1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tiểu luận Quản lý Nhà nước

23 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 212,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa luôn có mối liên hệ hữu cơ và trở thành nhiêm vụ quan trọng của các cấp các ngành tại thành phố Hồ Chí Minh, trong quá trình vừa qua đã đạt được những kết quả và thành tích khích lệ, sẽ tiếp tục được bảo vệ và phát huy giá trị trong giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ kế tiếp. Di tích lịch sử văn hóa của cả nước nói chung và ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là những di sản vô giá được hình thành trong quá trình lịch sử. Các di tích lịch sử, văn hóa vừa chứa đựng giá trị vật thể và phi vật thể, phản ảnh bản sắc, tâm hồn, bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt Nam. Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa là bảo tồn và phát huy nội lực và là nguồn lực góp phần cho sự phát triển bền vững, đã được khẳng định trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thức đẩy sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội”.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Di sản văn hoá là tài sản vô cùng quý giá của đất nước, là chất liệu gắn kết cộngđồng dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị tinh thần mới và giao lưu văn hoá.Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều hoạt động nhằm bảo

vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá của cha ông, góp phần to lớn vào việc bảo vệ vàxây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Quá trình phát triển và hiện đại hóa các thành phố trên thế giới đã làm biến mấtnhiều di sản Đây không chỉ là điều đáng tiếc đối với các thành phố, quốc gia có di sản

mà còn là sự tiếc nuối của toàn nhân loại Quản lí di sản tổng thể trong phát triển đô thị

sẽ nâng cao đời sống đô thị cho các khu vực có giá trị lịch sử nhờ những đóng góp vàonền kinh tế địa phương và bảo vệ những khu vực đó chứ không chỉ đưa chúng trở thànhnhững bảo tàng mở

Những di sản bao gồm các ngôi nhà, di tích, khu phố, quần thể các công trìnhxây dựng hay cảnh quan có giá trị nổi bật toàn cầu phản ánh quá trình phát triển củamột cộng đồng Những di tích còn lại của quá khứ mang đến những câu chuyện lịch sửsinh động, phong phú với giá trị giáo dục cao đối với người dân và những du khách, đểhiểu và trân trọng hơn sự phát triển và thay đổi trong cộng đồng

Bài tiểu luận cuối khóa này sẽ giúp em nhận thức được khái quát tình hình thựctrạng về các di tích cũng như trong công tác quản lí Di sản văn hóa tại địa phương, vềnhững nỗ lực bảo tồn di sản đô thị, góp phần phát triển một nền kinh tế lành mạnh,nâng cao niềm tự hào cộng đồng và bảo vệ các di sản về tương lai của các thế hệ saunày

Trong lần viết này bài tiểu luận của em chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết Emkính mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của các thầy cô giáo để em có thể hoànthiện tốt hơn trong những lần viết sau Em xin chân thành cảm ơn!

Qua bài tiểu luận này, em xin chân thành gửi lời cám ơn đến các thầy, các côtrong trường Cán Bộ thành phố Hồ Chí Minh đã tạo nhiều điều kiện cho em học tập tốt,cũng như lời tri ân đến các thầy, các cô đã dìu dắt em trong suốt những tháng học tập tạitrường Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 Những khái niệm liên quan về công tác quản lý di sản văn hóa:

1.1.1 Khái niệm văn hóa:

Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóabao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng,giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện Cả hai khíacạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa

1.1.2 Khái niệm di sản văn hóa:

Theo công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ngày 16/11/1972

những loại hình sau đây sẽ được coi như “là di sản văn hoá”:

Di tích kiến trúc: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họakiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động

cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoahọc là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;

Nhóm công trình xây dựng: các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà dotính chất kiến trúc, tính chất đông nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theoquan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;

Các di chỉ: các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người

và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểmlịch sử, thẩm mỹ dân tộc học hoặc nhân học là có giá trj nổi tiến toàn cầu

1.1.3 Luật Di sản văn hóa:

Ngày 14/06/2001 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X đã thảo luận và thông qua

Luật di sản văn hóa Đây là một công cụ pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của

con người trong lĩnh vực di sản văn hoá Luật Di sản văn hoá gồm 7 chương, 79 điều.Chương I qui định các điều khoản chung, chương VI qui định về khen thưởng và xử lý

vi phạm, chương VII qui định về các điều khoản thi hành, còn lại 4 chương của Luật lànhững quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnhvực di sản văn hoá

Về cơ bản, Luật Di sản văn hoá là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh việcđổi mới các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam, thiếtthực góp phần triển khai thắng lợi những đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản

Trang 3

Việt Nam về đổi mới đất nước nói chung, cùng xây dựng và phát triển nền văn hoá ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói riêng Những căn cứ pháp lý để xây dựngluật và các quan điểm chỉ đạo của Đảng về việc soạn thảo Dự án Luật là: Hiến pháp

1992, các Nghị quyết của Đảng về xây dựng và phát triển văn hoá, đặc biệt là Nghịquyết Trung ương 5 (khoá VIII)

Dự án Luật Di sản văn hoá được xây dựng trên cơ sở kế thừa những ưu điểm củaPháp lệnh năm 1984: "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắngcảnh" và mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh là di sản văn hoá phi vật thể để phục

vụ và đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Bảo vệ di sản văn hoá trên cơ sở thực hiện chính sách bảo tồn,phát huy di sản văn hoá dân tộc hướng cả vào di sản văn hoá vật thể và phi vật thể;kiểm kê, sưu tầm vốn văn hoá truyền thống (bao gồm văn hoá bác học và văn hoá dângian) của người Việt và các đân tộc thiểu số; bảo tồn các di tích lịch sử, văn hoá và cácdanh lam thắng cảnh, các làng nghề, các nghề truyền thống, trọng đãi những nghệ nhânbậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống

Bảo vệ di sản văn hoá là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước được thể chế hoá và cụ thể hoá trong Luật sẽ góp phần thúcđẩy quá trình xã hội hoá các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Chínhsách này được tiến hành đồng thời với việc nâng cao vai trò và trách nhiệm của Nhànước, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về văn hoá - thông tin để thực hiệntốt công tác quản lý nhà nước về bảo vệ di sản văn hoá

Đồng thời, Luật Di sản văn hoá còn góp phần tạo ra môi trường thuận lợi choviệc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước, đồng thời thúc đẩy việc mở rộng giao lưuvăn hoá với các nước trên thế giới

Trước đây, phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh chỉ bao gồm các di tích lịch sử, vănhoá và thắng cảnh Xuất phát từ nội dung của khái niệm văn hoá và di sản văn hoá theonghĩa rộng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật lần này bao gồm các di sản văn hoá vậtthể và các di sản văn hoá phi vật thể Nội dung của Luật đưa thêm những quy định vềquản lý bảo vệ và phát huy giá trị của các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cùng việc xâydựng các bộ sưu tập và tổ chức quản lý các bảo tàng ở Việt Nam

Theo ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, và đây cũng là một trongnhững vấn đề mà Bộ Chính trị ( khoá VIII) đã đề nghị cần xác định rõ trong Luật, vềquyền sở hữu đối với di sản văn hoá, xuất phát từ nhận thức cho rằng di sản văn hoá làmột trong những tài sản đặc biệt, đồng thời, căn cứ vào những đặc thù của loại tài sảnnày, những quy định của Luật Dân sự về 7 hình thức sở hữu phổ biến đã được vận dụng

để xác định những hình thức sở hữu cơ bản về di sản văn hoá là: sở hữu toàn dân, sởhữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác.Chính vìvậy,vấn đề về sở hữu đối với di sản văn hoá của Luật này có nội dung như sau: "Nhànước thống nhất quản lý di sản văn hoá thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ cáchình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức

Trang 4

sở hữu khác về di sản văn hoá theo quy định của pháp luật ( Điều 5 Luật Di sản vănhoá).

Bên cạnh những quy định cụ thể nhằm đề cao trách nhiệm của nhà nước, Luậtcòn xác định cụ thể sự phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương; quyền vànghĩa vụ của công dân được xác định theo hướng tôn trọng sở hữu tư nhân, tạo điềukiện thuận lợi cho mọi công dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ, phát huy giá trị các disản văn hoá

Ngoài những quy định cụ thể về việc xếp hạng di tích, sưu tầm các di sản vănhoá phi vật thể, thăm dò khai quật khảo cổ học, Luật cũng đồng thời quy định cụ thể vềcông tác thanh tra, kiểm tra cùng mức độ khen thưởng , xử phạt trong lĩnh vực bảo tồncác di sản văn hoá

Thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", các hoạt động bảo

vệ và phát huy di sản văn hoá đã và đang thu hút được sự ủng hộ và tham gia tự nguyệncủa các tổ chức xã hội và đông đảo các tầng lớp nhân dân Cho đến nay, nhân dân ở cácđịa phương đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng cho việc tu bổ các di tích Mặt khác, thôngqua các hoạt động hợp tác quốc tế dưới mọi hình thức, cùng với việc tranh thủ kinhnghiệm quốc tế về khoa học- công nghệ tiên tiến, chúng ta còn nhận được sự ủng hộ vềtài chính và thiết bị kỹ thuật Quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước tahiện nay, Luật Di sản văn hoá cũng đồng thời có những quy định cụ thể , tạo điều kiệnthuận lợi cho các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị các

di sản văn hoá, như việc cho phép tổ chức trưng bày cổ vật ở nước ngoài, việc nghiêncứu, sưu tầm các di sản văn hoá của người nước ngoài ở Việt Nam và đặc biệt là việchợp tác quốc tế để bảo hộ những di sản văn hoá Việt Nam ở nước ngoài

Trong khía cạnh hành chính công, việc quản lí di sản phụ thuộc vào vai trò lãnhđạo tốt Hơn thế nữa, việc hiểu biết đủ về những cơ chế đang được vận hành có tácdụng như những động lực cũng như ngăn ngừa là hết sức cần thiết để có thể thành công.Những quy định pháp luật về bảo vệ di sản là một cơ sở cốt lõi trong việc quản lí các disản Để những điều luật này trở nên có hiệu quả và được thi hành một cách nghiêmnghặt, việc bảo tồn di sản phải thiết lập sự ưu tiên về kinh tế và xã hội

Luật Di sản (Điều 54, 55, 56) bao gồm những nội dung chính về việc quản líNhà nước về di sản văn hóa Những trách nhiệm cụ thể của các ban ngành phụ thuộcvào mức độ quan trọng được phân công đối với mỗi khía cạnh của di sản vật thể và phivật thể:

- Trình bày rõ ràng và hướng dẫn thực hiện đầy đủ những chiến lược, kế hoạch

và những chính sách về việc bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về di sản văn hóa

- Tổ chức và đưa ra chỉ dẫn cho các hoạt động bảo tồn và phát huy những giátrị di sản văn hóa; Phổ biến các điều luật và quy định về di sản văn hóa

Trang 5

- Tổ chức và quản lí việc nghiên cứu khoa học và những hoạt động đào tạo về

1.2 Đặc điểm, vai trò, nguyên tắc trong công tác quản lý di sản văn hóa:

1.2.1 Đặc điểm, vai trò của việc quản lý và bảo tồn di sản:

Quản lý Nhà nước (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa; Các Bộ có liên quan):

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchnhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩnchuyên môn, nghiệp vụ về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

tổ chức thanh tra kiểm tra các hoạt động có liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa

Quản lý địa phương (UBND tỉnh/thành phố, quận/huyện, xã/phường quản lý về mặt hành chính; các Sở, Phòng nghiệp vụ))

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch và phát huy giá trị di sảnvăn hoá ở địa phương;

- Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trongphạm vi địa phương

- Quyết định xếp hạng và huỷ bỏ xếp hạng di tích cấp tỉnh

- Phê duyệt các dự án đầu tư bảo tồn, trùng tu di tích

Trang 6

- Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về di sản

- Đối với cấp huyện, xã, ban quản lý di tích: đề nghị cơ quan có thẩm quyềnxếp hạng di tích, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện bảo vệ, tu bổ và phát huy giátrị di tích trong địa phương Ngăn chặn và xử lý các vi phạm di tích

Các cơ quan chuyên môn (Viện Bảo tồn di tích, Các trường đại học, Viện nghiên cứu )

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình nghiên cứu cơ bản và nghiêncứu ứng dụng về di sản và kỹ thuật, công nghệ bảo tồn, trùng tu di tích;

- Cung cấp các dịch vụ tư vấn, lập dự án bảo tồn phát huy giá trị di tích

- Tham mưu cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc ban hành cơ chế,chính sách, xây dựng chiến lược, quy hoạch kế hoạch

- Đào tạo nhân lực, phổ biến kiến thức, hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật côngnghệ bảo tồn trùng tu di tích

1.2.2 Nguyên tắc của công ước du lịch văn hóa:

Nguyên tắc 1: Vì du lịch nội địa và quốc tế là một trong những phương tiện tốt

nhất để trao đổi văn hoá nên việc bảo vệ cần phải tạo ra những cơ hội quản lý tốt và cótrách nhiệm cho các thành viên của cộng đồng chủ nhà và các khách tham quan thamgia để họ thấy được và hiểu được trực tiếp di sản và văn hoá của cộng đồng đó

Nguyên tắc 2: Mối quan hệ giữa các địa điểm Di sản và Du lịch là có tính động

và có thể có giá trị xung đột nhau Phải quản lý mối quan hệ đó một cách bền vững chohôm nay vì các thế hệ mai sau

Nguyên tắc 3: Lên kế hoach Bảo vệ và Du lịch cho các địa điểm Di sản phải bảo

đảm cho du khách sẽ cảm nhận được là bõ công, là thoải mái, là thích thú

Nguyên tắc 4: Các cộng đồng chủ nhà và dân chúng bản địa phải được tham gia

vào việc lập kế hoạch bảo vệ và du lịch

Nguyên tắc 5: Hoạt động du lịch và bảo vệ phải có lợi cho cộng đồng chủ nhà Nguyên tắc 6: Các chương trình xúc tiến du lịch phải bảo vệ và phát huy các đặc

trưng của di sản thiên nhiên và văn hoá

1.3Một số văn bản pháp lý:

- Luật Di sản văn hóa do Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2001

- Nghị định 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việcquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hoá

Trang 7

- Quyết định 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/20001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóaThông tin ban hành phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy di tíchlịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.

- Quyết định 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 6/2/2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hóaThông tin về việc ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh

- Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ngày 16/11/1972

- Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể vào ngày 17/10/2003

Trang 8

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẤT LƯỢNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA TẠI THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Đặc điểm, tình hình về công tác quản lý di sản văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh:

Đến nay, toàn thành phố có 124 công trình, địa điểm được xếp hạng trong đó có

54 di tích quốc gia, 1 di tích quốc gia đặc biệt (Dinh Độc Lập) và 70 di tích cấp thànhphố Một số công trình di tích được tu bổ đến nay đã cơ bản hoàn thành như lăng VõTánh, lăng Lê Văn Duyệt và còn 9 công trình tu bổ khác do quận huyện thực hiện.Thường xuyên kiểm tra việc thi hành những quy định pháp luật về quản lý và bảo vệ ditích cũng như liên hệ chặt chẽ với đơn vị, địa phương để giải quyết kịp thời các vướngmắc, tồn tại có liên quan đến công tác quản lý di tích trên địa bàn thành phô, góp phầnđưa hệ thống di tích trên địa bàn thành phố không ngừng được phát huy giá trị và thuhút khách tham quan

Về khối bảo tàng trong năm qua cũng có nhiều tiến triển rõ rệt Các bảo tàng đã

tổ chức và phối hợp với các địa phương ban tổ chức nhiều cuộc trưng bày, triển lãmchuyên đề có ý nghĩa giáo dục, thu hút đông đảo khách tham quan Trong năm 2009,các bảo tàng thực hiện 130 cuộc trưng bày triễn lãm, trong đó có 87 cuộc trưng bày,triển lãm lưu động (tăng 16% so với năm 2008) Song song đó, các bảo tàng đã cónhiều cố gắng trong công tác nghiên cứu sưu tầm, tổng số hiện vật, tài liệu, hình ảnhcác bảo tàng tiếp nhận trong năm 2009 là 6.951 hiện vật, tài liệu Trong đó, đáng chú ý

là sưu tầm được 3.112 hiện vật gốc

Đã hoàn thành cơ bản dự án mở rộng Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, 02 phòngtrưng bày mẫu của dự án “Văn hóa Óc Eo” và “Văn hóa Chămpa” tại Bảo tàng Lịch sửViệt Nam để đưa vào phục vụ công tác chuyên môn và khách tham quan Bên cạnh đó,các dự án mở rộng của các bảo tàng thuộc Sở còn lại đang được khẩn trương triển khainhằm đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa công tác bảo tàng hiện nay Trong cả năm 2009, có2.101.535 lượt khách tham quan bảo tàng, trong đó khách nước ngoài là 519.630 lượtgiảm 3% so với năm 2008 do ảnh hưởng tình hình kinh tế suy thoái và dịch cúm H1N1

Công tác quản lý di sản văn hóa phi vật thể cũng đã được quan tâm hơn: Sở đã tổchức nói chuyện chuyên đề về Luật Di sản Văn hóa sửa đổi và công tác quản lý di sảnvăn hóa phi vật thể cho đội ngũ cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin, Trung tâm văn hóa 24quận, huyện do Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa trình bày Tổ chức lớp tập huấn (5ngày) về quản lý, phát huy giá trị di sản văn hóa, cách thức lập và xét duyệt hồ sơ ditích cho cán bộ quản lý di tích thuộc phòng văn hóa thông tin và trung tâm văn hóa 24quận, huyện và đại diện ban quản lý, ban quý tế, ban trị sự 124 di tích trên địa bànthành phố Phối hợp với trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh triển khaicông tác điều tra văn hóa phi vật thể theo chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa

Trang 9

Ngoài ra, Sở tổ chức cho cán bộ làm công tác quản lý di sản văn hóa ở quận,huyện và các bảo tàng đi học tập kinh nghiệm quản lý ở các đơn vị bạn và đề xuất Ủyban nhân dân thành phố xem xét, có chính sách hỗ trợ cho các Nghệ nhân dân giannhằm động viên và tạo điều kiện cho các nghệ nhân trong việc truyền dạy, bảo tồn cácloại hình nghệ thuật truyền thống.

Đặc biệt, nét mới trong năm 2009 là tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố

ra quyết định thành lập Hội Cổ vật thành phố ngày 09/09/2009 Và trong năm 2010, SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố cũng đã thành lập Hội Di sản vào tháng 10 năm2010

2.2 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý Di sản Văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh:

Với mục tiêu làm tốt công tác bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc, Sở

đã phối hợp với các đơn bị quận, huyện trong việc hướng dẫn hoạt động, quản lý các ditích trên địa bàn thành phố theo Luật Di sản Văn hóa và lập hồ sơ xếp hạng di tích Qua

đó công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố đã

có những chuyển biến khởi sắc, tăng cường hoạt động quản lý nhà nước nên không phátsinh tình trường hợp xâm hại khu vực bảo vệ các di tích đã được xếp hạng Đến nay,toàn thành phố đã có 124 công trình, địa điểm cần tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, lập hồ

sơ đề nghị sếp hạng di tích, tất cả các di tích kiến trúc nghệ thuật đã xếp hạng không bịphá vỡ do quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng của thành phố Các di tích bị xuống cấp(lăng Võ Tánh, lăng Lê Văn Duyệt, đình Nam Chơn, địa đạo Phú Thọ Hòa, đình AnPhú, chùa Giác Viên, chùa Phụng Sơn…) đã được đề xuất các dự án tu bổ, tôn tạo;trong đó, có 4 công trình đã hoàn thành gồm di tích địa đạo Phú Thọ Hòa, đình NamChơn, lăng Võ Tánh, lăng Lê Văn Duyệt

Các đơn vị sự nghiệp bảo tàng đã có nhiều sáng tạo trong hoạt động trưng bày,phố hợp với công tác xã hội hóa tăng cường đầu tư các trang thiết bị chuyên dụng bảoquản hiện vật, tạo mối quan hệ khắng khít giữa các tổ chức, bảo tàng trong và ngoàinước Công tác sưu tầm ngày càng đi vào chiều sâu Công tác bảo quản và phục chếhiện vật ngày càng được quan tâm, chuyên môn hóa, từng bước nâng cao hiệu quả và

đã đi vào nề nếp Số lượt khách tham quan bảo tàng từ năm 2006 đến 2008 phát triểntốt Riêng cuối năm 2008 và năm 2009, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và dịch cúmH1N1 nên số lượng khách tham quan bảo tàng (nhất là khách nước ngoài) không nhưnăm trước Trong cả năm 2009, có 2.101.535 lượt khách tham quan bảo tàng(giảm 3%

so với năm 2008), trong đó khách nước ngoài là 519.630 lượt (chỉ đạt 87% so với năm2008)

2.3 Những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân rút ra được trong công tác quản lý di sản văn hóa:

2.3.1 Thuận lợi:

Trang 10

Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh có quá trình hình thành và phát triển hơn 300năm, các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn thành phố là bức tranh mang đậm dấu ấn

về bằng chứng vật chất và tinh thần phản ánh những giá trị lịch sử, văn hóa của thànhphố trong quá trình khai phá, xây dựng, đấu tranh của nhiều thế hệ cư dân ở vùng đấtnày trong diễn trình lịch sử Các di sản kiến trúc tại thành phố Hồ Chí Minh là nhữngcông trình kiến trúc có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đó là những dấu ấn của quátrình hình thành và phát triển đô thị của Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh Thành phố

Hồ Chí Minh đang trong quá trình chỉnh trang đô thị để thành phố trở nên văn minh,hiện đại

Công tác điều tra phân loại di tích nhằm qui hoạch bảo tồn và phát huy giá trị ditích trên địa bàn thành phố, trong đó có những di tích lịch sử ở thành phố, đến nay cơbản hoàn thành để trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt Quy hoạch Tổng thể bảotồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố đến năm 2020

Nhiều địa điểm diễn ra sự kiện lịch sử khá tiêu biểu ở thành phố, nhưng khôngcòn giữ được nguyên trạng hoặc khó khăn trong việc phục hồi và lập hồ sơ xếp hạng ditích, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành dựng bia hoặc tượng đài Các địa phương nhưphường, xã được phong tặng danh hiệu anh hùng cũng chọn những nơi diễn ra sự kiệnlịch sử tiêu biểu để dựng bia lịch sử nhằm ghi dấu di sản cách mạng Đến nay toànthành phố đã có gần 100 bia lịch sử đã được dựng

Hoạt động tu bổ, tôn tạo, phục dựng các di tích lịch sử cách mạng là việc làm hếtsức có ý nghĩa đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa và cáccấp, ngành ở thành phố Hồ Chí Minh quan tâm và ưu tiên tu bổ trong suốt quá trình từtrước đến nay Chẳng hạn như: nơi đồng chí Nguyễn Tất Thành ở trước khi ra đi tìmđường cứu nước - số 5 Châu Văn Liêm phường 14 quận 5; Khu Trại giam bệnh việnChợ Quán - nơi đồng chí Trần Phú hy sinh - số 190 Bến Hàm Tử, phường 19, quận 5;Địa đạo Phú Thọ Hòa quận Tân Phú; Địa đạo Củ Chi huyện Củ Chi; Bót Dây Thépquận 9; Cơ sở in ấn của Hội ủng hộ Vệ Quốc đoàn - phường 9 quận 10; Hầm bí mật intài liệu Ban Tuyên huấn Hoa Vận thời kỳ chống Mỹ cứu nước - phường 1, quận 6…

Như chúng ta biết, di tích lịch sử cách mạng của cả nước nói chung và di tíchlịch sử cách mạng ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là tài sản vô giá của quốc gia,dân tộc, bởi những di tích lịch sử cách mạng được hình thành trong quá trình đấu tranhcách mạng đầy gian khổ, hy sinh của đồng bào đồng chí, và các tầng lớp nhân dân yêunước Phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng là hoạt động cực kỳ có ý nghĩa trongviệc giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng của các thế hệ đitrước để thế hệ hôm nay và mai sau noi theo trên cơ sở có niềm tự hào để phát huy Mặtkhác các di tích lịch sử cách mạng với tư cách là những tư liệu sống minh chứng chotính chính nghĩa, vì mục đích cao cả của con người Việt Nam trong đấu tranh cáchmạng nhằm thức tỉnh lương tri của những người yêu hòa bình và tiến bộ trên thế giớiđồng cảm một cách sâu sắc với sự nghiệp cách mạng của đất nước ta thời kỳ đã qua vàcông cuộc xây dựng phát triển đất nước ta sau chiến tranh

Trang 11

Một trong những thành tựu nổi bật của các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hoá trong những năm qua là việc thực hiện có hiệu quả công tác tuyêntruyền, giáo dục và thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạt động bảo vệ và phát huy

di sản văn hoá trong cả nước Việc phối hợp với cơ quan báo chí phát thanh, truyền hình

ở Trung ương và địa phương nhằm tuyên truyền, quảng bá các giá trị của di tích lịch sử

và văn hoá được đẩy mạnh Việc giáo dục truyền thống cách mạng trên cơ sở các tàiliệu, di vật lịch sử được đổi mới, đã và đang có những đóng góp không thể phủ nhậnvào công tác tư tưởng của các Đảng bộ cơ sở Mười năm qua, chỉ riêng di tích và chinhánh của Bảo tàng Hồ Chí Minh đã đón và phục vụ được 35 triệu lượt khách thamquan trong và ngoài nước

Các di tích lịch sử thời kỳ kháng chiến dưới dạng các tư liệu, hiện vật được bảoquản và trưng bày tại một số bảo tàng ở thành phố, ở di tích phục vụ đông đảo kháchtham quan trong nước và nước ngoài đã phát huy tác dụng tốt và trở thành minh chứnglịch sử cho muôn thuở

2.3.2 Khó khăn:

Di sản ở các khu vực đô thị đang chịu sức ép lớn từ sự phát triển, vừa xuống cấpvừa bị xâm hại, và có nguy cơ biến mất Trong khi đó, không phải di sản nào cũng đượccông nhận giá trị xác đáng Những thách thức đối với di sản đô thị ở Việt Nam được xácđịnh như sau:

Tỉ lệ đô thị hóa ước tính là 30% và sự tăng trưởng dân số đang đặt nhiều áp lựchơn nữa lên những thành phố di sản như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh vàHuế, nơi những công trình xây dựng đang mọc lên như nấm, nơi các ngôi nhà cũ kĩđang dần bị phá bỏ, nơi ồn ào từng giờ tiếng còi ô tô xe máy, lấn át đi quang cảnh sốngcủa các khu dân cư và những con đường lá phủ đầy Những khách sạn được xây dựng,những ngôi nhà được cải tạo mới trong thành phố, nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sốngcũng như nhu cầu ngày càng tăng cao của du lịch đang phá hủy dần những nét đặctrưng của thành phố Bên cạnh đó những nhận thức hạn chế về đóng góp cộng đồng vàgiáo dục chưa đầy đủ về bảo tồn di sản cũng là một thách thức lớn

Bảo tồn di sản đô thị không phải là giữ nguyên các công trình và ngừng các hoạtđộng của khu vực dân cư để biến thành bảo tàng, mà ngược lại có thể là một động thái

đa mục tiêu như nỗ lực tôn tạo, tái sử dụng và phát triển đồng thời bảo tồn những giá trịvăn hóa của di sản, đảm bảo khu vực di sản hòa hợp với nhu cầu của dân cư và các hoạtđộng kinh tế Bảo tồn di sản được coi là hiệu quả khi đề cập đến thực tế phát triển kinh

tế của khu vực và có khả năng cải thiện tình hình xã hội và kinh tế khu vực, nâng caoniềm tự hào và sự hài lòng của người dân Tương tự, di sản văn hóa phi vật thể có thểvừa được bảo tồn và phát huy nếu được tạo điều kiện phát triển cần thiết Di sản vănhóa không chỉ mang lại lợi ích cho khách du lịch, cho những người cao tuổi trân trọnggiá trị lịch sử mà còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa trong tương lai Cũng chính bởivậy, việc giáo dục thế hệ trẻ về di sản văn hóa, qua đó nhận thức về việc bảo tồn là một

Ngày đăng: 26/06/2020, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w