1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đặc trưng Thi pháp Thơ Đường

35 714 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Đình Sử GV Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội:« Nếu hiểu thi pháp là học vấn về ngôn từ văn chương, thể thức, biện pháp tổ chức thể loại tác phẩm thì thi pháp đã tồn tại ở Việt N

Trang 1

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM

Đề tài:

Đặc trưng Thi pháp Thơ Đường

Trang 4

I.Đặt vấn đề:

- Ðường Luật không phải do một cá nhân hay một nhóm thi

nhân cao hứng đặt ra theo sở kiến, sở thích của mình, mà

chính là sự đúc kết những kinh nghiệm kỹ thuật lâu đời đã

thành công, và điển chế những thành công ấy làm khuôn phép chung cho làng thơ

- Nước Việt Nam chúng ta có thơ từ nghìn xưa Và thể thơ

thông dụng nhất lá thể Lục Bát và Thể Vè 3, 4 và 5 chữ giản dị

và tự do Mãi đến đời nhà Trần (1225-1400), Hàn Thuyên mới dùng thể Ðường luật để làm thơ Nôm Thi nhân đương thời

nhiệt liệt hưởng ứng và từ đời Trần, sang đời Lê đến đời

Nguyễn, thể Ðường luật được thịnh hành trong làng thơ Quốc

âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong trường khoa cử Thơ quốc âm, cũng như trong làng thơ chữ Hán và trong

trường khoa cử Thơ quốc âm làm theo thể Ðường luật, cổ

nhân gọi là thơ Hàn Luật

Trang 5

II.TÌM HIỂU VẤN ĐỀ:

1.Thi pháp thơ là gì?

Thuật ngữ "Thi pháp" hiện có hai nghĩa Hiểu theo nghĩa

rộng, đó là những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật, cách lựa chọn đề tài, cách biểu hiện chủ đề , tư tưởng, phương pháp, phong cách nghệ thuật v.v của một tác phẩm văn học hoặc của một tác giả; từ đó, thấy rõ sự khác biệt giữa tác phẩm này hoặc tác giả này với tác phẩm kia hoặc tác giả kia

Ví dụ ta nói: thi pháp bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, thi pháp Truyện Kiều, thi pháp Thơ Tố Hữu, thi pháp nhà văn Nam Cao v.v Nghĩa thứ hai mà ta hiểu, đó là nghĩa hẹp, tức

là Luật làm thơ, là phương pháp, cách thức hay còn gọi là

kĩ thuật làm thơ Ví dụ: đặc điểm và cách làm thơ lục bát, thơ Đường luật, thơ tự do v.v

Trang 6

Theo GS.TS Trần Đình Sử (GV Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội):

« Nếu hiểu thi pháp là học vấn về ngôn từ văn

chương, thể thức, biện pháp tổ chức thể loại tác phẩm thì thi pháp đã tồn tại ở Việt Nam từ trong những sáng tác đầu tiên của dân gian và văn học viết bằng chữ Hán, rồi được phản ánh vào các bộ tuyển thơ văn, bắt đầu từ Việt âm thi tập của Phan Phu Tiên thế kỉ XV Đó là một truyền thống thi

pháp quy phạm, bất biến và quy phạm hoá.»

Như vậy, có thể xem thi pháp thơ chính là biểu hiện của nội dung và nghệ thuật được tác giả sử

dụng trong tác phẩm của mình.

Trang 7

2.Thi pháp Thơ Đường

2.1.Nội dung:

2.1.1.Không gian hình tượng trong thơ Đường

- Không gian trong thơ Đường là loại không gian hình tượng

vì khi miêu tả về nó các tác giả luôn luôn tìm cách đồng nhất

các sự kiện, biến cái hữu hạn thành cái vô hạn

«Phong cấp thiên cao viên khiếu ai

Chử thanh sa bạch điểu phi hồi

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ

Bất tận Trường Giang cổn cổn lai»

<Đăng Cao – Đỗ Phủ>

Đỗ Phủ đã biến cái hưũ hạn thành cái vô hạn bằng cách nhìn

chúng trong một không gian ba chiều Tất cả tạo nên vũ trụ

mênh mông Trong không gian ba chiều ấy, rừng cây và dòng sông hòa vào trời cao làm thành vũ trụ mênh mông, choáng

ngợp

Trang 8

2.1.2 Phương thức chiếm lĩnh không gian của các nhà thơ Đường

Thường hướng đến việc chiếm lĩnh không gian

theo bề cao chứ không phải theo bề rộng Bề cao mang đến sự cảm nhận về chiều sâu, thăm thẳm và đầy bí ẩn, không phải nghe là biết, nhìn là hiểu.

Cho thấy đặc trưng của thơ Đường: bình dị mà sâu sắc, đơn giản ngắn gọn mà trầm lắng sâu xa

Trang 9

«Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.»

<Hoàng Hạc lâu - Thôi Hiệu>

Thôi Hiệu không đứng từ xa để nhìn và làm thơ về lầu Hoàng Hạc, không miêu tả để làm nổi bật nó với những gì xung quanh, mà đứng ngay trên lầu để miêu tả mọi thứ xung quanh, qua đó lầu Hoàng Hạc hiện lên một cách gián tiếp.Giữa hai phương thức để miêu tả, một nhìn lên để trông thấy,một nhìn xuống để tầm nhìn mở rộng hơn.Thôi Hiệu

đã chọn cách thứ hai để miêu tả lầu Hoàng Hạc.Điều đó chứng tỏ thói quen chiếm lĩnh không gian theo chiều cao trong thơ Đường.Phương thức chiếm lĩnh ấy phổ biến trong phong cách chung của thơ Đường

Trang 10

2.1.3 Thơ Đường có sức khái quát cao, hàm ý súc tích:

Thơ Đường mang “ý tại ngôn ngoại” Một

bài thơ chỉ vẻn vẹn có 28 chữ hoặc 56 chữ

nhưng đã nói được rất nhiều điều: vừa có tình cảm của nhà thơ, vừa là sự suy ngẫm về cuộc đời, là tiếng nói tố cáo xã hội,cũng có thể là bức tranh tuyệt vời theo bút pháp: Thi trung hữu họa

Trang 11

«Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu Yên hoa tam nguyện há Dương Châu

Cô phàm viễn cảnh bích không tận

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu»

(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

Bài thơ là bức tranh thiên nhiên phóng khoáng cao rộng, hơn thế là bức tranh sơn thủy thật tuyệt vời.Lý Bạch tả cảnh nơi đưa tiễn bạn, nhưng cảnh ấy lại thấm đẫm nỗi buồn đau Cái tài của Lí Bạch không chỉ dừng lại ở việc tả cảnh ngụ tình Cảnh trong thơ Lí Bạch vẫn đẹp, vẫn tươi vui nhưng vẫn nói lên được cái buồn,thêm nữa lại được phát huy trong bút pháp thi trung hữu họa, chỉ vài nét đơn sơ mà vẽ được tình cảnh thần diệu vừa hài hòa, vừa sinh động

Trang 12

2.1.4 Thiên nhiên tràn ngập trong thơ

Đường là một thứ thiên nhiên khái quát:

- Thiên nhiên tràn ngập trong thơ Đường bởi các thi nhân có khuynh hướng dùng cảnh ngụ tình

- Nhưng nhìn ở một góc độ khác, thiên nhiên trong thơ Đường lại là một thiên nhiên khái quát Trong thơ Đường thiên nhiên ngập tràn và hầu như tuân theo một quy luật bất thành văn: đi từ cái rộng lớn đến cái nhỏ Khi thiên nhiên xuất hiện trong tác phẩm thì nó phải được hiểu là trời cao, bao la vô tận, mây trắng bay gợi khoảng không vô tận

Cảnh trong thơ bao giờ cũng hiện ra dưới mắt người đọc thật hùng vĩ mênh mông và khoáng đạt Cảnh bao giờ cũng có tầm cao để thấy con người nhỏ bé Thiên nhiên luôn mang một

bề rộng đến bao la vô tận để con người cảm thấy mình cô độc,

lẻ loi vô cùng giữa cuộc đời này

Trang 13

2.2: Khuynh hướng:

- Có 4 giai đoạn: Sơ Đường (khoảng 618 - 713), Thịnh

Đường (khoảng 713 - 766), Trung Đường (khoảng 766 - 835), Vãn Đường (khoảng 835 - 907) Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là "Tứ kiệt" Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương, Vương Bột đã đổi được phần nào

phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước (Lục triều)

- Tới Trần Tử Ngang thì mới có phong trào đổi mới thi

ca theo tinh thần phong nhã của "Kinh thi" và "phong cốt Hán Nguỵ", chủ trương làm thơ phải có "kí thác", nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều,

và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường

Trang 14

- Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang làm thơ "kí thác" đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội Ba đại biểu lớn là Lý Bạch (Li Bai), Đỗ Phủ (Du Fu) và Bạch Cư Dị (Bai Juyi) Màu sắc phong cách

của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, người theo đạo Nho, người theo đạo Phật hoặc theo Lão Trang

- Có loại thơ "biên tái" [Cao Thích (Gao Shi), Sầm Tham (Cen Can)], thơ "điền viên" [Vương Duy (Wang Wei),

Mạnh Hạo Nhiên (Meng Haoran)], thơ "tân nhạc phủ"

(Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn), thơ "chính nhạc phủ" đời

Vãn Đường [Bì Nhật Hưu (Pi Rixiu), Đỗ Tuấn Hạc (Du

Xunhe)], theo khuynh hướng hiện thực của Đỗ Phủ và

Bạch Cư Dị Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật (x Thơ luật Đường), thơ cổ phong (x Cổ phong) và nhạc phủ (x Nhạc phủ)

Trang 15

2.3 Hình thức, nghệ thuật:

2.3.1: Luật

*Đối âm:

Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc,

và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay

không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có "luật bằng"; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có "luật trắc" Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi

"thất luật"

Trang 17

#Luật vần trắc:

Nhớ bạn phương trời - Trần Tế Xương

«Ta nhớ người xa cách núi sông

Trang 18

*Đối ý:

Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường là ý

nghĩa của hai câu 3 và 4 phải "đối" nhau và hai câu

5, 6 cũng "đối" nhau Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) nhưng bao gồm cả sự tương đương trong cách

dùng các từ ngữ Đối chữ; danh từ đối danh từ,

động từ đối động từ Đối cảnh; trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh Nếu một bài thơ Đường mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không

đối nhau thì bị gọi "thất đối".

Trang 19

Ví dụ:

«Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà»

- "Lom khom" >< "lác đác"

(hình thể và số lượng - thực ra hai câu này chưa

phải đối hoàn chỉnh),

- "dưới núi" >< "bên sông" (vị trí địa hình)

- từ láy âm "lom khom" chỉ dáng người của câu trên "lác đác" chỉ số lượng của câu dưới

Trang 20

2.3.2: Niêm

Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là "những câu niêm với nhau" (niêm = giữ cứng,

ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật) Hai câu thơ

niêm với nhau khi nàochữ thứ nhì của hai câu cùng theo

một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra

bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ suất mà làm

thành không niêm thì bài đó bị gọi là "thất niêm".

Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:

- câu 1 niêm với câu 8

- câu 2 niêm với câu 3

- câu 4 niêm với câu 5

- câu 6 niêm với câu 7

Trang 21

Ví dụ: Xét trong bài thơ Qua đèo Ngang, hai câu thứ 2 và thứ 3:

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo xèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ, âu đành phận Năm nắng mười mưa, dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!

Có chồng hờ hững cũng như không!

<Thương vợ - Trần Tế Xương>

Trang 22

Thất niêm:

Trong một bài thơ, nếu cả câu thơ đặt sai

luật, như đáng lẽ bắt đầu bằn bằng, bằng mà đặt lại làm trắc, trắc hoặc ngược lại làm cho các

câu thơ không niêm với nhau thì gọi là thất

niêm (mất sự kết dính)

- Trong thơ Đường luật Việt Nam trung đại

có khá nhiều bài thơ thất niêm, trong đó nổi

tiếng hơn cả là Độc Tiểu Thanh ký – Nguyễn

Du (Hán) và Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương

(Nôm).

Trang 23

Chẳng hạn xét 1 ví dụ nhỏ về thất niêm trong bài thơ Đèo

Ba Dội của Hồ Xuân Hương:

Một đèo, một đèo, lại một đèo,

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,

Hòn đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

Hiền nhân, quân tử ai là chẳng

Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo

Bài thơ thất niêm ở chữ thứ hai của dòng 1: đèo, đáng lẽ nó phải mang thanh trắc để tương xưng với gối (chữ 2 câu 8), nó

thất niêm vì nữ sĩ đã tránh từ tục mà nói chệch đi, vì vậy, từ bị biến thanh, bị làm cho chệch đi, để người đọc nhận thấy mà

chuyển đổi, đưa nó về nguyên dạng!

Trang 24

2.3.3: Vần

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và

8 Những câu này được gọi là "vần với nhau" Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống

nhau về vần thì được gọi "thất vận"

Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là "vần chính",

những chữ có vần gần giống nhau gọi là "vần thông" Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ

Ví dụ: hai câu 1, 2 trong bài Qua đèo Ngang của

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

hai chữ "tà" và "hoa" được xem là vần với nhau, nhưng ở đây

là "vần thông" vì chỉ phát âm gần giống nhau

Trang 25

2.3.4: Bố cục

Bố cục một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo

truyền thống thường được chia gồm 4 phần: Đề, Thực (hoặc Trạng), Luận, Kết "Đề" gồm 2 câu đầu trong đó câu đầu tiên gọi là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý

để đi vào phần sau "Thực" gồm 2 câu tiếp theo, giải thích rõ ý đầu bài "Luận" gồm 2 câu tiếp theo nữa, bình luận 2 câu thực

"Kết" là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài, trong đó câu số 7 là câu "thúc" (hay "chuyển") và câu cuối là "hợp"

Có người cho rằng Hai câu đề giới thiệu về thời gian,

không gian, sự vật, sự việc Hai câu thực trình bày, mô tả sự vật, sự việc Hai câu luận diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc về

sự vật, hiện tượng Hai câu kết khải quát toàn bộ nội dung bài theo hướng mở rộng và nâng cao

Trang 26

Một quan niệm khác áp dụng cấu trúc 2-4-2 cho bài thơ thất ngôn bát cú Theo đó quan niệm này đứng ở góc độ không gian-thời gian nghệ thuật để khảo sát toàn bài dựa theo logic hai câu đầu và hai câu cuối bài thơ Đường luật thường yếu tố thời gian

chiếm vị trí chủ đạo, còn bốn câu giữa trật tự không gian là chủ đạo và tác giả dường như dừng lại để quan sát sự vật

Hiện nay, các nhà nghiên cứu có xu hướng không cố tìm

quy luật chung về bố cục để áp dụng trong hàng loạt bài thơ mà

áp dụng quan điểm nghiên cứu đã có từ thời Minh mạt Thanh sơ

ở Trung Hoa, quan điểm bám sát và tuân thủ cách phân chia bố cục của từng bài thơ theo mạch cảm xúc của thi nhân biểu hiện trong bài Một ví dụ là bài thơ hết sức nổi tiếng Qua đèo Ngang

củaBà Huyện Thanh Quan hoàn toàn có thể được phân tách

theo bố cục 1/6, hoặc bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến

có thể bố cục 6/1 hoặc 1/5/1

Trang 27

mà mỗi bài thơ thường có tám câu, mỗi câu 7 chữ, tuân theo các quy tắc hết sức chặt chẽ

Trang 28

2 Các quy tắc:

a/ Dàn ý: thông thường chia làm 4 phần:

_ Đề (câu 1 – 2): Câu thứ nhất là câu phá đề (mở ý

cho đầu bài) Câu thứ hai là câu thừa đề (tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài).

_ Thực (câu 3 – 4): Còn gọi là cặp trạng, nhiệm vụ

giải thích rõ ý chính của đầu bài.

_ Luận (câu 5 – 6): Phát triển rộng ý đề bài.

_ Kết (hai câu cuối): Kết thúc ý toàn bài.

b/ Vần: thường được gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 c/ Ngắt nhịp: thường ngắt nhịp 2/2/3; 4/3.

Trang 29

d/ Đối: Có 2 cặp đối: Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối

với câu 6, đối ở 3 mặt: đối thanh, đối từ loại và đối nghĩa Nghĩa có thể đối một trong hai ý: đối tương hổ hay đối tương phản.

e/ Niêm: Câu 1 niêm với câu 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7,

tạo âm điệu và sự gắn kết giữa các câu thơ với nhau.

f/ Luật bằng trắc: thường căn cứ vào tiếng thứ hai

trong câu một Nếu tiếng thứ hai là thanh bằng ta nói bài thơ ấy viết theo luật bằng; nếu tiếng thứ hai là

thanh trắc ta nói bài thơ viết theo luật trắc Luật bằng trắc trong từng câu quy định: Nhất, tam, ngũ bất luận Nhị, tứ, lục phân minh.

Trang 30

Câu 1: Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,

<Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

- Phan Bội Châu.>

Trang 31

để lại nhiều bài thơ có giá trị và trong quá trình sử dụng

đã dân tộc hoá thể thơ này về nhiều phương diện.

Trang 32

2.4.2 Thất ngôn tứ tuyệt:

Thực chất là một bài "thất ngôn bát cú" đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối Luật bằng trắc và niêm, vần vẫn giữ nguyên, có thể bỏ luật đối ở hai câu 3, 4 hoặc 5, 6 Lúc này nó

sẽ thành một bài thơ "bốn câu ba vần" mà Nguyễn Du đã nhắc trong truyện Kiều

Từ buổi thuyền đưa khách thuận

dằm

Trông chừng bến cũ biệt mù tăm

Cảm thương chiếc lá bay theo gió

Riêng nhớ tình xưa ghé đến thăm

Từ trong cuộc sống vốn náo nhiệt

Trông ra thiên hạ chẳng ai hơn

Cảm mến một tình thân vĩnh cửu Riêng một nỗi lòng gió đưa trăng Trăng rằm nghe tiếng bạn ta nói Trong lúc sương tàn dế im hơi Tỉnh ra thì cũng trời đã rạng Mong nhớ một ngày biệt mù tăm

<Quách Tấn>

Ngày đăng: 29/06/2020, 10:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.1.Không gian hình tượng trong thơ Đường - Đặc trưng Thi pháp Thơ Đường
2.1.1. Không gian hình tượng trong thơ Đường (Trang 7)
2.3. Hình thức, nghệ thuật: 2.3.1: Luật - Đặc trưng Thi pháp Thơ Đường
2.3. Hình thức, nghệ thuật: 2.3.1: Luật (Trang 15)
(hình thể và số lượng - thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), - Đặc trưng Thi pháp Thơ Đường
hình th ể và số lượng - thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), (Trang 19)
thuật. Hình tượng thơ không còn là  tứ thơ tư tưởng  mà là hình ảnh biểu cảm  (như hình ảnh trong ca dao) - Đặc trưng Thi pháp Thơ Đường
thu ật. Hình tượng thơ không còn là  tứ thơ tư tưởng  mà là hình ảnh biểu cảm  (như hình ảnh trong ca dao) (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w