luận văn nói về góc nhìn triết học về văn học dân gian Việt Nam, được thể hiện thông qua các thể loại như truyền thuyết, ca dao, tục ngữ,... là công cụ trong giảng dạy bộ môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác LêNin
Trang 1MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam đã và đang trong quá trình thựchiện chủ trương, đường lối, chính sách đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đạihóa, hội nhập, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới để tiến lênchủ nghĩa xã hội, mà thực chất và cốt tử nhất là xây dựng nền kinh tế cónăng suất cao, phát triển nhanh, mạnh mẽ, bền vững đồng thời từng bướcphát triển nền kinh tế thị trường theo xu thế chung của thời đại
Vấn đề kinh tế - xã hội nói trên ở nước ta hiện nay không những khôngtách rời, biệt lập, mà còn có quan hệ biện chứng, gắn bó máu thịt với nhiệm
vụ quan trọng khác là xây dựng và phát triển nền văn hóa mới xã hội chủnghĩa trên Tổ quốc ta lúc bấy giờ Bởi vì, thực tiễn lịch sử đã chứng minh,khẳng định sau đây của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VIII là hoàntoàn chính xác: “ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu,vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”
Vì thế, trong quá trình đổi mới để phát triển, Đảng đã nhiều lần nhấn mạnhtại không ít văn kiện quan trọng vấn đề này phải xây dựng nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc và kế thừa, phát huy giá trị văn hóa truyềnthống tích cực, tiến bộ của dân tộc Nhưng, nhiệm vụ lịch sử ấy sẽ không thểhoàn thành với kết quả mỹ mãn nếu như không có sự tìm hiểu các sản phẩm,giá trị văn hóa của dân tộc đã được hun đúc nên từ hàng nghìn năm lao độngsản xuất, đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, chống thiên tai, xây dựng vàphát triển nền văn hóa tiên tiến được
Nghiên cứu văn hóa dân tộc để giữ gìn, kế thừa, phát huy những giá trị tíchcực trong đó luôn là công việc mang tính cấp bách
Văn hóa, văn nghệ dân gian là một phần quan trọng trong toàn bộ di sảntinh thần, tư tưởng của dân tộc Đó là một đề tài mang tính thời sự, là đốitượng cần được nghiên cứu Bởi thế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ
Trang 2trong Báo cáo chính trị trình Đại hội VIII như sau: “ Kế thừa và phát huy cácgiá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dântộc” Đến Đại hội X, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “ Bảo tồn và phát huy vănhóa, văn nghệ dân gian Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sản vănhóa với các hoạt động phát triển kinh tế” Và, tại Đại hội XI, Đảng vẫn chủtrương: “ Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc” Tómlại trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, Đảng ta có sự coi trọng việcnhân lên các giá trị tích cực của phẩm chất đạo đức và di sản văn hóa dângian của dân tộc Để thực hiện chủ trương này của Đảng, chúng ta phải tậptrung nghiên cứu nhiều nội dung trong di sản văn hóa nói trên Cần tiếp cận
để hiểu biết các nội dung, ý nghĩa tích cực trong văn hóa, nghệ thuật dângian rồi mới có ý thức vào việc làm bảo tồn, phát huy được những giá trịđáng quý tại di sản ấy Chính vì vậy, đã từ lâu, đặc biệt là trong giai đoạn đổimới để phát triển hiện nay, giới nghiên cứu đã tập trung tâm trí làm sáng tỏnhiều vấn đề thuộc kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian Ở nước ta đã ấnhành nhiều công trình bàn về văn hóa, văn nghệ dân gian nói chung viết rấtcông phu, bề thế, dày 300, 400 trang, có quyển gồm ngót 3000 trang Nhưngviệc nghiên cứu về văn học dân gian dưới góc độ triết học qua các loại hìnhcủa văn hóa dân gian đến nay có thể nói còn quá ít ỏi Chưa có công trìnhnào bàn luận đến mức tương đối kỹ lưỡng, chuyên sâu, khoảng 100, 200trang về vấn đề này và các tư tưởng triết học trong thần thoại, ca dao, tụcngữ Việt Nam,
Đấy là những lý do đã thôi thúc tôi nghiên cứu và viết về văn học dân giandưới góc nhìn triết học
Làm công việc trên, tôi có ý thức quán triệt tư tưởng, chủ trương, đườnglối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa nói chung, về văn hóa dân gian
Trang 3nói riêng; thêm nữa góp phần vào việc cần được bù đắp trong công tácnghiên cứu của chúng ta hiện nay.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Tác giả nhằm mục đích chứng tỏ từ xa xưa dân tộc Việt Nam đã có những
tư tưởng triết học trong kho tàng tục ngữ, ca dao, cùng các loại hình vănhọc dân gian khác, khẳng định trong đó gồm nhiều quan điểm, tư tưởngđáng được coi trọng, từ đấy góp phần thực hiện chủ trương của Đảng là kếthừa, phát huy các giá trị tinh thần, văn hóa, nghệ thuật của dân tộc
Muốn vậy, người viết đề tài phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
1) Tổng luận kết quả nghiên cứu hữu quan, xác định nội hàm một số kháiniệm được đề cập đến trong đề tài
2) Tiếp cận mấy vấn đề chung về những tư tưởng triết học trong văn họcdân gian Việt Nam
3) Đưa ra những giá trị và đánh giá về những tư tưởng triết học trong vănhọc dân gian Việt Nam
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tác giả luận văn là văn học dân gian Việt Nam Phạm vi tiếp cận của người viết công trình này xin được giới hạn hẹp, cụthể hơn để đủ thực hiện nhiệm vị nghiên cứu nói trên, tức là chỉ tìm hiểu,khảo sát qua một số thể loại của văn học dân gian Việt Nam
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn này là những quan điểm, nguyên lý trong chủnghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh
và văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương pháp khoa học được áp dụng để hoàn thành luận văn này là kếthợp các phương pháp logic, lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễndịch,
5. Đóng góp mới của luận văn
1) Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về những tư tưởng triếthọc trong văn học dân gian Việt Nam
2) Bước đầu đánh giá những giá trị và hạn chế của những tư tưởng triếthọc trong văn học dân gian Việt Nam
Trang 46. Ý nghĩa của luận văn
Công trình này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên,cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, làm ví sụ minh họa cho học phần Triết họcMác – Lê Nin, cho bạn đọc thưởng thức về những tư tưởng triết học trongvăn học dân gian Việt Nam góp phần kế thừa, phát huy, vận dụng trong xâydựng con người ở nước ta hiện nay
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, tiếp theo là 2 chương và kết luận; cuốicùng là danh mục tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM 1.1.Khái niệm văn học dân gian.
1.1.1 Văn học dân gian là gì?
Có không ít quan niệm và những cách diễn đạt khác nhau về khái niệm văn họcdân gian Đáng chú ý là những quan niệm sau đây:
1. Quan niệm coi văn học dân gian là thành phần ngôn từ ở trongnhững sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp (như tục ngữ, cadao, dân ca, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích,…) Thành phần
Trang 5ngôn từ ở đây vừa là một bộ phận của một chỉnh thể lớn hơn là nghệthuật diễn xướng dân gian (bao gồm nhiều thành tố như: ngôn từ,nhạc, vũ, điệu bộ) vừa là một chỉnh thể nhỏ có tính độc lập tươngđối, có quy luật sinh thành, tồn tại, phát triển riêng, có thể và cầnphải tách ra để nghiên cứu như một đối tượng riêng của một ngànhkhoa học chuyên môn Và đó là ngành nghiên cứu chuyên môn vềvăn học dân gian (bên cạnh các ngành nghiên cứu chuyên môn khác,như: âm nhạc dân gian, vũ đạo dân gian, nghệ thuật sân khấu, nghệthuật tạo hình dân gian,…).
2. Quan niệm coi văn học dân gian chỉ là những sáng tác ngôn từ cógiá trị nghệ thuật thực sự của nhân dân, chứ không phải là không thểbao gồm toàn bộ thành phần ngôn ngữ ở trong những sang tác dângian mang tính nguyên hợp và diễn xướng (như tục ngữ, ca dao, dân
ca, truyện kể dân gian,…) Với quan niệm này, đối tượng nghiên cứucủa văn học dân gian bị co lại rất hẹp, chỉ bao gồm những gì đượccoi là có giá trị văn học (nghĩa là có tính hình tượng rõ rệt) Đây làmột biểu hiện của khuynh hướng lấy quan điểm nghiên cứu văn học(mà chủ yếu là văn học hình tượng, văn học đã được chuyên mônhóa cao) để nhìn nhận, đánh giá về văn học dân gian, một loại sángtác ngôn từ khác với văn học viết về rất nhiều phương diện (về lịch
sử sinh thành, phát triển, lực lượng sáng tác, phương thức, chứcnăng, thi pháp, )
3. Quan niệm coi văn học dân gian chỉ là một trong những thành tố củanghệ thuật diễn xướng (hay biểu diễn), một loại nghệ thuật tổng hợpbao gồm nhiều thành tố (ngôn ngữ, nhạc, vũ, động tác, ) kết hợpchặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất không thể chiatách được Và do đó, không có và không thể có nghiên cứu riêng về
Trang 6văn học dân gian mà chỉ có thể nghiên cứu chung tất cả các thành tố(văn – vũ – nhạc ) trong nghệ thuật diễn xướng mang tính tổng hợp
ấy mà thôi Với quan niệm này, chẳng những việc nghiên cứu riêng
về thành phần nghệ thuật ngôn từ (văn học dân gian) bị phủ nhận màviệc nghiên cứu riêng về tất cả các thành phần nghệ thuật khác trongloại hình sáng tác dân gian mang tính tổng hợp và diễn xướng (như
âm nhạc, vũ đạo, ) đều bị phủ nhận Quan niệm này không đượcnhiều nhà nghiên cứu tán thành, vì nó không hoàn toàn đúng vớithực tế tồn tại và phát triển của văn học dân gian nói riêng và sángtác dân gian nói chung, đồng thời cũng không phù hợp với xu hướngphát triển vừa chuyên môn hóa ngày càng sâu, vừa kết hợp liênngành ngày càng rộng của khoa học Chỗ không đúng của quanniệm này là ở sự cực đoan, nhấn mạnh đến mức tuyệt đối hóa tínhtổng hợp của nghệ thuật diễn xướng dân gian và hạ thấp đến mứcphủ nhận tính độc lập tương đối vốn có của mỗi thành tố (ngôn từ,nhạc, vũ) trong sáng tác dân gian mang tính tổng hợp tự nhiên (haytính nguyên hợp: syncretique) ấy
Trong ba quan niệm khác nhau về văn học dân gian đã nói trên, quan niệm thứnhất được nhiều người tán thành hơn cả Tuy cách diễn đạt, thể hiện có khác nhau,nhưng nhìn chung hầu hết các nhà nghiên cứu, nhà trường những năm gần đây đều
đã và đang được viết chủ yếu theo quan niệm này
Nói một cách ngắn gọn thì văn học dân gian là một bộ phận của sáng tác dângian, là nghệ thuật ngôn từ sinh thành, phát triển trong đời sống của nhân dân theophương thức truyền miệng và tập thể Trước đây, văn học dân gian thường đượcgọi là “ Văn chương (hay văn học) bình dân” và “ Văn chương (hay văn học)truyền miệng” (hay truyền khẩu) Từ nửa thế kỷ nay, thuật ngữ văn học dân gian đã
Trang 7được dùng phổ biến ở nước ta, thay thế cho hai thuật ngữ kia, vì nó phản ánh đượcnhiều hơn, rõ hơn và sát hơn đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
Ở nước ta, thuật ngữ “văn học dân gian” xuất hiện vào giữa những năm 1950 vớimột số xu hướng nghiên cứu khác nhau
- Trong bài “Người nông dân Việt Nam trong truyện cổ tích”, Tạp chí nghiên cứuVăn Sử Địa, số 4, 1/1955, Vũ Ngọc Phan đã sử dụng thuật ngữ “dân gian văn học”.Đến đầu những năm 1960, thuật ngữ “văn học dân gian” mới định hình trong giáotrình của Trường Đại học Sư phạm 1 và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
- Theo quan niệm của Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên - Võ Quang Nhơn thuậtngữ “văn học dân gian” được quan niệm “là sáng tác tập thể, truyền miệng củanhân dân lao động, ra đời từ thời công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì pháttriển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp”4
- Khi văn học dân gian còn được gọi là văn chương bình dân hay văn học truyềnmiệng (khoảng giữa những năm 1960 trở về trước), các nhà nghiên cứu có xuhướng tách biệt lõi nghệ thuật ngôn từ để làm đối tượng nghiên cứu, tức đặt vănhọc dân gian trong hệ quy chiếu của văn học thành văn
- Từ khi Hội văn nghệ dân gian Việt Nam ra đời, đặc biệt là sau khi thành lập Việnvăn hóa dân gian, bộ phận nghệ thuật ngôn từ trong các sáng tác dân gian đượcnghiên cứu trong tương quan với môi trường diễn xướng, tức các yếu tố như âmnhạc, vũ đạo, lễ hội Khuynh hướng này thừa nhận văn học dân gian là những sángtác mang bản chất nguyên hợp Nó được xây dựng bằng nhiều yếu tố nghệ thuậtnhư ngôn từ, âm nhạc, cử chỉ, điệu bộ…
- Đến nay, đa số các nhà nghiên cứu đi đến thống nhất với quan niệm “văn học dângian là thành phần nghệ thuật ngôn từ trong những sáng tác dân gian mang tính
Trang 8tổng hợp bao gồm nhiều thành phần chất liệu nghệ thuật khác nhau như âm nhạc,
vũ đạo”1 Trong đó thành phần nghệ thuật ngôn từ vừa có mối quan hệ tương sinhvới các thành phần khác, vừa có sự độc lập tương đối của riêng mình
1.1.1. Văn học dân gian khác với văn học viết và các loại sáng tác dân
gian khác như thế nào?
- Với văn học viết : văn học dân gian vừa là “ nguồn gốc”, vừa là “nền tảng”của văn học viết của mỗi dân tộc Nhưng điều đó không có nghĩa là văn họcdân gian và văn học viết là hoàn toàn giống nhau, hoàn toàn đồng nhất vàđồng loại Cũng như giữa gốc cây với thân cây và ngọn cây, tuy có quan hệmật thiết với nhau nhưng đồng thời lại rất khác nhau (khác nhau cả về cấutạo bên trong lẫn hình thức bề ngoài, cả về chức năng, tác dụng, )
Văn học dân gian và văn học viết đều là nghệ thuật ngôn từ, và đây là chỗ tươngđồng cơ bản nhất giữa hai loại sáng tác Cũng từ chỗ tương đồng này mà cả hai loạisáng tác này đều được gọi là “văn học” và những người sáng tác cũng như nghiêncứu hai loại sáng tác “văn học” này có quan hệ lâu dài với nhau trên nhiều phươngdiện (vay mượn, học tập, tham khảo lẫn nhau về đề tài, chất liệu, kinh nghiệm,phương pháp sáng tác, nghiên cứu, )
Nhưng ngay trong sự tương đồng đã chứa đựng những điểm khác nhau Vì mộtbên văn học dân gian là ngôn từ truyền miệng của tập thể nhân dân (hàm chứa tínhtruyền miệng, tính tập thể và tính vô danh); còn bên kia (văn học viết) là ngôn từgắn liền với văn tự do cá nhân nhà văn hoặc người có học thức chuyên môn sángtác và xuất bản, lưu hành chủ yếu trong môi trường trí thức (vì thế mà trước đây đãxuất hiện thuật ngữ “ Văn chương bác học” để phân biệt với “ Văn chương bìnhdân”
Trang 9Nếu tính truyền miệng, tính tập thể, tính vô danh, tính dị bản (hay tính biến dị,không ổn định) là những đặc điểm nổi bật của văn học dân gian, thì trái lại, hay đổilại, tính thành văn (văn tự, văn bản), tính cá thể, tính hữu danh và tính ổn định(trong văn bản) là những đặc điểm nổi bật của văn học viết so với văn học dângian Ngoài ra cần thấy rõ rằng: văn học dân gian không phải là nghệ thuật ngôn
từ thuần túy được chuyên môn hóa cao và hoàn toàn độc lập như văn học viết, àmchỉ thành phần nghệ thuật ngôn từ có tính độc lập tương đối ở trong những sáng tácdân gian mang tính nguyên hợp và diễn xướng, sinh thành và phát triển trong môitrường sinh hoạt của nhân dân mà thôi
- Với các lĩnh vực sáng tác dân gian khác (văn nghệ dân gian, văn hóa dângian (Folklore))
Để quan niệm rõ về văn học dân gian, ngoài việc phân biệt với văn học viết, còncần phải phân biệt với các lĩnh vực sang tác khác (như văn nghệ dân gian, văn hóadân gian, folklore)
Thuật ngữ folklore (bắt nguồn từ tiếng Anh) đã được dùng phổ biến trên thế giới
để chỉ các lĩnh vực sáng tác dân gian với những nội dung rộng hẹp khác nhau, tùytheo quan niệm và cách nhìn của các nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ này (Cóngười coi folklore là toàn bộ các hiện tượng văn hóa vật chất và tinh thần của nhândân trong các thời kì lịch sử khác nhau ; có người coi folklore chỉ là văn hóa thời
cổ xưa hay văn hóa truyền thống, boa gồm cả phong tục, tín ngưỡng và các hìnhthức sang tác văn nghệ dân gian ; có người thu hẹp khái niệm folklore vào lĩnh vựcnghệ thuật diễn xướng dân gian …)
Ở Việt Nam, thuật ngữ folklore đã được nói đến từ hơn nửa thế kỉ nay, nhưng nhìnchung ít được dùng Cùng với sự thành lập Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (năm1966) và sự thành lập Ban Văn hóa dân gian (thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt
Trang 10Nam – 1979), rồi Viện Văn hóa dân gian (năm 1983), phạm vi sưu tầm, nghiên cứucác lĩnh vực sáng tác dân gian ngày càng được mở rộng và thuật ngữ folklore cũngđược dùng nhiều hơn trên sách báo nước ta với những nghĩa rộng hẹp khác nhau Trước khi Hội văn nghệ dân gian được thành lập (1966), danh từ folklore ít đượcdùng và khi dùng thường được hiểu theo nghĩa hẹp (để chỉ các hình thức văn họcdân gian : thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao, tục ngữ,…).
Từ khi Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam được thành lập, đa số các nhà nghiêncứu nước ta đã coi folklore là văn nghệ dân gian (bao gồm văn học, âm nhạc, vũđạo, nghệ thuật sân khấu ; nghệ thuật tạo hình dân gian…) Tiêu biểu cho quanniệm này là nhà văn Hoài Thanh (Chủ tịch đầu tiên của Hội Văn nghệ dân gianViệt Nam) với lời phát biểu sau đây :
“Danh từ folklore mà cả thế giới đều dùng nói một sự thực là ở bất cứ dân tộcnào, các loại hình văn nghệ dân gian cũng gắn bó với nhau từ nguồn gốc, từ trongthực tiễn tồn tại và phát triển của nó Từ thuở sơ sinh nhạc, thơ, múa, kịch, đềuchung một mầm Đến khi lớn lên thì các loại hình tách bạch ra, nhưng vẫn phảinương tựa vào nhau mà sống Thơ dân gian tồn tại, phát triển và lưu truyền bằnghát đối đáp Nếu bỏ nhạc thì múa khó thành Mất sự tích văn học, mất làn điệu, mấtmúa thì chèo cũng mất Tranh làng Hồ phải đi liền với hội Tết Trên hình con gà,con lợn, có cả dấu âm dương thuộc tín ngưỡng dân gian, lại có cả ca dao hay thơvịnh Một ngôi đình, ngôi chùa, một pho tượng, một hòn đá thiên, đều có nhiềutruyền thuyết liên quan
Từ khoảng 1975 đến nay, đa số các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân vănnước ta đều quan niệm folklore là văn hóa dân gian (chủ yếu là văn hóa dân giantruyền thống) Đó là cơ sở nhận thức cho sự ra đời của Ban Văn hóa dân gian(1979) rồi Viện Văn hóa dân gian (1983) và Tạp chí Văn hóa dân gian
Trang 11Tóm lại, hiện nay trong giới nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian nước ta đã có
sự hiểu tương đối thống nhất về các thuật ngữ cơ bản nói trên như sau :
1.2. Văn học dân gian Việt Nam thế giới quan và nhân sinh quan của
người Việt Nam
1.2.1. Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
1.2.1.1. Tính nguyên hợp và tính đa chức năng Tính nguyên hợp và tính đa chức năng là thuộc tính chung của sáng tác dân gian,trong đó cơ văn học dân gian Hai thuộc tính này vừa khác nhau vừa có quan hệmật thiết với nhau
Tính nguyên hợp của sáng tác dân gian chi phối tất cả các thành phần nghệ thuật,các yếu tố chất liệu tạo nên bản thân nó (như ngôn từ, nhạc, vũ, động tác, các yếu
tố của nghệ thuật tạo hình )
Nếu chỉ quan sát tác phẩm văn học dân gian trên văn bản (đã được sưu tầm, ghichép, in ấn) thì sẽ rất khó hình dung và nhận thức được tính chất nguyên hợp của
nó, vì văn bản chỉ ghi được thành phần ngôn từ bằng văn tự (như văn học viết).Phải quan sát đời sống thực của tác phẩm văn học dân gian ở trong nhân dân thôngqua việc sử dụng, lưu truyền, biểu diễn của nhân dân (như hát dân ca, kể vè, kểchuyện cổ tích, vận dụng tục ngữ ) thì mới dễ dàng nhận rõ tính nguyên hợp củanó
Chẳng dậm thì thuyền chẳng đi
Dậm ra nát ván thuyền thì long đanh.
Đôi ta lên thác xuống ghềnh
Em ra đứng mũi để anh chịu sào.
Trang 12Khi đọc bài ca dao ấy trong sách ta chỉ có thể nhận thức và thưởng thức nó nhưmột bài thơ của văn học viết Còn khi nghe và nhìn một người thuyền chài vừachèo thuyền vừa hò hát bài ca ấy trên sông thì ta sẽ được thưởng thức một cáchtổng hợp : cả lời thơ, giọng hát, điệu bộ với khung cảnh “sân khấu” tự nhiên (conthuyền, trời mây, sông nước ) nữa Tác phẩm văn học dân gian vốn là một nghệthuật tổng hợp Nó chỉ thực sự sống đầy đủ, tự nhiên và mạnh mẽ trong môi trườngphù hợp với chức năng của nó.
Có người quy chức năng của văn học dân gian vào ba phương diện nhận thức,giáo dục và thẩm mỹ Nói như vậy không sai nhưng cũng chưa thật phù hợp vàchưa thật trúng Văn học dân gian nói riêng cũng như văn nghệ dân gian nói chung
ra đời để đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau trong đời sống hàng ngày cũng nhândân (nhu cầu lao động, vui chơi, giải trí, nhu cầu nuôi dạy con cái ) Chức năngchủ yếu và bao quát nhất của nó là chức năng thực hành, bao gồm nhiều loại, nhiềudạng thực hành khác nhau (như thực hành tín ngưỡng, lễ nghi, thực hành lao động,thực hành vui chơi giải trí ), nói chung là thực hành – sinh hoạt (hay thực hành –đời sống)
Nhân dân sáng tác và sử dụng văn học dân gian không phải như một loại nghệthuật chuyên môn cách biệt với đời sống hàng ngày mà như một công cụ “vạnnăng” (đa chức năng) của đời sống, giao cho nó tất cả những gì mà nó có thể thựchiện được để đáp ứng nhu cầu về mọi mặt của đời sống Vì thế văn học dân giankhông chỉ là văn học, nghệ thuật, nó còn là triết lí, lịch sử, luân lí, tín ngưỡng, khoahọc thường thức ; nói chung là “kho tàng trí khôn” và kinh nghiệm sống của nhândân về mọi phương diện (chăn nuôi, trồng trọt, đánh cá, làm nhà, nuôi dạy con cái,thiên văn, khí tượng )
Trang 13Văn học dân gian ra đời từ thời công xã nguyên thủy, khi xã hội chưa có phâncông lao động và tồn tại lâu dài trong môi trường nông thôn, chưa có sự chuyênmôn hóa sâu sắc giữa các ngành nghề Đó là cơ sở và điều kiện đẻ ra tính nguyênhợp và tính đa chức năng của nó.
Tính nguyên hợp của văn học dân gian chẳng những thể hiện ở sự kết hợp nhiềuloại phương tiện và chất liệu nghệ thuật khác nhau (lời, nhạc, vũ ) mà còn thểhiện ở sự kết hợp, đan xen nhiều loại hình thái ý thức chưa phân hóa rõ rệt, sâu sắc(ngoài hình thái ý thức thẩm mỹ, còn có nhiều thành tố khác như : tín ngưỡng, tôngiáo, triết lí, luân lí, khoa học sơ khai )
Vậy có thể xếp văn học dân gian vào phạm trù hình thái ý thức nào? Nghệ thuậthay khoa học? Đó là một câu hỏi đơn giản nhưng không thể trả lời giản đơn được,
vì văn học dân gian vừa là nghệ thuật, vừa là khoa học đồng thời lại có phần khônggiống với nghệ thuật và khoa học Nó là một loại hình thái ý thức chưa phân hóathật rạch ròi, dứt khoát – hình thái ý thức mang tính nguyên hợp Thuật ngữ
“folklore” (trong tiếng Anh) và thuật ngữ “văn hóa dân gian” (trong tiếng Việt) đãsinh ra và tồn tại được là vì đã phản ánh được đặc điểm đó của văn học dân giannói riêng và sáng tác dân gian nói chung
Sự kết hợp, đan xen giữa hình thái ý thức thẩm mỹ và các loại hình thái ý thứckhác diễn ra một cách tự nhiên, tự phát, tạo ra sự hài hòa và vẻ đẹp hồn nhiên, độcđáo đến mức tuyệt vời của những hình tượng văn học dân gian mà nhiều khi
“không thể bắt chước được”
Truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh cũng như truyện Cóc kiện Trời và truyện Chú Cuội cung trăng đều là những sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp (vừa là văn học,
vừa là khoa học, đồng thời cũng là tín ngưỡng sùng bái các lực lượng tự nhiên) củangười Việt cổ đại Chúng vừa phản ánh, vừa lí giải, vừa thể hiện ước mơ, khát
Trang 14vọng chinh phục, chi phối tự nhiên theo sự hiểu biết còn ít ỏi nhưng rất tinh nhạy
và cách suy nghĩ còn ngây thơ, ngộ nghĩnh nhưng rất táo bạo của con người thờinguyên thủy, cổ sơ Và tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên giá trị nội dung
và nghệ thuật đặc sắc của các truyện trên
Bài ca dao dưới đây cũng thể hiến sự kết hợp hồn nhiên khó tách bạch giữa cảmxúc thẩm mĩ, sự bông đùa, hài hước và sự tổng kết, truyền đạt tri thức, kinhnghiệm thực tế một cách độc đáo :
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi mẹ hỡi, mua tôi đồng riềng !
Con trâu cười ngả cười nghiêng
Tôi không ăn riềng, mua tỏi cho tôi !
Tính nguyên hợp và tính đa chức năng của sáng tác dân gian nói chung cũng nhưcủa văn học dân gian nói riêng không nhất thành bất biến mà luôn luôn vận độngbiến đổi, gắn liền với sự vận động, phát triển của bản thân sáng tác và văn học dângian trong lịch sử Nhìn chung càng về trước (khi xã hội chưa có hoặc ít có phâncông lao động) thì tính nguyên hợp trong sáng tác dân gian càng tăng và càng vềsau do ảnh hưởng của văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp, chuyên môn hóa và do
sự phân công lao động trong xã hội ngày càng nhiều thì tính nguyên hợp của sángtác dân gian ngày càng giảm So sánh với thần thoại, truyền thuyết thời cổ đại (thời
kì Văn Lang, Âu Lạc) với các loại truyện kể dân gian (truyền thuyết lịch sử, truyện
Trang 15cổ tích, truyện cười ) thời trung đại (thời phong kiến tự chủ) có thể thấy rõ điềuđó.
1.2.1.2. Tính truyền miệng, tập thể, vô danh và dị bản của văn học
dân gian
- Tính truyền miệng và tính tập thể
Hai thuộc tính cơ bản và quan trọng vào bậc nhất này của văn học dân gian đãtừng gây nên nhiều cuộc tranh luận sôi nổi (trong phòng họp và trên báo chí) ởnhiều nước (Liên Xô cũ, Trung Quốc, Việt Nam, Hunggari ) Người thì cho tínhtruyền miệng quan trọng hơn tính tập thể, người thì lập luận ngược lại Thực ra haithuộc tính này có quan hệ mật thiết với nhau, thường xuyên tác động chi phối lẫnnhau, tuy hai mà một, tuy một mà không đồng nhất Chúng có quan hệ với hầu hếtcác thuộc tính, đặc điểm khác và chi phối toàn bộ quá trình sinh thành, phát triểncủa văn học dân gian Thiếu một trong hai thuộc tính cơ bản này thì văn học dângian sẽ không có hoặc không còn là nó nữa
Thuật ngữ “tính truyền miệng” chỉ là một danh từ mang tính ước lệ, tự nó chưanói được thật đúng và đủ nội dung mà khái niệm này nhằm phản ánh Bởi vì từ
“truyền miệng” chỉ nói được sự lưu truyền, “xuất bản” bằng miệng (chứ khôngphải bằng văn bản) của tác phẩm văn học dân gian Còn khái niệm “Tính truyềnmiệng” lại nhằm phản ánh cả quá trình sáng tác, lưu truyền, sử dụng, biểu diễnbằng miệng của tác phẩm văn học dân gian (để phân biệt với sự sáng tác bằng bút,xuất bản bằng văn bản tiếp nhận, thưởng thức cũng chủ yếu bằng đọc văn bản củavăn học viết)
Ngày nay phần lớn tác phẩm văn học dân gian đã được sưu tầm và in thành sách,khiến cho việc đọc tác phẩm văn học dân gian cũng giống như đọc tác phẩm vănhọc viết, ít khi người ta có điều kiện tiếp xúc với tác phẩm văn học dân gian ở dạng
Trang 16biểu diễn bằng miệng một cách sống động vốn có của nó (nhất là đối với loại tácphẩm dài hơi, có quy mô tương đối lớn và gắn với phong tục, nghi lễ, các hìnhthức sinh hoạt cổ xưa của nhân dân) Chính vì vậy mà người ta dễ lãng quên, coinhẹ hoặc khó có điều kiện để hiểu đúng và đầy đủ về tính truyền miệng của loạisáng tác này Thậm chí không ít người còn đồng nhất văn học dân gian với văn họcviết trong sự phân tích, đánh giá, phẩm bình tác phẩm.
Do tính truyền miệng, mà các quá trình sáng tác, lưu truyền, diễn xướng, thưởngthức văn học dân gian gắn chặt với nhau, tác động, thúc đẩy lẫn nhau một cách trựctiếp
Ở văn học viết, nói chung những người sáng tác độc lập (càng yên tĩnh càng tốt)trong suốt cả qua trình sáng tác Người thưởng thức (độc giả) chỉ được tiếp xúc vớitác phẩm sau khi nó đã được hoàn thành và công bố thành văn bản Còn ở văn họcdân gian thì người sáng tác (tác giả) và những nguời thưởng thức (không phải là
“độc giả” là người nghe, người xem) không hoàn toàn tách bạch và nhiều khi cùng
là một (một nhóm người, một tập thể vừa sáng tác, vừa biểu diễn,vừa thưởng thức).Thời gian và không gian diễn ra sự sáng tác, biểu diễn và thưởng thức của văn họcdân gian cũng không độc lập và tách rời nhau như trong văn học viết
Toàn bộ sự vận hành của phương thức truyền miệng đã kéo theo sự vận hành củaphương thức tập thể (trong suốt cả quá trình sáng tác, lưu truyền, biểu diễn, thưởngthức) của văn học dân gian Do đó nói đến tính truyền miệng đồng thời cũng phảinói đến tính tập thể và ngược lại Hai thuộc tính đó gắn bó hữu cơ, mật thiết vớinhau, tuy hai mà như một, tuy một mà hóa hai Vì đó là hai mặt, hai phương thứcdiễn ra song song của một quá trình thống nhất : quá trình hình thành, tồn tại vàphát triển của mỗi tác phẩm cũng như toàn bộ nền văn học dân gian của mỗi dântộc
Trang 17Văn học viết là sáng tác cá thể, chuyên môn hóa của nhà văn, nó ra đời, tồn tạiđến với người đọc chủ yếu bằng văn bản Còn văn học dân gian là sáng tác tập thể,truyền miệng, không chuyên môn hóa của nhân dân, nó ra đời bằng miệng, từmiệng người này sang miệng người khác Không có sự truyền miệng của nhiềungười (tức là của tập thể nhân dân) thì văn học dân gian không thể ra đời, tồn tại vàphát triển được.
- Tính vô danh và tính dị bản
Tính vô danh, tính dị bản cùng nhiều thuộc tính, đặc điểm khác của văn học dângian (như tính truyền thống, tính địa phương), đặc điểm ngắn gọn, dễ nhớ, dễtruyền đều là những hệ quả tất yếu của phương thức sáng tác tập thể và truyềnmiệng Tuy nhiên cũng cần thấy rõ tác động tích cực của những thuộc tính và đặcđiểm đó đối với hai phương thức cơ bản nói trên
Thuật ngữ “tính vô danh” nhằm phản ánh sự không mang tên tác giả của tácphẩm văn học dân gian (khác với hiện tượng “khuyết danh” là thiếu tên, hoặc mấttên tác giả ở trong văn học viết)
Có người đồng nhất tính vô danh với tính tập thể và giải thích đơn giản rằng :văn học dân gian mang tính vô danh, không có tên tác giả, vì nó là sáng tác chungcủa tập thể Từ quan niệm đơn giản đó rất dễ dẫn đến nhận thức chung chung và
mơ hồ về tính tập thể của văn học dân gian
Thật ra tính vô danh của văn học dân gian không chỉ là hệ quả đơn thuần củariêng tính tập thể mà còn là kết quả tổng hợp của cả tính truyền miệng và các thuộctính hữu quan khác (như tính truyền thống, tính không chuyên )
Quá trình sáng tác tập thể của văn học dân gian thường diễn ra một cách tựnhiên, tự phát và nối tiếp nhau giữa các cá nhân cụ thể trong quần chúng nhân dân
Trang 18các địa phương Mỗi tác phẩm văn học dân gian khi mới ra đời đều phải có mộtngười khởi xướng Sau đó phải được những người khác hưởng ứng, nối tiếp nhaulưu truyền, thêm bớt, phát triển, tạo ra những dị bản (hay diễn bản) mới Nhữngngười khởi xướng (hay khởi phát) ban đầu cũng như những người tham gia tạo ranhững dị bản của tác phẩm văn học dân gian đều là những cá nhân cụ thể (có họtên, nghề nghiệp, quê quán cụ thể, xác định) Nói chung đó là những người có vốnsống, có năng khiếu văn nghệ, có sở trường về một hoặc nhiều loại văn nghệ dângian truyền thống Họ là hạt nhân, là nòng cốt của sinh hoạt văn nghệ dân gian mỗiđịa phương Nhưng tất cả mọi sáng tác mà họ khởi xướng cũng như những dị bảnđặc sắc mà họ đã góp phần tạo nên đều được coi là của chung, là sáng tác vô danh,không có bản quyền tác giả Đây là quan niệm chung, thói quen truyền thống đã trởthành thông lệ của tất cả các dân tộc trên thế giới Quan niệm và thói quen truyềnthống này có nguồn gốc sâu xa, gắn liền với tâm lí sáng tác tập thể và khôngchuyên của nhân dân từ thời công xã nguyên thủy, khi chưa có chế độ tư hữu tàisản (kể cả tài sản vật chất và tinh thần).
Ý thức về tên tác giả và quyền sở hữu cá nhân về các giá trị tinh thần hình thành
và phát triển gắn liền với sự phân công lao động và chuyên môn hóa của các lĩnhvực sản xuất tinh thần trong xã hội (triết học, khoa học, văn học, nghệ thuật ) Tính vô danh của văn học dân gian có tác dụng tích cực, làm cho nhân dân không
bị bản quyền tác giả cá nhân ràng buộc, do đó mà luôn luôn được tự do tham gialưu truyền, sửa chữa, sáng tạo lại những tác phẩm đã có làm cho vốn văn học dângian truyền thống không ngừng sinh sôi, nảy nở, vận động, biến đổi Và như vậytính vô danh đã có tác động là tăng thêm tính dị bản (tính biến dị) vốn là hệ quảcủa tính tập thể và truyền miệng
Trang 19Tính dị bản làm cho tác phẩm văn học dân gian không đứng yên, không nhấtthành bất biến, do đó dễ thích ứng và phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của nhân dâncác địa phương, các thời kì lịch sử cụ thể khác nhau Và như vậy tính dị bản cũng
có tác động tích cực đối với tính truyền miệng và tính tập thể của văn học dân gian Những dị bản đại đồng tiểu dị của câu ca dao sau đây sẽ minh họa thêm cho điềuđó:
- Núi kia ai đắp mà cao
Sông kia ai bới ai đào mà sâu ?
(Lưu truyền ở nhiều địa phương)
- Non Hồng ai đắp mà cao
Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu ?
(Vùng Nghệ - Tĩnh)
- Lũy Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới, ai đào mà sâu ?
(Vùng Quảng Bình)
- Núi Trường ai đắp mà cao
Lạch Vích ai bới, ai đào mà sâu ?
(Vùng Lạch Trường, Hậu Lộc, Thanh Hóa)
- Núi Truồi ai đắp mà cao
Sông Dinh ai bới, ai đào mà sâu?
(Vùng Thừa Thiên - Huế)
2. Các thuộc tính và đặc điểm khác của văn học đân gian
Ngoài những thuộc tính cơ bản đã nói trên( tính nguyên hợp, tính đachức năng, tính truyền miệng, tính tập thể, tính vô danh, tính dị bản), vănhọc dân gian còn có những thuộc tính và đặc điểm khác( như tính địaphương, tính dân tộc, tính truyền thông, tính quốc tế )
Nòi một cách khái quát thì văn hóa dân gian nói chung và văn học dângian nói riêng vừa có tính chung ( tính phổ quát), vừa có tính riêng ( tínhđặc thù) ở những mức độ cao thấp và phạm vi rộng hẹp khác nhau
Trang 20Tính quốc tế (hay tính nhân loại) là đặc điểm chung (giống nhau hoặcgần nhau) của văn học dân gian các dân tộc khác nhau trên thế giới.
Tính quốc tế trong văn học dân gian thể hiện ở nhiều phương diện : nộidung, tư tưởng, hình thức nghệ thuật, hệ thống đề tài, chủ đề, đặc điểm thểloại, thi pháp Chẳng hạn văn học dân gian của các dân tộc đều có nhữngthể loại cơ bản như : tục ngữ, câu đố, dân ca, truyện cổ tích, truyền thuyếtthần thoại Khát vọng chinh phục thiên nhiên, ước mơ bay lên khôngtrung, bay lên cung trăng, kéo dài tuổi thọ, trẻ mãi không già là nhữngchủ đề rất phổ biến trong thần thoại của nhiều dân tộc Sự hướng về cácnhân vật mồ côi, ước mơ chính nghĩa thắng gian tà, ở hiền gặp lành, sự kếtthúc có hậu cũng là những đặc điểm trong truyện cổ tích các dân tộc.Nhiều kiểu cấu tứ trong ca dao, dân ca trữ tình ; nhiều kiểu kết cấu trongtruyện kể dân gian mang tính quốc tế rất rõ rệt (ví dụ kiểu truyện TấmCám, kiểu truyện Thạch Sanh, kiểu Truyện Trạng Quỳnh của người Việt lànhững kiểu truyện khá phổ biến ở nhiều dân tộc, kiểu cấu tứ được gọi là
“phú”, “tỷ”, “hứng” trong ca dao người Việt cũng là những kiểu cấu tứ phổbiến trong Kinh Thi (ca dao Trung Quốc thời cổ đại) và trong dân ca nhiềudân tộc khác
Tuy nhiên, ngay trong những thể loại giống nhau, những đề tài và chủ đềchung, những kiểu truyện và kiểu nhân vật tương đồng, bên cạnh sự giốngnhau hoặc gần nhau (mang tính quốc tế) lại chứa đựng không ít những đặcđiểm riêng mang tính dân tộc Lí do và cách thức bay lên cung trăng củachú Cuội (trong thần thoại Việt Nam) khác rất nhiều so với lí do và cáchthức bay lên không trung của cha con Đề Đan và I Ca (trong thần thoại HyLạp), Thần Trụ Trời trong thần thoại Việt cũng khác nhiều so với Thần Bàn
Cổ trong thần thoại Trung Quốc ; cô Tấm trong truyện Tấm Cám của ViệtNam cũng rất Việt Nam so với các nhân vật đồng loại (như nàng Lọ Lem
Trang 21trong truyện của Pháp, nàng Bạch Tuyết trong truyện của Đức ) TrạngQuỳnh của Việt Nam so với Xiêng Miêng (của Lào), Thơ Mên Chay ( củaCampuchia), A Phan Thí (của Trung Quốc) cũng như vậy Ngoài hình thứcngôn ngữ, thể thơ, tiết tấu và giai điệu âm nhạc, cách trang phục cần chú
ý cần khai thác bản sắc dân tộc và sắc thái địa phương của văn học dângian ngay trong những vấn đề nội dung mang tính quốc tế của tác phẩm Nếu tính dân tộc là riêng so với tính quốc tế thì tính địa phương lại làriêng so với tính dân tộc Tính địa phương góp phần làm tăng sự phongphú đa dạng của văn học dân gian mỗi dân tộc chứ không thể phá vỡ sựthống nhất bền vững của tính dân tộc Cơ sở để phân vùng và xác địnhranh giới giữa các vùng văn học dân gian mỗi quốc gia, dân tộc chính làtính địa phương của nó
Tính truyền thống là khái niệm phản ánh sự bền vững những yếu tố( nộidung và hình thức nghệ thuật) mang tính chất hằng số (lặp đi lặp lại, khônghoặc ít biến đổi) trong văn học dân gian từng địa phường, từng dân tộccũng như toàn nhân loại như vậy khái niệm “ tính truyền thống” có thểvân dụng trong những phạm vi rộng hẹp khác nhau, tuomngw ứng với quy
mô ( lớn hay nhỏ, chung hay riêng) của đối tượng Dù nói riêng từng thểloại ( như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, ca dao ) hayxét chung toàn bộ các thể loại văn học dân gian của mỗi dân tộc, mỗi địaphương hay toàn nhân loại, thì văn học dân gian đều có tính truyền thống
Sự kế thừa truyền thống và sự đổi mới đều diễn ra song song ở cả vănhọc dân gian lẫn văn học viết Nhưng ở văn học dân gian tính truyền thốngmạnh hơn, nhiều hơn Và nó cũng là nguyên nhân khiến cho nó vừa có ưuvừa có nhược : luôn luôn đậm đà truyền thống dân tộc, nhưng phát triểnchậm
1.2.2. Đại cương về văn học dân gian Việt Nam
1.2.2.1. Tính chất đa sắc tộc của văn học dân gian Việt Nam
Trang 22Văn học dân gian Việt Nam là một nền văn học đa sắc tộc, bao gồm toàn
bộ những sáng tác ngôn từ truyền miệng của nhân dân các dân tộc trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam Hiện nay trong cộng đồng dân tộc ViệtNam có 54 dân tộc hay tộc người (như người Việt – Kinh, người Mường,người Thái, người Tày, người Vân Kiều, người Lô Lô, người Ê Đê, người
Ba Na, người Khơ Me ) Mỗi tộc người đều có sáng tác dân gian(FOLKLORE) nói chung và văn học dân gian nói riêng về nội dung cũngnhư hình thức nghệ thuật, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng, muônhình, muôn vẻ, của nên văn học dân gian đa sắc tộc Việt Nam
Quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài đã tạo điều kiện cho các tộcngười trong cộng đồng dân tộc Việt Nam gần gũi, giao lưu, học tập, giúp
đỡ lẫn nhau ngày càng nhiều hơn Và đó là nguyên nhân khiến cho văn họcnhân gian nói riêng và văn hóa dân gian nói chung của các dân tộc( theonghĩa hẹp) bên cạnh cái riêng mang tính sắc tộc còn có cái chung mangtính quốc tế và dân tộc (theo nghĩa rộng) Khi học tập, nghiên cứu văn họcdân gian Việt Nam nói chung cũng như văn học dân gian của mỗi tộcngười nói riêng cần phải chú ý đúng mức đến cả tính riêng và tính chungấy
Văn học dân gian người Việt ( dân tộc Kinh), do có số lượng người thamgia sáng tác và lưu truyền động, lịch sử phát triển dài, địa bàn phát triểnrộng, sự giao lưu văn hóa với các dân tộc ở trong và ngoài nước sớm vànhiều , đã phát triền liên tục, toàn diện, mạnh mẽ có nhiều thành tựu đáng
kể, được coi là bộ phận lớn nhất, và tiêu biểu nhất của văn học dân gianViệt Nam
Trong văn học dân gian của người Việt đã sớm xuất hiện những sáng tác
có giá trị nghệ thuật và tư tưởng cao (như tinh thần đoàn kết quốc gia, tìnhnghĩa đồng bào, ý thức tự hào và bình đẳng dân tộc…)
Ví dụ :
Trang 23- Nhiễu điều phũ lấy giá gương
Người trong một nước, thì thương nhau cùng
- Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Truyện Lạc Long Quân – Âu Cơ (hay Truyện con Rồng, cháu Tiên) phảnánh quan niệm truyền thống của nhân dân ta về cội nguồn chung rất đáng
tự hào của các dân tộc ở miền xuôi cũng như miền núi Chi tiết “bọc trămtrứng” nở ra trăm người con trai khôi ngô, khỏe mạnh như nhau, tuymang tính chất huyền thoại nhưng rất giàu ý nghĩa Chi tiết “chia con”(50 theo Lạc Long Quân xuống biển, 50 con theo Âu Cơ lên núi, chianhau cai quản các miền) cũng vậy Tất cả nhằm nói lên quá trình sinhthành, phát triển,mở mang bờ cõi, xây dựng đất nước, từ ít đến nhiều, từnhỏ đến lớn của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Điều đáng quý nữa là,
ở đây không hề có sự phân biệt, kì thị chủng tộc dù là rất nhỏ Quan niệmtruyền thống và tốt đẹp đó mãi mãi phù hợp với sự phát triển và lợi íchchung của các dân tộc trên thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâmđến vấn đề này và Người chính là hiện thân của sự “Đại đoàn kết” Ngườinói “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, XêĐăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam,đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùngnhau, no đói giúp nhau ( ) Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòngđoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt
Thiếu cơ sở tư tưởng và tình cảm đúng đắn, sâu sắc và bền vững trênđây thì việc học tập, nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc Việt Namcũng khó tránh khỏi những thiên kiến, lệch lạc để đạt tới sự khách quan,
vô tư của khoa học
Văn học dân gian các dân tộc ít người ở nước ta, tuy không được sưutầm sớm và chưa được nghiên cứu nhiều như văn học dân gian Kinh,nhưng với những kết quả sưu tầm, nghiên cứu đã đạt được cho ta thấy
Trang 24đây là một kho tàng quý giá, hết sức phong phú, đa dạng và có nhiều tácphẩm đặc sắc Ngoài những thể loại truyền thống tương tự như văn họcdân gian Kinh (truyện thần thoại, truyện cổ tích, tục ngữ, ca dao, câuđố ) trong văn học dân gian một số dân tộc ít người còn giữ được tươngđối nguyên vẹn những tác phẩm thuộc các thể loại, các dạng thức cổ sơ
mà trong văn học dân gian Kinh không có hoặc có nhưng không còn giữđược Ví dụ : Sử thi Đẻ đất đẻ nước (của người Mường), bài ca Tiếng hátlàm dâu (của người Hmong), truyện thơ Tiễn dặn người yêu (của ngườiThái) và đặc biệt là hình thức trường ca (anh hùng ca) của các dân tộcthiểu số ở Tây Nguyên (như trường ca Đam San, Xing Nhã, Đam Di,Khinh Dú, Đam Đơ Roăn, Y Prao, )
1.2.2.2. Sơ lược về tiến trình văn học dân gian của người Việt
Do tính truyền miệng và do không được sưu tầm ghi chép sớm, đầy
đủ nên việc tìm hiểu tiến trình hay diễn trình lịch sử của văn học dângian hết sức khó khăn, khó khăn đến mức không ít người cho là bất lực,hay “bất khả tri” (không thể biết) Có người coi tác phẩm văn học dângian như một loại tài liệu khảo cổ học đặc biệt, muốn tìm hiểu thời gian,không gian sinh thành, phát triển, diễn biến của nó, cũng cần phải cónhững phương pháp đặc biệt tương ứng và phù hợp
Không thể gắn mỗi tác phẩm văn học dân gian với từng thời điểm vàđịa điểm cụ thể được, nhưng việc gắn từng thể loại, tiểu loại với nhữngkhoảng thời gian, không gian rộng nhất định là hoàn toàn cần thiết và
có thể làm được với độ chính xác tương đối
Ví dụ :
1. Gắn thể loại hát giặm với vùng Nghệ Tĩnh, rồi căn cứ vào đề tài, nộidung, đặc điểm thi pháp của từng bài mà từng bước xác định hoàncảnh và thời kì lịch sử sinh thành của chúng
2. Gắn truyền thuyết với các sự kiện, nhân vật lịch sử mà nó phản ánhrồi từng bước xác định phạm vi địa bàn và khoảng thời gian sinh
Trang 25thành của từng tác phẩm hay từng cụm truyền thuyết (như truyềnthuyết về thời kì Văn Lang, thời kì Âu Lạc, thời kì Bắc thuộc, thời kìkhởi nghĩa Lam Sơn, ).
Đối với những thể loại không gắn với những nhân vật, sự kiện lịch sử
cụ thể (như truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện cười, ) khôngmang tính địa phương rõ rệt (như phần lớn ca dao, tục ngữ ) thì việcxác định khoảng thời gian và không gian sinh thành và phát triển củachúng khó hơn Nhưng nếu được phân loại tốt và dựa vào chức năng, đềtài, đặc điểm thi pháp (ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật ) của tưng thểloại, tiểu loại, chi loại văn học dân gian, thì vẫn có thể xác định (ở mứctương đối) quá trình sinh thành, nở rộ, suy tàn của mỗi thể loại văn họcdân gian
Với cách thức đó, kết hợp với sự tham khảo, vận dụng tri thức vàthành tựu của các ngành khoa học hữu quan (sử học, dân tộc học, ngônngữ học, lịch sử văn học…) chắc chắn có thể phác họa được ngày càng
rõ nét hơn tiến trình hay diễn trình của văn học dân gian Việt Nam,trước hết là văn học dân gian của người Việt (dân tộc Kinh)
Dưới đây là những phác họa bước đầu về tiến trình ấy
1. Thời kì tiền Hùng Vương (trước khi thành lập nước Văn Lang củacác vua Hùng – tương ứng với thời kì đồng – đá, tức cuối thời kì đồ
đá mới và đầu thời kì đồ đồng ở Việt Nam – cách đây khoảng từ3000- 4000 năm) : chắc chắn những lớp thần thoại đầu tiên củangười Lạc Việt đã ra đời (thần thoại suy nguyên)
2. Thời Văn Lang – Âu Lạc (tương ứng với thời kì đồng thau và sắtsớm ở Việt Nam, từ khoảng thế kỉ VII, VIII đến thế kỉ II tr.CN)
Trang 26Thần thoại tiếp tục phát triển và hệ thống hóa, truyền thuyết hóa đểgiải thích nguồn gốc dân tộc và phản ánh quá trình dựng nước, giữnước của người Lạc Việt trong thời kì Văn Lang – Âu Lạc Nhữngtruyện như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Sự tíchbánh chưng, bánh giầy, Sự tích dưa hấu, truyện Thánh Gióng, truyện
An Dương Vương tuy ra đời sớm muộn khác nhau nhưng đều ghi
rõ dấu ấn của thời kì này Đây là những sáng tác dân gian đặc sắcgóp phần quan trọng vào sự hình thành nền văn hóa bản địa ViệtNam
Những hình thức đầu tiên của thể loại cổ tích phản ánh xung độttrong gia đình cũng đã xuất hiện (ví dụ truyện Trầu Cau) Nhữngsáng tác văn vần, những câu tục ngữ, dân ca cổ chắc chắn đã cónhưng không được lưu giữ được
3. Thời kì Bắc thuộc (từ thế kỉ III tr.CN đến năm 938) :
Các sáng tác thời kì Văn Lang, Âu Lạc được tiếp tục lưu truyền pháttriển, đồng thời nảy sinh thêm nhiều sáng tác dân gian mới Đặc biệt
là những truyền thuyết lịch sử xoay quanh các anh hùng cứu nước(như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Bôn, Triệu Quang Phục, PhùngHưng, Mai Hắc Đế, ) Những truyện cổ tích phản ánh xung đột giađình và nỗi đau khổ của con người trong đời sống xã hội chắc chắnphát triển nhiều hơn thời Văn Lang, Âu Lạc (ví dụ truyện Ba ÔngBếp hay Sự tích Táo quân) nhưng do không được sưu tầm ghi chépnên rất khó xác định Ca dao, tục ngữ, chắc chắn đã khá phong phú
Ví dụ xung quanh cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô của Bà Triệu đã
có khá nhiều những câu ca dao, tục ngữ, dân ca có liên quan :
- Lệnh Ông không bằng cồng Bà
- Con ơi ngủ đi cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Trang 27Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng ra quân.
4. Thời kì phong kiến tự chủ (từ đầu thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX) Nhìn chung kho tàng tư liệu về văn học dân gian truyền thống của người Việt cònlại đến nay, có thể phân thành hai bộ phận lớn
Bộ phận thứ nhất bao gồm tất cả những sáng tác ra đời trước thời phong kiến tựchủ (thời Bắc thuộc, thời Văn Lang, Âu Lạc, thời tiền Hùng Vương) Ở bộ phậnnày có thể chia thành hai bộ phận nhỏ :
- Những sáng tác truyền miệng có từ trước thời phong kiến tự chủ đượcsưu tầm ghi chép (bằng chữ Hán và chữ Nôm) trong thời phong kiến tựchủ (như các truyện dân gian được ghi lại trong Việt điện u linh của Lí TếXuyên, Lĩnh Nam chích quái của nhiều soạn giả kế tiếp nhau – Trần ThếPháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú hoặc các truyền thuyết về họ Hồng Bàng, vềthời Văn Lang, Âu Lạc, thời Bắc thuộc trong Đại Việt sử lược (khuyếtdanh), Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên )
- Những sáng tác truyền miệng ra đời từ trước thời phong kiến tự chủ,nhưng mới được sưu tầm ghi chép bằng chữ quốc ngữ từ đầu thế kỉ XXđến nay Ví dụ những mẫu thần thoại suy nguyên (như : Thần Trụ Trời,Thần Mưa, Thần Gió, Nữ Thần Mặt Trăng, Mặt Trời, rét Nàng Bân, LúaThần ) ; những câu tục ngữ cổ (“Con dại cái mang” ; “Con mống sốngchết” ) Hoặc bài đồng dao có quan hệ với cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu(được sưu tầm ở vùng Cổ Định – Triệu Sơn – Thanh Hóa sau đây :
Này cò, này cấu
Này đấy, này thưng
Trang 28Nghe voi rông rống
Chong chóng mà về
Hè hè ! Chạy !
Bộ phận lớn thứ hai là những sáng tác dân gian truyền miệng ra đời trong thời kìphong kiến tự chủ (truyện cổ tích, truyền thuyết lịch sử, truyện cười, truyện ngụngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, chèo ) Trong bộ phận này có thể chia ra thànhhai bộ phận nhỏ :
- Những sáng tác dân gian truyền miệng nảy sinh, phát triển trong thờiphong kiến tự chủ (hay thời trung đại) và được sưu tầm, ghi chép haychuyển thể trong thời kì ấy (với thời điểm sớm muộn khác nhau) Ví dụ :Những truyền thuyết về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ( được ghitrong Lam Sơn thực lục), truyện cổ tích được chuyển thể thành truyệnNôm khuyết danh, (như truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, ) ; thành chèo(như Quan Âm Thị Kính ) và nhiều tập tục ngữ, ca dao được các nhànho sưu tầm, ghi chép bằng chữ Hán và chữ Nôm trong các thế kỉ XVII,XIX và đầu XX
- Những sáng tác truyền miệng ra đời trong thời kì phong kiến tự chủnhưng mới được sưu tầm ghi chép (bằng chữ quốc ngữ) từ đầu thế kỉ XXđến nay Xét về số lượng và chất lượng sưu tầm, ghi chép, thì nói chung
bộ phận này lớn hơn và bị hạn chế hơn so với bộ phận được sưu tầm, ghichép trong thời phong kiến tự chủ
So với văn học dân gian thời Văn Lang – Âu Lạc và thời Bắc thuộc, thì văn họcdân gian thời phong kiến tự chủ, chẳng những đã được sưu tầm ghi chép nhiều hơn(xét về mặt số lượng) mà cũng phong phú đa dạng hơn (xét về đề tài, chủ đề và đặcđiểm thi pháp)
Trang 295. Thời kì cận hiện đại (từ khi Pháp xâm lược đến nay) Trong thời kìnày có thể phân thành hai giai đoạn :
- Giai đoạn Pháp thuộc (từ khi Pháp chiếm các tỉnh Nam Bộ - thập kỉ 60của thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945)
- Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám đến nay :
Nhìn chung trong thời kì cận hiện đại, do tác động ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp của nhiều yếu tố khác nhau (sự phát triển của đô thị, của vănhọc viết, của các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, sự ảnh hưởngcủa chiến tranh, nhất là chiến tranh hiện đại, việc xóa nạn mù chữ vànâng cao dân trí…) văn học dân gian của người Việt đã ngày càng cónhiều sự thay đổi về nhiều phương diện so với thời trung đại (về đề tài,chủ đề, đặc điểm thi pháp, điều kiện sinh hoạt, sang tác, lưu truyền, phổbiến…)
Nhìn chung trong thời kì hiện đại, vai trò của văn học dân gian trongđời sống của nhân dân vẫn còn nhưng đã thay đổi ; và đó là điều tấtnhiên, dễ hiểu Việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian trong thời kìnày là hết sức cần thiết Nhưng hiện nay nước ta chỉ mới có những hoạtđộng bước đầu, còn thiếu những công trình sưu tầm nghiên cứu tập trung
và có hệ thống
Mặc dù rất sơ lược, nhưng sự phác họa đôi nét về tiến trình văn học dângian của người Việt cũng rất cần thiết đối với những người bắt đầu họctập, tìm hiểu văn học dân gian Việt Nam Văn học dân gian nói riêngcũng như văn hóa dân gian nói chung, là sản phẩm của lịch sử, khôngnhất thành bất biến Nhưng quy luật sinh thành, vận động, phát triển của
nó có tính đặc thù, khác rất nhiều so với văn học viết Đó là nguyên nhân
Trang 30cơ bản khiến cho phương pháp phân kì văn học dân gian khác vớiphương pháp phân kì văn học viết.
CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA TRIẾT HỌC BIỆN CHỨNG TRONG VĂN HỌCDÂN GIAN VIỆT NAM
2.1 Nội dung:
2.1.1 Thần thoại
2.1.1.1.Thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa
Trong quan niệm của giới Folklore học thế giới, “ Từ thần thoại” (myth) cónguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa đen là truyền thuyết, truyền thoại Thường người
ta hiểu đó là những truyện về các vị thần, các nhân vật được sùng bái hoặc có quan
hệ nguồn gốc với các vị thần, các thế hệ xuất hiện trong thời gian ban đầu, thamgia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo lập thế giới cũng như việc tạo lập nênnhững nhân tố của nó – thiên nhiên và văn hóa Hệ thần thoại (mifalogia) là tổngthể những câu chuyện như thế về các vị thần và các nhân vật, đồng thời là hệ thốngnhững quan niệm hoang đường về thế giới Từ mifalogia còn hiểu là khoa học vềthần thoại – là thần thoại học
Tuy nhiên, khái niệm thần thoại còn gần gũi với một khái niệm khác là huyền thoại Trong một số công trình nghiên cứu biên dịch, có những ý kiến đồng nhất
hai khái niệm này Thật ra không phải thế Thần thoại là khái niệm nhìn chung đãđược học giới nhất trí sử dụng để định danh một thể loại văn học dân gian và là thểloại đầu tiên, ra đời buổi bình minh của lịch sử loài người, là một hình thái ý thức
Trang 31xã hội đặc thù, là một phạm trù lịch sử cụ thể Huyền thoại về cơ bản và giản yếu
mà nói thì đó chính là nghệ thuật thần thoại ở thời kì đã tự phát định hình một cungcách sang tạo, một thủ pháp đặc trưng để từ đó cái cung cách ấy, cái thủ pháp ấyđược người sau tiếp tục kế thừa, phát triển và hoàn thiện thành một phương phápsang tạo nghệ thuật ở nhiều loại hình thức khác nhau cho đến tận ngày hôm naybởi ưu thế không cùng của huyền thoại, vương quốc của cảm quan tích cực và thếgiới tưởng tượng thần kì
Mặt khác, cũng cần lưu ý phân biệt các cách hiểu từ nguyên theo nghĩa đen của
từ huyền thoại – có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là truyền thuyết, truyền thoại như
đã dẫn ở trên, với khái niệm truyền thuyết (Legend) – được định danh là một thể
loại văn học dân gian tiếp chân thần thoại Không phải ngẫu nhiên, khoa học vănhọc dân gian đã thừa nhận có vô số những mẫu kể thần thoại đời sau, thần thoạisang tạo cũng lại là điểm nối trực tiếp với các tác phẩm truyền thuyết anh hùng.Đặc biệt trong văn học dân gian Việt Nam, đã có nhiều thành tựu nghiên cứu khẳngđịnh các truyền thuyết thời kì Hùng Vương có một bộ phận cũng chính là các mẫu
kể thần thoại Việt cổ được lưu truyền và biến đổi theo xu thế lịch sử hóa, anh hùnghóa, dân tộc hóa như một quy luật tất yếu vận hành Tuy vậy, khác với thần thoại
(truyền thoại) là “ tập hợp các truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng, thần linh, các nhân vật sang tạo thần linh” ( Nguyễn Hùng Vĩ) phản ánh
quan niệm và khát vọng của các thị tộc, bộ lạc nguyên thủy về thế giới tự nhiên vàđời sống xã hội con người thời tiền sử, truyền thuyết là một thể loại văn học dângian của thời đại anh hùng khi mà ý thức dân gian đã trưởng thành trên các bìnhdiện quốc gia, dân tộc và nhà nước trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, có từthời sơ sử Tất nhiên vì thế truyền thuyết không phải là lịch sử
Trang 322.1.1.2. Tư tưởng nhị nguyên về nguồn gốc của thế giới
Quan tâm đến nguồn gốc tự nhiên để đấu tranh khai thác và lợi dụng tự nhiên.Nhưng thiên nhiên vừa là nguồn tìm kiếm năng lượng cung cấp cho cuộc sống conngười đồng thời luôn luôn đe dọa “ nuốt chửng”, “ cuốn trôi”, “ đè bẹp”, “ nghiềnnát” hay “ thiêu cháy” con người chinh phục không chỉ thành công hạnh phúc hoan
hỷ mà còn thất bại đau buồn và bất hạnh Trước thiên nhiên kì vĩ hấp dẫn và sợ hãi,con người ở trình độ mông muội thường lung túng loay hoay trong việc giải thíchcác hiện tượng tự nhiên thường luôn rình rập mình sự lung túng ấy sinh ra tư tưởnggiải thích các hiện tượng tự nhiên vừa rành mạch đúng với bản chất vốn có của nó,lại vừa mơ hồ, hoang đường về thế giới ấy Các yếu tố tự nhiên mà con người đãnắm được bản chất của nó thì thường được thể hiện ra thành các sự vật, hiện tượng
cụ thể (duy vật), còn các yếu tố được coi là không thể hiện được sức mạnh của tựnhiên sẽ được các thế hiện người nhân cách hóa, cường điệu hóa để tăng sức mạnhsiêu nhiên dần dần trở thành câu chuyện truyền tụng trong dân gian và trở thành “thần thoại” (duy tâm)
Buổi khai mạc của vũ trụ được cha ông ta diễn ra vừa thực vừa hư (duy vật vàduy tâm) Con người thời Hùng Vương nhắc lại và kể thêm vào những chuyện màthế hệ trước đó đã truyền lại Đó là những chuyện về nguồn gốc trời đất và muônloài như “ Thần trụ trời”, “ Thần xây núi”, “ Thần trồng cây”, “ Thần đào sông”,…Như câu hát còn ghi lại:
Ông đếm cát, ông tát bể
Ông kể sao, ông đào sông
Ông trồng cây, ông xây rú
Ông trụ trời, ông cời cua
Ông lùa chim, ông tìm sâu
Ông câu cá…
Trang 33Rồi đến câu chuyện Thần biển đội lốt một con rùa khổng lồ, chuyện ông Đực bàCái (hay ông Đùng bà Đoảng) đào sông xây núi, làm ra đất nước, chuyện 12 bà mụnặn ra giống người, chuyện Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng cho con người ánhsang ban ngày và ban đêm, chuyện Nàng Bân và cơn rét tháng ba, chuyện a Chứcchàng Ngưu và những sợi tơ trời, chuyện chú Cuội ngồi gốc cây đa ở cung trăng,… Các yếu tố tư tưởng duy vật và duy tâm trong thần thoại Việt Nam đan xen vàonhau tạo nên cốt truyện hấp dẫn đến kỳ lạ nhưng đồng thời các yếu tố duy vật vàduy tâm cũng phân định rất rành mạch Chẳng hạn: giải thích về nguồn gốc của vũtrụ, trong khi khẳng định việc tạo ra núi, thần rừng, thần sông, thần biển, thần mặttrời,… là việc người thường không thể làm được mà phải có thiên thần với sứcmạnh vô biên mới tạo ra được những thực thể không ngờ của vũ trụ thì các thựcthể ấy chẳng qua cũng chỉ là những thứ hiện hữu mà thôi hoặc như chuyện ôngTản, ông là người khác thường, khỏe mạnh, to lớn, có khả năng mầu nhiệm, chỉđạo được cả thú rừng (thần- duy tâm) thì ông vẫn phải dùng đất, đá, cọc, cạp,… đểtrị thủy ( vật- duy vật) Truyện Nỏ thần cũng tương tự trong truyện này yếu tố “thần” là cái móng rùa thần còn nỏ tên lại làm bằng nguyên liệu thiên nhiên và ngaymóng Ngài rùa tuy có “ màu nhiệm” đến mấy thì vẫn là vật “ cảm nhận được bằngcác giác quan và tồn tại ngoài ý thức của con người” (vật) Các câu chuyện như “Thần trụ trời”… trước đó và đặc biệt là truyện “ trăm trứng” đều có chung mộtquan niệm “ thần” và “ vật” hòa quyện nhau tạo ra tư tưởng nhị nguyên về việc giảithích thế giới quan trong thần thoại Việt Nam.
2.1.1.3. Tư tưởng về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý
thức
Có thể coi đây là phát hiện mới về tìm hiểu thần thoại Việt Nam từ góc nhìn của
tư duy triết học chi ít thì cũng từ một cách tiếp cận mới về cùng một chủ đề Nếu
Trang 34lấy cặp phạm trù nguyên nhân- kết quả của phép biện chứng duy vật mà xét thầnthoại thì yếu tố “ thần” chỉ là điều kiện để quy luật nhân- quả chuyển hóa cho nhau.Chẳng hạn: câu chuyện “ Bọc trăm trứng” trong truyện này chim và thuồng luồng
là những con vật của người Việt cổ được nhân cách hóa thành mẹ Âu ( Âu Cơ) và
bố Rồng ( Lạc Long) đôi vợ chồng khổng lồ đã khai sang lịch sử dân tộc đẻ ra trămtrứng trong cùng một bọc Các bọc “thần” này được đẻ ra từ bụng Mẹ tức là đượcnuôi dưỡng qua ngày tháng trao đổi chất từ thiên nhiên vào cơ thể mẹ rồi mẹtruyền cho các con ( trứng) mới nở ra thành người Rõ rang phải có yếu tố quantrọng nhất là vật chất dưới dạng vật thể thì mới có sự tạo hóa kì diệu thần thoại ấy,còn cái bọc trứng “thần” ấy chỉ là điều kiện, là sự gợi mở cho một kết quả tạo ragiống nòi rồng tiên Hoặc như truyện ông Tản dù ông có phép màu đến mấy màkhông có đất đá, cây cối, hổ báo,…(vật chất) thì phép màu cũng trở nên vô nghĩa.Truyện thần Trụ Trời cũng vậy, ý chí tách trời đất( ý thức) chỉ thực hiện được khicon người có trong tay một lực lượng vật chất khổng lồ bao gồm sức người và củacải để làm trụ mà chống Trời lên, mặt đất phong phú về địa hình có núi cao, sông
hồ và chân trời,… là do thần Đá vứt đất đá đi mọi nơi, là sản vật của xây dựng TrụTrời
Các câu chuyện của thần thoại Việt Nam đều thể hiện tư tưởng về vai trò của vậtchất, của thực tiễn, của các quy luật khách quan đối với ý chí ( ý thức) của conngười Bên cạnh và đồng thời với tư tưởng về vai trò quyết định của nhân tố vậtchất đối với nhân tố ý thức, tinh thần thì thần thoại Việt Nam cũng chứa đựng tronglòng nó những minh chứng cho tư tưởng về vai trò năng động của con người trongứng xử với đời sống thực tiễn
Trong thần thoại Việt Nam nhìn chung thần có sự tương đồng với người với trời
về cấu trúc tâm sinh lí, ý thức và hình dáng Có chăng chỉ khác về kích cỡ và mức
độ của tư duy làm thay đổi tự nhiên và xã hội Thần chẳng qua cũng là người được
Trang 35cường điệu hóa, được kết tinh sức mạnh mà thôi, thần cũng chính là mơ ước cháybỏng của con người trước các lực lượng tự nhiên và xã hội cần chinh phục Sự nổlực của thần Trụ Trời trong việc tách trời đất bằng đào đất đá, xây trụ để nâng cảbầu trời to lớn dần dần tách ra khỏi mặt đất nói lên tính dũng cảm, chủ động, kiênnhẫn, yêu lao động của thần phải chăng đó cũng là những đúc kết và sự nhắn nhủcủa các thế hệ tiền bối đối với các thế hệ sau về sự cần thiết phải rèn giũa tinh thầndũng cảm, chủ động, kiên nhẫn, yêu lao động thì việc khó như chống trời cũng làmđược thì những việc khác có khó gì đâu, chỉ cần một sức mạnh của niềm tin và ýchí, sức sang tạo thì sẽ luôn làm thay đổi cuộc sống theo hướng tích cực Sơn Tinhtượng trưng cho sức mạnh của nhân dân chống lại Thủy Tinh là tượng trưng chosức mạnh lũ lụt Nội dung chính của thần thoại Sơn Tinh là phản ánh tinh thần đâutranh kiên cường, bền bỉ cũng như ý chí vươn lên của tổ tiên ta để bảo vệ sản xuất,một cuộc đấu tranh có ý nghĩa thời sự nóng hổi cả trong thời đại ngày nay TruyệnPhù Đổng Thiên Vương là anh hung cả về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời xưa
về tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường lòng yêu nước tha thiết đến độ anh hùng.Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm cũng như sức mạnh đoàn kết đã tạonên truyền thống một dân tộc anh hung từ già đến trẻ và ngay cả đứa trẻ lên batrước bọn ngoại xâm cũng trở thành anh hùng Các thần “ Lạc Long Quân”, “ SơnTinh”, “ Phù Đổng Thiên Vương” đã phản ánh lịch sử nhưng đã phản ánh qua lăngkính kì diệu của óc tưởng tượng chất phác và táo bạo của niềm tin tưởng và sứcmạnh tinh thần của dân tộc Các nhân thần và thiên thần trong thần thoại Việt Namhiện ra kì diệu, huyền bí là kết quả của trực quan cảm tính của tổ tiên ta Câuchuyện bọc trăm trứng là kết quả của quá trình nhận thức trực quan, nói cách khác
là cách lí giải vì sao núi non trên đất nước mình ( trên non dưới bể, nơi rừng sâucho tới bình địa…) đâu đâu cũng thấy đồng loại của mình Những trăn trở ấy đãkhông biết từ bao giờ tiếp bước dân gian tạo ra cái bọc trăm trứng theo trật tự đi từđồng loại đến đồng bào đến đồng tộc
Trang 36Trong nhóm thần thoại suy nguyên luận gồm những truyện về nhân cách hóa vàgiải thích nguồn gốc của nó trong quá trình diễn ra trong giới tự nhiên và cuộcsống muôn loài Truyện Thần Trụ Trời là kết quả của sự trăn trở của hàng trăm thế
hệ nhằm lí giải vì sao mặt đất lại không bằng phẳng, trời đất lại xa nhau và trời nhưmột cái vung úp xuống mặt đất hình vuông Mở rộng các câu chuyện khác như Nữthần Mặt Trời, Nữ thần Mặt Trăng, các thần mưa, thần gió, thần biển, Sơn Tinh,Thủy Tinh,… đều là kết quả của quá trình sinh động, ngây thơ, hồn nhiên, lãngmạn nhưng bất lực về lí giải một cách bản chất thực tiễn là cội nguồn của sự sangtạo ra các vị thần của dân gian
2.1.1.4. Hành động xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh khách quan,
khả năng nhu cầu thực tế, tránh mạo hiểm
Trong thần thoại Việt Nam có nhiều câu chuyện về hành động phải xuất phát từđiều kiện hoàn cảnh khách quan, đấy là biểu hiện của quan điểm duy vật, nó rất xa
lạ với hành động chủ quan duy ý chí những triết lý về hành động như:
Câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ có mấy nội dung cần lưu ý về vấn đề này:
- Thuở khai thiên lập địa ấy, đất rộng người ít, nếu cả vợ chồng con cái ở
tụ tập một chỗ thì lấy ai canh giữ giang sơn nên phải chia tay nhau để đikhắp núi non và biển cả để bảo vệ giữ non sông
- Con người phải phù hợp với hoàn cảnh, ấy là lẽ sinh tồn tất yếu, LạcLong Quân vốn là con nhà Rồng quen sống dưới nước, Âu Cơ vốn giốngTiên quen sống trên cao Do vậy, việc phân chia một trăm người con chaithành hai ngã lên rừng và xuống biển- theo mẹ và theo cha lựa chọn duynhất đúng
Câu chuyện Thần Trụ Trời lại nói về việc xây trụ bằng vật liệu thật đơn giản bằngcách đào đất đá đập một cái cột thật to và cao để chống trời lên cao chứ không phải
Trang 37bằng các vật liệu quý như vàng, bạc, sắt Nền văn minh nông nghiệp thời sơ khai
đã tạo ra tư duy cho tổ tiên ta tạo ra sự an toàn cho cuộc sống Cột đất đá phải to đểchống trời còn các kim loại ( đồ sắt) phải dành cho việc các vị thần dùng để đàosông, trồng cây, mưu sinh con người
Liên quan đến Thần Trụ Trời về việc xuất phát từ hoàn cảnh khách quan là truyệnthần Sắt và thần Giông Trong truyện thần Sắt, anh nông dân gặp ba vị khách vàanh đối xử với mỗi vị khác nhau Hai vị vào trước là thần Vàng và thần Bạc Đã làthần Vàng và thần Bạc thì họ phải tìm nhà cao cửa rộng chứ, anh nông dân khôngmời hai vị này vào anh không quen tiếp xúc với những người cao quý như thế Vàquả thật những người nghèo như anh có lợi ích gì? Vị vào cuối cùng là thần Sắthình dáng thô kệch, đen đủi, xấu xí nhưng anh lại thấy gần gũi hơn và thế là anhmời ở lại Thần Sắt dễ nói chuyện với anh, quen với công việc hàng ngày của anh.Quả nhiên sự lựa chọn của anh đã đưa đến một kết quả bất ngờ, thần Sắt nghỉ lạimột đêm sang hôm sau biến đi đâu mất, để lại cho anh một cục sắt, anh đem cụcsắt ấy rèn thành dao, thành cuốc để xới đất trồng lúa, trồng khoai Đối với anh, cụcsắt có ích thiết thực, nếu là cục vàng, cục bạc thì anh không dùng vào việc gì được!Vàng bạc làm ra cuốc cày sao được Câu chuyện cho ta thấy anh nông dân quý sắthơn vàng bạc Sắt cần cho công việc làm ăn hàng ngày Vàng bạc quý thật nhưngchỉ để cất giấu đi làm đồ trang sức, là những thứ anh không cần đến! Ý nghĩa triếthọc kỳ diệu của câu chuyện thần Sắt là ở chỗ mọi hành động phải xuất phát từ điềukiện, hoàn cảnh khách quan, nhu cầu thực tế của cuộc sống Là câu chuyện rất cổnhưng ý nghĩa triết học của nó thì trường tồn và luôn nóng hổi cho chúng ta
2.1.2. Tục ngữ và ca dao
2.1.2.1. Ca dao, tục ngữ là gì?
Hiện nay chưa có một khái niệm nào chính xác về ca dao, tục ngữ bởi thực
tế nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp trong việc phân biệt ca dao với dân ca, tục
Trang 38ngữ với thành ngữ Sự lúng túng trong vấn đề này xảy ra ở hầu hết mọi người, kể
cả những người trong giới nghiên cứu về ngôn ngữ học Do vậy, ở đây, chúng ta sẽchỉ có thể trình bày những nét cơ bản nhất về ca dao, tục ngữ trong sự phân biệt nóvới dân ca, thành ngữ thông qua quan điểm của các nhà nghiên cứu
Định nghĩa về ca dao được Dương Quảng Hàm đề cập trong “Việt Nam văn học sử yếu” với ý: “ca” - ca hát; “dao” - bài hát không có chương khúc “Ca dao
là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của
người bình dân Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa Ca
dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc lúc ban đầu cũng do một người
vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ.”[5, tr9-10]
Trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan, năm
2003, Nxb Văn học, tác giả khi phân biệt ca dao và dân ca đã cho rằng: Đứng vềmặt văn học mà nhận định, khi chúng ta đã tước bỏ những tiếng đệm, những tiếngláy, những câu láy ở một bài dân ca thì chúng ta thấy bài dân ca đó chẳng khác gìmột bài ca dao Do đó người ta có thể nói: giữa ca dao và dân ca ranh giới không
rõ ràng Ca dao có những câu bốn năm chữ, sáu tám hay hai bẩy sáu tám, đều cóthể ngâm được nguyên câu, không cần tiếng đệm như người ta ngâm thơ vậy Còndùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao đó sẽ biến thành bài dân ca, vì hát yêucầu phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm Một bài ca dao đểđọc không cần tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao; còn một bài ca daođược dùng để hát, có thêm tiếng nhạc đệm, đưa hơi thì nó sẽ thành dân ca Đơngiản như hát trống quân cũng phải có thêm tiếng đệm mới hát lên được:
“Một đàn cò trắng (thời) bay tung