Hệ cơ nằm chung quanh ống tiêu hóa, tim và ống đẻ trứng đã tạo ra nhữngnhu động giúp cho các bộ phận này hoạt động, ví dụ như giúp tim co bóp, dichuyển máu vào mạch máu lưng hoặc giúp th
Trang 1MỤC LỤC
TrangBài 1: SINH LÝ CÔN TRÙNG VÀ GIẢI PHẨU .2Bài 2: SINH VẬT HỌC CÔN TRÙNG .18Bài 3: SINH THÁI HỌC CÔN TRÙNG .35
Trang 2da cơ thể hiện diện nhiều nơi trong cơ thể, trên đầu, phần lồi thường có cácdạng hình chữ H hay chữ X.
Ở phần ngực, bộ xương trong của từng đốt ngực gồm có các bộ phận nhưvách phragmata, vách furca và vách bên Vách phragmata tạo chỗ bám cho các
cơ dọc lưng, vách này thường rất phát triển ở các đốt mang cánh Vách furcathường có dạng Y và phần lớn cơ dọc bụng bám vào vách này Còn các vách bêncũng là chỗ bám cho nhiều loại cơ khác nhau
Hình 3 1: Bộ xương trong (phần ngực) a: vách phragmata; b: vách furca; c: vách bên; d: đốt ngực; e: đường nối antecostal (Borror và ctv., 1981)
4.2 Hệ cơ côn trùng.
Hệ cơ côn trùng rất phức tạp gồm từ vài trăm tới vài ngàn tế bào cơ, ở sâunon bộ cánh vẩy, số lượng cơ lên đến 2.000-4.000 cơ, trong lúc ở người chỉ có
2
Trang 3400-500 cơ Không giống với các loài động vật có xương sống có cùng một lúchai loại cơ là cơ vân và cơ trơn Hầu hết côn trùng đều có cấu tạo cơ vân (cấu tạobởi nhiều thớ sợi dọc, có tính đàn hồi cao) ngay cả đối với những cơ nằm xungquanh ống tiêu hóa và quanh tim Căn cứ vào vị trí phân bố và chức năng, có thểchia thành hai nhóm cơ hay bắp thịt.
Trang 4Cơ vách : là nhóm cơ vận động, một đầu bám vào vách trong của da cơthể,đầu kia gắn vào bộ phận vận động như chân, cánh, hàm, râu đầu, lông đuôi,v.v… hoặc cả hai phía gắn vào vách trong của da như các bắp thịt ở ngực vàbụng.
Cơ nội tạng: là nhóm cơ thuộc các bộ máy bên trong và màng ngăn cơ thể
So với cơ vách, cơ nội tạng chiếm tỷ lệ ít hơn nhiều, phân bố dưới dạng các sợi
cơ riêng lẽ hoặc xếp thành mạng
Hệ cơ nằm chung quanh ống tiêu hóa, tim và ống đẻ trứng đã tạo ra nhữngnhu động giúp cho các bộ phận này hoạt động, ví dụ như giúp tim co bóp, dichuyển máu vào mạch máu lưng hoặc giúp thức ăn di chuyển trong ống tiêu hóa
và trứng hoặc tinh trùng di chuyển trong ống sinh dục Hệ cơ giúp cho các bộphận phụ cử động thường được sắp xếp theo từng đốt, thường là từng đôi đốixứng Thường mỗi đốt của mỗi chi phụ đều có hệ cơ riêng
Hệ cơ côn trùng nói chung khá mạnh, rất nhiều loài côn trùng có thể đẩymột trọng lượng gấp 20 lần trọng lượng cơ thể và đối với một số loài côn trùng
có khả năng nhảy, côn trùng có thể nhảy một khoảng cách dài gấp nhiều lầnchiều dài của cơ thể Hệ cơ côn trùng có thể co dãn rất nhanh, đựơc biểu lộ quanhịp đập của cánh, nhịp đập vài trăm lần/giây rất phổ biến ở côn trùng, điềunày cho thấy hệ cơ có tác động rất lớn trong quá trình hoạt động sinh lý của côntrùng
4.3 Hệ tiêu hóa và vấn đề dinh dưỡng ở côn trùng
4.3.1.Cấu tạo
Côn trùng có thể ăn nhiều loài thức ăn khác nhau vì vậy hệ tiêu hóa củacôn trùng cũng có rất nhiều biến đổi nhưng nói chung hệ tiêu hóa của côn trùngđơn giản thường là một ống, ống này có thể uốn cong thành vòng và kéo dài từmiệng tới hậu môn Gồm ba phần: ruột trước, ruột giữa và ruột sau Giữa mỗiphần thường có các van hiện diện hoặc có sự hiện diện của các cơ vòng khoanh
để điều hòa sự di chuyển thức ăn từ vùng này sang vùng khác trong ruột
*Tuyến môi dưới
Phần lớn côn trùng đều có một đôi tuyến nằm ở phía dưới phần trước ốngtiêu hóa Những ống phát xuất từ đôi tuyến này kéo dài về phía trước và hợp
88
Trang 5thành một ống chung ở phần đầu mở ra ở gần phía dưới của môi dưới hoặc lưỡi.Đôi tuyến này được gọi là tuyến nước bọt Ở bộ Cánh vẩy, tuyến này còn tiết rachất tơ để làmkén.
* Ruột trước
Gồm có yết hầu, thực quản, diều và dạ dày trước Phía trong ruột trước cócấu tạo một màng intime có nhiều lông ngắn và dạ dày trước là một túi cơ, vách
cơ dầy,
Trang 6có nhiều gờ cutin cứng làm nhiệm vụ nghiền nát thức ăn, phía ngoài màngintime là một lớp tế bào thượng bì, và phía ngoài lớp thượng bì là một lớp cơdọc, phía ngoài có cơ vòng Phần trước của ruột trước có sự hiện diện của các cơtrương Các cơ này thường phát triển ở vùng yết hầu và ở những loài côn trùnghút, yết hầu được sử dụng như một ống bơm hút.
* Ruột giữa
Thường là một ống dài, đều, thường mang các túi thừa ở phần trước Ruộtgiữa không có màng biểu bì Thay vào đó lớp tế bào thượng bì sẽ tiết ra một lớpmàng mỏng có cấu tạo chitin và protein để bảo vệ cho vách phía trong ruộtkhông bị thức ăn làm thương tổn Lớp màng này cho phép sự trao đổi cácenzyme tiêu hóa và cho phép các sản phẩm đã được tiêu hóa thấm qua để cơ thểhấp thụ Màng thượng bì ở ruột giữa dầy hơn các phần khác của ống tiêu hóa.Phía ngoài lớp màng này là một lớp cơ tương tự như ruột trước nhưng mỏnghơn
* Ruột sau
Thường chia làm hai phần: ruột và trực tràng Ống Malpighi nằm giữaruột trước và ruột sau Vách ruột sau có cấu trúc tương tự vách ruột trước nhưnglớp tế bào biểu bì mỏng hơn và có thể thấm nước
Hình 3 2: Cấu tạo bộ máy tiêu hóa a : ruột trước; b: ruột giữa; c: ruột sau; d: miệng; e: thực quản; f: diều (túi chứa thức ăn); g: dạ dày cơ; h:
túi thừa; i: ống malpighi ; j: hậu môn (Borror và ctv., 1981)
4.3.2.Quá trình tiêu hóa
90
Trang 7Là quá trình biến đổi hoá học khiến cho thức ăn có thể hấp thụ được bởi cơthể Quá trình này có thể được thực hiện trước khi thức ăn được hấp thụ vào ốngtiêu hóa Thức ăn khi đi vào miệng được nhai nghiền nhỏ (ở một số loài, độngtác này còn được thực hiện ở dạ dày trước) sau đó thức ăn sẽ tiếp tục chịu tácđộng của các enzyme tiêu
Trang 8hóa khi đi vào miệng hoặc trước khi thức ăn được đưa vào miệng, thức ăn chịutác động của men amylase trong nước bọt sau đó thức ăn được đưa vào ruộttrước, và tại đây thức ăn có thể được tiếp tục nghiền nhỏ ở dạ dàytrước.
Hầu như toàn bộ sự tiêu hóa được tiến hành ở ruột giữa, biểu mô ruột giữatiết ra hầu hết các enzyme tiêu hóa cần thiết cho sự tiêu hóa Enzyme tiêu hóabiến đổi theo từng loài côn trùng và từng loài thức ăn, ví dụ như các loài ngài tấncông quần áo, tóc (keratine) thì ruột giữa tiết ra những enzyme rất chuyên biệt
để tiêu hóa những loài thức ăn này Côn trùng ăn tạp, sản sinh nhiều enzyme nhưlipase, carbohydrase và protease Đối với các côn trùng hút máu, enzyme chủyếu là protease Sau khi thức ăn đã được tiêu hóa và đa số được hấp thụ, chấtthải được đưa vào ruột sau để thải ra ngoài Nước có thể được hấp thụ tại ruộtgiữa và ở ruột sau, đặc biệt là ở những côn trùng trong kho vựa hoặc những loàicôn trùng sống trong những điều kiện khô hạn, nước trong trường hợp này đãđược giữ lại và sử dụng lại Chỉ một số ít loài sản sinh enzyme tiêu hóacellulose, một số loài khác có thể tiêu hóa cellulose nhờ tập đoàn vi sinh vật hiệndiện trong ống tiêu hóa, vi sinh vật này thường là những vi khuẩn có thể tiêu hóacellulose Những loài vi sinh vật này hiện diện nhiều trong các loài mối vànhững loài cánh cứng đục gỗ
Côn trùng có thể tấn công trên nhiều loại thức ăn khác nhau từ thực vật,động vật, xác chết, phân, trong một số trường hợp máu hay dịch cây trồngcũng có thể cung cấp toàn bộ thức ăn cho chúng Ở nhóm nhai gậm, thức ănđược nghiền nhỏ sau khi được đưa vào ống tiêu hóa Ở nhóm chích hút, yết hầuhoạt động như một ống bơm thức ăn, đưa dịch thức ăn từ vòi hút vào yết hầu vàsau đó thức ăn di chuyển trong ống thức ăn nhờ các nhu động
4.3.3.Dinh dưỡng và thức ăn (nhu cầu dinh dưỡng ở côn trùng)
Côn trùng cũng có những nhu cầu dinh dưỡng tương tự con người, gồm 10acide amine (arginine, histidine, isoleusine, leusine, lysine, methionine, phenyl-alamine, threonine, tryptophane và valine) và một số sinh tố B, sterol (nhưcholesterol và stigmasterol), một vài chất đi từ acide nucleic, và nhiềuchấtkhoáng
Côn trùng không có khả năng tổng hợp acide amine và sterols vì vậy phảilấy trong thức ăn Phần lớn côn trùng đòi hỏi những vitamine B như thiamin,riboflavin, pyridoxine và acide nicotine, trong một số trường hợp thì những
92
Trang 9vitamine chủ yếu đựơc cung cấp bởi vi sinh vật sống cộng sinh Chất khoáng cầnthiết bao gồm calcium, potassium, phospho, sắt, đồng, cobalt và nhiều loài khác.Khối lượng và chất lượng thức ăn có tác động rất lớn đến sự phát triển và sinhsản của côn trùng.
Nhu cầu đối với nước của côn trùng khác nhau tùy theo loài, mặc dù lượng nước
Trang 10và muối chứa đựng trong máu gần như giống nhau ở các loài côn trùng Loàicôn trùng ăn lá có thức ăn chứa một khối lượng nước lớn vì vậy sự mất nước ở
cơ thể cũng cao Những loài côn trùng sống trong kho vựa, do thức ăn chứa rất ítnước nên hầu hết các lượng nước đều được giữ lại ở trực tràng, chỉ có lượngmuối thừa là được thải ra ngoài Một số loài côn trùng có thể hấp thu ẩm độkhông khí bên ngoài khi ẩm độ không khí cao
4.4 Hệ tuần hoàn
4.4.1.Chức năng
Nhiệm vụ chính của máu là chuyên chở những chất dinh dưỡng, chất thải
và những chất tương tự Máu chỉ giữ vai trò phụ trong việc di chuyển O2 vàCO2 Máu cũng giữ nhiệm vụ cân bằng máu và nước trong cơ thể và giữ nhiệm
vụ cơ học như tạo cho cánh duỗi thẳng ra, sau lần lột xác cuối, cũng như trongnhững lúc lột xác lớn lên Ngoài ra máu cũng giữ vai trò bảo vệ cơ thể nhờ cácthực khuẩn thể hoặc miễn dịch thể Thực khuẩn nuốt các vi khuẩn ở ngoài lọtvào, tạo thành những bao cách ly vi khuẩn với cơ thể Miễn dịch được thấy trongtrường hợp những đợt dịch xảy ra liên tiếp, máu của côn trùng tạo ra các khángthể chống lại các tác nhân gây bệnh bên ngoài lọt vào Máu còn là cơ quan dựtrữ, dự trữ nước, thể mở và glucose
4.4.2.Cấu tạo
Hệ thống tuần hoàn của côn trùng là một hệ tuần hoàn hở Máu tràn ngậpkhắp xoang cơ thể, giữa khoảng trống của các cơ quan, chỉ có một phần nhỏ củamáu lưu thông trong mạch duy nhất đó là một ống nằm sát dưới vách lưng, trênống tiêu hóa và kéo dài xuyên qua phần ngực và bụng Mạch lưng chia làm haiphần: phần phía sau bao gồm các phòng tim gọi là chuỗi tim và phần trước làđộng mạch, phía dưới mạch lưng là vách xoang, ít nhiều ngăn cách phần xungquanh tim với phần còn lại của cơ thể
Các phòng tim mang tính phân đốt, có van ngăn cách nhau và hướng vềphía trước Mỗi phòng tim có hai lỗ tim ở hai bên, xuyên qua các lỗ tim này màmáu đi vào tim Số lượng tim thay đổi tùy theo loài côn trùng, trong một sốtrường hợp côn trùng chỉ có một đôi tim
* Thành phần của máu
94
Trang 11Máu côn trùng thường là một chất lỏng (huyết tương) trong suốt, trong đó
có một số lượng tế bào gọi là huyết thể hay tế bào máu Huyết tương thường cómàu xanh, vàng, đôi khi đỏ (thường gặp ở các loài bọ xít nước, do có sự hiệndiện của hemoglobin) Máu chiếm từ 5 - 40 % trọng lượng của cơ thể (thườngthì chiếm từ 25
Trang 12% hoặc ít hơn) Huyết tương gồm khoảng 85% là nước, trong đó có chứacác chất hòa tan như muối, đường, acid amin, protein, lipoprotein, acid hữu cơ
và một số chất khác hàm lượng của những chất này thay đổi tùy theo loài côntrùng và tùy theo các giai đoạn phát triển Huyết tương chứa rất ít oxygen nhưng
có thể chứa một lượng amino acide lớn hơn 20 lần lượng amino acide trong máuđộng vật có vú và cũng chứa nhiều acide uric hơn các động vật có vú
Số lượng huyết thể cũng thay đổi rất nhiều, từ 1.000-100.000 tế bào/mm3,nhưng trung bình là 50.000 /mm3, số lượng huyết thể của con cái thường caohơn con đực và trong ấu trùng thường cao hơn trưởng thành Huyết thể cũngkhác nhau về hình dạng và chức năng, một số huyết thể di chuyển với máu, một
số huyết thể bám vào các bề mặt của các mô Chức năng của huyết thể hầu hếtkhông được biết rõ ràng, phần lớn huyết thể có chức năng thực khuẩn thể, huyếtthể còn giữ vai trò loại bỏ các tế bào chết và các mô trong suốt quá trình biếnthái
4.4.3.Sự tuần hoàn của máu
Sự tuần hoàn của máu được thực hiện nhờ sự co bóp của phòng tim, vàđược phân tán đi khắp cơ thể nhờ những bộ phận bơm phụ rải rác trong cơ thể.Khi đập (co bóp) tim tạo ra một nhu động về phía trước, máu vào timxuyên qua lỗ tim, trong suốt giai đoạn trương tim, lỗ tim được đóng lại Nhịptim đập thay đổi rất lớn tùy theo loài côn trùng, từ 14-160 lần/phút Nhịp đập giatăng trong lúc côn trùng hoạt động Tim co bóp có thể do tác động của các cơtim và cũng có thể do tác động của hệ thần kinh Thường thì máu di chuyển từphía sau ra phía trước, tuy nhiên có một số côn trùng, máu lại có hiện tượng dichuyển về phía sau
Khi tim co bóp, máu được đưa về phía trước vào động mạch và sau đó chảyvào phần đầu của cơ thể Những bộ phận bơm phụ ở phần ngực đẩy máu vàotrong cánh và đến những bộ phận tương tự nằm ở phía chân sau và trong cácchân ngực Từ phía phần trước đầu của cơ thể, máu sẽ chảy xuyên qua các xoang
cơ thể đi khắp các bộ phận của cơ thể và sau đó lại chảy vào lỗ tim để thực hiệnlại chu trình tuần hoàn cũ
Quá trình di chuyển của máu trong cơ thể tạo ra một áp suất rất thấp, đôikhi thấp hơn áp suất của không khí Áp suất của cơ thể có thể được gia tăng bởi
96
Trang 13sự nén ép của vách cơ thể hoặc bởi sự căng lên của ống tiêu hóa (do sự hấp thụkhông khí), nhờ những áp suất này mà vào giai đoạn lột xác, lớp da cũ được nứt
ra và cánh được căng và duỗi thẳng vào giai đoạn hóa trưởng thành Máu còntạo nên một hệ thống độn, duy trì pH của cơ thể tương đối bền vững từ 6,0-7,5
Trang 14Hình 3 3: A: mạch máu lưng (nhìn phía lưng); B: mạch máu lưng (hệ tuần hoàn) (nhìn ngang); C: mặt cắt ngang phần ngực; D: mặt cắt ngang phần bụng; E: mạch máu lưng châu chấu Á phi (nhìn phía lưng).5 Hệ hô hấp
98
Trang 15Nếu là 10 đôi thì gồm một đôi ở đốt ngực giữa, một đôi ở đốt ngực cuối và
8 đôi ở phần bụng tương ứng với 8 đốt bụng Lỗ thở thường có kích thước vàdạng hình thay đổi và thường có bộ phận đóng mở
Trang 16Hệ thống khí quản là hệ thống mở hoặc đóng kín Hệ thống hở rất phổ biến
ở các loài côn trùng Hệ thống khí quản đóng kín thường gồm có một màng lướikhí quản nằm sát ngay dưới lớp da, phân bố rộng khắp cơ thể hoặc chỉ tập trung
ở một số chổ như ở phần mang Hệ thống khí quản đóng kín phổ biến ở côntrùng sống trong nước và côn trùng ký sinh
Ở hệ thống khí quản hở, không khí vào cơ thể xuyên qua lỗ thở, từ lỗ thởqua khí khổng, vào đến vi khí quản và O2 sau đó đi vào tế bào nhờ khuếch tán,CO2 cũng thoát ra ngoài cơ thể bằng một phương cách như vậy Sự di chuyểncủa không khí xuyên qua khí quản nhờ hiện tượng khuyếch tán ở các loài côntrùng có kích thước nhỏ nhưng đối với những loài có kích thước lớn hơn sự dichuyển này được hổ trợ bởi các hiện tượng thông gió tích cực, chủ yếu bởi hoạtđộng của cơ bụng, khi hiện tượng thông gió xảy ra, không khí thường đi vào qua
lỗ thở phía trước và đi ra qua các lỗ thở nằm ở phía sau Các van ngăn ở từng lỗthở sẽ điều chỉnh sự qua lại của không khí xuyên qua lỗ thở Một phần của khíquản chính thường căng phồng thành túi không khí giữ nhiệm vụ trong sự thôngkhí và giúp cho côn trùng bay
Ở côn trùng có hệ thống khí quản đóng kín, không khí vào và ra khỏi cơ thểcôn trùng nhờ hiện tượng khuyếch tán xuyên qua vách da cơ thể và việc dichuyển của không khí xuyên qua hệ thống khí quản cũng nhờ hiện tượng khuếchtán
Đa số côn trùng có hệ thống khí quản dọc nối liền với khí quản lỗ thở vàkhí quản ngang nối liền với khí quản ở hai bên cơ thể, tạo thành hệ thống khíquản có liên kết với nhau
4.5.2.Sự hô hấp của côn trùng sống dưới nước.
Một số lớn côn trùng sống dưới nước (ấu trùng, thành trùng), hấp thu oxy
từ một trong hai nguồn: oxy của không khí và oxy hoà tan trong nước
Sự trao đổi không khí ở những loài côn trùng có kích thước nhỏ (như vàogiai đoạn ấu trùng) được thực hiện nhờ sự khuếch tán qua vách da cơ thể vàotrong hoặc ra ngoài hệ thống khí quản Trong một số trường hợp, vách da này cócấu tạo không thay đổi, ngoại trừ có sự hiện diện của một mạng lưới khí quảnnằm sát dưới vách da; trong một số trường hợp khác, vách da cơ thể có nhữngmang khí quản trong có hệ thống khí quản và sự trao đổi khí cũng được thựchiện chủ yếu ở phần mang này Mang khí quản có thể có những hình dạng khác
100
Trang 17nhau và nằm ở những vị trí khác nhau của cơ thể Mang khí quản của côn trùng
có dạng hình lá ở hai bên 7 đốt bụng
Trang 18Hình 3 4: Sơ đồ khí quản côn trùng A: mặt phẳng cắt ngang (Borror
và ctv., 1981) B: Khí quản và vi khí quản; C: cấu tạo ống khí quản.
Ở ấu trùng chuồn chuồn (Anisoptera), mang khí quản xếp gấp ở trong trựctràng và nước sẽ di động xuyên qua hậu môn vào và ra trong phần trực tràng vànhư vậy sẽ tiếp xúc với phần xếp gấp của mang khí quản trong trực tràng; ở ấutrùng bộ Plecoptera, mang khí quản có dạng ngón tay hay phân nhánh chungquanh phần cuối của chân hay phần cuối của các đốt bụng Sự trao đổi khí có thểxảy ra trên các bề mặt cơ thể của các loài côn trùng này và trong một vài trườnghợp như ở ấu trùng chuồn chuồn (Zygoptera), sự trao đổi không khí qua bề mặt
cơ thể côn trùng quan trọng hơn là qua mang khí quản
Côn trùng sống trong nước có thể lấy oxy từ không khí (ở một vài ấu trùng
và ở con trưởng thành) thường bằng ba cách: từ không gian ở trên phần vượtkhỏi mặt nước của các cây thủy sinh, hoặc xuyên qua khí khổng ở sát mặt nướchoặc từ một lớp không khí mỏng bao bọc ở phía trên cơ thể côn trùng khi côntrùng ngập trong nước Rất nhiều loài côn trùng sống trong nước, có một ống thở
ở phần cuối cơ thể, ống này kéo dài đến bề mặt nước
Côn trùng lấy oxy ở sát mặt nước thì phải luôn luôn nằm sát mặt nước,những loài này có thể lặn xuống dưới nước một thời gian khá lâu và chúng cóthể sử dụng lượng oxy tồn trữ bên trong hoặc ngoài cơ thể, ví dụ lượng khôngkhí tồn trữ trong khí quản của ấu trùng muỗi cho phép loài này có thể sống ởdưới mặt nước trong một thời gian khá lâu
102
Trang 19Rất nhiều bọ xít và bọ cánh cứng sống trong nước mang một lớp không khímỏng trên bề mặt cơ thể khi chúng lặn dưới mực nước, lớp không khí nàythường hiện diện dưới cánh hoặc nằm ở phần bên của bụng dưới.
Côn trùng ký sinh trong cơ thể của ký chủ thường sử dụng oxy từ chất dịchtrong cơ thể của ký chủ nhờ sự khuếch tán xuyên qua vách da cơ thể hoặc (ví dụnhư ở ấu
Trang 20trùng Tachinid) là những lỗ thở ở phía cuối cơ thể của loài ký sinh này, có thể móc vào một trong những ống khí quản của ký chủ.
3.6 Hệ bài tiết
Sự bài tiết là một quá trình điều hoà sinh học giúp cho bên trong cơ thể côntrùng luôn ở trong trạng thái bền vững
Ở lớp côn trùng, ống Malpighi được biết đến như là một cơ quan chính của
sự bài tiết, ngoài ra sự bài tiết còn được thực hiện qua việc thải một số chấtkhông cần thiết (qua) vào trong biểu bì dưới, dạng sắc tố Ngoài ra các tuyếnhiện diện ở ruột cùng cũng có thể là một phần của hệ tiêu hóa vì những tuyếnnày có thể giữ lại nước và muối từ những chất thải ở ruột cùng trước khi thải cácchất này ra ngoài cơthể
Malpighi là những ống có một đầu bịt kín, một đầu gắn vào đoạn chuyểntiếp giữa ruột giữa và ruột sau Số lượng ống thay đổi tùy loài côn trùng, từ mộtđến trên 100 cái Nếu số lượng nhiều ống thường ngắn, và nếu số lượng ít ốngthường dài và phân nhánh Ở những nhóm côn trùng hạ đẳng có cánh như chuồnchuồn có từ 30-200 ống; bộ Cánh cứng có từ 4-6 ống; bộ Cánh vẩy 6 ống; bọ xít
4 ống Có loài lại hoàn toàn không có ống malpighi (rệp) Một đầu của ốngmalpighi lơ lửng trong huyết dịch và hút các chất thải, sau đó những chất nàyđược đưa vào ruột rồi thải ra ngoài cùng với phân Những chất thải chủ yếutrong cơ thể côn trùng là acide uric, đây là sản phẩm thải cuối cùng của quátrình biến dưỡng protein
3.7 Hệ thần kinh
3.7.1.Não
Gồm có 3 thùy: thùy trước, giữa và sau Thùy trước liên hệ đến mắt kép vàmắt đơn, thuỳ giữa liên hệ đến râu đầu và thùy sau liên hệ đến môi trên, ruộttrước và sợi thần kinh liên hệ Hai phiến của thùy sau (phân) tách rời bởi thựcquản và liên hệ với nhau bởi phần nối ở phiá dưới thực quản Kích thước củanão có liên quan đến kích thước của cơ thể và thay đổi rất lớn tùy theo loài côntrùng, não thường có kích thước lớn ở những côn trùng có ngành vi tiến hóa vàphức tạp Tỉ lệ thể tích não/thể tích cơ thể là 1/4000 ở loài bọ ăn mồi trong nước;1/460 ở Ichneumoinidae và 1/174 ở ong
104
Trang 21Hình 3 5: Cấu tạo hệ thần kinh đầu của cào cào (Orthoptera) a não; b: tuyến dưới hầu; c: corpus allatum; d: động mạch; e: thực quản; f: hốc mắt; g: cuống mắt đơn; h: tuyến trán; i: diều; j: sợi thần kinh môi trên; l: sợi
thần kinh hàm dưới; n: ống nước bọt (Bor
3.7.2.Chuỗi thần kinh bụng
Có cấu tạo thành đôi và mang các hạch thần kinh Thường mỗi đốt
mang một đôi hạch nhưng cũng có thể số hạch ít hơn số đốt
Đơn vị hoạt động của hệ thống thần kinh là tế bào thần kinh, có 3 dạngchính: cảm giác, liên hệ và vận động Tế bào thần kinh cảm giác thường nằmsát bề mặt cơ thể, dưới dạng đơn lẻ hay thành từng nhóm
3.7.3.Cơ quan cảm giác
Côn trùng có thể tiếp thu các thông tin bên ngoài nhờ các cơ quan cảm giác.Các cơ quan này phần lớn hiện diện ở vách da cơ thể, có kích thước rất nhỏ vàthường bị kích thích bởi những chất tác động chuyên biệt Côn trùng gồm có các
cơ quan thụ cảm hoá học, thụ cảm cơ học, thính giác, thị giác và một số loài thụcảmkhác
3.7.4.Thụ cảm hoá học
Đây là cơ quan thụ cảm mùi và vị Cơ quan thụ cảm hoá học giữ một vaitrò rất quan trọng trong hệ thống cảm giác của côn trùng, có liên quan đến nhiềuhành vi của côn trùng như gây hại, bắt cặp, lựa chọn chỗ cư trú, quan hệ ký sinh
Trang 22ký chủ Phản ứng của côn trùng đối với các bẫy hấp dẫn (thức ăn giới, giớitính ) và xua đuổi do con người tạo ra cũng nằm trong thụ cảm hoá học.
Cơ quan thụ cảm vị thường nằm ở phần miệng tuy nhiên ở một số loài(kiến, ong, ong vò vẽ) cơ quan thụ cảm vị nằm ở râu đầu, và ở nhiều loài bướm,ngài, ruồi, cơ quan này lại nằm ở đốt bàn Độ nhạy của cơ quan thụ cảm côntrùng đối với một vài
106
Trang 23chất rất cao, côn trùng có thể phát hiện một số mùi vị mặc dù ở một nồng độ thậtthấp, và ở một khoảng cách xa vài km Cơ quan thụ cảm hóa học giữ vai tròquan trọng trong một số hoạt động sống như ăn phá và đẻ trứng.
3.7.5.Thụ cảm cơ học
Phản ứng với các kích thích cơ học như xúc giác, áp suất hoặc chấn động
Cơ quan này cung cấp cho côn trùng những thông tin giúp chúng định hướngtrong việc di chuyển, gây hại, trốn tránh kẻ thù hoặc sinh sản và một số hoạtđộng khác Cơ quan thụ cảm cơ học gồm ba dạng: lông cảm giác, cơ quancampaniform và cơ quan scolopophorus Cơ quan thụ cảm cơ học phổ biến nhất
là lông cảm giác hay gai (setae) cảm giác cấu tạo bởi một tế bào thần kinh Cơquan camponiform có cấu tạo giống như lông cảm giác nhưng không có gai hoặclông, phần cuối của tế bào thần kinh nằm ngay sát phía dưới vòm tròn nhỏ củalớp da Scolopophorus là cơ quan thụ cảm phức tạp với một bó tế bào cảm giác
có phần cuối kéo sát đến vách da cơ thể, cơ quan này cảm ứng với sự di độngcủa cơ thể cũng như với những chấn động và áp suất bên ngoài Cơ quan thụcảm cơ học phân bố rộng rãi trên khắp cơ thể và rất khác nhau như màng nghe ởđốt chày chân trước, cơ quan Johnston ở đốt râu thứ hai
3.7.6.Cơ quan thính giác
Có khả năng phát hiện âm thanh, cơ quan này phát triển ở nhiều loài côntrùng và tham gia vào một số hoạt động sống của côn trùng Cơ quan thính giácthường phát triển tốt nhất ở những loài có khả năng phát ra âm thanh Côn trùng
có thể phát hiện âm thanh nhờ hai bộ phận: lông cảm giác và màng nhĩ Nhiềuloài côn trùng hình như phát hiện được âm thanh nhờ các lông cảm giác mặc dùnhững loài lông này chưa được phát hiện đầy đủ Ở một vài loài muỗi, lông hiệndiện ở râu đầu giữ nhiệm vụ thính giác (đó là cơ quan Johnston nằm ở đốt thứhai của râu đầu)
Màng nhỉ là một tập hợp của Scolopophorus, trong đó các tế bào cảm giácbiến động từ một đến hai (như màng nhỉ của một số loài ngài ) đến hàng trăm tếbào Màng nhỉ là một màng rất mỏng có không khí lưu thông ở hai bên màng.Màng nhỉ hiện diện ở bộ Cánh thẳng (Orthoptera), bộ Cánh đều (Homoptera) và
bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Rõ rệt nhất là ở bộ Cánh thẳng, màng nhỉ hiện diện
Trang 24bên cạnh đốt bụng thứ nhất, ở họ Acrididae, hoặc trên đốt chày chân trước ở họTettigonidae và Gryllidae.
108
Trang 25Hình 3 6: Sơ đồ cấu tạo cơ quan cảm giác; A: cơ quan thụ cảm cơ học (lông cảm giác), (1- lông cảm giác; 2- cơ quan Campaniform); B: cơ quan thụ cảm hóa học a: lông; b: tế bào cảm giác; c: tế bào lông nguyên thủy; d:
tế bào nguyên nguyên thủy; g: sợi thần kinh;
3.7.7.Cơ quan thị giác
Côn trùng có hai loại mắt: mắt kép và mắt đơn
Mắt đơn
Mắt đơn còn được gọi là mắt nhỏ, hoặc mắt lưng Mắt đơn thường hiệndiện ở nhiều loài trưởng thành và trên một số ấu trùng, nằm giữa mắt kép, ở tránhoặc ở đỉnh đầu Về cấu tạo, mắt đơn gồm có: một thấu kính giác mạc lồi, phíadưới thấu kính là hai lớp tế bào: tế bào giác mạc và tế bào thụ cảm thị giác.Chức năng của mắt đơn chưa rõ ràng, hình như mắt đơn chỉ cảm nhận được sựkhác biệt về cường độ ánh sáng và có thể có một số khả năng thu nhận đượchình ảnh một cách thô sơ
Mắt kép
Có cấu tạo bởi nhiều sensil thị giác (có thể lên đến hàng ngàn) gọi làommatidium Mỗi ommatidium là một nhóm tế bào kéo dài, phía trên có thấukính giác mạc lồi hình lục giác Phía dưới giác mạc là một chóp thủy tinh cấutạo bởi 4 tế bào, phần này lại được bao bọc bởi một lớp tế bào sắc tố võng mạc,
Trang 26trong là trụ thị giác Phần tế bào sắc tố giác mạc bao quanh mỗi ommatidiumthường kéo dài vào phía trong vì vậy ánh sáng chỉ có thể đến trụ thị giác (cơquan cảm nhận) xuyên qua một ommatidium Ở phần gốc các tế bào võng mạc
có liên hệ đến thần kinh đi từ mắt đến vùng thị giác ở vỏ nảo Bộ phận sắc tố cóchức năng cách ly quang học
110
Trang 27Nhờ có mắt kép mà côn trùng phân biệt được hình dạng, màu sắc, chuyểnđộng, khoảng cách và cả đến ánh sáng phân cực Có những loài côn trùng chỉnhìn được những vật chuyển động Đa số côn trùng không tiếp thu ánh sáng đỏnhưng nhìn thấy được tia tử ngoại Thường thì khoảng cách thu nhận được củasóng là 2500 - 8000 A0.
Hình 3 7: Sơ đồ cấu tạo mắt của côn trùng A: thiết diện cắt ngang của mắt kép; B: cấu tạo mắt đơn; C: Cấu tạo mắt nhỏ a: giác mạc; b: chóp thủy tinh; c: trụ thị giác; d: sắc tố võng mạc; e: sắc tố giác mạc; f: màng đáy; g:
tế bào giác mạc; h: tế bào sắc tố; i:
3.8 Hệ sinh dục
Sự sinh sản ở các loài động vật thuộc lớp côn trùng gần như luôn luôn hữutính, mặc dù hiện tượng đơn tính cũng thường gặp ở một số loài côn trùng khikhông có sự hiện diện của con đực hoặc số lượng tinh trùng không đủ để thụtinh trứng
Hầu hết côn trùng có giới tính riêng biệt, thường con đực và con cái có thểkhác nhau về kích thước, màu sắc hoặc một số cấu tạo trên cơ thể, ví dụ như
kiến vương trên dừa (Oryctes spp), chỉ có con đực có sừng, con cái không có,
hoặc như râu đầu của một số loài ngài, hoặc mối, muỗi ở con đực thường có
Trang 28dạng lông chim, ở con cái có hình sơị chỉ, hoặc như ở một số loài rệp sáp(Coccidae), sâu kèn (Psychidae), đom đóm (Lampyridae), con đực có cánh, concái không cánh, nhưng nói chung đa số côn trùng không có sự khác biệt rõ rệt vềhình thái bên ngoài giữa con đực và con cái Vì vậy để phân biệt chính xác, cầnquan sát hệ sinh dục
Mặc dù đực và cái khác nhau, nhưng cấu tạo cơ bản gần như tương tự: cả đực và
Trang 29cái đều có một đôi tuyến sinh dục, một đôi ống dẫn, một ống phóng, tuyến phụ
và các phần phụ sinh dục Tuyến sinh dục thuộc loại tuyến ống Một số loàinguyên thủy thuộc bộ phù du có hai lỗ sinh dục Đa số côn trùng chỉ có một lỗsinh dục mằm ở dưới đốt bụng thứ 9 hoặc đốt thứ 8 nếu là con cái
3.8.1.Bộ phận sinh dục cái
Gồm một đôi noãn sào, mỗi noãn sào do nhiều ống trứng hợp thành, mỗinoãn sào có thể chỉ có một hoặc nhiều ống trứng (có thể đến 2500 ống trứng)nhưng thường có từ 4 - 8 cái Phần trên của các ống trứng kéo dài lên phía trên
và hợp thành sợi ngọn bám dính vào vách da cơ thể hoặc vào vách ngăn lưng,
và phần dưới kéo dài đến ống dẫn trứng Trứng được sản sinh từ phần trên củaống trứng, ngay dưới sợi ngọn và phát triển hoàn toàn trong quá trình di chuyển
3.8.2.Bộ phận sinh dục đực
Gồm một đôi tuyến tinh hoàn hay dịch hoàn, một đôi ống dẫn tinh, một ốngphóng tinh, tuyến phụ sinh dục Mỗi tinh hoàn do nhiều ống tinh hợp thành Tinh
Trang 30hoàn thường có hình cầu, hình trứng hay quả thận Tinh hoàn tạo ra các tinhtrùng Tinh trùng di chuyển trong tinh dịch do tuyến phụ tiết ra Một đôi khi ốngdẫn tinh lại có bộ phận phình to là túi chứa tinh, là nơi tích trữ tinh trùng Haiống dẫn tinh hợp lại thành ống phóng tinh Có hệ cơ vòng hoạt động làm choống phóng tinh có thể co lại và tinh trùng từ bộ phận giao cấu được phóng ra
Trang 31Tinh dịch là một loài dịch giúp tinh trùng di chuyển nhưng tinh dịch cũngtạo thành một cái bao cứng bao bọc tinh trùng, đó là tinh cầu (spermatophore) Ởmột số ít loài côn trùng, hai ống dẫn không phối hợp thành ống phóng duy nhất
mà cùng đưa thẳng ra ngoài
Tùy theo loài mà hình dạng cũng như số lượng của các ống trứng, cách hấpthu các chất dinh dưỡng để phát dục của trứng, dạng của các ống phóng, sốlượng và đặc
điểm của các tuyến phụ cũng như dạng của các túi giữ tinh cũng khác nhau.Thường người ta cũng sử dụng các đặc điểm của túi giữ tinh trong công tác phânloài
Hình 3 9: Bộ phận sinh dục đực a: tinh hoàn; b: ống dẫn tinh; c: túi chứa tinh; d: tuyến phụ; e: ống phóng; f: thành dương cụ; g: lỗ sinh dục (Boror
và ctv,1981)
Một số câu hỏi gợi ý ôn tập
1 Ý nghĩa thực tiển của việc nghiên cứu giải phẩu và sinh lý côn trùng?
2 Sự hô hấp ở các loài động vật thuộc lớp côn trùng?
3 Đặc điểm cơ bản của bộ máy tuần hoàn côn trùng ?
4 Ý nghĩa thực tiển của việc nghiên cứu cơ quan cảm giác của côn trùng?
Trang 32Bài 2: SINH VẬT HỌC CÔN TRÙNG 5.1 Trứng và các phương thức sinh sản
5.1.1.Trứn
g Cấu tạo
Trứng là một tế bào lớn, phía ngoài có vỏ trứng Vỏ trứng cấu tạo bởiprotein và sáp, tương đối cứng Độ cứng khác nhau tùy loài côn trùng Bề mặtcủa vỏ trứng có nhiều dạng vân và màu sắc khác nhau Phía trong vỏ trứng cómột màng rất mỏng gọi là màng lòng đỏ trứng Màng nầy bao bọc lấy nhântrứng và các tế bào chất Chất tế bào chia thành hai bộ phận: bộ phận ở chungquanh tương đối dầy không trộn lẫn với lòng đỏ trứng và bộ phận ở giữa đannhau dạng mắt lưới, ở giữa các khe của mạng lưới có lòng đỏ Trứng chưa thụtinh thì nhân trứng nằm ở chính giữa, sau khi thụ tinh thành hợp tử và phân chiathành nhiều hạch bào tử thì di chuyển ra phía ngoài Trên vỏ trứng thường có lỗthụ tinh, gồm một lỗ thật nhỏ hoặc một nhóm lỗ nhỏ để tinh trùng đi vào trứng
Kích thước và hình dạng của trứng
Trứng thường có kích thước khác nhau tùy loài côn trùng, từ nhỏ hơn 1
mm (trứng các loài ong ký sinh) đến hàng chục mm (trứng của sạt sành) Hìnhdạng trứng cũng rất khác biệt tùy loài côn trùng, phần lớn trứng có hình tròn,bánh bao, bầu dục (bướm, ngài), hình trống (bọ xít), hình dưa chuột (rầy), cócuống như trứng của chrysopa (bộ Neuroptera)
Vị trí đẻ trứng
Phần lớn trứng được đẻ ở những nơi mà trứng và ấu trùng nở ra từ trứng
có thể được bảo vệ và có điều kịện thích hợp cho sự phát triển Trứng của côntrùng có thể được đẻ lộ thiên (bướm, bọ xít, ), rải rác từng trứng một hoặc đẻthành từng ổ hoặc từng bọc (dán, ngựa trời) Ở các loài ngài (Lepidoptera), các
ổ trứng thường che kín bởi những lớp lông nhỏ từ mình của côn trùng (sâu ăntạp, sâu đục thân lúa hai chấm, ) Có nhiều loài đẻ trứng trong đất, một số loài
đẻ trứng trong mô cây (rầy nâu, rầy lưng trắng)
Đối với các loài ăn thực vật, trứng thường đươc đẻ trên cây nơi ấu trùng
sẽ sinh sống sau nầy Đối với những loài có giai đoạn ấu trùng sống trong nước,trứng thường được đẻ vào (trên) những vật, cây hiện diện trong nước Côntrùng ký sinh thường đẻ trứng trên hoặc trong cơ thể con ký chủ
Trang 33Hình 4 1: Các dạng trứng của côn trùng: A: ngài Spodoptera
frugipada ; B: sâu cuốn lá Desmia furenalis; C: sâu rễ bắp Diabrotica undecimpunctata; D: ruồi Gasterophilus intestinalis; E: cào cào
Decanthus fultoni; F: muỗi Anopheles; G: ruồi bắp Hylemya platura; H:
Hình 4 2: Bọ xít và trứng bọ xít (Pentatomidae)
Trang 34Hình 4 3: Trứng và vị trí đẻ trứng của một số loài côn trùng gây hại trên lúa.
Trang 355.1.2 Các phương thức sinh sản của côn trùng
Sinh sản hữu tính
Đây là phương thức sinh sản thông thường và rất phổ biến ở côn trùng Conđực và con cái giao phối, tạo ra trứng đã thụ tinh và trứng có thụ tinh mới hìnhthành được một cá thể mới
Sinh sản đơn tính
Đây là kiểu sinh sản mà con cái không cần thụ tinh nhưng vẫn có thể phátdục, sinh sản và đẻ ra những cá thể mới
Sinh sản hữu tính và đơn tính
Có nhiều loài côn trùng có thể vừa sinh sản hữu tính, vừa sinh sản đơn tính,
ví dụ như ở loài rầy mềm (Aphididae), phương pháp sinh sản đơn tính và hữutính xen kẻ nhau có tính chất chu kỳ, thường thì rầy mềm sau một số lần sinhsản đơn tính thì xen vào một lần hữu tính, tuy nhiên cũng có loài, cứ một lần hữutính lại một lần đơn tính Ở các loài tằm, trứng chưa thụ tinh vẫn có thể phát dục
để cho ra những cá thể mới Đối với các loài ong, kiến sống có tính quần tụ xãhội: ong chúa, kiến chúa sau khi giao phối cũng có thể đẻ ra những trứng khôngthụ tinh, những trứng này sẽ nở thành con đực, trứng được thụ tinh sẽ nở thànhcon cái
Sinh sản nhiều phôi
Là phương thức sinh sản từ một trứng có thể phát dục tạo thành hai hoặcnhiều cá thể mới Phương thức sinh sản nầy thường gặp ở các loài ong ký sinhnhư họ ong nhỏ (Chalcididae), họ ong nhỏ không mạch cánh (Proctotrupidae),
họ ong kén nhỏ (Braconidae), họ ong cự (Ichneumonidae) thuộc bộ Cánh màng(Hymenoptera) Số lượng cá thể sinh sản từ một trứng khác nhau tùy theo loài,một vài loài ong thuộc họ Encyrtidae, từ một trứng có thể sản sinh trên 1000 cáthể
Hiện tượng thai sinh
Đa số côn trùng đẻ trứng nhưng cũng có môt số loài đẻ con Hiện tượngnầy thường gặp ở họ rầy mềm (Aphididae), họ ruồi ký sinh (Tachinidae), họ ruồi(Muscidae), bộ cánh tơ (Thysanoptera) và một số loài thuộc bộ Cánh cứng(Coleoptera)
Trang 36Sinh sản thời kỳ ấu trùng
Phương thức nàythấy ở một số loài côn trùng thuộc họ muỗi năng(Cecidomiidae), muỗi Chỉ hồng (Chironomidae) thuộc bộ Hai cánh và họMicromal
Trang 37thidae thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) Buồng trứng ở thời kỳ sâu non đã chín
và trứng không cần qua thụ tinh vẫn có thể phát dục thành ấu trùng Ấu trùngphát dục trong cơ thể ấu trùng mẹ Sau khi hoàn thành giai đoạn phát dục, ấutrùng chui ra khỏi cơ thể của ấu trùng mẹ và tiếp thụ phương thức sinh sản của
ấu trùng mẹ Phương thức sinh sản vào thời kỳ ấu trùng và sinh sản hữu tínhđược tiến hành xen kẽ nhau, qua một số lần sinh sản vào thời kỳ sâu non không
có giai đoạn nhộng thì xuất hiện một số thế hệ mới xuất hiện nhộng Nhộng cóthể cho ra cá thể đực hoặc cá thể cái, các cá thể nầy sẽ giao phối và cho ra các cáthể mới
Ngoài một số phương thức sinh sản như ở trên, ở loài rệp sáp bông Icerya purchasi lại có kiểu sinh sản đực cái cùng cơ thể (hermaphroditic) Ở loài nầy,
hầu hết các cá thể côn trùng đều có tính đực, cái trên cùng cơ thể Trong tuyếnsinh dục của con cái có cả trứng và tinh trùng Một phần tế bào sinh dục ở mặtngoài của tuyến sinh dục phát dục thành trứng, còn tế bào sinh dục ở mặt trongphát dục thành tinh trùng Sự thụ tinh đều do trứng và tinh trùng trên cùng cơthể đó tiến hành với nhau, trường hợp ngẫu nhiên cũng có thể có một số ít tế bàotrứng không qua thụ tinh mà phát triển thành cá thể tính đực Cá thể tính đực nầy
có thể tiến hành giao phối với cá thể đực cái trên cùng cơ thể Giữa các cá thểđực, cái cùng cơ thể không thể giao phối nhau
5.1.3.Hiện tượng trứng nở
Sau khi hoàn thành giai đoạn phát dục phôi thai, ấu trùng phá vở vỏ trứngchui ra ngoài, đó là hiện tượng trứng nở Trứng của côn trùng thường có vỏcứng, ấu trùng phải có những phương thức đặc biệt để phá vở vỏ trứng chui rangoài Ấu trùng có miệng nhai thì dùng đôi hàm trên cắn thủng vỏ trứng để chui
ra, những loài khác có thể có cấu tạo dạng gai, dạng lưỡi cưa hoặc dạng túi lồi
có thể phá vở vỏ trứng, ở các loài nầy khi côn trùng chuẩn bị chui ra khỏi vỏtrứng thì đoạn trước của ống tiêu hóa hút toàn bộ dịch dương mạc và không khívào, lúc đó nhờ sự vận động của hệ cơ tạo nên một áp lực làm cho vỏ trứng vàmàng bao bị rách, nhờ sức ép của phần đầu cùng các cấu tạo nói trên để phá vở
vỏ trứng Ở một số loài châu chấu, sau khi phát dục phôi thai, túi lồi ở cổ hútđầy máu phình to lên tạo thành sức ép để phá vở trứng và bọc trứng để chui ra.Một số loài bọ xít, trứng thường có nắp, chỉ cần sự co dãn của cơ tạo nên sức éplàm bật nắp trứng để sâu chui ra Một số loài dòi ruồi dùng móc miệng để chọcrách màng lòng đỏ là có thể ra khỏi trứng
Trang 385.2 Sự biến thái
Quá trình sinh trưởng phát triển của côn trùng kể từ lúc trứng nở cho đếnkhi trưởng thành có thể có một số thay đổi phức tạp về hình thái bên ngoài cũngnhư các cơ quan bên trong Hiện tượng thay đổi nầy được gọi là sự biến thái Ởmột số loài, sự biến đổi về hình dạng giữa thành trùng và ấu trùng rất ít, ngoại
Trang 39trừ sự khác biệt về kích.
thước, ở một số loài khác, sự khác biệt nầy lại rất lớn, không những về hìnhdạng mà cả về tập quán sinh hoạt Mức độ khác biệt nầy thay đổi tùy theonhóm côn trùng Nói chung, có thể phân biệt hai dạng biến thái chính: biếnthái đơn giản và biến thái hoàn toàn
Ở dạng biến thái đơn giản thì cánh sẽ phát triển từ từ bên ngoài cơ thể vàogiai đoạn ấu trùng và không có giai đoạn nhộng trước khi vũ hóa Còn đối vớikiểu biến thái hoàn toàn, cánh sẽ phát triển phía trong cơ thể trong suốt giai đoạn
ấu trùng; giai đoạn nhộng (bất động - không hoạt động) là giai đoạn phát triểnrất cần thiết cho một sự thay đổi mạnh mẽ từ giai đoạn ấu trùng đến giai đoạntrưởng thành
5.2.1.Biến thái đơn giản
Đây là kiểu biến thái mà quá trình sinh trưởng phát triển chỉ gồm có ba giai
đoạn: Trứng - Ấu trùng - Trưởng thành, không có giai đoạn nhộng Ấu trùng
có hình dạng rất giống thành trùng Mắt đơn sẽ hiện diện vào giai đoạn ấu trùngnếu thành trùng có mắt đơn Nếu thành trùng có cánh thì cánh sẽ phát triển từ từbên ngoài cơ thể ngay từ ở các giai đoạn ấu trùng và sẽ phát triển hoàn toàn vàogiai đoạn trưởng thành
Biến thái đơn giản được ghi nhận ở các bộ từ số 1 đến số 19 (Xem chương VI) Biến thái đơn giản cũng được chia ra làm 3 nhóm:
Biến thái Ametabolous
Ấu trùng và thành trùng chỉ khác biệt chủ yếu về kích thước cơ thể, thườnggặp ở các bộ phụ không cánh như Protura, Collembola, Microcoryphia,
Thysanura, Biến thái Hemimetabolous
Ấu trùng sống trong nước, thở bằng mang và có hình dạng rất khác với thành trùng như ở các bộ Ephemeroptera, bộ Odonata và bộ Plecoptera
Trang 40Hình 4 4: Biến thái Ametabolous (A) và biến thái Hemimetabolous (B)