1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÁO CÁO NGỮ VĂN 2010

9 303 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 256,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động dạy và học văn góp phần hình thành nhân cách của học sinh nên số lượng tiết lên lớp trong tuần khá lớn, môn văn còn là môn bắt buộc trong thi tốt nghiệp và thi đại học khối C,

Trang 1

SỞ GD & ĐT BẠC LIÊU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Trường THPT Ninh Thạnh Lợi Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG BỘ MÔN NĂM HỌC 2009 - 2010

VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG BỘ MÔN NĂM HỌC 2010 – 2011

MÔN NGỮ VĂN BẬC THPT

- Môn Ngữ văn là môn học quan trọng (được xem như môn chìa khóa của các bộ môn) Hoạt động dạy và học văn góp phần hình thành nhân cách của học sinh nên số lượng tiết lên lớp trong tuần khá lớn, môn văn còn là môn bắt buộc trong thi tốt nghiệp

và thi đại học khối C, D

- Hàng năm Sở GD&ĐT thường tổ chức rất nhiều buổi báo cáo tham luận, chuyên đề… nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ Văn

- Mặc dù rất cố gắng tìm kiếm phương pháp giảng dạy cho phù hợp nhưng mặt bằng về học lực bộ môn Ngữ Văn vẫn còn chênh lệch khá nhiều giữa các trường trong tỉnh nói riêng và phạm vi cả nước nói chung

- Môn Ngữ văn gồm có ba phân môn (Đọc văn, Tiếng việt, Làm văm) nên phải sử dụng phương pháp tích hợp không chỉ trong ba phân môn mà còn có cả kiến thức liên ngành khác như: nhạc, họa, lịch sử…

- Dạy văn không chỉ rèn luyện cho các em về kĩ năng đọc – hiểu, nói - viết mà qua

đó còn giúp các em trao dồi, phát triển một cách toàn diện nhân cách và trí tuệ Với môn văn việc làm bài không đơn thuần là chỉ cần kiến thức khoa học như môn Toán (tạm gọi là cái lí) mà còn có cả tình cảm (tạm gọi là cái tình) thì mới giải được, cảm nhận hết được giá trị tinh thần bên trong câu chữ

- Việc tổ chức báo cáo tổng kết bộ môn là rấy cần thiết Vì qua đó những giáo viên làm công tác giảng dạy văn có cơ hội nhìn nhận lại thành quả phấn đấu của mình

so với năm học liền kề

- Việc tổng kết bộ môn có cử giáo viên cốt cán trong bộ môn Ngữ văn của tỉnh đến dự cũng là cơ hội để giáo viên trong trường được tiếp xúc; giải bày ý kiến khúc mắc và lắng nghe ý kiến đóng góp, xây dựng Qua đó xây dựng được phương hướng hoạt động; tìm ra giải pháp tích cực cho giảng dạy trong những năm tiếp theo

I TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BỘ MÔN NGỮ VĂN NĂM HỌC 2009 -2010

1 Tình hình chung:

a Thuận lợi:

- Việc ban hành chuẩn kiến thức, kĩ năng góp phần khá lớn trong việc xác định trọng tâm kiến thức trong soạn giảng

- Giáo viên trẻ, nhiệt tình, cầu tiến và tận tâm với nghề

- Học sinh phần lớn ngoan hiền, chuyên cần

b Khó khăn:

- Việc ra đáp án thi tốt nghiệp 12 chưa khớp với chuẩn kiến thức kĩ năng

cũng phần nào tạo ra cảm giác do dự đối với giáo viên dạy 12 trong soạn gaingr

- Các thiết bị hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả dạy – học còn rất hạn chế

Trang 2

- Tuổi nghề giáo viên còn non trẻ, ít có cơ hội dự giờ học hỏi từ giáo viên có thâm niên, có kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp

- Học sinh và phụ huynh chưa thấy hết vai trò, vị trí và mặt tích cực của bộ môn Ngữ văn đem lại

- Đối tượng học sinh đầu vào quá thấp Một số em khá giỏi chuyển đến học trường Nội trú hoặc trường: Ngan Dừa, Trần Văn Bảy, Vĩnh Thuận…

2 Thực trạng dạy – học môn Ngữ Văn năm 2009 – 2010:

2.1 Đối với lớp 12:

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm 2008 – 2009:

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm 2009 – 2010:

* Nguyên nhân.

- Về thầy:

+ Luôn tìm hiểu và đề ra phương pháp ôn thi cho phù hợp đối tượng Kết hợp

phụ đạo học sinh yếu kém và tiết tự chọn để củng cố kiến thức cơ bản của bài học, rèn

kĩ năng tìm ý, kĩ năng lập luận cho các em ngay từ đầu

+ Không tổ chức kiểm tra tập trung theo mô hình các trường bạn nên dễ dẫn đến điểm đánh giá thiếu tính chính xác Đề kiểm tra không thể tiến hành cùng một lúc cho cả ba lớp nên trong quá trình ôn bài các em thường dùng phương pháp loại trừ để học tủ Đó là nguyên nhân có điểm lệch lớn giữa bài viết và thi học kỳ

- Về trò:

+ Thường rơi vào tâm lí năm cuối đời học sinh nên tranh thủ “chơi nhiều”.

+ Đa số các em học rất yếu các môn tự nhiên và Anh văn nên có xu hướng

cố gắng đầu tư cho các môn này Ngoài ra một số em đang có xu hướng chọn ngành nghề làm ra nhiều tiền nên chọn khối A để thi mà chủ quan với môn Ngữ văn

- Về Ban gíam hiệu:

+ Có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu kém rất sớm Tuy nhiên việc cho tất cả các em cùng tham gia học lớp yếu kém phần nào làm khó cho học sinh khá và cả giáo viên đứng lớp về việc chọn nội dung dạy

+ Tổ chức ôn thi TN theo hình thức cuốn chiếu; tuy nhiên việc giao hoàn toàn trách nhiệm cho giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm là chưa được

+ Nên có dự giờ và họp rút kinh nghiệm cho giáo viên ôn thi tốt nghiệp

- Cơ sở vật chất:

+ Phòng học đảm bảo đủ, nhưng không có quạt, dẫn đến một số tiết học bị phân tán vì điều kiện thời tiết

+ Việc không có sân dạy riêng cho tiết thể dục và quốc phòng nên lớp học thường bị ảnh hưởng tiếng ồn

- Về công đoàn:

+ Tổ chức phong trào thi đua dạy tốt, học tốt

+ Tổ chức thao giảng theo các chủ điểm

Trang 3

+ Chưa có phong trào mang tính giải pháp giúp đỡ đối tượng học sinh yếu

- Về Tổ chức Đội và Đoàn:

+ Tổ chức thi đua học tập theo các ngày lễ lớn, có tổng kết và khen thưởng + Tổ chức các buổi thi đấu thể thao vừa giải trí vừa giúp các em vui học + Có tổ chức phong trào giúp bạn yếu, kém vươn lên trung bình

+ Không tạo được cơ hội để các em giao lưu học hỏi kinh nghiệm ôn tập từ trường bạn vốn có truyền thống và bề dày thành tích

- Tổ bộ môn:

+ Trường chỉ có hai giáo viên dạy Ngữ văn khối THPT

+ Đối với khối lớp 12 chỉ mới dạy trong hai, ba năm nên việc dự giờ, trao đổi kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp phần nào còn hạn chế

- Giáo viên chủ nhiệm:

+ Ít có sự quan tâm đến tiết học chéo buổi, ôn thi TN về tính chuyên cần + Tổ chủ nhiệm hoạt động không hiệu quả, không có dự giờ chủ nhiệm để rút kinh nghiệm mà đặc biệt là tiết ôn thi TN nên không có giải pháp kịp thời uốn nắn các biểu hiện tiêu cực từ học sinh

- Giáo viên bộ môn:

+ Thông tin với giáo viên chủ nhiệm và có uốn nắn với các em có biểu hiện tiêu cực, cá biệt trong học tập Nhưng việc không lấy điểm và không xếp loại hạnh kiểm của các em trong giờ học như thế này nên dẫn đến một số em đến lớp học cầm chừng hoặc cúp cua

+ Trong giờ trả bài viết và giờ giảng dạy có thái độ khen chê đúng mực Cố gắng khuyến khích các em đầu tư vào các môn có năng lực cạnh tranh trong thi cử và

đó chính là các môn xã hội

2.2 Đối với khối 11:

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm 2008 – 2009:

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm 2009 – 2010:

* Nhận xét:

- Số lượng học sinh trên trung bình nhìn chung ổn định giữa hai năm

- Lực lượng học sinh khá, giỏi 2009 – 2010 giảm nhiều trong khi học sinh yếu kém lại tăng

* Nguyên nhân:

- Rất lớn lượng học sinh nguồn đầu vào rất yếu về kĩ năng đọc – hiểu và hành văn trong bài văn nghị luận

- Số lượng học sinh yếu kém khối 10 nghĩ rất nhiều nên lực lượng còn lại của 11 năm 2009 – 2010 phần lớn là trung bình, khá nên nhìn chung giữa hai năm học ít có chênh lệch về lực lượng trên trung bình

2.3 Đối với khối 10:

Trang 4

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm 2008 – 2009:

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm 2009 – 2010:

* Nguyên nhân:

- Về phía thầy:

+ Tổ chỉ có hai giáo viên bộ môn với kinh nghiệm đứng lớp còn non trẻ nên

cơ hội dự giờ rút kinh nghiện còn nhiều hạn chế

+ Việc thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và đánh giá học sinh theo hướng tích cực còn nhiều lúng túng, hiệu quả chưa cao Ngoài ra cách đánh giá học sinh giữa hai cấp học cùng một trường còn có nhiều khúc mắc khó tháo gở

+ Phần lớn những học hỏi có được là từ những lần tập huấn tại Cần Thơ và những buổi báo cáo tham luận, chuyên đề từ sở GD - ĐT Bạc Liêu

+ Do trường còn khó khăn về nhiều mặt nên chưa có cơ hội đi giao lưu học hỏi kinh nghiệm giúp đỡ học sinh yếu, kém từ các trường lớn như Phước Long hay Nguyễn Trung Trực

- Về phía trò:

+ Học sinh đầu vào lực học quá thấp so với yêu cầu của chương trình hiện

hành của khối THPT Một số em ngay cả việc cho chép lại bài thơ trong sách giáo khoa cũng chép không đúng; có em viết chính tả chỉ 22 từ đã sai hết 12 từ và việc đọc chữ thì ôi thôi!!!

+ Các em học yếu kém quá nhiều môn nên việc học lớp bồi dưỡng yếu kém

dễ bị trùng tiết GVCN không quản lí được các em ở các giờ phụ đạo

+ Phụ huynh học sinh và giáo viên chủ nhiệm ít có cơ hội trao đổi thông tin; ngoài ra đa số gia đình học sinh nghèo phải lao động cực nhọc nên không có thời gian quan tâm, quản lí lịch học của con em Cũng cần nói thêm rằng với lịch học chéo buổi dày đặc như hiện tại thì hiệu quả học tập sẽ không cao Một số em có biểu hiện mệt mỏi, oể oải vì không nơi nghỉ trưa, không đủ tiền ăn… và một số em lợi dụng để đi chơi

2.4 Hoạt động báo cáo chuyên đề, SKKN, ngoại khóa, giao lưu học tập kinh nghiệm:

- Báo cáo tổng kết bộ môn năm 2008 – 2009 và định hướng năm 2009 – 2010

- Chuyên đề: Kinh nghiệm ôn thi TN bậc THPT

- Chuyên đề: Khai thác đoạn trích “Trao duyên” theo không gian nghệ thuật

- Ngoại khoá và giao lưu học tập kinh nghiệm hoàn toàn không có

2.5 Công tác giúp đỡ học sinh yếu kém.

- Bảng số lượng học sinh yếu kém TBM HKI 2009 – 2010:

Trang 5

- Bảng số lượng học sinh yếu kém TBM cuối năm 2009 – 2010:

2.6 Kết quả chung 3 khối lớp:

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm học 2008 – 2009

Cộng 273 4 1.5 54 19.78 158 57.9 216 79.1 51 18.7 6 2.2

Bảng 1: Kết quả KSCL đầu năm học 2009 – 2010

Cộng 291 2 0.69 45 15.5 91 31.3 138 47.4

12

9 44.3 24 8.2

Bảng 2: Kết quả điểm kiểm tra học kỳ I 2009 – 2010

8

163 59.5 101 36.

9

10 3.6

Bảng 3: Kết quả điểm kiểm tra học kỳ II 2009 – 2010

Khối Số

HS

Cộng

250 5 2.0 18 7.2 68 27.

2

91 36.

4

97 38.

8

62 24.8 Bảng 4: Kết quả tổng kết cuối năm học 2009 – 2010

Trang 6

Khối Số Giỏi Khá TB Trên TB Yếu Kém

Cộng 250 1 0.4 17 6.8 13 9 55.6 157 62.8 90 36.0 2 0.8

* Nhận xét.

- Kết quả:

+ Số lượng học sinh trên TB năm 2009 – 2010 giảm xuống 16.9% so với năm học 2008 – 2009

+ Số lượng học sinh yếu - kém năm 2009 – 2010 tăng lên 15.9% so với năm học 2008 – 2009

+ Điểm thi HKI và HKII có sự chênh lệch lớn so với điểm trung bình môn

- Nguyên nhân:

+ Việc đánh giá, ra đề bài viết luôn hướng vào cuộc vận động “hai không” + Điểm thi tốt nghiệp hằng năm đều tiến bộ về vị trí so với 18 trường trong tỉnh Qua đó thấy được sự thành công trong việc chú trọng về chất hơn về lượng

2.7 Hoạt động hướng dẫn rèn luyện kĩ năng học tập cho học sinh:

- Trên tình hình thực tế BGH ra kế hoạch phụ đạo; đề nghị các giáo viên được phân đứng dạy các lớp yếu phải nhiệt tình và nghiêm túc

- GVBM tiến hành họp rút kinh nghiệm để chỉ ra những yếu kém, tìm giải pháp khắc phục Ở dây không có nghĩa vì mục tiêu vươn lên mà lẫn lộn giữa chất và lượng

BGH và giáo viên bộ môn cũng kiên quyết hưởng ứng tích cực cuộc vận động “hai không”, nhằm cố gắng nâng dần về chất dù có thể giảm dần về lượng; đặc biệt không

để tình trạng điểm lệch quá cao giữa thi học kỳ, thi tốt nghiệp và điểm trung bình môn

cuối năm

3 Phân tích thực trạng, nguyên nhân:

3.1 Mức độ yêu cầu về kiến thức và kĩ năng đối với học sinh:

Đề gồm 02 phần:

Số câu/điểm Số câu/điểm Số câu/điểm Câu 1: Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc? 1 câu/2 điểm

Câu 2: Cảm nhâ ̣n của anh/chi ̣ về hình ảnh 1 câu/8 điểm

người lính qua đoa ̣n thơ sau:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

……….

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Thống kê điểm từng phần (Đạt yêu cầu là những bài làm đạt ½ số câu từng phần trở lên)

Phần

Trang 7

Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn:

1 - Chiến di ̣ch Điê ̣n Biên Phủ kết thúc tháng lợi 7/1954, Hiê ̣p đi ̣nh

Giơ-ne-vơ về Đông Dương đươ ̣c ký kết Hòa bình lâ ̣p la ̣i, miền Bắc nước ta được

giải phó và bắt tay xây dựng cuô ̣c sống mới 1.0

- 10/54; nhân sự kiện những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về

miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về

2

a Kỹ năng:

Biết cách làm bài nghi ̣ luâ ̣n văn ho ̣c, vâ ̣n du ̣ng khả năng đo ̣c – hiểu để

phát biểu cảm nhâ ̣n về đoa ̣n thơ trữ tình Lâ ̣p luâ ̣n chắt chẽ, diễn đa ̣t lưu

loát, văn mạch lạc; ít sai lỗi diễn đạt…

b Nội dung:

Trên cơ sở những hiểu biết về bài thơ Tây Tiến và tác giả; học sinh

có thể trình bày nhiều cách khác nhau về vẻ đe ̣p người lính Tây Tiến

nhưng phải thấy được cảm xúc, ấn tượng riêng với các ý sau:

- Vẻ đe ̣p hào hùng

+ Ngoa ̣i hình đô ̣c đáo, gân guốc, đầy dũng khí

+ Lí tưởng chiến đấu cao cả, coi thường cái chết

2.0 2.0

- Vẻ đe ̣p hào hoa: Tâm hồn lãng ma ̣n, mô ̣ng mơ… 1.5

- Khái quát: Đoa ̣n thơ dựng lên mô ̣t tượng đài bất tử về vẻ đe ̣p người

lính với hai nét thống nhất và tương phản, đầy bi tráng 1.5

*Lưu ý: Câu 2 chỉ cho điểm tuyệt đối khi học sinh đảm bảo cả kỹ năng và kiến thức 3.2 Khả năng và mức độ đáp ứng các loại kiến thức và kĩ năng của học sinh:

- Phần lớn các em làm được câu tái hiện kiến thức Một só em mất điểm do diễn đạt còn yếu, sai nhiều lỗi chính tả

- Phần nghị luận xã hội hặc nghị luận văn học các em thường không đạt Do bài làm không mạch lạc, không triển khai được các luận cứ, luận chứng; đặt biệt chữ viết

và chính tả của một số em tỏ ra quá yếu

3.3 Các kỹ năng và kiến thức học sinh bị hỏng:

a Nguyên nhân:

* Về phía thầy:

- Chưa có nhiều kinh nghiệm về bình và giảng để hướng dẫn các em chọn được những câu, đoạn văn – thơ hay nhằm kích thích lòng yêu mến văn chương của các em

- Chưa khéo léo trong việc vận dụng kết hợp kĩ năng thực hành trong giờ học lý thuyết Chưa có điều kiện kiểm tra, đánh giá học sinh đồng bộ như các trường bạn

* Về phía học sinh:

- Các em yếu về khả năng phân tích đề, lập dàn ý, dàn bài trước khi làm bài

- Đa số học sinh lớp 10 còn bở ngỡ với cách học, cách đánh giá của giáo viên về con điểm – việc học của các em còn quá lệ thuộc vào con điểm, tức quá quan trọng về lượng mà không quan tâm về chất Ví dụ: gọi các em xưng phong xây dựng bài thì các

Trang 8

em không quan tâm; nhưng nếu bảo em nào phát biểu đúng sẽ cho điểm thì các em rất tích cực, nhiệt tình suy nghĩ và xưng phong…

* Về phía gia đình:

- Có gia đình không biết chữ nên không thể uốn nắn hay chỉnh sửa các lỗi cơ bản ngay từ nhỏ Phần lớn gia đình nông dân, không có thời gian chăm sóc, chỉ bảo con cái; ngay cả việc đi họp phụ huynh cũng nhiều gia đình không đến

- Hậu quả của một số trường tiểu học vùng sâu chạy theo số lượng Cụ thể là

trường Ninh Thạnh Lợi buộc các em đi đăng ký tuyển lớp 6 phải tự tay ghi chớ không cho người thân ghi hộ; một số em không ghi chữ được đầy đủ

b Giải pháp:

- Đối với học sinh: Các em học sinh yếu kém cần thay đổi cách học, cách nghĩ; không ngừng học tập để thay đổi mình, thay đổi kết quả Tham gia học lớp phụ đạo yếu kém để củng cố lại kiến thức bị hỏng

- Đối với phụ huynh học sinh: cần thường cập nhật thông tin về tình hình học tập của con, em qua sổ liên lạc Kịp thời uons nắn khi các em có biểu hiện tiêu cực

- Đối với giáo viên chủ nhiệm: Cập nhật thông tin thường xuyên về học tập và rèn luyện của các em để liên lạc với gia đình Đôn đốc các em về ý thức tự học bằng các phong trào thi đua trong lớp theo các chủ điểm

- Đối với GVBM: Xây dựng đề cương tự chọn, phụ đạo phù hợp với các kiến thức bị hỏng của các em Tạo sự gần gũi, giúp đỡ, khích lệ để các em tự tin học tập

- Đối với BGH, tổ chuyên môn, đoàn thể: Cần tạo sân chơi để các em vui học

Tổ chức các buổi thi viết chữ đẹp theo chủ điểm hoặc thường xuyên cho thi viết theo chủ đề về bạn bè, thầy cô, học tập… đọc dưới cờ

II PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN NĂM HỌC 2010 - 2011.

1 Phương hướng nhiệm vụ phấn đấu năm học 2010 - 2011

* Học sinh.

Cộng 253 4 1.58 35

13.

8 139 54.9 178 70.4 71 28.1 4 1.6

* Giáo viên

- Tiếp tục cải cách phương pháp truyền đạt kiến thức đến với học sinh; hướng dẫn các em về kĩ năng chuẩn bị bài ở nhà, kĩ năng tự học

- Khuyến khích, động viên để các em cảm thấy thoải mái trong tiếp nhận kiến thức

- Xây dựng ngân hàng đề kiểm tra tập trung theo hướng thi TN cho cả ba khối lớp

- Xây dựng đề cương ôn thi TN có chỉnh sửa dựa trên đề cương cũ, có bổ sung một số đề và đáp án thi học kỳ, thi TN những năm gần đây nhằm hiệu quả tiết ôn thi TN

THPT

2 Giải pháp nâng cao chất lượng bộ môn:

* Về công tác quản lí:

Trang 9

- BGH khi phân công và lên TKB phụ đạo học sinh yếu kém cần hợp lí; tránh

trường hợp một em học sinh có tên trong hai lớp yếu kém cùng thời gian

- Bộ môn Văn cần có chuyên đề nghiên cứu nguyên nhân yếu kém của học sinh cấp trường (đa số các em ở bậc THCS đều TB môn văn)

- Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho GVBM đổi mới kiểm tra đánh giá theo ma

trận đề thi TN của Bộ giáo dục Đối với học sinh 12 có hai giáo viên với 2 lớp nên đề nghị P.HT xếp Thời khoá biểu trong tuần có 2 tiết liền kề trùng giữa hai lớp để dành cho học sinh làm bài viết

- Giáo viên chủ nhiệm cần theo dõi học sinh để uốn nắn kịp thời các biểu hiện tiêu cực ở các em trong các tiết học chéo buổi, học phụ đạo hoặc ôn thi tốt nghiệp

* Đối với trò:

- Có thái độ tích cực trong học tập và rèn luyện Đặc biệt học sinh 12, ngay từ đầu

phải lên kế hoạch ôn thi tốt nghiệp và đầu tư cho các môn sẽ thi đại học

- Nghiêm túc trong kiểm tra, làm bài tập ở nhà theo hướng dẫn của thầy cô Không nên quá lệ thuộc vào con điểm mà cần ý thức học để có kiến thức, học để đi thi và học để hoàn thiện mình hơn

* Đối với thầy:

- Tiếp tục giúp đỡ học sinh yếu kém bằng tiết phụ đạo và phiếu đăng ký nhận giúp

đỡ học sinh yếu kém vươn lên trung bình

- Phối hợp với PHHS về đạo đức và khuyến khích, hướng nghiệp cho con, em bằng những dẫn chứng thực tiễn về những người thành đạt để các em noi gương…

- Tổ chủ nhiệm cần hoạt động hiệu quả hơn; đặc biệt là các thông tin liện lạc từ

phía chủ nhiệm và phụ huynh về học sinh trong học tập và rèn luyện

III CÁC KIẾN NGHỊ:

- Giúp đỡ học sinh yếu cần có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa GVBM và

GVCN, gia đình và BGH

- BGH cần có sơ kết rút kinh nghiệm theo bộ môn của từng học kì, để kịp thời

uốn nắn và tìm giải pháp khắc phục yếu kém Công tác khen thưởng cần kịp thời để khích lệ giáo viên và học sinh trong dạy – học

- Sở GD- ĐT cần xây dựng trang web bộ môn Ngữ văn để giáo viên bộ môn trao đổi thông tin, học hỏi lẫn nhau trong dạy và học…

Tăng Thanh Bình

Ngày đăng: 10/10/2013, 13:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kết quả trung bình môn cuối năm 2008 – 2009: - BÁO CÁO  NGỮ VĂN 2010
Bảng k ết quả trung bình môn cuối năm 2008 – 2009: (Trang 4)
Bảng kết quả trung bình môn cuối năm học 2008 – 2009 - BÁO CÁO  NGỮ VĂN 2010
Bảng k ết quả trung bình môn cuối năm học 2008 – 2009 (Trang 5)
Bảng 1: Kết quả KSCL đầu năm học 2009 – 2010 - BÁO CÁO  NGỮ VĂN 2010
Bảng 1 Kết quả KSCL đầu năm học 2009 – 2010 (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w