽ thấy “nợ vay về

không tầy nợ phải trả” Vay trả, trả vay là trong ý nghĩa đó

Các “con nợ” là ai? Chính phủ, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Nợ Chính phủ ở đây là của Chính

phủ nói chung và liên quan đến nợ của các cơ quan chính phủ đi vay trực tiếp rồi

cho các DNNN vay lại Nợ của các DNNN là các khoản nợ đi vay trực tiếp hay

được Chính phủ bảo lãnh

“Con nợ” còn lại là các FDI Không phải công ty nước ngoài nào cũng trường vốn,

có sẵn vốn mà đem đầu tư

Các tác giả của “Tăng cường năng lực quản lý nợ nước ngoài hiệu quả và bền

vững” đưa ra một nhận xét đáng lưu ý: “Trong những năm 2000-2001, tỉ trọng này

(nợ của Chính phủ) đã tăng đều đặn lên hơn 75% Nợ của các DNNN có xu hướng

giảm với tỉ trọng trung bình là 7,4% Nợ của các doanh nghiệp FDI cũng có xu

hướng giảm với tỉ trọng trung bình là 27,2%”

Trang 8

Trong thực tế, vụ bán trái phiếu quốc tế vay 750 triệu USD cho Vinashin vào năm

ngoái có thể vừa được xem như là một cách huy động vốn vay mới, vừa được xem

như là một khởi đầu cho xu hướng Chính phủ vay ngày càng tăng

Có nhiều thái độ khác nhau trước sự kiện này “Lạc quan”, do xa lạ với các thị

trường tài chính thì hào hứng: kinh tế ta khá, tăng trưởng ta khá, uy tín ta khá, nên

thiên hạ sẵn sàng cho vay Quen thuộc với các diễn biến thị trường tài chính thì

“bình thản” hơn: chuyện vay và được vay là bình thường khi anh chưa có tên trong

danh sách “nợ xấu”, nhất là khi anh có cả một nhà nước bảo lãnh trả nợ

“Thận trọng” thì đặt câu hỏi: liệu đã kiểm toán đủ dự án xin vay đó hay chưa (tỉ như

báo giá như thế có chính xác hay không), liệu đã lượng giá đủ năng lực doanh

nghiệp đó hay chưa, kể cả năng lực liêm chính cần kiệm? Công việc lượng giá đó

có độc lập và khách quan đủ hay không?

Trong góc độ người dân thường, không dính dáng gì đến Vinashin, không cùng lợi

ích, không thể không đặt câu hỏi: lãi suất 7,15%/năm, vay 750 triệu USD trong 10

năm, trả lãi bao nhiêu? Thời gian như tên bắn Cuối tháng ba này, các chủ nợ ở

New York đã lãi khoảng trên 26 triệu USD sau sáu tháng, nếu tính hết thời hạn

cho vay 10 năm, số lãi phải trả sẽ là 536 triệu USD (lãi đơn) Bất cứ ai mua nhà trả

góp chỉ với 1%/năm, đều có thể kiểm nghiệm bằng thực tế trả lãi của mình

Trong quá trình vay nợ, cần phải biết vay nợ như thế nào cho lợi nhất và đừng để

ngập đầu vì nợ Có rất nhiều điều cần cân nhắc Đơn cử vài thí dụ từ dự án VIE

01/010 nêu trên: cần xác định chính xác một danh mục các khoản vay đắt đỏ hiện

có cùng với các thông tin về thời gian đáo hạn còn lại, lãi suất, số lượng và chủ nợ

Cần xem xét cẩn thận các hiệp định về các khoản vay đó, về các điều khoản khi

hoàn trả trước, các khoản phạt khi trả trước thời hạn ; cần tìm hiểu về khả năng

huy động các khoản vay rẻ hơn thay thế hay các trái phiếu Ắt hẳn khuyến cáo sau

cùng này không phải là thừa

Tất nhiên, tình hình nợ của VN hiện đang ở mức độ có thể quản lý được nhờ vào

nền kinh tế VN đã đạt được các kết quả tốt trong một vài năm qua, với việc đạt

Trang 9

được mức tăng trưởng GDP cao, tỉ lệ lạm phát thấp, xuất khẩu tăng Thế nhưng,

cũng cần nhắc đến một lý do khác, rất quan trọng, không thể xem nhẹ Đó là vận

hội mà VN đã được hưởng để nay có thể ung dung vay nợ qua ba đợt miễn giảm nợ

của nước ngoài trước đây

- Xử lý nợ chính thức qua Câu lạc bộ Paris Trong thời gian bốn năm từ 1993 -1997,

VN đã đàm phán song biên với các chủ nợ thành viên Câu lạc bộ Paris Tổng số nợ

được giảm là 745 triệu USD, tương đương 60% số nợ

- Xử lý nợ các ngân hàng thương mại thông qua Câu lạc bộ London Kết quả giảm

được 53% nghĩa vụ nợ của VN, tương đương 445 triệu USD VN đã thay thế 542

triệu USD của khoản nợ thuộc Câu lạc bộ London bằng trái phiếu Brady với thời

hạn đáo hạn từ 15-30 năm Vào ngày 30-9-2002, VN đã mua lại số trái phiếu Brady

trị giá 160 triệu USD

- Xử lý nợ với Liên bang Nga Đây là khoản nợ cũ lớn nhất của VN Sau tám vòng

đàm phán kể từ 1994-2000, hai bên đã thỏa thuận và ký kết hiệp định xử lý nợ tổng

thể của VN với Liên Xô (cũ), giảm nợ ngay 85% tổng nợ cũ, tương đương 9,3 tỉ

USD Số nợ còn lại phải trả trong 23 năm với 10% trả bằng tiền mặt và 90% bằng

hàng hóa xuất khẩu

Tất nhiên, không ai nhìn lại quá khứ mà đặt giả thiết “Nếu không có mấy vụ đàm

phán đó giờ này chắc đổ nợ!” Song, nếu không nhìn lại và ghi khắc vận hội có

một không hai đó của giai đoạn bắt đầu chuyển đổi thì sẽ dễ “mặc áo gấm, che lọng

đi đêm”

Gần đây nảy sinh mâu thuẫn giữa các quan chức của ta và các chủ nợ Các quan

chức than miết là các thủ tục của các chủ nợ rườm rà quá nên chậm giải ngân, song

vẫn nhìn nhận rằng có không ít dự án của ta “cân đong đo đếm” chưa chính xác nên

chưa đủ thuyết phục Các nhà tài trợ thì đòi hỏi các dự án phải được tính toán

nghiêm ngặt hơn để tránh những “vung tay quá trán”

Bởi thế mới đòi hỏi điều gọi là “kế hoạch hành động hài hòa” Qua năm nay, các

chủ nợ đưa các khoản tài trợ vào trong ngân sách và tài trợ theo lĩnh vực hay mục

Trang 10

tiêu chứ không dàn trải kiểu “hoa thơm, tất cả cùng hưởng” Song song, các tổ chức

quốc tế cũng khuyến cáo công khai ngân sách Một khi ngân sách được công khai

đúng các chuẩn mực quốc tế sẽ dễ lượng giá, kiểm tra hơn

Công khai ngân sách đã bắt đầu nghe nói đến Thế còn công khai nợ nước ngoài?

Nhất định đã đến lúc công khai nợ nước ngoài Trả mỗi năm 2 tỉ USD nợ nước

ngoài là nhiều hay ít? Có nhiều cách giải đáp Có ý kiến cho rằng khi nợ ở khoảng

25-30% GDP thì không sao, thậm chí ở mức 35% GDP như hiện nay vẫn chưa vào

“vùng dông bão”

Thế nhưng, nếu chia bình quân cho 44 triệu người trong tuổi lao động, bài toán sẽ là

khác, từ góc độ người lao động: họ phải lao động năng suất ra sao để mỗi năm bình

quân dôi ra được 45 USD/người đặng đóng thuế trả nợ nước ngoài, chưa kể đóng

các khoản thuế chi cho các việc khác Trong góc độ đó sẽ là một bài toán lớn, nhất

là khi vẫn còn trên 20 triệu người trong chuẩn nghèo

Các chuyên gia nước ngoài thực hiện dự án “Tăng cường quản lý nợ nước ngoài

hiệu quả và bền vững” cho VN đã than: “Số liệu sẵn có vào thời điểm biên soạn báo

cáo này thiếu chính xác, không kịp thời, thiếu toàn diện và nhất quán về định

nghĩa” (tr.1)! Điều đó có nghĩa là bằng vào sổ sách các cơ quan đang lưu giữ, chẳng

ai nắm chắc được cơ quan nào đang nợ bao nhiêu, nợ tổ chức nào , y hệt chuyện

xe cộ đem cho mượn của PMU 18 chẳng ai biết

Cho đến nay ta vẫn gọi những khoản vốn vay (chiếm đa số), cho không (số ít) là

vốn ODA cho tiện mồm tiện miệng, tiện (đánh máy) báo cáo, cũng như vốn đầu tư

Trang 11

trực tiếp nước ngoài là FDI Dường như một số người đã quên hẳn đi nghĩa thật

của nó, để rồi quên rằng vốn ODA trong thực tế chính là nợ Cũng như FDI là vốn

của thiên hạ chứ chẳng phải vốn của ta, lợi nhuận bao nhiêu thiên hạ hưởng, bất quá

ta thu được thuế và công nhân ta được chút lương bèo

Tại sao chủ nợ sốt ruột hơn con nợ trước việc sử dụng hiệu quả hay không hiệu quả

vốn vay/xin của họ? Trên trang web của UNDP có những bài viết như “VN đừng

trở thành một Mexico” Tại sao lại có những “cầu chúc” như thế? Đơn giản bởi vì

Mexico đã từng là một con nợ khó đòi rồi vỡ nợ Những bài học “vỡ nợ” cấp quốc

gia trong hơn thập niên trước còn quá nóng bỏng để có thể quên tính toán đến tính

hiệu quả trong sử dụng viện trợ

Ở mọi nước con nợ, con đường vay nợ trong những năm đầu lúc nào cũng thênh

thang, có điều càng dài lâu càng “mỏi gối”, thậm chí có khi “lật ngửa.Vay nợ để

phát triển, được thôi Nhưng nếu không nhớ rằng mình là con nợ thì vỡ nợ mất

Phiền một nỗi chính người dân mới là người trả nợ

Để nợ nước ngoài không ảnh hưởng tiêu cực tới lộ trình cải cách kinh tế, theo các

chuyên gia tài chính, việc quản lý nợ phải bảo đảm nguyên tắc phát huy nguồn nội

lực là chính, đồng thời tranh thủ huy động mọi nguồn vốn nước ngoài, bao gồm vốn

vay, đầu tư trực tiếp và các nguồn vốn đầu tư gián tiếp khác; vay vốn nước ngoài

phải nhằm mục tiêu đầu tư phát triển đất nước và cơ cấu lại nền kinh tế

III Nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn nằm trong tầm kiểm soát

1)Nợ nước ngoài ở Việt Nam vẫn nằm ở ngưỡng an toàn :

Việc xây dựng chiến lược vay và trả nợ nước ngoài được căn cứ trên kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội 2006-2010 Đối với bên ngoài, khi chương trình hành động

được công bố, các nhà đầu tư, các nhà tài trợ trông vào đó và yên tâm với kế hoạch

và khả năng trả nợ của Việt Nam Việc công bố cơ cấu nợ trong nền kinh tế là lời

khẳng định loại bỏ nỗi lo âu về gánh nặng nợ sẽ đè nặng lên con cháu chúng ta nay

mai Theo chiến lược, tỷ lệ vay nợ nước ngoài dự kiến trong các năm từ nay đến

Trang 12

năm 2010 chỉ khoảng 34% đến 35% GDP, trong khi ngưỡng an toàn cho nợ nước

ngoài theo tập quán quốc tế là đến 50% GDP

Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay vào

khoảng 11 đến 15 tỷ USD Cả số nợ tuyệt đối và tỷ lệ nợ/GDP đều đã giảm đi so

với năm 2000 vì Chính phủ đã và đang trả nợ dần Hiện tất cả số nợ từ câu lạc bộ

Luân Đôn và Paris đã được giải quyết hết, chỉ còn lại số nợ vay các nước phương

Tây và hơn 90% số nợ này là vay ưu đãi ODA, khoản vay thương mại rất nhỏ Năm

2000, tỷ trọng nợ trong GDP là 39%, năm 2001 giảm còn 37,4% Tỷ trọng này

trong các năm 2002 và 2003 là 34%, năm 2005 là 35,8% và năm 2006 là 36,6%

Tính bình quân trong 5 năm 2001-2005 là 35,6%

Mức độ nợ nước ngoài của VN hiện ở dưới mức 7% xuất khẩu Đây là tỷ lệ hoàn

toàn chấp nhận được và thấp hơn nhiều nước, thậm chí là hầu hết các nước

Mặt khác, khoản nợ của VN hiện nay hầu hết là những khoản vay ưu đãi, với lãi

suất thấp, thời gian đáo hạn là 40 năm Điều này có nghĩa là mỗi năm VN chỉ phải

trả một khoản nhỏ, chúng ta không lệ thuộc vào nguồn vốn vay nước ngoài và có

khả năng trả nợ những khoản nợ đã vay, lý do:

1.Trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội hằng năm, vốn trong nước chiếm 65% và vốn

nước ngoài là 35% Trong nguồn vốn ngoài nước thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp

chiếm hơn 2/3, còn lại là vay nước ngoài Như vậy vốn vay nước ngoài chỉ chiếm

dưới 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

2 Về khả năng trả nợ, Chính phủ đã xây dựng chiến lược vay và trả nợ nước ngoài

đến 2010 Trong đó, phương án vay và cả phương án trả nợ đã được xem xét phân

tích kỹ lưỡng, từ đó mới xây dựng kế hoạch vay nợ hằng năm Với tổng dư nợ vay

của quốc gia hiện nay khoảng 35% GDP, nếu so sánh với giới hạn theo kinh

nghiệm quốc tế là 50% GDP thì có thể nói chúng ta vẫn ở trong mức an toàn, và

hoàn toàn có khả năng trả nợ những khoản vay nước ngoài Những phân tích về

mức độ an toàn trong vay nợ của VN do Quĩ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới

đã thực hiện cũng khẳng định điều này

Trang 13

Vấn đề của nợ là cho dù tiền được sử dụng vào mục đích nào thì cũng cần phải sử

dụng một cách có hiệu quả Nếu khoản vay được đầu tư hiệu quả để tạo ra thu nhập,

nâng cao chất lượng sống, nâng cao các hoạt động kinh tế thì đối với VN, nợ là một

công cụ rất tốt

2) An toàn nợ nước ngoài

Năm 1993, Việt Nam nằm trong tình trạng mất khả năng thanh toán nợ, bị các tổ

chức tài chính quốc tế xếp vào danh sách các quốc gia nghèo nợ nặng nề (HIPCs)

với tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP lên tới 173% Sau hơn 10 năm tích cực cơ cấu lại và

trả nợ, tỷ lệ nước ngoài hiện nay của Việt Nam chỉ còn khoảng 34%, mặc dù trong

thời gian này, Việt Nam thu hút thêm hàng chục tỷ USD vốn vay nước ngoài

Theo số liệu của Bộ Tài chính (BTC), tổng dư nợ nước ngoài của Việt Nam vào

thời điểm cuối năm 2005 là 16,8 tỷ USD, tăng 2,3 tỷ USD so với cuối năm 2004

“Tình trạng nợ nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2005 được duy trì

theo một cơ cấu bền vững, thể hiện ở các chỉ số về nợ vẫn nằm trong giới hạn an

toàn và tiếp tục được cải thiện”, một quan chức BTC nhận định

“Theo đánh giá của IMF, WB… và các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm quốc tế

như Moody’s, Standard & Poor’s… thì tình trạng nợ nước ngoài của Việt Nam

tương đối bền vững và nằm trong tầm kiểm soát”, bà Trương Thái Phương, Vụ

trưởng Vụ Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) công bố Sự tin tưởng của cộng đồng

tài chính quốc tế vào năng lực sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài và quản lý

nợ của Việt Nam được thể hiện cụ thể bằng việc khối lượng cam kết tài trợ vốn

ODA liên tục tăng qua mỗi năm tài khoá Gần đây nhất, tại Hội nghị CG 2005, các

tổ chức quốc tế đã cam kết tài trợ cho Việt Nam thêm 3,7 tỷ USD, tăng 10% so với

cam kết cho năm trước “Sự tin tưởng của cộng đồng tài chính quốc tế vào khả năng

vay - trả nợ nước ngoài của Việt Nam còn được thể hiện qua việc tích cực tham gia

mua 750 triệu USD trái phiếu quốc tế của Việt Nam vào tháng 11/2005”, bà

Phương nói

Trang 14

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành tài chính giai đoạn 2006 - 2010,

theo Bộ trưởng BTC Nguyễn Sinh Hùng là tiếp tục tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia,

duy trì cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp lý, đảm bảo khả năng trả nợ nước ngoài, đồng

thời tiếp tục cơ cấu lại các khoản nợ cũ, áp dụng các phương thức chuyển đổi, mua,

bán nợ nhằm giảm nghĩa vụ trả nợ quốc gia, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị

trường tài chính quốc tế

BTC dự báo, tổng mức dư nợ nước ngoài của quốc gia (bao gồm nợ nước ngoài của

khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân) năm 2010 vào khoảng 24 - 25

tỷ USD, chiếm khoảng 37 - 38% GDP, tức là tăng so với hiện nay (34% GDP) do

giai đoạn này Việt Nam tiếp tục vay thêm 14 - 15 tỷ USD, trong khi trả nợ nước

ngoài của quốc gia vào khoảng 10 - 11 tỷ USD Tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội

giai đoạn 2006 - 2010 được dự kiến vào khoảng 36 - 40% GDP, về số tuyệt đối mức

đầu tư cao gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005 Dự kiến, 35% số vốn đầu tư sẽ

được huy động bên ngoài lãnh thổ, trong đó có việc vay nợ Chính vì vậy, trong

Chương trình Quản lý nợ nước ngoài trung hạn, BTC rất quan tâm tới việc thu hút

tối đa và hợp lý hoá các nguồn vốn vay từ bên ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển

kinh tế - xã hội Việc vay vốn, theo BTC phải bảo đảm chi phí thấp nhất, đảm bảo

khả năng trả nợ, không để đất nước rơi vào tình trạng nợ trầm trọng, đồng thời

không gây ra những nhân tố có tác động xấu tới các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và cán

cân thanh toán quốc tế

Sự an toàn trong vay nợ, theo BTC, tổng mức dư nợ nước ngoài phải dưới 50%

GDP, nghĩa vụ trả nợ dưới 20% kim ngạch xuất khẩu, trong đó nghĩa vụ trả nợ của

Chính phủ không quá 12% tổng thu ngân sách nhà nước… Muốn vậy, phải tiếp tục

khống chế bội chi ngân sách nhà nước dưới 5% GDP và được bù đắp bằng nguồn

vay trong nước 3 - 3,5% GDP, bên cạnh đó phải xây dựng các phương án vay nợ

đảm bảo danh mục nợ hợp lý và quản lý tốt rủi ro Vẫn theo BTC, để đảm bảo hạn

mức an toàn về nợ nước ngoài và an ninh tài chính quốc gia, thời gian tới cần phải

tạo ra khả năng xuất khẩu và nguồn thu ngoại tệ để trả nợ nước ngoài nhằm tránh

Trang 15

tình trạng nợ quá hạn, đồng thời với việc tiếp tục cơ cấu lại nợ nước ngoài của quốc

gia, nợ nước ngoài của Chính phủ

Theo Chương trình Quản lý nợ trung hạn giai đoạn 2006 - 2010, thì ngân sách nhà

nước chỉ vay cho đầu tư phát triển để tạo ra nguồn thu, tăng tích luỹ chứ không vay

nước ngoài để tiêu dùng Thậm chí, Chính phủ cũng không vay thương mại hoặc sử

dụng những khoản vay không có ưu đãi cao hoặc vay bằng những loại ngoại tệ có

rủi ro cao về tỷ giá hối đoái để đầu tư cho các dự án hạ tầng cơ sở mà không có khả

năng hoàn vốn Ngoài việc đi vay, các cơ quan chức năng của Chính phủ phải quản

lý chặt chẽ các rủi ro phát sinh từ những biến động kinh tế trong và ngoài nước

nhằm giảm thiểu chi phí thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong dài hạn như rủi ro về tỷ giá,

lãi suất, khả năng thanh toán của ngân sách nhà nước, rủi ro tín dụng và hoạt động

a)Mục tiêu tổng quát :

Xác định phương hướng chủ đạo trong công tác thu hút và sử dụng vốn vay nước

ngoài nhằm bổ sung có hiệu quả hơn nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã

hội, đồng thời tiếp thu chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp

phần đẩy nhanh tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

trong thời kỳ từ nay đến năm 2010, phục vụ tốt sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 16

hóa phát triển đất nước; bảo đảm khả năng trả nợ và tính độc lập, tự chủ của nền

kinh tế trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế

b).Mục tiêu cụ thể

 Huy động vốn vay nước ngoài phải nhằm mục tiêu bổ sung, khai thác và phát

huy các tiềm lực có sẵn trong nước cho đầu tư phát triển kinh tế Việc huy động,

phân bổ và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài phải phù hợp với quy hoạch phát

triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng ngành, địa phương, khả năng cân đối

ngoại tệ và trả nợ của nền kinh tế trong từng thời kỳ Đáp ứng được các yêu cầu về

huy động vốn vay nước ngoài với chi phí thấp nhất cho đầu tư phát triển đất nước

và cơ cấu lại nền kinh tế theo các định hướng, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội

của đất nước trong từng giai đoạn

 Hiệu quả của các dự án sử dụng vốn vay nước ngoài là tiêu chuẩn quan trọng

hàng đầu trong việc quyết định vay vốn nước ngoài Việc tiếp tục đổi mới và hoàn

thiện chính sách và cơ chế quản lý nợ nước ngoài, hoàn thiện bộ máy quản lý nợ

nước ngoài phù hợp với từng thời kỳ và tăng cường sự phối hợp và gắn kết chặt chẽ

giữa công tác quản lý nợ nước ngoài với việc xây dựng các cân đối và điều hành

chính sách kinh tế vĩ mô là những điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng quản

lý và hiệu quả sử dụng vốn, góp phần hướng dẫn và khuyến khích sử dụng vốn

đúng mục đích, tiết kiệm và xóa bỏ bao cấp trong việc quản lý và sử dụng vốn vay

nước ngoài Đảm bảo quản lý, phân bổ và sử dụng vốn có hiệu quả, giảm thiểu rủi

ro, phù hợp với khả năng trả nợ, đảm bảo an toàn nợ và an ninh tài chính quốc gia

1.2.Yêu cầu đổi mới công tác quản lý nợ nước ngoài: Phải đảm bảo tính tập

trung, thống nhất, hiện đại, đồng bộ và hiệu quả trong công tác quản lý nợ nước

ngoài của quốc gia, đồng thời phải xác định cho được lộ trình đổi mới cụ thể, phù

hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế

1.3 Nguyên tắc quản lý nợ:

Ngày đăng: 09/11/2015, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w