Nếu như trước đây việc dạy học chỉ thuần tuý là truyền thụ kiến thức cho học sinh theo đúng chương trình quy định thì nay yêu cầu của việc dạy học là phải khơi dạy tiềm năng trí tuệ của
Trang 1phần : phần mở đầu
Lý do chọn đề tài:
1 Xuất phát từ yêu cầu đặt ra trong việc đào tạo lớp người lao động mới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Chúng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh một thế giới luôn biến động, một xã hội thông tin đang bùng nổ và một thời đại mà tiến bộ khoa học và công nghệ đang phát triển như vũ bão trong điều kiện thị trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế
êu cầu đối với việc dạy học hiện nay đã thay đổi cơ bản và cao hơn trước: để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần có một nguồn nhân lực với chất lượng cao Điều này chỉ có thể có được khi chất lượng đào tạo ở nhà trường từ bậc mầm non đến đại học có một bước đột phá Chính vì vậy, chất lượng dạy học trở thành vấn đề bức xúc Nếu như trước đây việc dạy học chỉ thuần tuý là truyền thụ kiến thức cho học sinh theo đúng chương trình quy định thì nay yêu cầu của việc dạy học là phải khơi dạy tiềm năng trí tuệ của người học, dạy cho họ phương pháp nghiên cứu, phương pháp giải quyết vấn đề để người học có thể tự mình học tập suốt đời và mục tiêu cuối cùng là đào tạo ra người lao động thích ứng với xã hội công nghiệp, với nền kinh tế thị trường và có khả năng hội nhập
2.Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của việc tính thể tích các hình ở lớp 5.
Việc hình thành khái niệm và xây dựng công thức tính thể tích các hình ở lớp 5 đặc biệt quan trọng vì:
1.1 Cung cấp cho học sinh khái niệm ban đầu về thể tích từ đó các em biết so sánh thể tích của các hình (lớn hơn, bé hơn, bằng nhau) hay thể tích của hình này là tổng thể tích của những hình khác
1.2 Việc xây dựng công thức tính thể tích các hình ở lớp 5 giúp học sinh ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày như tính thể tích phòng học có dạng hình chữ nhật, đồ vật có dạng hình lập phương, tính số nước chứa trong bể hình trụ chúng rất gần gũi với
Trang 2trẻ thơ Từ đó giúp các em có phương pháp nhận thức một mặt của thế giới xung quanh và biết hành động có hiệu quả trong cuộc sống
1 Đặc biệt với khái niệm và công thức tính thể tích các hình giúp các em phát triển óc tưởng tượng, sự tư duy trừu tượng, tính khái quát Đó cũng chính là nền tảng giúp các em học tốt môn học hình không gian sau này
1.4 Việc dạy yếu tố hình học nói chung, dạy khái niệm và xây dựng công thức tính thể tích các hình ở lớp 5 nói riêng được dạy thông qua các hoạt động thực hành để tích luỹ những hiểu biết cần thiết cho học sinh Song những kiến thức kỹ năng hình học được thu lượm như vậy qua con đường thực nghiệm lại rất cần thiết trong cuộc sống, rất cần thiết cho việc học tập các tuyến kiến thức khác trong môn toán tiểu học như số học, đo đại lượng, giải toán cũng như có tác dụng tốt cho việc học tập các môn mỹ thuật, thủ công, tự nhiên xã hội và cần thiết cho cuộc sống
1.5 Rèn cho học sinh phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo Đây cũng sẽ hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như cần cù, cẩn thận, có tinh thần vượt khó, làm việc có khoa học, có nề nếp để có thể học và tiếp thu tốt các giáo trình toán học ở bậc cao hơn, đủ sức phục vụ cho công việc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đát nước hiện nay
Tóm lại: Việc tính thể tích các hình ở lớp 5 đặc biệt quan
trọng vì thế hơn ai hết mỗi giáo viên chúng ta cần xác định đúng đắn
vị trí, mục tiêu, yêu cầu để có những tác động tích cực đến học sinh nhằm đạt được những kết quả như mong muốn
Xuất phát từ thực trạng việc dạy và học hình thành khái niệm và xây dựng công thức tính thể tích các hình ở lớp 5.
1 Việc dạy của giáo viên
+ Giáo viên làm việc không khoa học, làm việc nhiều, hầu như làm hết công việc của học sinh nên cung cấp kiến thức đặc biệt là khái niệm, công thức tính thể tích các hình đều dưới dạng áp đặt
+ Giáo viên còn chưa linh hoạt, sáng tạo mà chủ yếu dựa vào bài soạn, sách giáo viên để dạy cho học sinh mà chưa tính dến đối tượng học sinh lớp mình phụ trách khác hẳn với học sinh ở Thủ đô
Hà Nội
Trang 3+ Giáo viên chưa thể hiện được vai trò của mình là người hướng dẫn các hoạt động còn học sinh mới là trung tâm của mọi hoạt động nên học sinh không có cơ hội làm nhiều, nói nhiều, thực hành nhiều để các em tự chiếm lĩnh tri thức mới
Ví dụ 1: Khi dạy bài kThể tích hình lập phương (Toán 5, trang 155)
Giáo viên thường chỉ cho học sinh quan sát hình lập phương (giáo viên đưa ra) và nhận xét về các cạnh (bằng nhau) trong lúc học sinh không được cầm, quan sát rồi thực hành đo các cạnh
Hay là cách tính thể tích cũng vậy Học sinh đếm trên hình vẽ rất trừu tượng số hình lập phương cạnh 1 cm có trong hình lập phương lớn cạnh 4 cm Giáo viên hỏi có bao nhiêu hình lập phương tất cả học sinh sẽ nhìn vào hình và sách giáo khoa để trả lời có tất cả
64 hình Vậy V = 4 x 4 x 4 = 64 cm
Hay thể tích hình lập phương = cạnh x cạnh x cạnh
Cách dạy này học sinh không được thực hành việc lắp ghép các hình lập phương cạnh 1 cm và hình lập phương cạnh 4 cm để các
em tự tìm kết quả về thể tích
+ Giáo viên chưa chú trọng đến việc phát triển tư duy, óc sáng tạo, tính độc lập trong suy nghĩ cho học sinh nên không phát hiện được học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng và học sinh yếu kém để giúp đỡ
Ví dụ: kBài Thể tích hình hộp chữ nhật (Toán 5 trang 15, 154) Sau khi giáo viên cho học sinh quan sát hình a (trang 15) và yêu cầu học sinh tính số hình lập phương ở mỗi lớp Những học sinh
có năng khiếu các em sẽ biết ngay mỗi lớp có: x 4 hình lập phương cạnh 1 cm (hình b) nhưng những học sinh yếu kém các em sẽ đếm lần lượt từng hàng rồi cộng lại rất lâu: + + + = 12 hình Sau đó giáo vien chuyển sang dạy công thức ngay nên các em sẽ rất mơ hồ trong khi trẻ có năng khiếu lại nhàm chán (vì quá dễ đối với các em)
+ Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu chủ yếu là hoạt động cả lớp dưới sự hướng dẫn chung của giáo viên mà chưa chú ý đến các hình thức tổ chức dạy học như nhóm nhỏ, cặp, hoạt động cá nhân để học sinh có cơ hội bộc lộ tầm hiểu biết của mình
+ Các phương pháp dạy học phối hợp chưa linh hoạt, sáng tạo
mà chủ yếu sử dụng các phương pháp truyền thống đặc biệt chú trọng phương pháp quan sát và hỏi đáp để hình thành khái niệm và xây dựng công thức tính thể tích các hình Giáo viên ít quan tâm đến
Trang 4phương pháp dạy học hiện đại để phát huy tính tích cực chủ động của các em đó là phương pháp thực hành luyện tập để học sinh tự tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức
Ví dụ bài: kThể tích hình trụ (Toán 5 trang 159T, 160)
Giáo viên hỏi: Muốn tính thể tích hình trụ ta làm thế nào? Học sinh trả lời: Lấy diện tích đáy nhân với chiều cao
Giáo viên kết luận: Vậy muốn tính thể tích hình trụ ta lấy diện tích đáy nhân với chiều cao
+ Sau mỗi bài dạy công thức mới giáo viên ít quan tâm đến việc vận dụng thực tế cuộc sống nhưng yêu cầu học sinh tính thể tích của phòng học hình hộp chữ nhật mà các em đang học bằng số đo cụ thể Vì thế ở học sinh tiểu học các em sẽ không thấy được tầm quan trọng cuả việc hiểu và nắm chắc công thức tính thể tích các hình để
có thể giúp gia đình, vận dụng thực tiễn Đó cũng là một niềm vui lớn của các em
- Giáo viên chưa mở rộng các công thức có thể suy ra từ công thức gốc như:
1 Hình hộp chữ nhật:
V= a x b x c Suy ra : c = V : ( a x b)
(a x b) = V : c
a = V : c : b
b = V : c : a
2 Hình trụ:
V = (r x r x ,14) x h suy ra : h = V : (r x r x ,14)
(r x r x ,14) = V : h
Vì thế mà học sinh gặp rất khó khăn khi làm các bài tập như bài 4 (Toán 5, trang 156)
+ Giáo viên chưa chỉ ra được mối quan hệ giữa cách tính thể tích các hình (cả hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ thì thể tích đều bằng diện tích mặt đáy nhân với chiều cao) nói riêng và mối quan hệ chặt chẽ giữa chu vi, diện tích, thể tích các hình nói chung
+ Dạy thể tích hình trụ giáo viên thường không minh hoạ để học sinh biết viết công thức tính thể tích đó là: V = (r x r x ,14) x h
mà giáo viên chỉ cho các em nhớ quy tắc vì vậy học sinh sẽ khó hiểu
mà nhanh quên (Bài thể tích hình trụ Sách Toán 5, trang 159, 160)
Trang 5+ Giáo viên ít quan tâm đến việc học sinh dùng đơn vị đo thể tích do vậy phần lớn các em dùng tên đơn vị rất lúng túng
Ví dụ: Bài 2, Toán 5, trang 156, tiết: lý thuyết tổng hợp
Tính diện tích xung quanh, diện tích toàm phần, thể tích hình hộp chữ nhật có chiều dài a, chiều rộng b, chiều cao c
a) a = 7 cm, b = 5 cm, c = 6 cm
b) a = 1,2 m, b = 0,8 m, c = 0,5 m
Học sinh giải:
a) Diện tích xung quanh hình hộp chữ nhật:
( 7 + 5 ) x 2 x 6 = 144 (cm) Diện tích toàn phần hình hộp chữ nhật:
144 + ( 7 x 5 x 2 ) = 214 (cm) Thể tích hình hộp chữ nhật:
7 x 5 x 6 = 210 (cm2)
Có học sinh làm: 7 x 5 x 6 = 210 (cm)
Giáo viên chưa hướng cho học sinh cách học, phương pháp học để trẻ hứng thú, yêu thích với vấn đề trừu tượng và đầy mới mẻ này
2 Việc học của học sinh
+ Vì tiếp nhận một cách thụ động các khái niệm, công thức nên các em thường nhanh quên, vận dụng kiến thức thường không linh hoạt và nhiều khi máy móc
+ Học sinh không thể thể hiện được hết khả năng sáng tạo của mình qua việc vận dụng các công thức tính thể tích các hình nói riêng và công thức toán nói chung
+ Hầu như học sinh chỉ biết làm theo, nói theo giáo viên hoặc các bài mẫu trong sách, còn các dạng khác trong sách giáo khoa học sinh sẽ không tự làm được
+ Học sinh học tập thụ động và nói chung trình độ phát triển nhận thức thấp
+ Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập sáng tạo vì luôn luôn bị lệ thuộc vào người khác
+ Học sinh học tập thường ít hứng thú, năng lực cá nhân của
số đông học sinh không có điều kiện bộc lộ và phát triển đầy đủ
+ Học sinh dùng ngôn ngữ toán học, ký hiệu, đơn vị đo còn nhiều lúng túng (qua các ví dụ đã nêu trên)
+ Công thức tính thể tích các em dễ nhầm lẫn với công thức tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần
Trang 6+ Trí tưởng tượng của trẻ còn hạn chế nên các em gặp rất nhiều khó khăn khi phải làm những bài tập như Bài 6, trang 158 (tiết luyện tập tổng hợp)
Một số viên gạch như nhau, mỗi viên đều có 2 mặt là hình vuông, được xếp thành một hình chữ nhật như hình bên Tính:
a) Thể tích mỗi viên gạch
b) Thể tích của hình hộp
Hay bài 4 trang 150 (tiết k thể tích một hình)
Thực trạng nêu trên đã kéo dài và cản trở mạnh mẽ đến việc đào tạo những người lao động mới, năng động, tự tin, sáng tạo, cản trở những cải tiến mới về phương pháp dạy học và những sáng tạo của giáo viên tiểu học có tâm huyết với nghề nghiệp Vì thế tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần vào công cuộc đổi mới dạy học nói chung và đổi mới việc tính thể tích các hình ở lớp 5 nói riêng
phần Nội dung
Những biện pháp giúp giáo viên và học sinh khắc phục khó khăn và sai lầm thường gặp.
1 Đối với giáo viên:
+ ở bậc tiểu học, giáo viên đứng lớp là ông thầy dạy toàn cấp
từ lớp 1 đến lớp 5, dạy toàn diện các môn học Xét về mặt tác động tâm lý, người giáo viên tiểu học là thần tượng của học sinh, là linh hồn của trẻ, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời mỗi người (mọi người đều phải trải qua bậc tiểu học) ở tiểu học, thầy là nhất, là toàn quyền của knền văn minh nhà trường, mọi thứ đều hoà hợp, tích
tụ qua ông thầy mới đến học trò Các em thường bảo: kThầy dạy em thế, người khác nói em không nghe, kể cả bố mẹ cũng vậy
+ ở bậc tiểu học, kiến thức không phải là khó, cái khó là nghiệp vụ, phương pháp, kỹ năng phải rất linh hoạt, uyển chuyển Người thầy phải có sức sống, phải có cái hồn ă lòng nhân ái thương yêu học sinh như thương yêu con đẻ của mình, có vậy thì việc chăm
Trang 7lo dạy dỗ mới tận tâm, tận lực hết lòng vì học sinh: kMẹ và cô là hai
cô giáo, cô và mẹ là hai mẹ hiền Người thầy phải có lòng tự trọng, gương mẫu và mô phạm Bởi nhất cử nhất động của thầy đều tác động trực tiếp đến việc phát triển tư duy, bồi dưỡng tình cảm của trẻ Đối với trẻ phải công minh chính trực, không được đối xử thiên lệch
+ Cần nhận rõ, bậc tiểu học là bậc khởi đầu, cũng là bậc thấp nhất trong hệ thống giáo dục, nhưng lại là bậc học mang tính chất nền móng hết sức quan trọng đặt cơ sở vững chắc cho học sinh phát triển ở bậc học này mọi hoạt động của giáo viên tiểu học đều có ý nghĩa tác động trực tiếp, tác động tốt sẽ phát triển đúng hướng, tác động xấu sẽ rất nguy hại
+ Người giáo viên tiểu học phải đảm bảo cho tất cả học sinh học tập có kết quả, vì như vậy phải loại trừ học sinh lưu ban, bỏ học Việc loại trừ lưu ban, bỏ học không phải bằng cách nâng điểm mà phải đảm bảo cho học sinh học tập đạt kết quả thực sự kĐảm bảo cho học sinh học thành công đó là tính dân chủ cao nhất của giáo dục
Bậc tiểu học là bậc học tương đối hoàn chỉnh, thể hiện một nền giáo dục dân tộc, nhân văn, theo hướng hiện đại hoá Học sinh học hết bậc tiểu học sẽ có cơ sở vững chức để học tiếp lên bậc học cao hơn Nếu không cũng có những tri thức cần thiết để vào đời, bước vào cuộc sống Như vậy đứa trẻ học là để sống, không phải học
để biết ở bậc tiểu học trẻ đến học là bắt đầu làm nghĩa vụ xã hội Những ngày đầu, trẻ đến học còn rất ngỡ ngàng do đó giáo viên cần hết sức quan tâm dạy học sinh cách học Quan điểm giáo dục hiện đại khẳng định: kở bậc tiểu học phải cho học sinh cách học là chính Trên thực tế, có nhiều người có trình độ học vấn ă học vị không cao,
họ đã bằng con đường tự học, tự đào tạo để đi lên, trở thành những người có danh vọng, học vị cao bởi họ đã có một cách học tốt Trang
bị kiến thức, rèn kỹ năng và dạy cách học cho học sinh, đó là 2 vấn
đề có liên quan chặt chẽ và có tác dụng lẫn nhau ở bậc tiểu học có 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: từ lớp 1 đến lớp ; giai đoạn 2: lớp 4 và lớp 5 Giai đoạn 1 đòi hỏi giáo viên phải giỏi nghiệp vụ, phương phấp và
kỹ năng Giai đoạn 2: giáo viên vừa phải giỏi nghiệp vụ ă phương pháp và lại cần có kiến thức sâu và rộng Vì là lớp cuối cấp, hoàn thiện mục tiêu bậc tiểu học ă bậc học knền móng
Nói đến việc học dù là bậc tiểu học, việc học đã mang tính cá thể hoá, vì vậy việ dạy cần lấy học sinh làm trung tâm
Trang 8+ Việc xác định chuẩn của giáo viên tiểu học cần nói rõ tồn tại trong thời gian bao năm? Bởi vì sau khi xây dựng xong chuẩn, còn phải tính đến việc bồi dưỡng để toàn bộ giáo viên tiểu học đạt chuẩn;
vì đội ngũ giáo viên tiểu học hiện đang đứng lớp có tới trên 0 vạn, lại rất đa dạng về trình độ (7 + 2, 7 + , 9 + 2, 9 + , THSP, CĐSP, ĐHSP
ă khoa tiểu học) Mặt khác ngày nay khoa học kỹ thuật luôn phát triển, sự bùng nổ thông tin ảnh hưởng sâu sắc tới các lĩnh vực, các nghành nghề, thúc đẩy trong tương lai phải luôn đổi mới do dó cũng đòi hỏi người thầy giáo tiểu học cũng phải nâng cao trình độ mới đáp ứng được yêu cầu mới
Xuất phát từ những căn cứ nêu trên, khi xây dựng chuẩn giáo viên tiểu học phải tính đến các tình huống có thể xảy ra, kẻo không chuẩn đề ra sẽ rất mau chóng lạc hậu
+ Trong lớp học giáo viên nói ít, giảng bài ít, làm mẫu ít nhưng sẽ thường xuyên làm việc với cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh cách làm việc mới như vậy đòi hỏi giáo viên vừa phải biết cách tổ chức các hoạt động, vừa phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để có thể đáp ứng kịp thời các tình huống có thể xảy ra trong quá trình học tập của học sinh Nhờ cách dạy học như vậy mà giáo viên nắm được khả năng của từng học sinh, từ đó
có thể tạo điều kiện giúp từng học sinh phát triển năng lực, sở trường
cá nhân
+ Cần coi trọng việc rèn luyện kỹ năng sử dụng các dụng cụ hình học Các dụng cụ hình học như thước, êke, compa có vai trò hết sức quan trọng trong Hình học, trong Toán học, trong kỹ thuật
Vì thế ngay từ bậc tiểu học, chúng ta đã phải rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng chúng, thông qua việc:
- Dạy cho các em cách giữ gìn, bảo vệ các dụng cụ hình học
để chúng được lâu bền và chính xác
- Làm cho các em nắm vững các thao tác cần thiết trong khi sử dụng các dụng cụ hình học để vẽ hình, để đo đạc được chính xác, đẹp và sạch
Về phần mình giáo viên cũng phải gương mẫu: giữ gìn, bảo quản và có thái độ cẩn trọng trong khi sử dụng các dụng cụ hình học
để vẽ hình, đo đạc Các hình vẽ của giáo viên trên bảng phải chính xác, sach sẽ và đẹp tuyệt đối không được cẩu thả
Đồng thời, giáo viên cũng phải chú ý sử dụng phấn màu một cách thích hợp, sử dụng các nét đứt một cách hợp lý trong khi vẽ
Trang 9hình; phải viết các ký hiệu hình học một cách rõ ràng, chuẩn xác và mẫu mực để học sinh theo dõi và bắt chước
Bên cạnh đó ta cũng cần tập cho trẻ thói quen đo đạc không cần các dụng cụ chính xác thông qua việc ước lượng độ dài bằng mắt, gang tay, bước chân Khả năng ước lượng này cũng rất cần thiết trong cuộc sống
+ Cần đặc biệt quan tâm đến việc thường xuyên ôn tập, củng
cố và hệ thống hoá các kiến thức và kỹ năng hình học
Những quy tắc và công thức hình học phải được thường xuyên
ôn lại để học sinh dễ nhớ Tuy nhiên điều quan trọng là giáo viên cần cho học sinh áp dụng nhiều lần các công thức đó trong nhiều bài tập thực hành, qua đó mà trẻ nghi nhớ
+ Cần đảm bảo sự cân đối giữa tính khoa học và tính vừa sức trong giảng dạy các yếu tố hình học
Do các đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ, nên trong giảng dạy các yếu tố hình học ta phải chú ý không nên dặt yêu cầu quá cao vào tính chính xác và và sự chặt chẽ của hệ thống kiến thức mà cần cân nhắc tính toán cẩn thận mức độ để tránh tình trạng dạy quá cao, khiến trẻ không thể tiếp thu đựơc tuy nhiên cũng đừng vin vào cớ trẻ còn nhỏ, khả năng suy nghĩ còn nhiều hạn chế mà bất chấp mọi yêu cầu về tính khoa học của hệ thống kiến thức Nguyên tắc chung ở đây là: cần cố gắng dạy các yếu tố hình học cho trẻ ở mức chặt chẽ và chính xác cao nhất mà trẻ có thể tiếp thu được
Chẳng hạn: khi dạy học sinh lớp 5 về chiều cao của hình trụ, giáo viên chưa nên yêu cầu học sinh phân biệt
- Chiều cao là độ dài đoạn thẳng 00ơ
- Còn đường cao là đoạn thẳng 00ơ
êu cầu như vậy là quá cao: Thiên về tính khoa học coi nhẹ tính vừa sức Nhưng giáo viên chỉ vào hình vẽ và nói ngay 00ơ là chiều cao của hình trụ lại quá thấp với trình độ của các em Mà giáo viên nên cho học sinh biết: đoạn thẳng nối 2 tâm của 2 hình tròn đáy gọi là chiều cao của hình trụ
+ Khi dạy các yếu tố hình học ở lớp 5, giáo viên cũng phải quan tâm đén các vấn đề cơ bản như:
- Quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động thực hành trong các tiết về yếu tố hình học Ví dụ, học sinh rất khó hình dung rõ nét các hình (khối) không gian như: hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ nhất là khi biểu diễn các hình (khối) đó bằng hình vẽ trên
Trang 10mặt phẳng Vì vậy, giáo viên cần dành nhiều thời gian cho học sinh được thực hành vẽ để cắt giấy dán thành các hình đó theo những kích thước nhất định Chính qua hoạt động thực hành khai triển kdiện tích xung quanh, diện tích toàn phần các hình (khối) này; các
em sẽ dễ dàng nắm được các tính chất và đặc điểm của chúng
- Tăng cường so sánh đối chiếu để hệ thống hoá các quy tắc và công thức tính toán, giúp học sinh hiểu và nhớ lâu Ví dụ cần làm cho học sinh thấy được sự giống nhau trong công thức tính thể tích các hình (khối) :
Hình hộp chữ nhật: V = a x b x c
Hình lập phương: V = a x a x a
Hình trụ: V = ,14 x r x r x h
Là chúng dều có dạng:
Thể tích = Diện tích đáy x chiều cao Còn chỗ khác nhau ở đây là:
Hình hộp chữ nhật có đáy là hình chữ nhật (chiều dài a, chiều rộng b, chiều cao c)
Hình lập phương có đáy là hình vuông cạnh a và chiều cao cũng là a
Hình trụ có đáy là hình tròn bán kính r và chiều cao là h + Lưu ý đúng mức việc nâng cao năng lực tư duy của học sinh Lớp 5 là lớp cuối cấp, học sinh tương đối lớn, sắp sửa bước vào trường trung học Do đó, bên cạnh phương pháp cung cấp kiến thức chính cho học sinh là dựa vào thực nghiệm và quy nạp, giáo viên còn cần phải quan tâm đúng mức đến việc tập dượt cho trẻ em khả năng suy luận một cách có cơ sở, có căn cứ
+ Coi trọng việc làm rõ mối quan hệ giữa các công thức (quy tắc) tính toán: ở lớp 5, nếu kể cả các công thức tính ngược thì có tới hàng chục công thức (quy tắc) tính toán về hình học Muốn cho học sinh có thể nhớ và vận dụng các công thức này, giáo viên cần thường xuyên ôn tập và hệ thống hoá để giúp các em nhận thấy có thể từ quy tắc (công thức) này suy ra quy tắc (công thức) kia Chẳng hạn:
Ví dụ 1: Hình lập phương là hình chữ nhật đặc biệt có chiều dài bằng chiều rộng bằng chiều cao Do đó các quy tắc (công thức) tính thể tích hình lập phương chẳng qua chỉ là các trường hợp đặc biệt của quy tắc (công thức) tính thể tích hình hộp chữ nhật Cụ thể
là, từ công thức tính thể tích hình hộp chữ nhật: V = a x b x c