Nó không chỉ giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp, tính nhân văn về một thành tựu văn học xưa mà còn giúp các thế hệ tương lai có một định hướng đúng đắn trên con đường tiếp thu
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh, người đã tận tình hướng dẫn tôi
thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô giáo đã giảng dạy và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học
tập
Xin chân thành cảm ơn khoa Khoa học xã hội, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè
đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực
hiện khóa luận
Tác giả
Võ Hoàng Ngọc Hân
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh - Giảng viên trường Đại học Quảng Bình Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng tài liệu của các tác giả, tôi đã trích đầy đủ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Tác giả
Võ Hoàng Ngọc Hân
Trang 31 Lí do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.
2 Lịch sử vấn đề Error! Bookmark not defined.
3 Mục đích nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined 4.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 4.2 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
6 Đóng góp của đề tài Error! Bookmark not defined.
7 Cấu trúc đề tài Error! Bookmark not defined Chương 1 THI PHÁP VÀ THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG Error! Bookmark not defined 1.1 Thơ Đường - đỉnh cao của thơ cổ điển Trung QuốcError! Bookmark not defined.
1.1.1 Sự phát triển của thơĐường Error! Bookmark not defined 1.1.2 Sự phong phú đa dạng của thơ Đường Error! Bookmark not defined 1.2 Thi pháp thơ Đường Error! Bookmark not defined 1.2.1 Thi pháp và thi pháp học Error! Bookmark not defined 1.2.2 Các phương diện trong thi pháp thơĐường Error! Bookmark not defined.
Chương 2 THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG QUA CÁC TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Error! Bookmark not defined.
2.1 Khảo sát những tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ văn trung học phổ
thông Error! Bookmark not defined 2.2 Thi pháp thơ Đường qua các tác phẩm trong nhà trường phổ thông Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người Error! Bookmark not defined 2.2.1 Không gian và thời gian nghệ thuật Error! Bookmark not defined.
Trang 42.2.3 Thể loại và kết cấu Error! Bookmark not defined 2.2.4 Ngôn ngữ Error! Bookmark not defined.
Chương 3:ỨNG DỤNG THI PHÁP HỌC VÀO GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG Error! Bookmark not defined 3.1 Vấn đề dạy học các tác phẩm thơ Đường trong trường THPT hiệnnay Error! Bookmark not defined.
3.1.1 Thuận lợi Error! Bookmark not defined 3.1.2 Khó khăn Error! Bookmark not defined 3.1.2.1.Về phía người học Error! Bookmark not defined 3.1.2.2.Về phía người dạy Error! Bookmark not defined 3.1.3 Một số giải pháp và kiến nghị Error! Bookmark not defined.
3.2 Ứng dụng thi pháp học vào thiết kế một số bài giảng thơ Đường trong chương
trình Ngữ văn trung học phổ thông Error! Bookmark not defined 3.2.1 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng LăngError! Bookmark not defined.
3.2.2 Thu hứng Error! Bookmark not defined 3.2.3 Hoàng Hạc lâu Error! Bookmark not defined 3.2.4 Khuê oán Error! Bookmark not defined 3.2.5 Điểu minh giản Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Là một đất nước với bề dày lịch sử văn hóa lâu đời, Trung Quốc có những thành tựu vô cùng rực rỡ về văn học Văn học Trung Quốc phát triển với nhiều loại hình đa dạng, chứa đựng những giá trị to lớn về nội dung và nghệ thuật, đóng góp vào tiến trình vận động và phát triểu của nền văn học thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa, văn học Trung Quốc có một vai trò quan trọng và cần thiết trong trong hành trình chiếm lĩnh vốn tri thức nhân loại nói chung và văn học nói riêng
Thơ Đường là một mốc son chói lọi trên hành trình vận động và phát triển của nền văn học Trung Quốc nói riêng, thi ca nhân loại nói chung Nhắc đến thời Đường, thế giới đương thời coi đây là một triều đại tiên tiến, văn minh của nhân loại trên mọi lĩnh vực Đặc biệt văn học thời kì này (mà cụ thể là thơ ca) được ví như là đỉnh cao sáng chói của mấy nghìn năm lịch sử Văn học Trung Quốc Mỗi bài thơ Đường là một bức tranh sống động với các màu sắc hài hòa, có âm vang kỳ diệu và sức truyền cảm tuyệt vời, gợi mở, quyến rũ, để lại những suy tư trầm lắng và rung động không nguôi
Thời đại nhà Đường đã thuộc về quá khứ theo dòng chảy của thời gian, thế nhưng những giá trị tinh thần mà nó để lại cho đất nước Trung Hoa và nhân loại sẽ trường tồn mãi mãi Mỗi bài thơ là một viên ngọc quý mà khi nhìn, dù ở góc độ nào cũng thấy nó tỏa sáng lung linh Chính vì thế các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu từ trước đến nay không ngừng tìm hiểu, tiếp cận thơ Đường từ nhiều góc độ khác nhau Càng tìm hiểu, thơ Đường lại càng toát lên một sắc thái, một nội dung độc đáo hơn, sâu sắc hơn tựa như chân trời mới cần khám phá
Trong giai đoạn hiện nay, khi vấn đề hội nhập, toàn cầu hoá đang là mối quan tâm của toàn xã hội thì việc giảng dạy văn học nước ngoài ở trường phổ thông nói chung và thơ Đường nói riêng trở nên có ý nghĩa Thơ Đường từ lâu được đưa vào chương trình Ngữ văn ở nhiều bậc học đã phản ánh vị trí quan trọng của nó Nó không chỉ giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp, tính nhân văn về một thành tựu văn học xưa mà còn giúp các thế hệ tương lai có một định hướng đúng đắn trên con đường tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, sáng tạo ra những giá trị tốt đẹp hơn, tự tin hơn để hoà nhập với xu thế phát triển của thời đại
Những tác phẩm Đường thi được đưa vào chương trình Ngữ văn là những thi phẩm nổi tiếng, có tầm ảnh hưởng với thơ ca, có giá trị nhân văn sâu sắc và hơn hết là
Trang 6nghệ thuật đặc sắc
Vì những lí do trên, vì lòng ngưỡng mộ, sự yêu thích những tác phẩm thơ
Đường, người viết triển khai đề tài: Thi pháp thơ Đường trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu thơ Đường dưới góc nhìn thi
pháp, đồng thời ứng dụng vào việc giảng dạy thơ Đường trong trường phổ thông Qua
đó hiểu được những đặc sắc của thơ Đường, có được cái nhìn toàn diện hơn về một thời đại rực rỡ của thi ca Trung Quốc
2 Lịch sử vấn đề
Là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc, thơ Đường chứa đựng những giá trị vô cùng to lớn về nội dung cũng như nghệ thuật Đến với thơ Đường không phải chỉ là một cuộc dạo chơi trong lúc trà dư tửu hậu, mà còn để nhìn thấy sự cấu tạo và bản chất của cái đẹp Cho đến nay, có không ít công trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ Đường, thi pháp thơ Đường dưới nhiều những góc độ khác nhau
Nhóm các tác giả Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử trong Về thi pháp thơ Đường (NXB Đà Nẵng, 1996) đã dịch và nghiên cứu các phạm trù về thi pháp thơ
Đường như yếu tố không gian, thời gian, các vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật, về trình tự phân tích một bài thơ bát cú Đường luật, pháp thơ ca Trung Quốc,
Quách Tấn, nhà thơ được mệnh danh là người giữ đền thơ Đường luật đã lưu lại
cho chúng ta một công trình nghiên cứu mang tiêu đề Thi pháp thơ Đường (NXB Trẻ, 1998) Ông giới thiệu bài biên khảo Thi pháp thơ Đường qua hình thức những bức thư,
luật thi được diễn giải một cách tỉ mỉ trong công trình tâm huyết của mình với hi vọng những người yêu thích thơ Đường hiểu và sáng tác thơ theo lối Đường thi hiệu quả nhất
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong luận án tiến sĩ Thi pháp thơ Đường (NXB
Giáo dục, 1997) đã chỉ một cách cụ thể và sâu sắc các phương diện trong thi pháp thơ Đường như: con người trong thơ Đường, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại và kết cấu, ngôn ngữ thơ Đường
Trong cuốn Giáo trình Văn học Trung Quốc (NXB Đại học Huế, 1994) mục Thơ Đường, tác giả Lương Duy Thứ viết về nguồn gốc của thơ Đường một cách rõ
ràng, cụ thể Thơ đã phát triển đến đỉnh cao, ghi dấu ấn một thời đại hoàng kim của
thơ ca Trung Quốc Tác giả cho rằng: Thơ Đường là "tập đạị thành" (thành tựu trung
tâm tiêu biểu) của thơ ca cổ điển Trung Quốc Thơ Đường là sự chưng cất của 12 thế
Trang 7kỉ thơ (từ Kinh Thi, Sở Từ, qua thời Kiến An, thơ Đào Tiềm…) Nó tồn tại xuyên suốt, không gián đoạn Sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của thơ Đường một cách rực rỡ
có hơn 2300 nhà thơ và 50000 bài thơ còn lại làm cho thơ Đường trở thành tuyệt đỉnh vinh quang của thơ ca Trung Quốc và trở thành thành tựu bật nhất của văn hóa nhà
Đường theo truyền thống " thi ngôn chí" (thơ nói chí), "thi ngôn tình" ( thơ thể hiện
tình)
Công trình nghiên cứu Thơ Đường ở trường phổ thông (NXB Văn Nghệ HCM,
1995) của Hồ Sĩ Hiệp cũng đã đi sâu nghiên cứu thơ Đường và các tác phẩm thơ Đường trong nhà trường phổ thông về những vấn đề như tác giả, tác phẩm, đặc sắc nội dung và thi pháp
Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 10 (NXB Giáo dục, 2013) của GS Nguyễn Khắc Phi, Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ truyệt đời Đường (NXB Văn học, 1996) của Nguyễn Sĩ Đại, cũng là những công trình đề cập đến các bình
diện về nội dung, nghệ thuật và một số đặc trưng thi pháp thơ Đường
Nhìn chung, yếu tố thi pháp thơ Đường đã được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, với khả năng và phạm vi nghiên cứu của bản thân, chúng tôi thấy hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu về yếu tố thi pháp thơ Đường trong việc ứng dụng vào giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông một cách bài bản và có hệ thống Chúng tôi xem các bài viết, các công trình nghiên cứ trên là những ý kiến quý báu, những gợi ý có ý nghĩa để chúng tôi có thể tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, người viết nhằm mục đích: tìm hiểu, đi sâu nghiên cứu thơ Đường dưới góc nhìn thi pháp các thi phẩm trong chương trình Ngữ văn cơ bản ở trường phổ thông, đồng thời ứng dụng vào việc giảng dạy thơ Đường trong nhà trường Mặt khác, có được cái nhìn toàn diện hơn về văn học Trung Quốc nói chung
và thơ Đường nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thi pháp thơ Đường ở nhà trường phổ thông, đề tài tập trung khảo sát dựa trên bình diện quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại, kết cấu và ngôn ngữ
Trang 84.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông theo chương trình hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phương pháp khảo sát, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình, phương pháp đối chiếu - so sánh, phương pháp xã hội học
6 Đóng góp của đề tài
Từ kết quả của việc nghiên cứu thi pháp thơ Đường qua các tác phẩm ở nhà trường phổ thông, đề tài góp một phần nhỏ vào việc tiếp nhận các tác phẩm thơ Đường trong nhà trường, góp thêm một tiếng nói mới giúp cho người đọc thấy được những đặc sắc, những thành tựu rực rỡ của thơ Đường nói riêng và văn học Trung Quốc nói chung
Trang 9Chương 1 THI PHÁP VÀ THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG 1.1 Thơ Đường - đỉnh cao của thơ cổ điển Trung Quốc
1.1.1 Sự phát triển của thơ Đường
Thế giới đương thời coi nhà Đường như một triều đại tiên tiến, văn minh của nhân loại trên mọi lĩnh vực Đặc biệt thơ ca thời kỳ này được ví như đỉnh cao chói sáng của mấy nghìn năm lịch sử văn học Trung Quốc Mỗi bài thơ Đường như một bức tranh sống động với các màu sắc hài hòa, âm vang diệu kì và sức truyền cảm, sức gợi đến thẳm sâu lòng người, để lại những trầm tư sâu lắng và rung động không nguôi
Gần 300 năm tồn tại (618 - 907), thơ Đường đã làm rạng rỡ nền thi ca với sự
kinh ngạc về con số hơn 2300 nhà thơ, 48900 bài thơ ( bộ Toàn Đường thi đã tập hợp) Con số thực của thơ Đường chắc còn lớn hơn bởi lẽ bộ Toàn Đường thi được
sưu tầm, sau 1000 năm với bao biến cố lịch sử Chừng ấy bài thơ còn sót lại có nội dung phong phú và nghệ thuật trác tuyệt khiến cho thơ Đường không chỉ chạm tới đỉnh cao của văn học Trung Quốc mà còn xứng đáng là đỉnh cao rực rỡ của văn học nhân loại
Để cắt nghĩa và lý giải cho sự hưng thịnh, ưu tú của thơ Đường, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều nguyên nhân song tựu chung lại ở một số nguyên nhân cơ bản:
Lịch sử xã hội có khả năng tác động đến nền thơ ca của dân tộc Trước thời
Đường, lịch sử Trung Quốc có nhiều phức tạp Từ thời Đông Tấn (317 - 420) đến trước lúc Dương Kiên (Tùy Văn Đế) thống nhất Trung Quốc, xã hội Trung Hoa trải qua hơn 300 năm chia cắt Năm 581, Dương Kiên (thuộc dòng ngoại thích) phế bỏ vua Bắc Chu (triều đại cuối cùng của Bắc Triều), tự xưng vua đổi hiệu là Tùy Sau khi lên ngôi, Tùy Văn Đế (Dương Kiên) đã ban hành một loạt chính sách nhằm khuyến khích phát triển kinh tế, giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân Nhờ những chính sách tương đối hợp lí ấy mà tình hình chính trị, kinh tế của nhà Tùy trong những năm đầu tương đối
ổn định Con của Dương Kiên (Dương Quảng) giết bố cướp ngôi lấy hiệu là Tùy Dưỡng Đế, thực sự là tên bạo chúa Y tìm mọi cách bòn rút sức lực, tiền bạc của nhân dân nhằm phục vụ cho lạc thú của mình Do chế độ cai trị hà khắc, đầu thế kỉ thứ bảy, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi chống lại nhà Tùy báo hiệu sự diệt vong của vương triều này và sự xuất hiện của vương triều phong kiến mới Trong bối cảnh ấy, Lý Uyên
Trang 10đã dựng cờ khởi nghĩa, tập hợp lực lượng và cùng con trai của mình tấn công vào kinh
đô Tràng An buộc Tùy Dưỡng Đế phải tự sát, xóa bỏ nhà Tùy, lập nên một vương triều mới lấy quốc hiệu là Đường (618) Bài học dẫn tới sự sụp đổ của nhà Tùy không thể không trở thành mối quan tâm của các vua chúa đầu đời Đường Rõ ràng họ đã nhận
ra những mâu thuẫn, những xung đột gay gắt trong lòng xã hội Trung Quốc đời nhà Tùy để có những đối sách phù hợp, điều hòa các mâu thuẫn ấy Những chính sách đổi mới thể hiện qua đối nội và đối ngoại Ổn định dân trong nước bằng chính sách quân điền (lấy đất đai hoang hóa chia cho người lao động); giảm tô thuế, bãi bỏ tất cả các loại thuế vô lí; bãi bỏ tất cả các hình phạt hà khắc tạo điều kiện cho nhân dân làm ăn sinh sống, khuyến khích người dân làm giàu chính đáng, về đối ngoại, nhà Đường cho
mở cửa biên giới (điều này vốn có ở đời Hán sau đó bị khống chế gắt gao) để thông thương với kinh tế nước ngoài góp phần chấn hưng nền kinh tế trong nước Những chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn ấy đã kích thích tất cả các ngành kinh tế: thương mại, giao thông vận tải, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ Nền kinh tế nhà Đường duy trì nhịp độ tăng trưởng trong vòng 100 năm liên tục (618 - 742) Nó đạt được sự cực thịnh vào niên hiệu Khai Nguyên (Đường Huyền Tông 712 - 742) và tác động tích cực đến giới nghệ sĩ đương thời được Đỗ Phủ ghi lại trong bài
Trang 11hiện thời kì này, đại biểu xuất sắc là thi tiên Lý Bạch
Cũng như các triều đại trước đó, thời kì cực thịnh đã xuất hiện những mầm mống của mâu thuẫn Đường Huyền Tông hoang dâm vô độ, quan lại tham nhũng tranh giành quyền lực, lợi lộc khiến nhân dân khốn khổ vì thuế và chiến tranh… Tất
cả những xung đột và mâu thuẫn ấy phát triển đến đỉnh cao và bộc lộ qua loạn An - Sử (755) Loạn An Lộc Sơn kéo dài tám năm (755 - 763) dẫn đến sự suy vong của nhà Đường Xã hội Trung Quốc bị xáo trộn, tất cả các thành tựu kinh tế tạo dựng suốt
100 năm đã bị phá hoại nghiêm trọng Nông thôn xác xơ, tiêu điều, nhân dân phần thì chết chóc vì đói khổ chiến tranh, li tán, phần thì sống trong lo âu vì sưu thuế, cơ cực Những văn nghệ sĩ đương thời cũng chịu thảm cảnh này Tất cả bức tranh hiện thực ấy được phản ánh trong các bài thơ Đường Một xã hội suy thoái song lại là mảnh đất cho văn học hiện thực nói chung và thơ hiện thực nói riêng phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu
là Đỗ Phủ Đến đầu thế kỉ thứ IX xuất hiện một phong trào thơ hiện thực do Bạch Cư
Dị và Nguyên Chẩn khởi xướng với tên gọi Tân Nhạc Phủ
300 năm với những biến cố lúc thăng lúc trầm của lịch sử - xã hội khiến cho nền thơ ca thời Đường đông đảo về tác giả, đa dạng về đề tài và giàu giá trị nhân văn
Đời Đường, chính sách văn hóa tư tưởng cũng cởi mở hơn so với nhà Hán Từ
Hán tới Đường, chính sách tư tưởng vận động từ chặt chẽ, nghiêm khắc đến linh hoạt,
mềm dẻo Nếu đời Hán thi hành chủ trương "Bãi truất bách gia, độc tôn nho học" thì
đến đời Đường không chỉ nho giáo mới được coi trọng mà cả các học thuyết khác cũng được truyền bá trong nước Sự mở cửa thông thương về kinh tế cũng là dịp văn hóa nhà Đường được giao lưu, gặp gỡ và chọn lọc những tinh hoa Sự đa dạng về tôn giáo ảnh hưởng tới cả tư tưởng sáng tác của giới nghệ sĩ nổi bật như Lý Bạch với Đạo giáo; Đỗ Phủ, Hàn Dũ với Nho giáo, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên với Phật giáo Mặc dù được mệnh danh là thi tiên Lý Bạch, thi thánh Đỗ Phủ, thi phật Vương Duy song các nhà thơ này cũng có sự pha trộn và khó phân định rõ ràng phong cách thơ độc tôn theo tôn giáo nào Chính sách văn hóa tư tưởng cũng là một nguyên nhân quan trọng cho sự phát triển thơ ca đời Đường ở Trung Quốc
Sự phát triển, vai trò của thông thương kinh tế khiến xuất hiện hàng loạt đô thị
lớn Đây vừa là nơi đón dòng chảy văn hóa từ bên ngoài vào, vừa là nơi hình thành các ngành nghệ thuật như thư pháp, hội họa, âm nhạc,… có sức ảnh hưởng tới thơ Đường
Trang 12Thư pháp (nghệ thuật viết chữ) là một ngành nghệ thuật đặc biệt, vừa mang
tính thần bí vừa có tính thẩm mỹ ở Trung Quốc Người viết chữ vừa có khả năng thể hiện mình (sự nhạy cảm trong tâm linh con người, sức mạnh và sự dịu dàng, sức lay động và sự yên tĩnh, sức căng và sự hài hòa…) lại vừa như phát hiện ra chính mình khi diễn tả sự vật Tác phẩm mà các nhà viết chữ ưa thích thường là một câu thơ hoặc một bài thơ Tuy nhiên, khi viết các nhà viết chữ không chỉ làm một việc đơn điệu là sao chép lại bài thơ mà chính họ đang làm nghệ thuật, đang sáng tạo, đang muốn làm sống lại sức mạnh của những vận động chứa đựng trong mỗi con chữ Như vậy, thơ ca
là mảnh đất màu mỡ để các nhà thư pháp khai thác và thư pháp cũng trở thành một hình thức lưu giữ, chuyển giao văn bản thơ ca cho đương thời và cho hậu thế
Hội họa cũng là ngành nghệ thuật có quan hệ chặt chẽ với thơ ca - mối quan hệ
tự nhiên và trực tiếp Ở Trung Quốc hội họa được coi là "vô thanh thi" (thơ không
tiếng) Một tác phẩm hội họa thực sự là một bài thơ bằng đường nét và màu sắc Hội họa và chữ viết có chung nguồn gốc Hội họa là hình thức cụ thể của chữ viết, chữ viết
là hình thức biểu đạt trừu tượng hơn Dù hội họa Trung Hoa sử dụng lối vẽ cụ thể, tỉ
mỉ, chi tiết hay lối vẽ phác họa thâu tóm cái thần cốt thì đều nổi bật ở cái không gian
Đó là khoảng trống, khoảng trắng đầy ắp tinh thần triết học Trung Hoa Không gian hội họa ấy ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới việc hình thành không gian trong thơ Đường Người ta bắt gặp cái mô hình không gian được gói ghém trong một chữ
"không" ở hàng loạt bài thơ: "không sơn bất kiến nhân"(Lý Bạch), "Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu" (Thôi Hiệu), "Dạ tĩnh xuân xuân không" (Vương Duy),… Trong tác
phẩm hội họa người ta cũng bắt gặp một đôi câu thậm chí cả bài thơ Như vậy, hội họa vừa trở thành nguồn cảm xúc, vừa là nơi lưu trữ thơ ca
Ngoài ra đề tài trong thơ Đường cũng ảnh hưởng lớn từ đề tài tranh cổ điển Trung Hoa: sơn thủy, hoa điểu, chân dung,… trong đó cảm xúc trước thiên nhiên chiếm một tỉ trọng lớn trong sáng tác của thi nhân đời Đường
Thơ - nhạc - múa gắn với nhau từ rất sớm Âm nhạc và múa là đề tài quen thuộc đối với các nhà thơ đời Đường, còn thơ tăng sức âm vang của mình nhờ âm nhạc Những bài thơ viết về nhạc, những bài nhạc lấy lời thơ chứng tỏ mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng
Sự ảnh hưởng tự nhiên, mối quan hệ chặt chẽ giữa các ngành nghệ thuật khác với thơ ca đời Đường đã tạo nên sự phong phú và sắc thái biểu đạt của thơ ca Thơ
Trang 13Đường có sức sống mạnh mẽ, lâu bền, sức lay động tiềm tàng cùng sự sâu lắng để trở thành niềm khát khao tìm hiểu của chúng tôi và của bao người Lịch sử xã hội nói chung, văn học nói riêng luôn tuân thủ quy luật kế thừa và phát triển Thơ Đường kế
thừa, phát triển hợp quy luật những tinh hoa văn học thời trước (từ Kinh thi đến trước
đời Đường) từ khuynh hướng, kiểu sáng tác, kinh nghiệm sáng tác đến ngôn ngữ, thư pháp nghệ thuật, giọng điệu thậm chí cả phong cách cá nhân… để dấu tích trong hàng loạt bài thơ Đường
Sự tương tác của các yếu tố như lịch sử - xã hội, chính sách tư tưởng, các ngành nghệ thuật, tinh hoa văn học thời trước là nguyên nhân giúp thơ Đường tỏa rạng nền văn học Trung Hoa, đóng góp to lớn cho nền thơ ca nhân loại [2, tr 8 - 13]
Sự phát triển của thơ Đường không đơn giản là một đường thẳng, không phải
sự quân bình của các khuynh hướng Độ thăng trầm, nét tiêu biểu ở mỗi giai đoạn lại khác nhau Người ta thường chia sự phát triển của thơ Đường thành bốn giai đoạn (có
ý kiến chia làm ba giai đoạn, ở đây chúng tôi theo quan điểm chia làm bốn giai đoạn)
Thời kì sơ Đường (618 - 712): được xem là giai đoạn chuẩn bị cho sự phát
triển của thơ thịnh Đường Thơ ca sơ Đường vẫn chưa thoát khỏi không khí ủy mị của thơ Lục Triều, thi vị cung đình, lời lẽ hoa mỹ ca ngợi vua chúa (thời Võ Tắc Thiên cầm quyền, mua chuộc kẻ sĩ, văn nhân tài tử để làm thơ tán tụng nhà vua) hoặc thi ca tình cảm ủy mị, phần nhiều chú trọng hình thức hơn nội dung, thơ theo đúng
những qui luật về thanh điệu và biền ngẫu Trong giai đoạn này có sự xuất hiện "Sơ Đường tứ kiệt", tức là bốn nhà thơ trẻ Vương, Dương, Lư, Lạc Vì ảnh hưởng của
chinh chiến, ly loạn, nên thơ văn của họ gần thực tế hơn, phản ảnh được đời sống đau thương, thực trạng xã hội đương thời, những hình ảnh oai hùng ở chốn biên cương hay bày tỏ thái độ uẩn ức đối với chế độ phong kiến đương thời Thời Sơ Đường còn có
những nhà thơ nổi tiếng như Trần Tử Ngang đề cao khuynh hướng "phục cổ", Trương
Cửu Linh với những bài thơ tình cảm nhẹ nhàng, Hạ Tri Chương, Trương Nhược Hư với những bài thơ diễn tả tình cảm tha thiết hoặc tả cảnh thiên nhiên với bút pháp tài hoa điêu luyện Họ đã kết hợp được trường phái hiện thực với lãng mạn
Thời kì thịnh Đường (713 - 765): đây là thời kì rực rỡ nhất của thơ Đường
Những gì đã được thai nghén và ấp ủ bấy lâu đến giai đoạn này sinh thành và nảy nở
trên một quy mô lớn ở cả bề rộng lẫn chiều sâu Thơ "thịnh Đường" hoàn mĩ cả về nội
dung lẫn hình thức Đây là thời kỳ thơ Đường đạt đến đỉnh cao chói lọi mà đại diện là
Trang 14ba nhà thơ: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị Ngoài ra còn có Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Than, Vương Hàn, Thôi Hiệu, Vương Kiến, Trương Tịch, Hàn Dũ, Mạnh Giao, Giả Đảo, Trương Kế Mỗi nhà thơ
có một phong cách tài hoa điêu luyện khác nhau, mỗi người một vẻ không sao kể xiết trong thời kỳ thịnh đạt này
Thời kì trung Đường (766 - 835): Thơ hiện thực tiếp tục phát triển mạnh
và đẩy lên thành phong trào Tân nhạc phủ do Nguyên Chẩn (799 - 781) và Bạch Cư
Dị (772 - 846) khởi xướng Bản thân tên của phong trào do hai ông khởi xướng cũng đã có ý nghĩa nhấn mạnh, đề cao tinh thần hiện thực trong sáng tác nghệ thuật văn chương Cùng với hai nhà thơ này còn có một loạt các cây bút nổi tiếng khác như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Mạnh Giao (751 - 814); Giả Đảo (779 - 843); Lưu Vũ Tích (772 - 842)… Phẩm chất hiện thực là đặc điểm nổi bật trong
thơ Đỗ Phủ ở buổi thịnh Đường Giờ đây đang trong bối cảnh xã hội bắt đầu suy
tàn nó được khởi động trở thành một phong trào thơ hiện thực đặc sắc Nó tiếp tục phơi bày hiện thực xấu xa, thối nát của một triều đại đang suy vong và là tiếng nói oán hờn của những con người vô tội
Thời kì vãn Đường (836 - 907 ): Xã hội xuống cấp, triều đình phong kiến ngày
càng thối nát đẩy quá trình suy yếu thêm nhanh chóng và đi đến diệt vong Thơ ca giai
đoạn này vẫn giữ được tinh thần hiện thực có từ thịnh - trung Đường Khi phong trào Tân nhạc phủ có những dấu hiệu không đồng đều thì phong trào Chính nhạc phủ mà
Bì Nhật Hưu (833 - 883) là tác giả, đã tiếp tục chủ trương gắn thơ ca với thời cuộc Bên cạnh Bì Nhật Hưu người ta còn thấy hai cây bút xuất sắc là Đỗ Tuân Hạc (846 - 904) và Nhiếp Di Trung (837 - ?) Song song với dòng thơ hiện thực, dòng thơ lãng mạn tiếp tục giữ vững với các nhà thơ tiêu biểu như Đỗ Mục (803 - 853), Lý Thương
Ẩn (813 - 856) và Ôn Đình Quân (812 - 870)… Tuy thành tựu không được như thời kì
thịnh Đường và thời kì trung Đường nhưng vãn Đường vẫn xuất hiện những bài thơ
xứng đáng là điểm độc đáo khép lại 300 năm thơ ca của một thời kì đầy biến động
1.1.2 Sự phong phú đa dạng của thơ Đường
Như trên đã nhận xét: Thơ Đường quả là bức tranh toàn cảnh về thời đại Đọc thơ Đường ta thấy có những cảnh thiên nhiên đẹp đến nao lòng người, có thác nước,
có non cao, có âm thanh chùa vắng, có những hàng liễu buồn man mác trong cảnh chia tay Thơ Đường có những cảnh đời trái ngược: kẻ giàu sang coi miếng ăn tầm
Trang 15thường "rượu, thịt ôi", kẻ nghèo hèn đói rét "xương chết buốt" Có tiếng ca bi phẫn
bên bàn rượu và cũng có hồn thơ khóc than cho cảnh loạn ly máu đổ xương rơi Thơ Đường có cảnh tiễn biệt của tình bạn thâm giao, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình - khi có người ra trận - cảnh tiễn đưa trên bến sông hay thương nhớ đợi chờ bên khung cửa Thơ Đường có hành động anh hùng hiệp khách lại có nước mắt chàng Tư Mã vì tiếng đàn kĩ nữ mà khóc than số phận Thơ Đường có thế giới kỳ lạ của thần tiên thì cũng có những tủi nhục của người bán thân, nhặt thóc rơi, phu kéo xe trong trời nắng Thơ Đường có cái đẹp bi hùng lại có cái đẹp tao nhã Chất liệu cuộc sống được thể hiện trong thơ ca rất phong phú nhưng không thừa thãi Đôi khi lại là nét chấm phá như bức tranh thủy mặc mà vẫn mang một hồn thơ lai láng Tuy thơ Đường vẫn bị gò
bó trong khuôn khổ nhưng ý tình lại toát lên mạnh mẽ từ phong cảnh diễm lệ hùng tráng cho đến những cảnh bi thương sầu hận làm rung động lòng người
Trong Diện mạo thơ Đường, tác giả Lê Đức Niệm nhận xét rằng: Các bài thơ
Đường có đề tài hết sức rộng rãi về xã hội, thiên nhiên, lịch sử, cá nhân, về chiến tranh, về cuộc sống con người xã hội Ngòi bút của các thi nhân đã đi sâu vào mọi nơi
trong chốn cung đình và nắm vững như đi vào giữa quần chúng nhân dân
"Khen rằng: Giá đáng Thịnh Đường, Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân!"
(Nguyễn Du) Đúng thế, khi nói đến thơ Đường, người ta không quên nhắc đến thời Thịnh Đường, thời đại hoàng kim của thơ Đường, thời kỳ có nhiều trường phái với nhiều tác giả, tác phẩm thơ ca nổi tiếng còn lưu lại đến ngày nay và mãi mãi mai sau
Đề tài trong thơ Đường có những nội dung đa dạng và phong phú, với nhiều hình thức diễn đạt phóng khoáng Từ những đề tài về an nhàn ẩn dật, vui thú điền viên, tả cảnh thiên nhiên, đến những bài thơ nói về cung đình, biên tái, chiến chinh, những đề tài liên quan đến xã hội, cảnh nghèo đói áp bức, nỗi bất công của phụ nữ, những bài thơ tâm tình, từ tình bè bạn, thiên nhiên, đến tình yêu nam nữ, rồi những đề tài vịnh sử, hoặc những bài thơ mang hương vị Thiền…
Trong Đường thi tuyển dịch (2007, NXB Thuận Hóa), tác giả Lê Nguyễn Lưu
đã chia thơ Đường ra làm các nhóm là: cung đình, nhàn dật, điền viên sơn thủy, biên tái, xã hội, tâm tình, vịnh sử Chia ra như vậy nhưng không nhất thiết là mỗi nhà thơ chỉ có mặt trong một thi phái Nhiều tác giả đã thành công trong nhiều đề tài khác nhau Lý Bạch, Đỗ Phủ là một ví dụ: hầu như ở trường phái nào, hai tác giả này cũng
có mặt và thành công
Trang 16Để phản ánh hiện thực xã hội phong phú muôn màu muôn vẻ đó, thơ ca thời Đường xuất hiện nhiều trường phái, phong cách và phát triển một cách rầm rộ Nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng ở thời kỳ này được đời sau truyền tụng và ca ngợi Căn cứ vào đề tài sáng tác, các nhà nghiên cứu văn học sử Trung Quốc đã chia thơ Đường thành các trường phái sau:
Trường phái Điền viên sơn thủy: Phái Điền viên sơn thủy còn được gọi là phái
"Vương - Mạnh" bởi vì hai thi nhân tiêu biểu của phái này đó là Mạnh Hạo Nhiên
(689 - 740) và Vương Duy (701 - 761) Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ sống gần gũi với với cảnh thôn quê lặng lẽ, bình dị Hình ảnh thiên nhiên nơi thôn dã trong thơ ông được miêu tả đẹp đẽ biết bao Đó là cảnh thanh nhàn êm ả của làng quê, cảnh núi sông hùng vĩ và tráng lệ… Người thứ hai đó là Vương Duy tự Ma Cật, tuy suốt đời làm quan nhưng ông thường sống như một ẩn sĩ, là người sùng tín đạo Phật, thơ mang đậm
ý vị thiền nên được mọi người tôn vinh là Thi Phật Ông là một người rất đa tài, không những nổi tiếng về thơ mà còn am hiểu về âm nhạc, có tài thư pháp và là một danh
họa Khi nhận xét về Vương Duy, Tô Thức đời Tống cho rằng: "Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi" (Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy
trong họa có thơ)
Trường phái Biên tái: Phái Biên tái còn được gọi là phái "Cao - Sầm", đó là
Cao Thích (702 - 765) và Sầm Than (716 - 770) Thơ của Cao Thích mang đậm chất trữ tình hào phóng nhưng lại khẳng khái hiên ngang, trong khi đó thơ của Sầm Than thì mỹ lệ huyền ảo, âm điệu dồn dập vút cao Ngoài ra còn có một số tác giả cũng góp phần quan trọng cho thi phái này như: Vương Xương Linh (698? - 757) và Lý Kỳ (690 - 751)
Trường phái lãng mạn: Một trong những cây đại thụ lớn của phái này không ai
khác là Lý Bạch (701 - 762) Thơ của ông kết hợp hài hòa giữa tính hiện thực và tính lãng mạn Tuy nhiên, tính hiện thực trong thơ Lý Bạch không bằng Đỗ Phủ và Bạch
Cư Dị nhưng thơ ca lãng mạn có nội dung tích cực của ông lại vượt trội hơn Người
đời tôn ông là "Thi tiên" (ông tiên làm thơ) cũng không có gì là quá Trong thơ ông, ý,
cảnh, tình hòa quyện vào nhau, vừa diễm lệ, kỳ vĩ, vừa mênh mông bát ngát Đều có tính cuồng phong, hùng tráng, diễm lệ, phiêu dật, trầm thống Đúng như lời khen của
Đỗ Phủ: "Lí Bạch thơ không ai địch nổi, siêu nhân ý khác thường" [4, tr 17]
Trường phái hiện thực: Một kiện tướng của phái hiện thực trong thời kỳ này là
Trang 17Đỗ Phủ (712 - 770) Đỗ Phủ để lại cho đời gần 1.500 bài thơ, trầm uất buồn đau, nhưng sáng ngời tinh thần nhân ái bao la Thơ ông là bức tranh phơi bày hiện thực xã hội phong kiến đen tối, phơi bày cuộc sống khốn cùng của tầng lớp mang thân phận
"con ong, cái kiến"
Những ngòi bút hướng theo trường phái này còn có Nguyên Kết (719 - 772),
Cổ Huống (725 - 816) Về sau, người kế tục xứng đáng và xuất sắc nhất là Bạch Cư
Dị (772 - 846) Họ đã góp phần đưa thi ca hiện thực lúc bấy giờ lên đỉnh cao, mặc dù trường phái hiện thực khai sinh muộn hơn so với các trường phái khác
Với những thành tựu đạt được từ thực tế sáng tác đã quy tụ các trường phái thơ đời Đường thành hai trường phái lớn, có ảnh hưởng sâu rộng và có những thành tựu lớn nhất Đó là trường phái lãng mạn đại biểu là Lý Bạch và trường phái hiện thực tiêu biểu là Đỗ Phủ Họ đều là những bậc kỳ tài trong thơ ca, đều có tình yêu với Tổ quốc nhân dân Song trong thơ của họ có sự vận dụng những phương pháp sáng tác nghệ thuật khác nhau, xây dựng những phong cách nghệ thuật riêng nhằm phản ánh thời đại với những biến động đổi thay của nó Chính sự sáng tạo đó, đã để lại cho nền văn học Trung Quốc nói riêng, thế giới nói chung một kho tàng tác phẩm đồ sộ, đưa nghệ thuật thơ ca lãng mạn và hiện thực lên đỉnh cao Họ xứng đáng là những đại biểu kiệt xuất nhất của hai trường phái đó trong lịch sử thơ ca cổ điển Trung Quốc
Từ những nhận xét trên, có thể thấy thơ Đường phong phú về đề tài, nổi bật và
tập trung nhất vào hai khuynh hướng sáng tác là: hiện thực và lãng mạn Như một giá
trị lịch sử văn học bất biến, dù phải trải qua bao thử thách, bao biến cố của thời đại, nhưng hai khuynh hướng ấy vẫn trường tồn mãi mãi Nó là kết quả của một quá trình lĩnh hội những tinh hoa rực rỡ của đời Đường mà thi ca cổ trước đó chưa bao giờ đạt đến được Hiện thực và lãng mạn là hai bộ phận thống nhất trong một chỉnh thể của thi ca đời Đường góp phần cống hiến to lớn cho văn học Trung Quốc
1.2 Thi pháp thơ Đường
1.2.1 Thi pháp và thi pháp học
Việc nghiên cứu về thi pháp ở nước ta trong những năm gần đây đang được nhiều nhà khoa học quan tâm Trước đây, do những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử - xã hội, đối với bộ môn Văn học, các nhà nghiên cứu chưa quan tâm nhiều đến hình thức của tác phẩm mà chú trọng vào khía cạnh nội dung tư tưởng Một tác phẩm văn học,
nội dung và hình thức không thể tách rời nhau Vì "nội dung" chỉ có giá trị khi tồn tại
Trang 18trong một hình thức nhất định và "hình thức" chỉ thực sự là hình thức khi biểu đạt một
nội dung
GS Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (NXB Giáo dục, 1999) cho rằng: "Thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối
sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó Thi pháp không phải
là nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong vốn có của sáng tạo nghệ thuật Nó là mĩ học nội tại của sáng tác nghệ thuật, gắn liền với sự sáng tạo
và một trình độ văn hóa, nghệ thuật nhất định, mang một quan niệm nhất định đối với cuộc đời, con người và bản thân nghệ thuật Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm lên là cả nền văn học".[36, tr 4]
Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao (NXB Đại học quốc gia, 2007) khẳng định: "Thi pháp là tổ hợp những đặc tính thẩm mĩ - nghệ thuật và phong cách của một hiện tượng văn học, là cấu trúc bên trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành tố bên trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng" [14, tr 11]
Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đạị (NXB Hội nhà văn, 2000) trình bày “Thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của các tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học… Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu âm điệu, nhịp điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp, yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể Ở đó các yếu tố ngôn ngữ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống để biểu đạt ý tưởng, tình cảm, tư duy, nhân sinh quan,…" [11, tr 9]
Theo Nguyễn Thị Bích Hải trong Thi pháp thơ Đường (NXB Đại học Huế, 2007) thì “Thi pháp là hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Hệ thống đó có thể chia tách thành các phương tiện (yếu tố), thể loại, kết cấu, phương pháp, không gian, thời gian, ngôn ngữ…" [7, tr 4]
Từ những định nghĩa trên về thi pháp, người viết nhận thấy thi pháp là hệ thống các yếu tố hình thức có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tạo nên một thế giới nhất định (hệ thống đó bao gồm thể loại, kết cấu, thời gian, không gian, con người, ngôn
Trang 19ngữ,…)
Vậy thi pháp học là gì?
GS Trần Đình Sử trong Một số vấn đề thi pháp học hiện đại (Vụ Giáo viên, 1993) khẳng định "Thi pháp học là một bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật, mọi nguyên tắc, phương diện tạo thành nghệ thuật cũng như
sự vận động, phát triển lịch sử của chúng" [37, tr 5]
Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đạị (NXB Hội nhà văn, 2000) thì khẳng định
"Thi pháp học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu tác phẩm văn học để hướng dẫn cho sáng tác và tiếp nhận văn học Thi pháp học đem đến cho diễn đàn nghiên cứu, phê bình văn học, giảng dạy văn học nhiều thuật ngữ mới, cách diễn đạt mới"
[11, tr 17]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Giáo dục, 1992) của nhóm tác giả Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: "Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh sáng tác nghệ thuật" [8, tr 206 - 207]
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu nếu thi pháp là hệ thống hình thức nghệ thuật thì thi pháp học là bộ môn khoa học nghiên cứu hệ thống hình thức đó Một số phương diện của thi pháp thơ Đường sẽ được người viết tìm hiểu dựa vào những nhận định trên
1.2.2 Các phương diện trong thi pháp thơ Đường
Thơ Đường là tập đại thành của thơ cổ điển Trung Quốc, cho nên những
phương diện của thi pháp thơ Đường như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian, kết cấu, ngôn ngữ, đều là những phương diện tiêu biểu của thi pháp thơ cổ điển Thi pháp mà chúng ta nghiên cứu để áp dụng vào giảng dạy ở trường phổ
thông thuộc về "Thi pháp chuyên biệt" (hay thi pháp miêu tả) Từ lý thuyết của thi
pháp học đại cương để nghiên cứu thi pháp thơ Đường, một giai đoạn trong lịch sử thơ của Trung Quốc Về hình thức, thơ Đường cũng chịu ảnh hưởng của thời đại, tư tưởng triết học, các loại hình nghệ thuật khác và các giai đoạn thơ ca trước đó
Trong cuốn Hán văn học sử cương yếu, Lỗ Tấn viết: "Đến đời Đường, văn xuôi
Trang 20và thơ Trung Quốc có một sự biến đổi lớn" Sự đột biến này là kết quả của một quá
trình tích lũy lâu dài những kinh nghiệm nghệ thuật của hơn 10 thế kỷ thơ ca đã đến độ chín muồi Sự đột biến này thể hiện ở kiểu tư duy nghệ thuật, một hệ thống thi pháp mới mẻ và độc đáo, tạo nên cái mốc quan trọng trên con đường phát triển của thơ ca Trung Quốc Thi pháp thơ Đường rất phong phú, đa dạng [23, tr.48] Với khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ trình bày một số yếu tố tiêu biểu trong hệ thống thi pháp thơ Đường qua các phương diện sau:
- Quan niệm nghệ thuật về con người
- Thời gian nghệ thuật
- Không gian nghệ thuật
- Thể loại và kết cấu
- Ngôn ngữ
Nhà văn M.Gorki từng nói: " Văn học là khoa học về con người" Trong văn
học, con người là chủ thể, là đối tượng và đồng thời là mục đích Trong phạm vi của
đề tài, chúng tôi chỉ xét quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Đường, tức là quan niệm ở một thời đại thơ ca của một dân tộc Đối tượng trung tâm của văn học là con người, cho nên trong hệ thống thi pháp nó cũng là yếu tố trung tâm so với các yếu
tố khác Trong thơ Đường, có hai kiểu con người chủ yếu, đó là con người vũ trụ và con người xã hội
Con người vũ trụ: Quan điểm về con người trong nghệ thuật với quan niệm triết
học có mối quan hệ rất mật thiết với nhau Triết học cổ đại Trung Quốc nói riêng cũng như các dân tộc thời cổ nói chung quan niệm con người được đặt trong mối tương
thông tương hợp với thiên nhiên "thiên nhân tương dữ" Con người là một "tiểu vũ trụ" trong lòng "đại vũ trụ" Con người xuất hiện trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời
"đầu đội trời, chân đạp đất", hòa hợp đất trời Thơ Đường đặc biệt quan tâm thể hiện
quan hệ tương giao, hòa hợp giữa con người với con người Hình tượng con người vũ trụ thể hiện khát vọng của con người được sống thanh bình, hòa hợp vào nhịp sống của
Trang 21ánh bằng tất cả tấm lòng nhân đạo, cảm thông
Con người trong thơ Đường dù là con người vũ trụ hay con người xã hội đều
mang tính nhân văn sâu sắc Nó bồi đắp cho tâm hồn con người những tình cảm cao đẹp, lòng nhân ái, hướng con người về với chân, thiện, mỹ Đó là đóng góp lớn lao của thơ Đường cho Trung Quốc và nhân loại Quan niệm nghệ thuật về con người là phạm trù cơ bản và chi phối hầu hết các yếu tố không gian, thời gian, thể loại, kết cấu và ngôn ngữ trong thơ Đường
GS Trần Đình Sử khẳng định trong Về thi pháp thơ Đường (NXB Đà Nẵng,
1998): "Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận về thế giới và con người thì thời gian, không gian nghệ thuật chính là hình thức để con người cảm thụ về thế giới và con người Bởi
vì người ta không thể cảm thụ bất cứ cái gì ngoài thời gian và không gian" Không
gian nghệ thuật là hình tượng không gian trong tác phẩm Cũng như cách phân chia con người, không gian nghệ thuật trong thơ Đường có không gian vũ trụ và không gian đời thường
Không gian vũ trụ: "Không gian vũ trụ là nơi tồn tại của con người vũ trụ" [7,
tr 26] Từ một điểm trung tâm, con người nhìn ra mọi phía: đông, tây, nam, bắc và con người là yếu tố trung tâm nên không gian mang tính đối xứng Con người chính là tâm đối xứng của không gian ấy Điều này khiến con người cảm thấy nhỏ bé, cô đơn giữa
vũ trụ mênh mông vô tận Từ đó con người luôn khao khát chiếm lĩnh không gian Thi
sĩ tạo dựng không gian vũ trụ chính là để đưa không gian nội tâm hòa hợp cùng thế giới
Không gian đời thường: là không gian tồn tại của lớp người "thấp cổ bé họng"
Trong không gian ấy đầy nỗi bi ai, con người bị vây bủa, trói buộc Họ phải đi (hoặc chạy) trong những thôn xóm, làng mạc, chiến trường Các thi sĩ đã tái hiện lại những cảnh đời vất vả, tất bật để tồn sinh một cách khó nhọc, vẽ lại cảnh tiêu điều hiu hắt thê lương trên quê hương bị chiến tranh tàn phá Cho nên không gian đời thường rất thực, gần gũi Thế giới cảnh vật quanh cuộc đời vất vả đều mang màu sắc u tối, nhợt nhạt thiếu sức sống Các thi nhân miêu tả nó một cách cụ thể và chi tiết
Không gian nghệ thuật của thơ Đường đã đạt đến mức hoàn mĩ, tiêu biểu cho không gian nghệ thuật thơ Trung Quốc
Cũng như quan niệm về con người nghệ thuật và không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật của Thơ Đường là sự đúc kết những tinh hoa của thời gian trong thơ ca
Trang 22Trung Quốc Chúng ta có thể phân chia thời gian nghê thuật trong thơ Đường thành
hai kiểu chính đó là: thời gian vũ trụ và thời gian đời thường
Thời gian vũ trụ: Nói đến thời gian vũ trụ tức là nói đến thời gian trong mối
quan hệ với không gian Khi quan niệm không gian, chúng ta hình dung về nó rõ hơn
vì không gian là cái có thể nhìn thấy được, còn thời gian thì vô hình Nhưng thời gian
vũ trụ trong thơ Đường luôn có mối quan hệ biện chứng với không gian Người ta
dùng không gian để thể hiện thời gian và ngược lại Trong thơ Đường có rất nhiều địa danh và đằng sau địa danh ấy vẫn thấy sự tiềm ẩn, bóng dáng của thời gian Với tư
cách là thời gian vũ trụ, thời gian nghệ thuật, thơ Đường ít chịu đóng khung trong thời
hiện tại mà luôn có xu hướng vận hành trong vòng lưu chuyển của thời gian, ngược về quá khứ, xuôi đến hiện tại (rộng mở), nhàn nhã khoan thai
Thời gian đời thường: Khi phản ánh đời sống của con người trong xã hội, thời gian nghệ thuật là thời gian đời thường Thời gian đời thường chủ yếu là thời hiện tại,
có tính cụ thể Ở đây người ta không kể về cái đã thuộc về quá khứ xa xăm mà kể về cái đang diễn ra rất thực, rất đời thường, chính vì thế mà thời gian đời thường gấp gáp, tất bật và đầy tính ký sự
Khi nghiên cứu, chúng ta thấy rằng, trong hệ thống thế giới hình tượng, thời gian nghệ thuật giữ một vai trò quan trọng Nó có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố
khác Trong thơ Đường, thời gian vũ trụ và thời gian đời thường không chỉ tiêu biểu
cho thời gian nghệ thuật trong thơ cổ điển Trung Quốc mà còn ảnh hưởng sâu đậm trong những sáng tác thơ ca chữ Hán và chữ Nôm của Việt Nam
Về phương diện thể thơ, các nhà thơ đời Đường sử dụng hai thể thơ chính là cổ thể và kim thể Thơ cổ thể có dạng là cổ phong và nhạc phủ Còn thơ kim thể có hai dạng chính là luật thi và tuyệt cú
Luật thi gồm thất ngôn bát cú (thất luật) và ngũ ngôn bát cú (ngũ luật) Còn tuyệt cú (tứ tuyệt), mỗi bài thơ chỉ có 4 câu, gồm thất ngôn tuyệt cú (thất tuyệt), ngũ ngôn tuyệt cú (ngũ tuyệt) Cả luật thi và tuyệt cú đều là thơ cách luật Tuyệt cú ra đời sau luật thi Nó có quan hệ mật thiết với luật thi Niêm luật của thơ tuyệt cú tương ứng với luật thi
Sự quy định của luật thi rất chặt chẽ, không được vi phạm, cụ thể như sau: Một bài thơ phải đạt sáu yêu cầu: niêm, luật, vận, đối, tiết tấu, bố cục
Niêm: là quy tắc phối thanh theo chiều dọc làm bài thơ liên kết với nhau thành
Trang 23một vòng khép kín, tạo nên một cấu trúc nội tại vững chắc
Luật: Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ 2 - 4 - 6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng Luật phối thanh bảo đảm bằng trắc cân bằng, âm điệu hài hòa Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy
định này thì được gọi "thất luật"
Vận (vần): Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, dùng để tạo âm điệu trong thơ
Đối: Cũng là một nguyên tắc bắt buộc của luật thi Với thơ Đường luật thì đối thơ cũng là yếu tố bắt buộc Phải đối liên, đối cả thanh, đối từ, đối ý Đó là bốn yêu cầu phải được tuân thủ nghiêm ngặt trong một bài luật thi
Tiết tấu (cách ngắt nhịp): Tiết tấu trong thơ Đường nhìn chung ở câu thơ 7 chữ
và 5 chữ đều là chẵn trước, lẻ sau Cách ngắt nhịp theo chẵn/lẻ là cố định tạo nên sự hài hòa
Về kết cấu, cho tới nay, còn nhiều đề xuất khác nhau về một bài thất ngôn bát
cú Đường luật
Có ý kiến chia làm bốn phần: 2/2/2/2 (đề, thực, luận, kết), mỗi liên thơ tương ứng một phần Cách phân chia này tồn tại phổ biến đặc biệt trong nhà trường phổ thông, giáo viên vẫn áp dụng nó để giảng dạy một bài luật thi với học sinh
Có ý kiến lại chia thành ba phần: 2/4/2 do Francois Cheng, nhà kí hiệu học Pháp gốc Trung Quốc đề xuất Theo ông, ở liên một và liên bốn, trật tự thời gian chiếm ưu thế; ở liên hai, liên ba, trật tự không gian chiếm ưu thế Tính chất họa thể hiện rõ nhất ở bốn câu giữa Đây là cách chia gần với văn bản hiện đại (mở bài, thân bài, kết bài)
Có ý kiến chia bài luật thi thành hai phần (4/4) Mô hình này do Kim Thánh Thán (đời Thanh) đề xuất Bốn câu trên được Thánh Thán gọi là Tiền giải ( nặng về cảnh), bốn câu dưới được gọi là hậu giải (nặng về tình)
Ngoài ra, cũng có nhà nghiên cứu tìm hiểu luật thi họ chia thành hai phần(1/7) nhằm phù hợp với từng bài
Đối với bài thơ tứ tuyệt cũng có nhiều cách chia Có thể chia hai phần (tiền giải, hậu giải) hoặc bốn phần (khai, thừa, chuyển, hợp)…
Không có cách phân chia nào áp dụng được cho tất cả các bài thơ Đường, mỗi
Trang 24chỉnh thể bài thơ đưa bạn đọc đến với những cái hay, cái đẹp riêng
Khi nói về ngôn ngữ thơ Đường, trong Đường thi tuyển dịch (NXB Thuận Hóa, 2007), tác giả Lê Nguyễn Lưu đã nhận xét rằng: "Ngôn ngữ thơ Đường kết tinh được nhiều cái biểu cảm mà còn có khả năng biểu ý, kết hợp cảm quan với nhận thức truyền thống và cách tân, kế thừa và sáng tạo" Ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc ấy là do
các biện pháp tu từ tạo ra Nhiều khi các biện pháp tu từ xen kẽ chồng chéo lên nhau,
làm bật lên cái "tứ" sâu xa như người ta vẫn thường nói "ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài
lời) Bài thơ nhất là tứ tuyệt và bát cú rất ngắn gọn, sao cho trong một số câu nhất định, một số từ có hạn phải diễn đạt hết cảm nghĩ của tác giả… Cho nên nó rất cô đọng và hàm súc: lượng thông tin của nó tất nhiên không chỉ nằm trong ngữ nghĩa Bài thơ như khung cửa sổ mở ra trước vườn hoa, người đọc qua đó để ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài Vì thế các biện pháp tỉ dụ, ẩn dụ được vận dụng phổ biến và rất đa dạng
Cách dùng điển cố trong thơ Đường - một hình thức khác của ẩn dụ cũng uyển chuyển, linh hoạt, trở thành phương thức biểu đạt tư tưởng hàm súc nhất Các nhà thơ đời Đường đã vận dụng những điển cố để hỗ trợ cho sự biểu đạt
Ngôn ngữ thơ Đường là ngôn ngữ tinh luyện, có tính khái quát cao, giàu hình ảnh và cảm xúc: Số chữ được dùng rất ít (chỉ 20 chữ ở thơ ngũ ngôn tứ truyệt và 56 chữ ở thơ thất ngôn bát cú) đã làm cho thơ Đường không thể sử dụng tùy tiện Đương
thời, nhà thơ Đỗ Phủ từng nói: "Tự bất kinh nhân, tử bất hưu" (Chữ dùng chưa làm
cho người kinh hồn thì chết chưa yên), quả không sai
Vị trí các thành phần trong câu văn cổ vốn đã khá linh hoạt, trật tự của từ, góp phần quyết định ý nghĩa của câu Do sự quy định chặt chẽ của vần, luật, nhất là để nhấn mạnh ý muốn nói, cấu trúc câu thơ có hiện tượng đảo thành phần thi pháp (đảo trang)
Một điểm nổi bật nhất của thơ Đường là sự vận dụng rộng rãi, triệt để thủ pháp tĩnh lược Bất cứ từ loại nào, dù chúng đảm nhiệm chức năng gì trong câu đều có thể
bị tĩnh lược Điều hấp dẫn là sự bỏ bớt ấy không làm cho câu thơ ít nghĩa, tối nghĩa mà làm cho nó thêm thâm thúy hơn mà thôi Như vậy, biện pháp đảo trang và tĩnh lược làm cho câu thơ, đặc biệt là những bài bát cú và tuyệt cú càng mang tính chất hàm súc nổi bật, vừa khái quát vừa tăng giá trị biểu cảm
Ngôn ngữ thơ Đường được tập hợp theo hai "trường": Đó là mang tính đặc
trưng của hai khuynh hướng sáng tác (khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện
Trang 25thực) được tập hợp thành hai hệ thống
Hệ thống thơ thể hiện con người vũ trụ, ngôn ngữ mang tính khái quát, cổ kính trang nhã, nhiều hình ảnh ước lệ tượng trưng, gợi liên tưởng Ngữ âm hài hoà, thể hiện tâm tình sâu lắng, suy tư
Hệ thống thơ phản ánh hiện thực, ngôn ngữ mang tính cụ thể, tỷ lệ động từ, câu trần thuật cao, ngữ âm sôi động, nhiều thanh trắc
Dựa vào cơ sở lí luận trên đây, người viết triển khai đề tài theo các phương diện quan niệm nghệ thuật về con người, không - thời gian nghệ thuật, thể loại - kết cấu và ngôn ngữ Mong muốn có cái nhìn cụ thể hơn về thi pháp thơ Đường và ứng dụng vào việc dạy và học thơ Đường trong nhà trường phổ thông
Trang 26Chương 2 THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG QUA CÁC TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Khảo sát những tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
Nội dung và thời lượng các tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ văn THPT
1 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng
Khi khảo sát, tiếp cận với chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, chúng tôi nhận thấy rằng số lượng tác phẩm Văn học nước ngoài là 18 trên tổng số 102 tác phẩm văn học trong nhà trường, chiếm 17,65% Trong đó, số lượng tác phẩm thơ nước ngoài
là 8 tác phẩm, chiếm 44,44% trong tổng số các tác phẩm văn học nước ngoài Các tác phẩm thơ Đường đặc biệt được được dành nhiều thời gian hơn Thơ Đường trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông gồm 5 tác phẩm chiếm 62,5% trên tổng số tác phẩm thơ nước ngoài Điều này cũng phù hợp, vì thơ Đường là thành tựu đặc sắc của thơ ca nhân loại và nó còn ảnh hưởng sâu sắc đối với văn học Việt Nam Cha ông
ta trong quá trình xây dựng nền văn học viết đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Trung Quốc quả là không nhỏ, đặc biệt là thơ Đường luật Thơ Việt Nam thời trung - cận đại có khoảng 3/4 số bài được sáng tác theo thể thơ Đường luật, gồm cả thơ chữ Hán và chữ Nôm Không những thế, âm hưởng thơ Đường vẫn còn rõ ở trong thơ hiện đại Việt Nam Cụ thể, trong phần thơ Việt Nam được học ở trường phổ thông, các bài thơ sáng tác theo thể thơ Đường luật chiếm một số lượng rất lớn
Nhìn chung, cấu trúc, thời lượng, nội dung chương trình Văn học nước ngoài đưa vào dạy và học trong chương trình phổ thông khá phong phú, có sự đổi mới, điều chỉnh phù hợp với từng cấp học, tương ứng với trình độ cảm thụ văn chương theo lứa tuổi học sinh Trong những giờ học văn, thông qua các tác phẩm nghệ thuật, học sinh
Trang 27đã bắt đầu nhận thức cuộc sống sâu sắc hơn, bên cạnh đó hình thành, phát triển năng khiếu tư duy thẩm mỹ và nhân cách Để đạt được như vậy, đó là nhờ kết quả của quá trình nghiên cứu nghiêm túc của các soạn giả để thiết kế một chương trình học hữu ích, lý thú phù hợp với học sinh và bối cảnh của xã hội
2.2 Thi pháp thơ Đường qua các tác phẩm trong nhà trường phổ thông
2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người
Con người là chủ thể, là đối tượng và cũng là mục đích của văn học Cái độc đáo trong thơ Đường là dù trực tiếp hay gián tiếp, dù tả cảnh hay nói tình thì bóng dáng con người (nhân vật văn học) luôn hiện hữu một cách sinh động Có nhà nghiên
cứu thi pháp cho rằng thơ Đường xuất hiện con người vũ trụ và con người đời thường
Nhưng con người trong thơ Đường ở góc độ nào cũng luôn đẹp, luôn sâu lắng
Thơ Đường là thơ của mối quan hệ Dù bằng hình thức cổ phong hay luật thi,
dù không - thời gian vũ trụ hay đời thường cũng chỉ cốt nói cho ra tâm trạng, bóng dáng của con người thông qua đó
Quan niệm con người vũ trụ cho rằng: Con người liên quan mật thiệt với đất
trời - vũ trụ Con người là một "tiểu vũ trụ" trong lòng "đại vũ trụ" Quan niệm đó chi
phối toàn bộ các hoạt động, kể cả hoạt động nghệ thuật lúc bấy giờ và nó tồn tại mãi trong suốt thời phong kiến, và ngay đến thời hiện đại Có quan niệm như vậy, Lý Bạch
mới có thể đối diện với núi Kình và cảm nhận sự "tri âm" của con người với ngọn núi trong một cái nhìn tương thông "tương khan lưỡng bất yếm" Con người xuất hiện trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời "đầu đội trời, chân đạp đất", hòa hợp đất trời
Con người được đặt ở vị trí trung tâm để tương thông cùng thế giới, tạo nên một sự giao hòa, thống nhất giữa thế giới nội tâm với thế giới ngoại cảnh Đó là lí do vì sao ta thấy trong thơ Đường lại có nhiều cảnh thiên nhiên như vậy Con người trong thơ Đường luôn luôn khát vọng hòa hợp với thiên nhiên, ở giữa đất trời, cảm ứng với đất
trời
Trong con mắt, tình cảm của người nghệ sĩ, thiên nhiên, vạn vật đều hữu tình vì
"vạn vật dữ ngã vi nhất" (vạn vật với ta là một) Thơ Đường đặc biệt quan tâm thể
hiện mối quan hệ tương giao, hòa hợp giữa con người với con người Con người trong thơ Đường đề cao cái tâm được biểu hiện rõ trong đề tài bằng hữu Thơ Đường nói nhiều về tình bạn vì đó là thanh khí tự nhiên, tri âm, tri kỷ Hơn nữa các quan hệ trong
xã hội phong kiến, chỉ có quan hệ tình bạn là bình đẳng, là tình cảm thuần túy, tự
Trang 28nguyện, khiến con người, thi sĩ bày tỏ tâm sự và thể hiện khát vọng tri âm một cách dễ dàng Cho nên hiếm nhà thơ nào lại không viết về tình bạn Có thể nói, đến đời
Đường, con người vũ trụ được thể hiện trong thơ ca đã đạt đến trình độ tuyệt vời Hình tượng con người vũ trụ thể hiện khát vọng của con người được sống thanh bình, hòa
hợp vào nhịp sống của vũ trụ vô biên
Trong quan niệm của người xưa, khi con người đã là con người vũ trụ thì thiên
nhiên cũng là thiên nhiên hữu linh và như thế mỗi thực thể thiên nhiên, cũng như con người, là một vũ trụ Điều đó được thể hiện qua các tác phẩm Đường thi trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
Con người mang tầm vóc vũ trụ bao la xuất hiện qua bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lầu Hoàng Hạc và Quảng Lăng (Dương Châu)
cách xa hàng nghìn dặm như hiện lên qua các vần thơ, ẩn chứa cả một nỗi niềm
thương nhớ biệt ly của đôi bạn tri âm Trước cảnh sắc nước trời mùa xuân thơ mộng,
người ra đi hướng về một nơi xa xôi đầy bất trắc, người đưa tiễn chìm trong tâm trạng
của cuộc ly biệt, dõi tầm mắt hút theo bóng dáng người ra đi, mang cả "cánh buồm" khuất bóng, chỉ còn "dòng sông bên trời " Bài thơ chỉ có bốn câu nhưng Lý Bạch đã
nói được nỗi niềm trăn trở của lòng mình Nỗi lo về sự nhỏ bé của những tấm lòng thanh bạch trước dòng đời dữ dằn, nỗi lo của người ở lại dành cho người ra đi khi biết rằng bạn mình đến một nơi chẳng mấy bình yên Hình ảnh con người xuất hiện cho bạn đọc thêm trân trọng tình bằng hữu thắm thiết giữa Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên
Nguyễn Du từng viết "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" Đỗ Phủ mang đến
bức tranh thu với hình ảnh không lạ song sức gợi, tâm trạng của nhà thơ thổi hồn khiến
Thu hứng trở nên sống động Đây là một thi phẩm để lại tên tuổi cho Đỗ Phủ và là một
tác phẩm thơ Đường tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Bốn câu thơ đầu tả cảnh thu vừa có chất nhạc, vừa có chất họa song sắc màu không rạng rỡ, thanh âm không vui Sự hùng vĩ của bức tranh không giấu được ánh mắt u buồn của nhân vật trữ tình Đọc bài thơ ta có thể hình dung một họa sĩ đứng ngắm mùa thu và cất bút vẽ, bắt đầu nhìn từ cảnh gần, từ rừng phong rồi đến dòng sông, dãy núi song bao trùm là nơi cửa ải xa Chủ thể sáng tạo họa phẩm ấy phải đang mang tâm trạng u sầu lắm mới khiến bức họa buồn, u ám đến vậy Cái tâm trạng đau buồn của người tha
hương thời loạn ấy được bộc lộ ngay sau bốn câu thơ tả cảnh:
“Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Trang 29Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.”
(Khóm cúc nở hoa đã hai lần [làm] tuôn rơi nước mắt ngày trước,
Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ
Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét,
Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn dập.) Bốn câu trên là nỗi nhớ quê hương trỗi dậy trong lòng người lữ thứ khi thu sắp
tàn, đông sắp tới Qua hình ảnh thơ "cô chu" thể hiện một tấm lòng thương nhớ quê
nhà nhưng đành buộc chặt nơi con thuyền nhỏ Con thuyền còn chỉ thân phận lênh
đênh, cuộc đời nổi trôi của chính Đỗ Phủ Thu hứng quy tụ được tâm trạng của nhân
vật trữ tình: nỗi nhớ quê hương, nhớ cuộc sống thanh bình chốn quê nhà xưa kia khiến thi nhân u uất, vì thế cảnh thu thấm đẫm nỗi buồn, nhuốm màu ly biệt Ngay cả tiếng chày đời thường, tiếng chày đập áo trong bóng chiều tà cũng thật buồn Nó càng làm hiện rõ cảnh ngộ bi thương của người xa quê, khát khao cháy bỏng cuộc sống yên bình Đọc bài thơ, chúng ta thấy được tâm trạng bộn bề, niềm khắc khoải trong lòng
Đường ở nhà trường phổ thông, Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu đã thể hiện điều đó
Xuất hiện ở một độ cao nhất định - trên lầu Hoàng Hạc, nơi đó hồn thơ như trải rộng
và để rồi nhà thơ hoài niệm:
"Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du."
Trang 30(Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi, Nơi đây chỉ còn trơ lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng một khi đã bay đi, không bao giờ trở lại, Mấy ngàn năm còn bay chơi vơi.)
Bốn câu thơ là một loạt những đối lập: giữa con người và sự vật, giữa mất và còn, giữa cõi tiên và cõi trần, giữa quá khứ và hiện tại Sở dĩ cái còn kia - lầu Hoàng Hạc, là vì có cái mất vĩnh viễn - chàng Tử An cưỡi hạc qua đây, cả hạc vàng, người cưỡi hạc, người ở lầu Hoàng Hạc đã lùi vào dĩ vãng, trở thành hư vô Đó là cái đã mất, song cái mất đó là tiền đề của cái còn Người xưa không còn mà chim hạc cũng chẳng thấy, Thôi Hiệu mượn giai thoại của người xưa để nói về sự mất còn của ngày hôm
nay, cái cao quý, cái linh thiêng, cái hồn đã không còn nữa "bất phục phản", chỉ trơ
lại, sót lại một thực thể vô hồn Cõi tiên đã mất đi chỉ còn lại cõi đời trần tục, dấu vết của một sự tích, và hình ảnh bạch vân không còn là hình ảnh mây trắng cụ thể nữa mà
đó là cái huyền thoại xa xăm, gói trọn tâm cảnh của thi nhân vào đấy Tâm trạng nuối tiếc, suy tư của tác giả trước cái còn - mất, giữa cái hiện tại - quá khứ, một tâm trạng
"hoài cổ" của thi nhân Đó là những trăn trở về cuộc đời, tấm lòng tha thiết với quê
hương, trân trọng những giá trị tốt đẹp của quá khứ, khao khát những điều tốt đẹp nhất cho cuộc sống hiện tại
Thế giới của sự hòa điệu chỉ tồn tại trong bộ phận thơ sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn, theo nguyên tắc chủ quan, khi nhà thơ thể hiện con người vũ trụ trong quan hệ tương giao, hòa hợp với ngoại giới Sự hòa hợp ấy bị phá vỡ khi con người xuất hiện với tư cách là một thần dân của đế quốc Đại Đường Trong thơ
Đường, khi các thi nhân phản ánh con người đời thường, mà chủ yếu là "dân đen", thì
quan hệ tương giao, thống nhất nhường chỗ cho quan hệ đối lập tương phản Nói cách
khác, nếu như con người vũ trụ được thể hiện bằng quan hệ thống nhất, tương giao thì con người đời thường được phản ánh bằng quan hệ mâu thuẫn, đối lập, tương phản và
chủ yếu xuất hiện trong bộ phận thơ sáng tác theo khuynh hướng hiện thực, theo
nguyên tắc khách quan Con người đời thường trong văn học tức là con người được
nhìn, được xem xét trong những mối quan hệ xã hội của nó Trong thơ Đường đó là thần dân đối với quân vương, là kẻ sĩ đối với xã hội, là chiến sĩ trong chiến tranh, và chủ yếu là những con người bất hạnh Khi xã hội có những biến động lớn lao, những
giá trị bị đảo lộn, những cái tưởng như vĩnh hằng bị xóa bỏ phút chốc, cuộc "tang
Trang 31thương" ấy tạo nên một sự kinh hoàng, chấn động trong đáy sâu tâm hồn của thi nhân -
những con người nhạy cảm nhất Nó gọi thi nhân nhìn vào sự thật xã hội và đòi hỏi thi nhân phản ánh Nhưng loạn lạc quá đột ngột, con người thi nhân không kịp chuyển biến Họ chưa kịp thu rút tầm mắt xa xăm để nhìn vào những sự thực nhãn tiền Họ đã
quen thể hiện con người vũ trụ, họ không quen phản ánh con người đời thường bởi vì
họ chưa quan niệm được rằng con người đời thường, con người thế tục tầm thường với
những lo âu vụn vặt, những đau đớn đời thường lại có thể là đối tượng của thơ ca Tình hình ấy đòi hỏi các nhà thơ phải có một sự đổi mới lớn lao, sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người Và người đi đầu thực hiện sự đổi mới ấy chính là "thi thánh"
Đỗ Phủ Hình như lịch sử văn học Trung Quốc trao sứ mệnh làm một nhịp cầu vĩ đại nối hai giai đoạn thơ ca đời Đường cho Đỗ Phủ Đã chuẩn bị cho ông những điều kiện, buộc ông phải đi trước, thu rút tầm nhìn xa xăm về chú mục vào sự thực nhãn tiền - đó chính là cuộc đời cơ cực
Bao cảnh bôn ba, lận đận, đã đẩy Đỗ Phủ về với nhân dân, gần gũi với cuộc sống của nhân dân trước khi loạn An Lộc Sơn nổ ra Sự gần gũi với nhân dân khiến ông có thể nhìn thấy, cảm thông và phản ánh những hiện thực đau thương của cuộc
sống "Thế giới của sự hòa điệu" đã bị phá vỡ bởi tiếng xe trận, tiếng ngựa hí, tiếng khóc than Lần đầu tiên Đỗ Phủ đã đưa người lính, người "dân đen" vào vị trí trung
tâm mà kể lể, thở than, cũng là tố cáo Cuộc đời của người dân được phản ánh dường như trọn vẹn bằng lời tự bạch của chính họ
Cuộc đời con người là quá trình tìm kiếm chân lý Nhưng không phải ai cũng tìm ra hoặc hiểu được một chân lý nào đó của cuộc sống khi nhìn lại chặng đường đời không mấy ngắn ngủi của mình đã trải qua Có những người có khả năng bừng ngộ những chân lý trước một tình huống nào đó của cuộc sống hoặc sau những trải nghiệm của chính cuộc đời mình Chân lý cuộc sống lại thường được thể hiện dưới những hình thức rất hàm súc và cô đọng Trong các tác phẩm thơ Đường chương trình Ngữ văn
trung học phổ thông, Khuê oán của Vương Xương Linh đã khắc họa rõ nét con người
ở một góc đời thường, qua đó thể hiện quá trình bừng ngộ chân lý của một con người,
mà cụ thể là người thiếu phụ Đó là chân lý về hạnh phúc, mối quan hệ giữa hạnh phúc
và sự nghiệp
Hình tượng con người trong bài thơ là người thiếu phụ, một nạn nhân khổ đau trong chiến tranh Họ đón nhận cảnh hạnh phúc lứa đôi chẳng được bao lâu đã chịu
Trang 32chia lìa để làm người chinh phụ, sống lẻ loi Vương Xương Linh thể hiện tiếng nói phản đối chiến tranh phi nghĩa của nhân dân thời Đường, cũng là tiếng nói của toàn nhân loại từ cổ chí kim Bài thơ thể hiện quá trình diễn biến tâm lí, kể cả phần tiềm thức của con người Giá trị nhân văn của thi phẩm thể hiện ở sự trân trọng khát vọng hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, ở tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi của con người không chỉ tuổi thanh xuân, hạnh phúc mà cả cuộc đời Với việc thể hiện sự chuyển biến tâm lí của người thiếu phụ, nhà thơ thể hiện quá trình chuyển biến nhận thức của chính mình: từ con người khao khát lập công danh bằng đao kiếm trên lưng ngựa đến con người có tư tưởng phản chiến khi nhận ra được sự tàn khốc của chiến tranh Hiện thực chiến tranh thời kì An Lộc Sơn khiến những người vợ mỏi mòn trông ngóng, lo lắng cho chồng nơi chiến trường Hình tượng con người đời thường làm cho ta thấy được những bất công xã hội đồng thời thấy được nỗi đau và tinh thần trách nhiệm của nhà thơ, khơi gợi lòng nhân ái, sự cảm thông và tinh thần trách nhiệm đối với đời
Do chịu sự chi phối của mỹ học truyền thống nên tuy trong thơ Đường có hai
"kiểu" con người cơ bản (con người vũ trụ và con người đời thường) nhưng nhìn tổng thể thì con người vũ trụ luôn tồn tại trong suốt cả thời kỳ thơ Đường Con người vũ trụ
là nhân vật trung tâm của dòng thơ thuộc khuynh hướng lãng mạn được thể hiện bằng
quan niệm thống nhất, tương thông với thiên nhiên, con người, vũ trụ, Con người đời thường là nhân vật trung tâm của dòng thơ thuộc khuynh hướng hiện thực sáng tác
theo nguyên tắc khách quan được phản ánh bằng quan hệ đối lập tương phản trong thế mâu thuẫn với giai cấp thống trị
Cho dù xuất hiện trực tiếp hay gián tiếp, dù là con người vũ trụ hay con người
xã hội đều mang tính nhân văn sâu sắc, là cống hiến của thơ Đường vào kho tàng nghệ
thuật của thơ ca Trung Quốc và nhân loại Có thể thấy rằng các tác phẩm thơ Đường được chọn ở nhà trường phổ thông đã thể hiện được rõ hai dạng của kiểu con người ấy Cho nên trong quá trình giảng dạy chúng ta cần theo sát những tiêu chí đó để thẩm thấu văn bản, giúp cho học sinh cảm nhận tác phẩm sâu hơn Hình tượng con người trong thơ Đường khơi gợi nơi người đọc những tình cảm, nhận thức tốt đẹp lành mạnh, qua đó góp phần bồi đắp cho tâm hồn con người những tình cảm cao đẹp, lòng nhân ái, giáo dục học sinh hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ
2.2.1 Không gian và thời gian nghệ thuật
Trang 33"Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận về thế giới và con người thì thời gian, không gian nghệ thuật chính là hình thức để con người cảm thụ thế giới và con người Bởi vì
người ta không thể cảm thụ bất cứ cái gì ngoài thời gian và không gian" [25, tr 6]
Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật chính là hai phạm trù tiêu biểu trong thi pháp học và giữ một vị trí quan trọng trong thơ Đường Không gian và thời gian nghệ thuật của Thơ Đường là sự đúc kết những tinh hoa thơ ca Trung Quốc Các thi nhân luôn sử dụng yếu tố không gian, thời gian nhằm phản ánh nội dung thơ với tần suất lớn
Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mỗi tác phẩm văn học,
dù có quy mô, dung lượng lớn hay nhỏ đều là một thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật ấy là hình tượng của thế giới Không gian, thời gian nghệ thuật có sự phân chia thành không gian, thời gian vũ trụ và không gian, thời gian đời thường
"Không gian vũ trụ là nơi tồn tại của con người vũ trụ" [7, tr 26] Từ một điểm
trung tâm, con người nhìn ra mọi phía: đông, tây, nam, bắc và con người là yếu tố trung tâm nên không gian mang tính đối xứng, con người chính là tâm đối xứng của
không gian ấy "Không gian vũ trụ là hào khí của thơ Đường nhưng cũng là mối sầu của thơ Đường" [25, tr 24] Điều này khiến con người cảm thấy nhỏ bé, cô đơn giữa
vũ trụ mênh mông vô tận Để chiếm lĩnh không gian vũ trụ, con người thường dùng hai cách, đó là: lên cao và đi xa Vì vậy không gian vũ trụ trong thơ Đường là không
gian mở Thi sĩ tạo dựng không gian vũ trụ chính là để đưa không gian nội tâm hòa hợp cùng thế giới Sự giao hòa giữa không gian nội tâm và không gian ngoại giới đã cho người đọc cảm giác như đang đắm chìm trong một thế giới hòa điệu khi bước vào
thế giới thơ Đường Đúng như lời GS Trần Đình Sử đã nhận xét: "Không gian trong thơ Đường tương tự như nghệ thuật tạo vườn của người Trung Quốc, thích tạo cảnh sơn thủy kề nhau, cây rừng trùng điệp, đỉnh non hiện qua khung cửa, bóng hoa chiếu lên trên tường, đường núi quanh co, ngoài vườn có vườn, ngoài cảnh có cảnh Nó cũng tựa như hội họa và thi pháp Trung Hoa chú trọng phối hợp gần xa, thưa dày, hữu vô, tĩnh động" [25, tr 27]
Không gian và thời gian có mối quan hệ mật thiết với nhau Nói đến thời gian
vũ trụ tức là nói đến thời gian trong mối quan hệ với không gian Khi quan niệm
không gian, chúng ta hình dung về nó rõ hơn vì không gian là cái có thể nhìn thấy được, còn thời gian thì vô hình nhưng thời gian vũ trụ trong thơ Đường luôn có mối
Trang 34quan hệ biện chứng với không gian, người ta dùng không gian để thể hiện thời gian và ngược lại Trong thơ Đường có rất nhiều địa danh và đằng sau địa danh ấy vẫn thấy sự tiềm ẩn, bóng dáng của thời gian Với tư cách là thời gian vũ trụ, thời gian nghệ thuật, thơ Đường ít chịu đóng khung trong thời hiện tại mà luôn có xu hướng vận hành trong vòng lưu chuyển của thời gian, ngược về quá khứ, xuôi đến hiện tại (rộng mở), nhàn nhã khoan thai Ta thấy rằng, trong thơ luôn ưu tiên cho quá khứ và chủ yếu được thể hiện dưới hai dạng: thời gian hoài cổ và thời gian ký ức Vì vậy mà có rất nhiều bài thơ
hoài cổ như Bạch đế hoài cổ, Tây Thi vịnh, Xích Bích hoài cổ Ẩn chứa trong thời gian hoài cổ là niềm xót thương cho hiện tại và lo lắng cho tương lai "Hoài cổ" không
chỉ thể hiện trong văn học mà còn thể hiện trong phong tục tập quán của người phương Đông như việc thờ cúng tổ tiên, tức là nhớ về quá khứ một phần do lòng biết ơn đối với tổ tiên ông bà, cha mẹ và một phần là muốn nhắc nhỡ con cháu đời sau luôn nhớ
đến và kế thừa những điều tốt đẹp của thế hệ đi trước Chính điều này đã làm cho thời gian vũ trụ của thơ Đường mang tính nhân văn
Trong thơ Đường nói chung và trong những tác phẩm ở chương trình Ngữ văn trung học phổ thông nói riêng có rất nhiều bài thơ trữ phát tâm tình không gian, thời gian nghệ thuật mang tầm vóc vũ trụ Không gian và thời gian vũ trụ bao bọc con người, đại vũ trụ bao trùm tiểu vũ trụ Trong văn học cổ ta thường thấy con người ở
giữa vòng "thiên phú địa tái" (trời che đất chở) và tư thế con người luôn là "đầu đội trời chân đạp đất" Trong vòng "trời che đất chở" ấy, con người luôn có sự hô ứng
tương thông, tương cảm với đất trời
Trong tác phẩm Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, thời
gian và không gian nghệ thuật đều được tái hiện qua cảm nhận của người ở lại Cái cụ
thể của lầu Hoàng Hạc (không gian thực) với cái không gian đầy chất thơ - không gian cuộc chia tay "yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" Ở đây "yên hoa tam nguyệt"
được dùng chỉ buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện với sương mù tháng ba đã tạo nên hình ảnh hoa khói Đây là thời gian, không gian cuộc chia tay song cũng là biểu
tượng nghệ thuật có sức gợi rất lớn "Yên hoa" là "hoa" và "khói", đây là hình ảnh
thường được không ít thi nhân mang vào thơ của mình khi viết về mùa xuân ở Trung Quốc Nó đã đi vào thơ như một hình tượng nghệ thuật đầy sức gợi cảm, làm thức dậy bao nỗi niềm tâm sự Thôi Hiệu đã từng viết:
"Yên ba giang thượng sử nhân sầu"
Trang 35(Khói và sóng trên sông khiến cho người buồn)
Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên là hai người bạn tri kỉ tri âm, tính tình phóng khoáng, thích ngao du sơn thủy Với tâm hồn nghệ sĩ như vậy, khung cảnh lầu Hoàng Hạc giữa mùa xuân tươi đẹp thật thích hợp để hai người bạn tri âm đàm đạo thi ca, nhân tình thế thái, là giây phút mà cả hai tâm hồn thi nhân đồng điệu, thăng hoa cảm xúc Song lúc này họ phải chia tay nhau Cái tâm sự, nỗi niềm ấy được bộc lộ qua hai câu thơ cuối:
"Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu."
(Bóng cánh buồn lẻ loi xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc,
Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời.)
Đề tài chia ly nhưng thực ra bài thơ lại là tâm trạng của người đưa tiễn Vì thế không - thời gian nghệ thuật của bài thơ vừa hư vừa thực, nó thiên về thời gian và không gian tâm tưởng Đặt tâm điểm ở người ra đi, cuộc đưa tiễn diễn ra trong không gian mở và thời gian vô định Không gian mở ra trước tầm mắt của nhân vật trữ tình,
cả bầu trời, mặt nước, một màu bích không tận Thuyền đã đi xa nên người mới trông
theo cánh buồm cho đến khi cánh buồm mất hút, lúc đầu còn rõ (cô phàm), rồi mờ dần, thấp thoáng, như thực, như hư (viễn ảnh), cho đến khi cánh buồm cũng mất hút, chỉ còn thấy dòng Trường Giang mênh mông sông nước Cánh buồm tự bản thân nó không hề mang tâm trạng gì, song ở đây nó lại đang trong một hoàn cảnh gợi nên sự hoang vắng, cô đơn làm cho con người nghĩ đến sự cô lẻ: sông Trường Giang dài và rộng Một cánh buồm so sánh với con sông dài thì quả là bao la rộng lớn Nhưng con sông dù dài rộng bao nhiêu thì vẫn làm sao có thể sánh bằng với khoảng không gian xanh biếc vô tận trên đầu Đó chính là vũ trụ, vũ trụ bao la rộng lớn mà con người không bao giờ có thể thấy hay đo được ranh giới của nó Không gian mênh mông vô tận ấy thể hiện khát vọng vươn tới của con người trước vũ trụ bao la và nỗi xót thương trước cảnh ly biệt, chia lìa
Một cánh buồm lẻ loi đơn độc cứ xa dần, xa dần rồi mất hút vào khoảng xanh
vô tận, người đứng dõi theo chỉ còn thấy dòng sông dài chảy từ cõi trời xuống "Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu" Sông Trường Giang đâu phải chảy từ cõi trời xuống
mặt đất, vậy tại sao Lý Bạch lại có sự nhầm lẫn đó? Chắc chắn là không, ông không hề
Trang 36nhầm lẫn Sở dĩ ông viết như thế vì bây giờ, trước mắt ông: cánh buồm cô đơn, con sông dài và khoảng trời xanh vô tận nó đã hòa làm một không còn phân biệt được nữa Những hình ảnh tương phản: cánh buồm, dòng sông là hữu hạn; khoảng không gian xanh biếc là vô hạn Cái hữu hạn và vô hạn khi đã hòa làm một thành một chỉnh thể thống nhất đã không còn đối lập nhau mà bổ sung cho nhau Cánh buồm càng lẻ loi đơn độc, thì dòng sông càng dài càng rộng, làm cho bầu trời xanh đã bao la mênh mông càng thêm bất tận
Viết về lầu Hoàng Hạc, Thôi Hiệu viết:
Phiên âm:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Trên bãi Anh Vũ cỏ thơm mơn mởn xanh tươi
Trời về chiều tối [tự hỏi] đâu là quê hương?
Khói và sóng trên sông khiến cho người buồn
Sự hòa quyện giữa không gian và thời gian trong bài Hoàng Hạc lâu khiến khi
nhắc tới không gian người ta nghĩ ngay đến thời gian hoặc ngược lại
Cái không gian hiện tại "lầu Hoàng Hạc" được miêu tả qua kí ức Không gian
hiện tại mà thời gian nằm ở quá khứ Trước một di tích lịch sử có khung cảnh thiên nhiên mơ mộng, nhà thơ nhớ đến tích xưa - huyền thoại về sự ra đời của lầu
Trang 37Hoàng Hạc Sự đối lập giữa không - thời gian phải chăng là niềm nuối tiếc điều quý giá đã qua không bao giờ trở lại: hiện tại - quá khứ; cõi tiên - cõi tục Bàn chuyện xưa - nay về lầu Hoàng Hạc để nói về tâm trạng, suy nghĩ của tác giả Đó chính là một suy nghĩ mang triết lý nhân sinh sâu sắc: triết lí về sự mất - còn, sự hữu hạn và vô hạn của đất trời, nhân sinh
Thi nhân đã đặt tâm hồn mình vào khoảng thời gian và không gian vô tận Không gian lầu Hoàng Hạc như gắn liền với trời cao và khoảng không rộng lớn Cảnh
ở đây giờ chỉ còn trơ trọi một lầu Hoàng Hạc giữa bãi vắng, sông trôi, giữa đất trời bao
la Nó cuốn hút tác giả vào chốn xa xôi bay theo mây gió, mặc cho thời gian lặng lẽ trôi qua trong cái không gian tĩnh mịch ấy
Lầu Hoàng Hạc như một ám ảnh nghệ thuật Ba lần xuất hiện, hạc vàng đều có liên quan chặt chẽ với nhau Hạc vàng bay lên trời là tiền đề cho lầu Hoàng Hạc tồn tại, lầu còn đó nhưng hạc vàng đã bay mất đi không bao giờ trở lại
Không gian mênh mông như nối liền bầu trời lầu Hoàng Hạc với bầu trời châu Anh Vũ và lan tận biển Đông Cái mênh mông của trời đất ấy cũng đổi thay bao độ Hoàng Hạc thời Đường vẫn tồn tại trong không gian của Hoàng Hạc sơn Thời gian cứ trôi đi không bao giờ trở lại, những khoảnh khắc nối tiếp cứ sinh ra mãi trong không gian
Thời gian nghệ thuật được nhà thơ chuyển đổi thật tài tình, từ chỗ không bằng lòng với hiện tại, quay về với quá khứ, nhưng quá khứ một đi không trở lại, không thể vãn hồi, nhà thơ lại về thực tại Thời gian nghệ thuật ở đây không vận động một chiều
mà nó được tái tạo dưới dạng hoài cổ ký ức, theo trường cảm xúc của thi nhân Cảm
nhận thời gian, con người thấy ngắn ngủi, chóng tàn với thời gian vũ trụ tĩnh tại bất
biến là hai chủ đề thời gian tiêu biểu trong thi ca Trung Quốc
Đứng trên lầu Hoàng Hạc nhìn về phía Hán Dương, trời quang mây tạnh, hiện
rõ mồn một hàng cây bên bờ, đấy là cái còn Hàng cây ấy có bao cây mất rồi được trồng lại cũng giống như cái lầu kia, cả hai vẫn tồn tại mãi giữa không gian, cạnh đó là bãi Anh Vũ xanh đầy cỏ non Những nét chấm phá tuy đơn sơ, bình dị nhưng gợi cảm:
có màu vàng của nắng chiều, màu xanh của cỏ, cây, màu trắng của khói Thế nhưng, nếu cảnh này dậy lên với trời trong nắng sớm của bình minh, cảnh vật sống động và rộn rã thì chiều đến khi hoàng hôn buông xuống càng khiến tâm tư con người thêm sầu muộn
Trang 38Không gian nghệ thuật được tác giả xây dựng theo cách con người cảm thụ là trung tâm Quy mô không gian có ý nghĩa đặc biệt biểu hiện sức mạnh tâm hồn Người xưa nói: hùng tâm đại chí - chí lớn gắn với chiếm lĩnh không gian lớn Không gian lớn
có tác dụng phóng tầm nhìn, nên không phải ngẫu nhiên mà thơ Đường thường có các động tác trữ tình: đăng cao, cúi, ngửa, vọng viễn… Mặc dù trong bài thơ không trực tiếp sử dụng các động tác trữ tình ấy nhưng qua cách thức diễn đạt, hẳn độc giả vẫn có thể hình dung ra không gian trong bài thơ là không gian động, thoắt ẩn thoắt hiện, thoắt ở chỗ này thoắt ở chỗ kia
Dường như không tìm được sợi dây liên hệ tình cảm nào trước không gian vắng lặng, nhà thơ như thất vọng và chuyển điểm nhìn về với chính mình và bất giác chạnh lòng:
"Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu"
Hoàng hôn đã khuất bóng, sự vật xung quanh trở về với dáng vẻ đìu hiu, cô quạnh Trên sông sóng gợn nhấp nhô, khói tỏa lờ mờ, khiến cho lòng khách tha hương
thêm buồn da diết, khắc khoải Thời gian thì "nhật mộ", không gian thì "hà xứ thị?" với hình ảnh gợi sầu "yên ba giang thượng" Nhà thơ quay về đối diện với chính mình
Cảnh hoàng hôn lữ thứ không nhà làm cho con người nghĩ tới tuổi già, không biết đâu
là bến đậu để được bình an giữa những biến động cuộc đời
Nỗi buồn phủ kín, tất cả như bế tắc trong không gian và cả thời gian để rồi tất
cả thời gian và không gian chỉ còn đọng lại một chữ sầu rơi xuống ở cuối bài Một chữ sầu gói trọn nỗi đau của cả một đời người, một thời đại, vời vợi giữa không gian, thời gian và nhân gian
Là một tác phẩm thơ Đường tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn trung học
phổ thông, Thu hứng của Đỗ Phủ đã rất thành công với những đặc sắc về thi pháp, đặc
biệt về phương diện không - thời gian nghệ thuật Bức họa mùa thu quen thuộc mà trở nên mới lạ hơn nhờ đường nét, màu sắc và âm thanh Đường nét, hình ảnh của bức
tranh rất hùng vĩ, mở ra khung cảnh của thiên nhiên nói hộ lòng người Thu hứng với
bức tranh thu ở bốn câu đầu có đủ cả núi, rừng, sông nước, bầu trời và cửa ải
Phiên âm:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm
Trang 39Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Mùa thu mà Đỗ Phủ nói đến trong bài thơ không phải là mùa thu chung chung
mà là mùa thu ở vùng Quỳ Châu (Tứ Xuyên) Hai địa danh Vu Sơn, Vu Giáp thuộc thượng lưu sông Trường Giang, núi non hiểm trở, vào thu nơi đây càng ảm đạm mịt
mờ Một không gian rộng nhưng có giới hạn chứ không vô tận Đó là một không gian
u ám của buổi sáng mùa thu không có ánh nắng bình minh Nó gợi cảm giác u ám và lạnh lẽo Không gian mang đậm tính chất cổ điển của thiên nhiên Trung Quốc Không gian có đủ chiều cao và chiều rộng: rừng phong, dòng sông, xa hơn là dãy núi nhưng không thoáng mà rất nặng nề bởi bị cản ở cửa ải xa đầy sương mù Cái không gian, cảnh sắc thu ấy được quan sát từ cái nhìn của một người đang phải sống tha hương trong khốn khó, phải chứng kiến dân tộc trong loạn li Vọng về quê hương trong nỗi nhớ da diết nhưng không thể trở về được làm cho tâm trạng thêm u sầu Ánh mắt hướng về nơi quê nhà ấy đã bị cản trở bởi cửa ải, mây mù Cái không gian trước mắt
đã chuyển dần vào trong thành không gian tâm tưởng - cảnh loạn ly Từ cảnh sáng thu
u ám gợi liên tưởng đến thực tại và những ngày kế tiếp của cảnh chạy loạn Nỗi nhớ quê hương, nhớ cuộc sống thanh bình xưa kia trỗi dậy trong lòng người lữ thứ khi thu sắp tàn và đông sắp tới Vì thế không gian buồn lại càng nhuốm màu ly biệt Một con thuyền lẻ loi cô độc trên dòng Trường Giang dậy sóng là nơi trú ngụ của kẻ tha phương Hướng về phía quê hương nhưng phía trước là cửa ải mịt mù, là dòng sông cuộn sóng, là loạn lạc binh đao Một con thuyền nhỏ nhoi không đủ sức để vượt qua những cản trở đó để trở về quê hương khiến dòng nước mắt rơi
Các nhà thơ Đường mang thiên nhiên vào trong tác phẩm, lấy không gian, bức
tranh thiên nhiên làm cảm hứng sáng tác Trong Điểu minh giản nhà thơ Vương Duy
viết:
Phiên âm:
Nhân nhàn quế hoa lạc,
Trang 40Dạ tĩnh xuân sơn không
Nguyệt xuất kinh sơn điểu, Thời minh tại giản trung
Điểu minh giản là một bức tranh thanh tĩnh Con người, không gian và cảnh vật
dường như hoà chung một niềm tâm tư Con người sống trong cảnh nhàn hạ, đó là cuộc sống của người ẩn sĩ Hoa quế là loài hoa rất nhỏ, nên hoa rụng không gây nên sự thanh động nào cả Cảnh vật rất nhẹ nhàng và thanh cao Một khung cảnh thiên nhiên trữ tình, một bức tranh sơn thủy đáng yêu Cảnh và người thật hòa hợp, người thì nhàn nhã, cảnh thì thanh tao, những bông hoa li ti nhẹ rơi càng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch của đêm trên núi vắng Cảnh vật ở hai câu đầu thiên về tĩnh và tối Thời gian là một đêm mùa xuân yên tĩnh thanh tao
"Nguyệt xuất kinh sơn điểu, Thời minh tại giản trung"
Đến hai câu sau, không gian đột ngột có sự thay đổi, tưởng như trái ngược với cảnh ở hai câu trên Đó là sự xuất hiện của âm thanh và ánh sáng Ánh sáng của trăng xuân đã lên và âm thanh của tiếng chim núi giật mình Tưởng như cảnh sáng hơn và động hơn, nhưng thực ra ánh sáng và âm thanh chỉ đủ sức làm nổi bật hơn sự tĩnh lặng
của đêm trên núi vắng Trăng làm tăng vẻ huyền ảo, tiếng chim "thỉnh thoảng cất lên trong khe suối" càng làm rõ hơn cái tĩnh của đêm Một bức tranh sơn thủy hữu tình,
yên tĩnh nhưng không quá buồn Trăng lên và tiếng chim kêu được miêu tả thật sinh động, giàu sức gợi cảm Nhà thơ dùng ánh sáng để miêu tả đêm tối, dùng âm thanh miêu tả cái tĩnh lặng Khung cảnh thiên nhiên như thoát tục, gợi đến một cuộc sống thanh thản và nhàn nhã nơi điền viên sơn dã Điểm nổi bật của bức tranh này là hình ảnh một tao nhân mặc khách đang muốn lánh chốn bụi trần để tĩnh tâm
Trong thơ Đường không phải lúc nào không gian cũng rộng lớn, mà một không
gian cũng quen thuộc không kém đó là không gian đời thường Trong không gian ấy
đầy nỗi bi ai, con người bị vây bủa, trói buộc Họ phải đi (hoặc chạy) trong những thôn