Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức của triết học Mác - Lênin và ý nghĩa trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt tiểu luận có cập nhật những nội dung mới được đưa ra trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỤC LỤC 2
Phần 1: MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa của tiểu luận 2
6 Kết cấu của tiểu luận 3
Phần 2: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: 3
LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN 3
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 3
1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất 3
1.1.1 Khái niệm vật chất 3
1.1.2 Các đặc tính của vật chất 5
1.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức 6
1.2.1 Khái niệm ý thức 6
1.2.2 Kết cấu của ý thức 6
1.2.3 Nguồn gốc của ý thức 7
1.2.4 Bản chất của ý thức 8
1.3 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 8
1.3.1 Vật chất quyết định ý thức 8
1.3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất 9
CHƯƠNG 2: 10
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ 10
GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN 10
ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 10
2.1 Ý nghĩa phương pháp luận 10
2.2 Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay 12
2.2.1 Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để hoạch định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước 13
Trang 22.2.2 Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa
đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước 15 2.2.3 Phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân tố con người trở thành động lực
mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới 16
2.3 Một số giải pháp thúc đẩy quá trình đổi mới ở Việt Nam trên cơ sở vận dụng ý nghĩa
phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 18 Phần 3: KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được hiện nay đã chứng minh sựđúng đắn của Đảng và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việchiện thực hóa đường lối đó Kinh tế tăng trưởng từng bước vững chắc và ngàycàng được cải thiện Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của đạidịch Covid-19, thiên tai, bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độ tăngtrưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm và thuộc nhóm cácnước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới [4, tr 8] Nền dân chủ xã hội chủnghĩa với nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân được khẳng định rõ nét.Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sự thống nhất trong đa dạng đãhình thành Khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nền tảng là liên minh giữa giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ngày càng được củng
cố, thực sự trở thành một động lực quan trọng của đổi mới đất nước… Tuynhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì cũng có những sai lầm trongviệc đề ra chủ trương, đường lối phát triển đất nước và đã dẫn đến những hậuquả đáng nói Một trong những nguyên nhân bắt nguồn từ việc vi phạm nguyêntắc khách quan Với tình hình như vậy việc nắm vững ý nghĩa phương pháp luậncủa mối quan hệ giữa vật chất và ý thức đóng vai trò hết sức quan trọng trongnhận thức và trong hoạt động thực tiễn để vận dụng nó trong sự nghiệp đổi mớicủa Việt Nam hiện nay
Với ý nghĩa đó, sau một thời gian nghiên cứu và học tập, tác giả đã lựa
chọn đề tài “Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ của vật chất và ý thức trong triết học Mác – Lênin đối với quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết thúc môn của mình.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 4Đối tượng nghiên cứu là ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữavật chất và ý thức trong triết học Mác – Lênin đối với quá trình đổi mới ở ViệtNam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu về ý nghĩa phương pháp luậncủa mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới đất nước hiệnnay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của tiểu luận nhằm tìm hiểu ý nghĩa phương pháp luận của mốiquan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Để thực hiện được mục đích trên, tiểu luận tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
- Trình bày khái quát về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
- Trình bày ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng mối quan hệ biện chứnggiữa vật chất và ý thức vào quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay
- Trên cơ sở đó, tiểu luận đề xuất một số biện pháp thúc đẩy quá trình đổimới trên cơ sở vận dụng ý nghĩa của mối quan hệ này
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác – Lênin Đồng thời, tiểu luận còn sử dụng các phương pháp nghiêncứucụ thể như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổnghợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch,… để nghiên cứu làm rõ vấn đề
5 Ý nghĩa của tiểu luận
Ý nghĩa lý luận: làm sáng tỏ thêm nội dung và ý nghĩa phương pháp luậncủa việc vận dụng ý nghĩa đó trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay Từ
đó góp phần làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước
Ý nghĩa thực tiễn: sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâmđến vấn đề này
Trang 56 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luậngồm 2 chương và 6 tiết
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ MỐI
V.I.Lênin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [9, tr 151].
Như vậy, theo V.I.Lênin, vật chất là một phạm trù triết học (khái niệm rộngnhất) để phân biệt nó với vật chất trong các khoa học cụ thể, vật chất thôngthường hàng ngày, với những biểu hiện cụ thể của vật chất có giới hạn, có sinh
ra và có mất đi; còn vật chất theo quan niệm triết học là không sinh ra và khôngmất đi, vô tận, vô hạn Vật cụ thể là vật chất, nhưng vật chất đâu chỉ là nhữngvật cụ thể; vật cụ thể là hữu hình nhưng vật chất đâu chỉ là những vật hữu hình;không vì phát hiện ra một dạng mới của vật chất mà nó tăng lên; ngược lại,
Trang 6không vì một hình thức cụ thể của vật chất mất đi mà nó giảm đi Nó vô tận, vôhạn, không được sinh ra và không mất đi, luôn vận động, biến đổi, chuyển hóakhông ngừng từ dạng này sang dạng khác Ngay ý thức cũng chỉ là một thuộctính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao, đó là bộ óc con người.
Mặt khác, vật chất là thực tại khách quan, tức tồn tại khách quan, ở bênngoài và độc lập với ý thức con người và loài người Thế giới vật chất tồn tạidưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể vô cùng phong phú, đa dạng, nhưngchúng đều có một thuộc tính chung: tồn tại khách quan, ở bên ngoài và độc lậpvới ý thức con người và loài người Nhờ có thuộc tính này đã giúp chúng tanhận thức rõ hơn đâu là vật chất dưới dạng xã hội
Vật chất là thực tại khách quan; nhưng thực tại khách quan này không tồntại một cách trừu tượng, mà bằng cách nào đó (trực tiếp hay gián tiếp) tác độnglên các giác quan của con người và được các giác quan nay nhận biết
Như vậy, định nghĩa này đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết họctrên quan điểm duy vật; khắc phục được những thiếu sót của chủ nghĩa duy vậttrước Mác về vật chất; xác nhận, chứng minh thêm cho tính triệt để của chủnghĩa duy vật; và có ý nghĩa định hướng đối với các khoa học cụ thể trong việctìm kiếm những dạng hoặc các hình thức mới của vật chất
Trang 7mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”[7, tr 751].
Vận động có nhiều hình thức, trong đó có năm hình thức vận động cơ bản:vận động cơ học (sự di chuyển của các vật trong không gian); vận động vật lý(vận động của các phần tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt,điện…); vận động hoá học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hoà hợp
và phân giải các chất) vận động sinh vật (trao đổi chất giữa cơ thể sống và môitrường); vận động xã hội (sự biến đổi, thay thế của các hình thái kinh tế xã hội).Vận động là thuộc tính cố hữu của sự vật Không thể có vận động bên ngoài vậtchất Vận động không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được, do đó vậnđộng được bảo toàn cả về số lượng lẫn chất lượng Các hình thức vận độngchuyển hoá kín nhau, còn vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn tồn tạicùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất Mặc dù vật chất vận động khôngngừng, nhưng điều đó không loại trừ mà bao hàm cả sự đứng im tương đối.Không có hiện tượng đứng im tương đối thì không có sự phân hoá thế giới vậtchất thành các sự vật, hiện tượng phong phú và đa dạng Đứng im là tương đối,tạm thời, nó biểu hiện một trạng thái vận động trong thăng bằng
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
Không gian biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau,biểu hiện quảng tính của chúng, trật tự phân bổ chúng Còn thời gian phản ánhthuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm, kế tiếp nhau theomột trật tự nhất định Lênin đã chỉ ra trong thế giới, không có gì ngoài vật chấtđang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoàikhông gian và thời gian
1.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức
1.2.1 Khái niệm ý thức
Trang 8Đứng vững trên lập trường duy vật với phương pháp biện chứng triết họcMác - Lênin khẳng định rằng ý thức là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức
cao nhất là bộ óc người, ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan của con người thông qua lao động và ngôn ngữ Mác nhấn mạnh rằng tinh thần ý thức
chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào bộ óc của con người và được cảibiến đi trong nó Óc người là khí quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năngcủa bộ óc người Mối quan hệ giữa bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức
là không thể tách rời Tất cả mọi quan điểm tách rời hoặc đồng nhất ý thức với
óc người đều dẫn đến quan điểm duy tâm thần bí hoặc duy vật tầm thường Ýthức là chức năng của bộ óc người hoạt động bình thường
1.2.2 Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm:
Theo chiều ngang: tri thức ,tình cảm, lý chí, niềm tin Trong đó tri thức làquan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức Tri thức là phương thức tồntại của ý thức vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết vớiquá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên
Theo chiều dọc: tự ý thức, tiềm thức, vô thức Trong đó tự ý thức cũng làmột thành tố quan trọng của ý thức Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bảnthân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài Khi phản ánh thế giớikhách quan, con người tự phân biệt mình, đối lập mình với thế giới đó và tựnhận thức mình là một thực thể hoạt động, có cảm giác, có tư duy, có các hành
vi đạo đức và có vị trí trong xã hội
1.2.3 Nguồn gốc của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức có 2 nguồn gốc: tự nhiên
và xã hội
Trang 9Nguồn gốc tự nhiên
Bao gồm 2 yếu tố: bộ óc của con người và sự tác động của hoàn cảnhxung quanh, của thế giới bên ngoài lên bộ óc con người để bộ óc con người phảnánh
Bộ óc người có cấu tạo vô cùng phức tạp, bao gồm hàng tỷ tế bào thầnkinh liên hệ chằng chịt, mật thiết với nhau Bộ óc con người chính là cơ sở, nềntảng vật chất của ý thức Hoạt động của ý thức diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh
lý thần kinh của bộ óc, phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc Như vậy, muốn có ýthức phải có bộ óc người – nguồn gốc đầu tiên của ý thức
Nhưng nếu chỉ có bộ óc người thôi thì chưa đủ mà cần phải có quá trìnhtác động của hoàn cảnh xung quanh lên bộ óc để bộ óc phản ánh Phản ánh là sựlưu giữ và tái tạo những đặc điểm của một sự vật này ở một sự vật khác trongquá trình tác động qua lại giữa chúng Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của
sự phản ánh, chỉ nảy sinh và xuất hiện ở bộ óc người Bộ óc người là cái phảnánh, nhưng nếu không có thế giới bên ngoài tác động lên các cơ quan cảm giác
và qua đó đến bộ óc, tức không có cái được phản ánh thì hoạt động ý thức cũngkhông xảy ra, tức không thể có ý thức
Nguồn gốc xã hội
Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ
óc con người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại, qua lao động conngười bắt thế giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình và con người có thể phảnánh được thế giới khác quan, mới có ý thức về thế giới đó Lao động là quá trìnhtác động qua lại giữa con người với thế giới khách quanvà kết quả đã hình thànhnhững tri thức về tự nhiên và xã hội Như vậy ý thức được hình thành chủ yếu
Trang 10do hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người, làm biến đổi thế giớiđó.
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành Ngônngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ thì
ý thức không thể tồn tại và thể hiện được
Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triểncủa ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là mộthiện tượng xã hội
1.2.4 Bản chất của ý thức
Bản chất của ý thức, được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, ý thức suy cho cùng là sự phản ánh hiện thực khách quan vào
trong đầu óc con người, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, là hìnhảnh tinh thần của vật chất bên ngoài, nó “không bao giờ có thể là cái gì khác hơn
là sự tồn tại được ý thức” [6, tr 37]
Thứ hai, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con
người một cách năng động, sáng tạo, chủ động, tích cực (tức không phải là bảnsao chép giản đơn, thụ động, máy móc) Nó “chẳng qua chỉ là vật chất được đemchuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” [8, tr 35].Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra vô cùng phong phú Trên cơ sở cái đã có, ýthức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không
có trong thực tế Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai (phản ánh vượt trước), cóthể tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết,…những cái đócàng nói lên tính chất phức tạp và phong phú của ý thức bên trong đầu óc conngười
Trang 11Lưu ý rằng, tính sáng tạo của ý thức không có ý nghĩa ý thức sinh ra vậtchất, mà sáng tạo trên cơ sở của quy luật phản ánh Do đó, sáng tạo và phản ánh
là hai mặt thuộc bản chất của ý thức
Thứ ba, sự phản ánh của ý thức là mang tính chất xã hội, bởi lẽ, ý thức
không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy, mà theo C.Mác, “ngay từ đầu,
ý thức đã là một sản phẩm của xã hội, bắt nguồn từ thực tiễn xã hội, phản ánhnhững quan hệ xã hội, và vẫn là như vậy, chừng nào con người còn tồn tại” [6,
tr 43]
1.3 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức
1.3.1 Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất, vật chất sinh ra ý thức vì ý thức là thuộc tính của một dạng vật
chất có tổ chức cao là bộ óc người Bản thân con người là kết quả tiến hóa lâudài của giới tự nhiên
Thứ hai, vật chất quy định nội dung của ý thức bởi lẽ ý thức dưới bất kỳ
hình thức nào, suy cho cùng, là phản ánh hiện thực khách quan
Thứ ba, mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến
đổi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổitheo
Thứ tư, vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội được biểu
hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, đời sống vật chất đối với đời sốngtinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
1.3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức nghĩa là ý thức không thể chi
phối hoàn toàn cái sản sinh ra nó (vật chất), nó vừa là sản phẩm, phụ thuộc vật