21 2120': Cánh sau với vùng Anal rộng tạo thành một thùy, thùy nầy thường xếp như cánh quạt lúc nghỉ, mạch cánh thay đổi, cánh trước có nhiều gân ngang giữa Cu1 và M và giữa Cu1 và Cu2,
Trang 1Chương VI: PHÂN LOẠI CÔN TRÙNG
I KHÁI NIỆM CHUNG VÀ NGUYÊN TẮC TRONG PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI
Có trên hàng triệu loài động vật đã được ghi nhận, vì vậy mà một sự phân loài nhằm sắp xếp một cách có hệ thống các loài nầy vào từng nhóm là một điều cần thiết Động vật có thể được phân chia theo nhiều cách nhưng sự phân loài của các nhà động vật học thường dựa chủ yếu trên các đặc tính cấu trúc, những loài có cùng những đặc tính về cấu trúc thì được xếp vào cùng một nhóm, những loài có cấu trúc khác thì được xếp vào những nhóm khác Vì vậy mà động vật được sắp xếp vào thành từng ngành (Phylum), mỗi phylum có một tên riêng và những động vật cùng một ngành phải có một số đặc điểm về cấu trúc giống nhau
Dựa trên mức độ phức tạp và quá trình tiến hóa, động vật được sắp xếp theo các ngành từ thấp đến cao Giới động vật gồm các ngành chủ yếu như sau:
- Ngành Protozoa (Động vật nguyên sinh)
- Ngành Porifera (Sponges - Động vật thân lỗ)
- Ngành Coelenterata (Động vật ruột khoang)
Trang 3Vấn đề đặt tên khoa học cho một loài côn trùng đều được thống nhất theo qui định quốc tế (International Code of Zoological Nomenclature) Tên khoa học của côn trùng được cấu tạo thống nhất theo tiếng La tinh, nhưng cũng có thể từ bất cứ ngôn ngữ nào hay từ tên của một nhân vật hay một vị trí nào đó, nhưng phần lớn từ tiếng La tinh hay Hy lạp Tên khoa học thường là tên ghép, gồm hai chữ: một tên giống và một
tên loài Ví dụ: sâu xám Agrotis ypsilon Rottenberg, Agrotis là tên cấp giống, ypsilon
là tên cấp loài, Rottenberg là tên người phát hiện và mô tả côn trùng Theo qui định thì chữ cái đầu của tên giống phải viết hoa Tên tác giả đặt sau cùng và cũng viết hoa Nếu viết tay hoặc đánh máy thì tên khoa học, gồm tên giống và tên loài phải được gạch
dưới, nếu in thì phải in chữ nghiêng, ví dụ: Agrotis ypsilon Rottenberg Nếu tên tác giả
được để trong ngoặc thì có nghĩa là ông ta đã mô tả loài theo một giống khác hơn là giống được sử dụng hiện tại
Ví dụ: Leptinotarsa decemlineata (Say), có nghĩa là loài decemlineata đã được Say mô tả thuộc một giống khác hơn giống Leptinotarsa và loài nầy đã được chuyển sang giống Leptinotarsa
Chữ La tinh viết từ tộc trở lên thường có phần cuối chữ giống nhau Ví dụ:
Trang 4- Tổng họ (Superfamily) có đuôi chữ là oidea, ví dụ Apoidea (ong)
- Họ (Family) có đuôi chữ là idae, ví dụ Apidae
- Họ phụ (Subfamily) có đuôi chữ là inae, ví dụ Apinae
- Tộc (Tribe) có đuôi chữ là ini, ví dụ Xylocopini
II HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CÔN TRÙNG
Dựa trên sự cấu tạo của cánh, miệng, sự biến thái và nhiều đặc tính khác nhau
mà lớp côn trùng được chia thành nhiều bộ Tùy theo quan điểm của các nhà côn trùng học mà giới hạn loài của từng bộ côn trùng khác nhau vì mỗi người đều có một lý do
và cơ sở khoa học nhất định để phân chia các bộ côn trùng chính, do đó số lượng bộ côn trùng trong mỗi hệ thống đều có ít nhiều khác nhau Hệ thống phân loại của Carlvon Linne (1758) gồm 7 bộ, J C Fabricins (1775) chia thành 13 bộ, Brauer (1885) chia thành 17 bộ, Sharp (1895) chia thành 21 bộ, Chu Nghiêu (1950) chia thành
32 bộ, Jeannel (1938-1949) chia thành 40 bộ Trong giáo trình nầy, chúng tôi sắp xếp theo 28 bộ
Trang 7Hình VI.1 Côn trùng thuộc lớp phụ không cánh (Apterygota)
A: Protura; B: Diplura; C: Thysanura; D: Collembola
Trang 8III KHÓA PHÂN BỘ CÔN TRÙNG (Thành trùng và ấu trùng)
4(3).Thân hình giống cào cào, châu chấu, ngực trước kéo dài về phía bụng và nhọn
ở cuối ngực, chân sau phát triển … ORTHOPTERA
4': Cơ thể không có dạng cào cào, ngực trước không giống
như trên, chân sau không phát triển 5
5(1'): Râu đầu với ít nhất một đốt mang những phần phát triển bên dài, cánh trước rất nhỏ, cánh sau có dạng cánh quạt; côn trùng kích thước rất nhỏ
STREPSIPTERA (con đực ký sinh)
5': Không giống như mô tả ở trên 6
6(5'): Bụng với từ 1-3 sợi lông đuôi kéo dài, miệng không phát triển 7
6': Bụng không giống như mô tả ở trên, miệng gần như luôn luôn phát triển 8
7(6): Râu đầu dài và rõ ràng, cuối bụng có một kim dài (hiếm khi 2 kim), cánh với một
gân phân nhánh, cánh thăng bằng hiện diện, côn trùng rất nhỏ, thường < 5 ly (rệp dính đực) HOMOPTERA
Trang 97': Râu đầu ngắn, dạng lông cứng không rõ, bụng có từ 2 - 3 sợi lông đuôi dài
cánh có rất nhiều mạch cánh và buồng cánh, cánh thăng bằng không hiện diện, thường có kích thước > 5 ly EPHEMEROPTERA
8(6'): Đốt bàn (tarsi) luôn luôn có 5 đốt; miệng kiểu miệng hút (haustellate), cánh sau
thoái hóa thành cánh thăng bằng DIPTERA
8': Đốt bàn có từ 2-3 đốt, miệng thay đổi, cánh sau thoái hóa hoặc không có, không
có dạng cánh thăng bằng 9
9(8'): Miệng nhai gậm (một vài loài Psocids) PSOCOPTERA
9': Miệng thuộc nhóm chích hút (rầy lá, rầy thân) HOMOPTERA
10 (3'): Cánh có nhiều vẩy, miệng thuộc vòi hút, râu nhiều đốt LEPIDOPTERA
10': Cánh và miệng không giống như trên 11
11(10'): Cánh dài và hẹp, ít gân (1-2 gân), có nhiều lông dài ở rìa cánh, đốt bàn 1-2
đốt; đốt cuối phình to, kích thước côn trùng rất nhỏ, thường <5 ly (bọ trĩ) THYSANOPTERA
11': Cánh không giống như trên hoặc nếu cánh dài thì đốt bàn có trên 2 đốt 12
12(11'): Cánh trước thường rộng và có hình tam giác, cánh sau nhỏ và thường tròn;
ở trạng thái nghỉ, cánh thường chấp lại và dựng đứng trên thân, cánh có rất nhiều gân và buồng cánh, râu nhỏ dạng lông cứng và không rõ, bụng có từ 2-
3 lông đuôi, cơ thể mỏng mảnh, mềm EPHEMEROPTERA
12': Không giống như mô tả ở trên 13
13(12'): Đốt bàn có 5 đốt 14
13': Đốt bàn có 4 đốt hoặc ít hơn 17
Trang 1014(13): Cánh trước nhiều lông, miệng thường rất thoái hoá, râu thường dài bằng cơ thể hoặc dài hơn cơ thể, phần lớn côn trùng cánh mềm
TRICHOPTERA
14': Cánh trước không lông, hàm trên phát triển, râu đầu ngắn 15
15(14'): Cơ thể thường cứng, trơn, có dạng ong, bụng thường nhọn, cánh sau nhỏ hơn cánh trước và có ít mạch cánh, cánh trước có đến 20 buồng cánh hay ít hơn (các loại ong) HYMENOPTERA
15': Cơ thể mềm, không có dạng ong, bụng không giống như trên, cánh sau có kích thước như cánh trước và cũng có nhiều mạch cánh như cánh trước, cánh trước thường có trên 20 buồng cánh 16
16(15'): Vùng Costal trên cánh trước gần như luôn luôn có nhiều gân ngang, nếu không như thế thì cánh sau ngắn hơn cánh trước, miệng không kéo dài thành vòi NEUROPTERA
16': Vùng Costal ở cánh trước chỉ có 2-3 gân ngang, miệng có cấu tạo vòi
MECOPTERA
17(13'): Cánh sau dài và có dạng như cánh trước, ở trạng thái nghỉ cánh không
bao giờ xếp bằng trên cơ thể, cánh có nhiều mạch và buồng cánh, râu đầu
dài, thuộc loại lông cứng, bụng dài, ốm, đốt bàn có 3 đốt, dài 20-85
ly (chuồn chuồn) ODONATA
17': Không giống như 17 18
18(17'): Miệng thuộc nhóm hút (Haustellate) 19
18': Miệng thuộc nhóm nhai gậm (Mandibulate) 20
19(18): Vòi phát xuất từ phần trán của đầu HEMIPTERA
19': Vòi phát xuất từ phần dưới của đầu (ve sầu, rầy,.) HOMOPTERA
Trang 1120(18'): Đốt bàn: 4 đốt, cánh trước giống cánh sau (mối) ISOPTERA
20': Đốt bàn 3 đốt hoặc ít hơn, cánh sau luôn luôn ngắn hơn cánh trước 21
21(20'): Cánh sau với vùng Anal rộng tạo thành một thùy, thùy nầy thường xếp như cánh quạt lúc nghỉ, mạch cánh thay đổi, cánh trước có nhiều gân ngang giữa Cu1 và M và giữa Cu1 và Cu2, lông đuôi (cerci) thường rất dài, ấu trùng sống trong nước, thành trùng thường gặp nơi có nguồn nước
.PLECOPTERA
21': Cánh sau không giống như trên, lông đuôi ngắn hoặc không có, kích thước từ 10
ly trở lại, ấu trùng không sống trong nước 22
22(21'): Đốt bàn 3 đốt, đốt thứ nhất của đốt bàn chân trước phát triển
EMBIOPTERA
22': Đốt bàn có từ 2 - 3 đốt, đốt bàn chân trước không giống 22 23
23: Lông đuôi (cerci) hiện diện: đốt bàn có 2 đốt, mạch cánh thoái hoá, râu đầu có 9
đốt có dạng chuỗi hạt ZORAPTERA
23': Không có lông đuôi, đốt bàn có 2-3 đốt, râu đầu không có dạng như 23, thường
dài và dạng sợi chỉ với 13 hoặc hơn 13 đốt PSOCOPTERA
24(2'): Miệng thuộc nhóm hút, vòi dài thường phân đốt 25
24': Miệng thuộc nhóm nhai gậm 26
25(24): Vòi phát xuất từ phần trước của đầu, cánh nửa cứng HEMIPTERA
25': Vòi phát xuất từ phần sau của đầu HOMOPTERA
26(24'): Bụng có lông đuôi dạng cái kềm (forcep), cánh trước ngắn, không che phủ
hết phần bụng, đốt bàn: 3 đốt DERMAPTERA
Trang 1226': Lông đuôi không giống 26, nếu lông đuôi giống 26 thì cánh trước
28(1'): Cơ thể thường có dạng côn trùng với chân và râu phân đốt (thành trùng, ấu
trùng và một vài loại sâu)
28': Cơ thể có dạng côn trùng (worm), cơ thể thường không phân đốt rõ ràng,
không có chân ngực, râu đầu có hoặc không có (ấu trùng và một vài loại thành trùng) 74
29(28): Cánh trước hiện diện nhưng thô sơ, cánh sau không có hoặc dưới dạng
cánh thăng bằng (rất nhỏ), đốt bàn gần như có 5 đốt (một vài loài ruồi)
.DIPTERA 29': Cánh không hiện diện hoặc rất thô sơ 30
30(29'): Không có râu đầu, nhỏ hơn 1,5 ly thường sống trong đất hay trong lá
mục PROTURA
30': Râu đầu hiện diện, kích thước và nơi trú ẩn thay đổi 31
31(30'): Ngoại ký sinh của chim, động vật có vú hay ong mật, thường tìm thấy trên
ký chủ 32
31': Không thuộc nhóm ký sinh 36
32(31): Đốt bàn 5 đốt, râu ngắn, miệng thuộc nhóm hút 33
32': Đốt bàn có ít hơn 5 đốt, râu và miệng thay đổi 34
Trang 1333(32): Cơ thể dẹp 2 bên, thuộc côn trùng nhảy, chân dài (bọ chét)
SIPHONAPTERA 33': Thân dẹp phía lưng bụng, không phải là côn trùng nhảy, chân ngắn .DIPTERA 34(32'): Râu dài hơn đầu, đốt bàn có 3 đốt (rệp giường, rệp dơi) HEMIPTERA 34': Râu không dài hơn đầu, đốt bàn có một đốt (mạt, rận) 35
35(34'): Đầu rộng bằng hoặc hơn ngực trước, miệng nhai gậm, ký sinh chim (hai móng) và động vật có vú (một móng) (rận, con mạt gà) MALLOPHAGA 35': Đầu thường hẹp hơn ngực, miệng thuộc nhóm hút, ký sinh động vật có vú (một móng rộng) (chí, rận chích hút) ANOPLURA 36(31'): Miệng thuộc nhóm hút, vòi hình chóp hay dài có kim chích 37
36': Miệng nhóm nhai gậm, không có vòi .41
37(36): Đốt bàn có 5 đốt, hàm dưới hay râu môi dưới hiện diện 38
37': Đốt bàn có ít hơn 4 đốt, râu miệng nhỏ hoặc không có 39
38(37): Cơ thể phủ nhiều vảy, vòi thường là một ống uốn cong, râu đầu dài
và thường có nhiều đốt (ngài không cánh) LEPIDOPTERA
38': Cơ thể và vòi không giống 38, râu đầu thay đổi nhưng thường ngắn, với ít hơn 3
đốt (ruồi không cánh) DIPTERA
39(37'): Miệng hình chóp nằm ở bên dưới phần bên bụng của đầu, râu miệng hiện diện nhưng ngắn, cơ thể dài, chiều dài cơ thể <5 ly, râu đầu 4-9 đốt, đốt bàn 1-2 đốt, thường không móng THYSANOPTERA
Trang 1439': Miệng có dạng vòi dài, phân đốt, không có râu miệng, các đặc điểm khác thay
đổi 40
40(39'): Vòi phát xuất từ phần trước của đầu, râu đầu 4-5 đốt, đốt bàn thường có 3 đốt, không có ống bụng (bọ xít) HEMIPTERA 40': Vòi phát xuất từ phía sau đầu, râu đầu có trên 5 đốt (đốt bàn 2 đốt), hoặc râu đầu dạng lông cứng (đốt bàn 3 đốt); bụng thường có một đôi ống bụng (rầy mềm, rầy và những loại khác, thành trùng và ấu trùng) HOMOPTERA 41(36'): Bụng thường nhọn ở cuối bụng, râu đầu dạng đầu gối, đốt bàn có 5 đốt, cơ thể cứng, có dạng con kiến (kiến và ong không cánh) HYMENOPTERA 41': Bụng không nhọn ở cuối bụng, râu không giống 31, đốt bàn thay đổi 42
42(41'): Bụng với 3 sợi lông đuôi dài và với vài chi phụ dạng hình kim trên một vài đốt bụng, miệng thuộc nhóm nhai gậm, nhưng thường ít nhiều co vào đầu, cơ thể gần như luôn luôn phủ vẩy, sống trên cạn 43
42': Bụng với 2 sợi lông đuôi hoặc không có, nếu có 3 lông đuôi (ấu trùng phù du) thì sống trong nước, những đặc điểm khác thay đổi 44
43(42): Mắt kép rộng gần nhau, cơ thể thường hình trụ, ngực cong, mắt đơn hiện diện, đốt bàn chân giữa và chân sau gần như luôn luôn có styli (dạng gai lông), đốt bụng từ 2-9 cũng có gai lông MICROCORYPHIA 43': Mắt kép nhỏ và cách xa nhau hoặc không có mắt kép, cơ thể thường dẹp về phía lưng bụng, có hoặc không có mắt đơn, đốt bụng từ 1-6 (đôi khi đốt thứ 7) không có styli THYSANURA 44(42'): Sống trong nước, có mang khí quản 45
44': Sống trên cạn 52
45(44): Ấu trùng: mắt kép hiện diện 46
45': Sâu: mắt kép hiện diện diện 48
Trang 1546(45): Môi dưới dạng nắm, bắt, xếp gấp dưới đầu ở trạng thái nghỉ,
và khi căng thì dài như chiều dài của đầu ODONATA (ấu trùng)
46': Môi dưới không giống 46 47
47(46'): Ba lông đuôi, một móng, mang khí quản hiện diện ở rìa bên của bụng,
và thường có dạng lá hay phiến mỏng EPHEMEROPTERA (ấu trùng)
47': Hai lông đuôi, 2 móng, mang khí quản ít nhiều có dạng ngón tay, thường nằm
ở phần rìa bên của ngực PLECOPTERA (ấu trùng)
48(45'): Năm đôi chân bụng, chân bụng có móc bàn chân LEPIDOPTERA (sâu)
48': Bụng không có chân bụng hoặc chỉ có 1 đôi cuối 49
49(48'): Miệng gồm có 2 cấu tạo mỏng mảnh, dài hơn đầu, râu đầu dài và mỏng
mảnh, đốt bàn có một móng, sống trong nước ngọt
NEUROPTERA (ấu trùng)
49': Miệng và râu không giống 49 50
50(49'): Đốt bàn có 2 móng, bụng với những gai lông dài hai bên rìa bụng
và một gai lông dài cuối bụng, hoặc một đôi gai có cấu tạo móc
ở cuối bụng NEUROPTERA (ấu trùng)
50': Đốt bàn có 1-2 móng, nếu có 2 móng thì bụng không giống 50 51
51(50'): Bụng với một đôi gai móc, thường nằm trên chân bụng phía hậu môn,
đốt bàn có một móng, thường sống trong bao (cases) TRICHOPTERA (sâu)
51': Bụng có 4 móc ở phía cuối hoặc không có, có hoặc không có những phần phụ ở
hai bên cơ thể, một hoặc hai móng, không sống trong bao (bọ cánh cứng) COLEOPTERA (ấu trùng)
Trang 1652(44'): Miệng nằm phía trong đầu, bụng có những chi phụ dạng gai lông, cơ thể thường nhỏ hơn 7 ly 53
52': Miệng hiện diện rõ ràng bên ngoài, nhai gậm hoặc hút, bụng không có chi phụ như 52, kích thước thay đổi 54
53(52): Râu đầu dài nhiều đốt, bụng có ít nhất 9 đốt, với chi phụ dạng gai lông bên phía bụng có một vài đốt, lông đuôi (cerci) phát triển DIPLURA
53': Râu đầu ngắn, nhiều nhất là 6 đốt, bụng có 6 đốt hoặc ít hơn 6 đốt và thường có chi phụ dạng kềm phía đuôi COLLEMBOLA
54(52'): Cơ thể có dạng sâu, ngực và bụng không được phân chia rõ ràng, mắt kép hiện diện (Con cái dạng ấu trùng) COLEOPTERA
54': Cơ thể có hình dạng thay đổi, nhưng nếu có dạng sâu thì không có mắt kép
55(54'): Mắt kép hiện diện, hình dạng cơ thể thay đổi nhưng không có dạng côn trùng, mầm cánh thường hiện diện (ấu trùng và thành trùng) 56
55': Mắt kép và mầm cánh hiện diện, cơ thể thường có dạng trùng
(giai đoạn ấu trùng) 65
Trang 1758(57'): Râu đầu 5 đốt STREPSIPTERA (con cái ký sinh)
58': Râu đầu có trên 5 đốt ORTHOPTERA
59(56'): Lông đuôi dạng kềm cứng, đốt bàn có 3 đốt 60
59': Không có lông đuôi, nếu có thì không có dạng kềm, đốt bàn thay đổi 61
60(59): Râu đầu dài hơn phân nửa chiều dài cơ thể, lông đuôi ngắn
61': Đốt bàn 2-4 đốt, đốt bàn chân trước không giống 61 62
62(61'): Côn trùng dạng cào cào, chân sau thuộc chân nhảy ORTHOPTERA
62': Không giống như 62 63
63(62): Đốt bàn 4 đốt, mầu nhạt, cơ thể mềm, côn trùng sống trong gỗ, trong đất (mối) ISOPTERA
63': Đốt bàn có từ 2-3 đốt, mầu sắc và nơi cư trú thay đổi 64
64(63'): Không có lông đuôi, râu đầu có từ 13 đốt trở lên thường dạng sợi chỉ,
mắt kép và 3 mắt đơn, đốt bàn có 2-3 đốt PSOCOPTERA
5(55'): Chân bụng hiện diện 66
65': Không có chân bụng hoặc chỉ có trên đốt cuối bụng 68
Trang 18
66(65): 5 đôi chân bụng (trên đốt bụng từ 3-9, và trên đốt bụng thứ 10)
hoặc ít hơn, chân bụng thường có móc nhỏ, nhiều mắt bên
(thường là 6) (sâu bướm) LEPIDOPTERA (ấu trùng)
66': Với 6 hay trên 6 đôi chân bụng, chân bụng không có móc,
số lượng mắt bên thay đổi 67
67(66'): Bảy (hoặc hơn) mắt nhỏ ở mỗi bên đầu, chân bụng nhọn, nhỏ, không rõ hiện diện trên đốt bụng từ 1-8 hay từ 3-8 MECOPTERA (ấu trùng)
67': Chỉ có một mắt nhỏ ở mỗi bên đầu, chân bụng không nhọn, rõ ràng, hiện diện trên
đốt bụng từ 2-7 hay 2-6 và 10 HYMENOPTERA (ấu trùng)
68(65'): Hàm trên và hàm dưới ở mỗi bên phối hợp thành 1 cái hàm hút dài, đốt bàn
có 2 móng, râu môi dưới hiện diện NEUROPTERA (ấu trùng)
68': Hàm trên và hàm dưới không giống 65, đốt bàn có từ 1-2 móng, môi trên và râu môi dưới thường hiện diện 69
69(68'): Đầu và miệng đưa ra phía trước 70
69': Đầu và miệng đưa về phía bụng 72
70(69): 1 móng (một số loài sâu cánh cứng) COLEOPTERA (ấu trùng)
móng 71
71(70): Môi trên và clypeus hiện diện rõ NEUMOPTERA (ấu trùng)
71': Không có môi trên hoặc môi trên dính liền với đầu COLEOPTERA (ấu trùng)
ADEPHAGA
Trang 1972(69): Chân trước nhỏ, mắt bên thường gồm 3 mắt nhỏ (ocelli), không có móng chân, chiều dài cơ thể < 5 ly MECOPTERA (ấu trùng)
72': Chân không giống 72, mắt nhỏ (ocelli) thay đổi, 1-3 móng chân 73
73(72'): Có 1-2 móng, bụng thường không có lông đuôi, râu thay
đổi COLEOPTERA (ấu trùng)
73': Có 3 móng, bụng có hai lông đuôi (dài khoảng 1/3 chiều dài cơ thể), râu đầu ngắn, thường có 3 đốt (ấu trùng của một số loài cánh cứng và ký sinh)
COLEOPTERA
STREPSIPTERA
74 (28'): Sống trong nước (ấu trùng ruồi) DIPTERA
74': Không sống trong nước, sống trên cạn và ký sinh 75
75(74'): Bất động, ăn thực vật, cơ thể bao phủ bởi lớp vẩy hay sáp, miệng thuộc
nhóm hút, dài như sợi chỉ (rệp dính cái) HOMOPTERA
75': Không giống như mô tả ở 75 76
76(75'): Đầu và ngực ít nhiều phối hợp với nhau, bụng không phân đốt rõ ràng, nội
ký sinh các loài côn trùng khác STREPSIPTERA (con cái)
76': Đầu và ngực không dính nhau, bụng phân đốt rõ 77
77(76'): Đầu rõ ràng, cứng, thường có mầu sắc .78
77': Đầu phát triển không rõ ràng, hóa cứng ít hoặc không cứng,
thường thụt vào trong ngực 85
78(77'): Đầu và miệng đưa về phía trước, đầu thường dẹp 79
78': Đầu và miệng đưa về phía bụng, đầu thường tròn 82
Trang 2079(78): Đốt bụng cuối cùng kéo dài thành một đôi bộ phận nhọn, nhiều lông cứng trên
mỗi đốt cơ thể SIPHONAPTERA (ấu trùng bọ chét) 79': Không giống như mô tả của 79 80
80(79'): Râu đầu phát triển từ vùng màng của gốc hàm trên, ngàm rất phát triển,
chân bụng thường có móc LEPIDOPTERA (ấu trùng)
80': Râu đầu (nếu có) phát xuất từ vùng trên đầu, chân bụng không móc 81
81(80'): Miệng có một đôi hàm trên rõ, khí khổng luôn luôn hiện diện ở ngực và 8 đốt
bụng COLEOPTERA (ấu trùng)
81': Miệng hoặc giống như ở trên hoặc chỉ là những móc di chuyển
theo chiều thẳng đứng, khí khổng thay đổi, nhưng không giống như 81,
cơ thể dài DIPTERA (ấu trùng)
82(78'): Đốt bụng thường có ít nhất một nếp gấp dọc ở bên hông hay bên bụng,
dạng chữ C, dạng sùng bọ hung, một đôi lỗ thở ở ngực và thường 8 đôi lổ thở
ở bụng COLEOPTERA (ấu trùng)
82': Đốt bụng không có những nếp gấp dọc, nếu nếp gấp hiện diện
thì lổ thở không giống như 82 83
83(82'): Đầu có vùng trước trán (adfrontal), thường có một hoặc nhiều mắt nhỏ hai bên
đầu, chân bụng có móc LEPIDOPTERA (ấu trùng)
83': Đầu không có vùng adfrontal, chân bụng (nếu hiện diện) không có móc 84
84(83'): Hàm không cứng và không giống dạng bàn chải, khí khổng luôn luôn hiện diện trên ngực và bụng, đôi khí khổng cuối lớn, ấu trùng hiện diện trong mô
cây, ký sinh hoặc trong tổ HYMENOPTERA (ấu trùng)
84': Hàm trên thường có dạng bàn chải, khí khổng thường không giống ở trên, nếu hiện diện trên nhiều đốt bụng thì đôi cuối cũng không lớn hơn những đôi
Trang 21khác, hiện diện nơi ẩm ướt, trong mô cây dưới dạng nội ký sinh
85(77'): Miệng nhai gậm, thường có râu đầu COLEOPTERA (ấu trùng)
85': Miệng thoái hóa hoặc thay đổi chỉ có hàm trên hoặc những móc ở miệng,
thường không có râu đầu 86
86(85'): Cơ thể (trừ đầu) gồm có 13 đốt, ấu trùng tuổi lớn có phiến cứng
nằm ở phía bụng ngay sau đầu DIPTERA (ấu trùng Cecidomyidae)
86': Cơ thể có ít đốt hơn, không có phiến cứng ở phần ngực bụng 87
87(86'): Miệng có móc DIPTERA (ấu trùng)
87': Miệng nhai gậm đôi khi thoái hóa nhưng không có móc HYMENOPTERA
(ấu trùng)
Trang 22
Hình VI.2 Các bộ thuộc lớp côn trùng
Hình VI.3 Các bộ thuộc lớp côn trùng
Trang 23Hình VI.4 Các Bộ thuộc lớp côn trùng
Hình VI.5 Một số dạng bao trú ẩn của ấu trùng bộ Trichoptera
Trang 24Hình VI.6 Một số loài thuộc bộ Trichoptera A: Palatycentropus radiatus (con đực)
B: Eubasilissa pardalis (con cái); C: Hyropsyche simulans (con đực);
D: Maronemum zebratum (con đực); E: Pheyganea simera (con đực)
F: Hydroptila hamata (con đực); G: Triaenodes tardal (con đực)
Gồm rất nhiều loài khác nhau, trong nhóm nầy có rất nhiều loài rất phổ biến Đa
số có kích thước lớn từ 20 - 50 mm, một số ít loài có kích thước đến 180 mm Phần lớn gây hại thực vật, nhiều loài thuộc nhóm gây hại quan trọng, một số loài thuộc nhóm ăn mồi, một số ít loài thuộc nhóm ăn các chất mục nát hoặc ăn tạp
Trang 25Bộ Cánh thẳng gồm những loài có cánh hoặc không cánh, nếu có cánh thì gồm hai cặp Cặp cánh trước thường dài, nhiều mạch cánh, dầy tựa chất da, cặp cánh sau rộng, bằng chất màng, cũng có rất nhiều gân, ở trạng thái nghỉ cặp cánh sau xếp phía dưới cánh trước Miệng kiểu gặm nhai phát triển Râu đầu hình sợi chỉ, thường rất dài,
có nhiều đốt Một số loài có cánh thoái hóa rất nhỏ hoặc không có Cơ thể thường dài, lông đuôi phát triển, lông đuôi thường có nhiều đốt Một số loài có ống đẻ trứng phát triển Ống đẻ trứng đôi khi có chiều dài bằng chiều dài cơ thể Một số loài khác ống đẻ trứng ngắn Đốt bàn có từ 3 - 5 đốt Nhiều loài có thể phát ra tiếng kêu bằng cách cọ xát 2 cánh vào nhau (họ Dế mèn, Sạt sành) hoặc do đốt đùi chân sau cọ xát với cánh
Bộ phận nghe của châu chấu nằm hai bên đốt bụng thứ nhất, ở họ Sạt sành, dế mèn, dế nhũi, bộ phận nghe nằm ở đốt chậu chân trước Ở các loài nầy, con cái có thể phát một
số âm thanh nhỏ, nhưng thường chỉ có con đực mới phát tiếng kêu
MỘT SỐ HỌ QUAN TRỌNG TRONG NÔNG NGHIỆP
1 Họ Cào cào (Acrididae = Locustidae)
Râu đầu thường ngắn hơn cơ thể, hình sợi chỉ hoặc hình lưỡi kiếm, đa số có mầu xanh, nâu Ở một số loài cặp cánh sau có mầu sắc rực rở Đôi chân trước kiểu chân bò, chân sau kiểu chân nhẩy Bàn chân 3 đốt, bộ phận nghe nằm ở hai bên đốt thứ nhất của bụng, bộ phận đẻ trứng ngắn và cong Nhiều loài (con đực) phát tiếng kêu (ban ngày) bằng cách cọ sát mặt trong của chân sau với mép dưới của cánh trước hoặc
cọ sát hai cánh Trứng thường được đẻ thành từng tổ dưới đất Mỗi tổ có khoảng 30 -
100 trứng Một con cái có thể đẻ vài ổ Ấu trùng và trưởng thành đều gây hại trên cây trồng, nhiều loài gây hại nghiêm trọng
Trang 262 Họ Sạt sành (Tettigoniidae)
Côn trùng thuộc họ nầy rất dễ nhận diện vì râu đầu dài, thường dài quá bề dài của thân, bàn chân có 4 đốt, bộ phận nghe (nếu hiện diện) nằm ở phía cuối của đốt chày chân trước Bộ phận đẻ trứng hình lưỡi kiếm dài, dẹp Phần lớn có khả năng phát
âm thanh, mỗi loài có một âm thanh khác nhau bằng cách cọ xát hai cánh trước Phần lớn ăn thực vật, một số ít thuộc nhóm ăn mồi Trứng thường được đẻ thành hàng phía trong mô cây, một số loài đẻ dưới đất
Trang 27dạng hình trụ hoặc kim nhọn kéo dài ra phía cuối bụng Đa số côn trùng thuộc họ nầy
có khả năng phát âm thanh rất tốt Mỗi loài có một âm thanh khác nhau Đa số đẻ trứng dưới đất, trứng được đẻ rải rác hay được đẻ thành từng ổ trong những lỗ hang đã được đào sẳn trong đất, trừ dế thuộc họ phụ dế Oecanthinae đẻ trứng trong mô cây Đa
số ăn thực vật, thường sống ở dưới đất gặm rễ cây con hoặc những phần non của cây ở sát mặt đất
Hình VI.11 Một số loại dế (Gryllidae) phổ biến
4 Họ Dế nhũi (Gryllotalpidae)
Thường có màu nâu, cơ thể phủ nhiều lông nhỏ, râu đầu ngắn, chân trước rất phát triển, dạng đào bới Con đực cũng có khả năng phát ra âm thanh, bộ phận nghe hiện diện ở đốt chày chân trước Lông đuôi dài, ống đẻ trứng không lộ ra ngoài cơ thể Phần lớn sống dưới đất, ít ra khỏi mặt đất, thường sống gần mặt đất, đào thành hang hay rảnh, cắn đứt rễ cây con, có thể cắn phá những hạt giống vừa gieo Con cái đẻ trứng trong những hang ổ, ở dưới đất, khả năng đẻ trứng cao, từ 200-400 trứng
Loài phổ biến: Gryllotalpa africana Pal de Beauvois
B
A Hình VI.12 Dề nhũi (Gryllotalpidae) (A) và chân đào bới (chân trước) (B)
Trang 285 Họ Bọ que (Phasmidae)
Có hình dạng rất giống cành khô, thân và chân rất dài, rất mảnh khảnh, bàn chân thường có 5 đốt, cánh thoái hoá rất nhỏ hoặc không có cánh Di chuyển chậm, không giống như đa số các loại côn trùng, bọ que có thể tái lập lại chân nếu mất (ít nhất là một phần) Thành trùng màu nâu, ấu trùng thường có màu xanh Bộ phận đẻ trứng ngắn, không để lộ ra ngoài cơ thể Trứng thường được đẻ rải rác trên mặt đất
Thường chỉ có 1 thế hệ /năm Mật số thường rất thấp nên không ảnh hưởng đến thực vật, tuy nhiên nếu mật số cao, cũng có thể gây hại quan trọng trên cây trồng
Hình VI.13 Bọ que Cyphocrania gigas (dài 17,5cm)
(Stanek,1968)
6 Họ Bọ ngựa (Mantidae)
Thường có kích thước lớn, dài, di chuyển chậm Ngực phát triển, dài, chân trước rất phát triển, dạng chân bắt mồi: đốt chậu rất dài vươn ra phía trước làm gia tăng phạm vi hoạt động có lợi cho việc săn bắt mồi, đốt đùi và đốt chày được trang bị nhiều gai nhọn, mặt bụng của đốt đùi có một đường rãnh, khi đốt chày cong gập lại thì
có thể nằm lọt vào rãnh của đốt đùi trông tựa như chiếc dao thợ cạo Nhờ những bộ phận nầy mà con mồi bị kẹp và giữ lại Đầu có thể cử động dễ dàng Thuộc nhóm ăn mồi, có thể tấn công nhiều loại côn trùng khác nhau, tấn công cả những côn trùng cùng
họ Trứng được đẻ từng bọc trên cành hoặc trên các thân cây cỏ
Trang 29
B A
Hình VI.14 Thành trùng bọ ngựa Mantidae (A) và chân (trước) bắt mồi (B)
nở Mùi hôi khó chịu Đa số có tính ăn tạp
Loài phổ biến: gián nhà Blatta orientalis
Hình VI.15 Một số loài gián (Blattidae) phổ biến tại Việt nam
Trang 30Đặc điểm chủ yếu của bộ nầy là từ cấu tạo của cánh: phần lớn côn trùng thuộc
bộ nầy có hai cặp cánh, cặp cánh trước có cấu tạo bằng chất sừng cứng, cặp cánh sau bằng chất màng, thường dài hơn cặp cánh trước và ở trạng thái nghỉ cặp cánh sau thường xếp lại dưới cặp cánh trước Miệng của các loại côn trùng thuộc bộ nầy có kiểu nhai gậm, 2 ngàm (hàm trên) rất phát triển
Côn trùng bộ cánh cứng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn Ấu trùng có nhiều dạng hình khác biệt nhau, nhưng đa số có dạng chân chạy hoặc dạng bọ hung Nhộng
đa số là nhộng trần Có nhiều loài làm nhộng trong đất và được bao bọc bằng kén đất hoặc tàn dư thực vật Có một số loài như xén tóc, nhộng được bao bọc bằng một lớp kén mỏng Côn trùng thuộc bộ cánh cứng thường đẻ trứng trong đất, trong vỏ thân cây, trong mô lá, trong nước Trứng có hình cầu hoặc hình bầu dục
Tính ăn của côn trùng cánh cứng rất phức tạp, đa số ăn thực vật, nhưng cũng có nhiều loài ăn động vật, chuyên tấn công các loại côn trùng nhỏ khác, có loài lại chuyên
ăn các chất hữu cơ mục nát và những di thể động thực vật, bộ nầy còn gồm cả những loài côn trùng chuyên ăn các bào tử nấm, và một số ít loài thuộc nhóm ký sinh hoặc sống cộng sinh trong ổ những côn trùng sống thành xã hội Đối với những loài ăn thực vật, thì tính ăn cũng đa dạng, nhiều loài ăn phá lá, đục thân, cành, trái, một số loài khác đục lòn trong lá, tấn công rễ, bông Hầu như côn trùng thuộc bộ nầy có thể tấn công tất cả các bộ phận khác của cây Chu kỳ sinh trưởng của bộ nầy có thể kéo dài từ 3-4 thế hệ trong một năm đến nhiều năm để hoàn thành một thế hệ
Hình VI.16 Cấu tạo cánh của bộ Cánh cứng
a: cánh trước (sừng cứng); b: cánh sau
Trang 31Hình VI.17 Một số họ Côn trùng thuộc bộ Cánh cứng
Hình VI 18 Các họ côn trùng thuộc bộ cánh cứng
Trang 32A: Scolytidae; B: Scarabaeidae; C: Scolytidae; D: Curculionidae
MỘT SỐ HỌ PHỔ BIẾN TRONG NÔNG NGHIỆP
1 Họ Chân chạy (Carabidae)
Đây là một trong những họ lớn nhất trong bộ Cánh cứng Bao gồm nhiều loài
có kích thước, hình dạng và màu sắc khác nhau Phần lớn có màu tối, bóng loáng, đẹp
và cánh cứng có nhiều ngấn dọc Côn trùng thuộc họ nầy có đốt thứ nhất của bụng về phía mặt bụng thường bị cắt quảng, không liên tục bởi ở đốt chậu chân râu Đầu có miệng phát triển, bề ngang của đầu hẹp hơn bề ngang của ngực trước Bàn chân của 3 đôi chân đều có 5 đốt (ký hiệu 5-5-5) Ấu trùng mình dài nhỏ, râu đầu 4 đốt, chân ngực phát triển Thường có một đôi lông đuôi Đốt thứ 10 của bụng thường có một đôi chân mông Côn trùng thuộc họ nầy sống trên cạn, cư trú và hoạt động trong đất, trên mặt đất, dưới gạch đá lá cây rụng, khi bị quấy rầy loại nầy chạy rất nhanh, ít khi bay Đa
số hoạt động về đêm, một số ít bị hấp dẫn bởi ánh sáng đèn
Trang 33
Hình VI.20 Một số loại côn trùng chân chạy Hình VI.21 Kiến ba khoan
(Pterostichus spp.) (Carabidae) phổ biến Ophionea indica
tại đồng bằng sông Cửu Long (Shepard và ctv, 1989)
2 Họ Vằn hổ (Cicindellidae)
Đa số côn trùng thuộc họ nầy có màu sắc rực rỡ và rất hoạt động, có thể chạy và bay rất nhanh Cơ thể có kích thước trung bình Bề ngang của đầu rộng hơn bề ngang của ngực trước Mắt kép to và lồi Hàm trên hơi cong dài và sắc Chân dài, nhỏ, công thức bàn chân: 5-5-5 Sâu non mình mềm, da nhăn nheo Đầu và ngực lớn hơn các phần khác Hàm trên cong và to Trên đốt bụng thứ 5 về phía lưng có một bướu lồi và trên đó có một đôi móc câu hướng về phía trước Cả thành trùng lẫn ấu trùng đều sinh sống bằng cách săn bắt các côn trùng nhỏ khác Trưởng thành thích hoạt động dưới nắng Ấu trùng thường sống trong những hang đục thẳng xuống mặt đất Loài phổ biến
tại Việt nam là loài Cicindela aurulenta
Hình VI.22 Cicindela aurulenta Hình VI.23 A: Cicindela sexguttata
B: C hirticollis (Borror và ctv, 1981)
Trang 343 Họ Cánh cụt (Staphylinidae)
Cơ thể dài, mảnh, cánh rất ngắn không che phủ đa số các đốt của bụng Cơ thể
có từ 6-7 đốt không được cánh trước che phủ Cánh sau trái lại rất phát triển, ở trạng thái nghỉ cánh sau xếp lại phía dưới cánh trước Họ cánh cụt rất hoạt động, thường chạy và bay nhanh Bàn chân có công thức 5-5-5 hoặc 4-5-5 hoặc 3-5-5
Đa số có màu đen hay nâu, kích thước rất thay đổi, đa số có kích thước nhỏ và trung bình Họ nầy cũng gồm rất nhiều loại, riêng ở Bắc Mỹ đã có gần 3100 loài Sinh sống trong nhiều vị trí khác nhau nhưng thường thấy sống dưới các tàn dư thực vật, dưới vỏ cây, bẹ cây, đá, gạch, Cả thành trùng lẫn ấu trùng của nhiều loài thuộc họ Cánh cụt thuộc nhóm có ích, sinh sống trên những côn trùng nhỏ khác Một số ít loài
có thể sống ký sinh trong nhộng ruồi hoặc ăn các chất mục nát
Loài phổ biến: kiến ba khoang Paederus fuscipes trên ruộng lúa và ruộng đậu
nành tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hình VI.24 Bọ cánh cụt Paederus fuscipes
Hình VI.25 A: Quedius peregrinus; B: Platygratus maculosus;
C: Hesperobium cribatum (Staphylinidae) (Borror và ctv, 1981)
Trang 354 Họ Bọ rùa (Coccinellidae)
Thành trùng bọ rùa đa số có hình bầu dục hoặc tròn, kích thước nhỏ, mặt lưng của cơ thể thường vồng lên hình bán cầu, dài từ 1 mm đến trên 10 mm tùy loài, mặt lưng của cơ thể thường vồng lên hình bán cầu, thường con cái có kích thước lớn hơn con đực Thành trùng thường có màu sắc tươi sáng, miệng thuộc nhóm miệng nhai gậm Bàn chân có 4 đốt, đốt thứ 3 nhỏ, mảnh lưng ngực trước phủ hết đầu hoặc gần hết đầu, râu đầu hình chùy hay dùi đục, ngắn có từ 7 – 11 đốt Râu đầu thường đính ngay trước mắt ở góc bên lưng của trán Hai râu đầu nằm cách xa nhau Mắt lớn, hình tròn hoặc gần tròn ở dạng ăn thịt Râu đầu tương đối ngắn, không dài hơn 1,5 chiều ngang đầu và số đốt râu thường là 11 đốt nhưng cũng có thể giảm từ 10 đến 7 đốt, khá mảnh và có chùy nhỏ Đốt cuối của râu hàm dưới nói chung là hình rìu, tuy nhiên ở một số loài thì đốt này hình nón cụt hoặc có hai cạnh bên song song Đốt cuối của râu môi dưới hình nón cụt
Trứng của bọ rùa thường có hình thoi, màu vàng hay da cam, ấu trùng có hình dạng khác nhau tùy loài, đa số ấu trùng bọ rùa có cơ thể dài, đôi khi dẹp, cơ thể mang nhiều lông hoặc ống nhỏ, phần nhiều có màu đen xám hoặc nâu nhạt pha lẫn với những đốm vân màu trắng, đỏ Miệng ở phía trước đầu, râu đầu có 3 đốt, bụng có 10 đốt Hình dạng bọ rùa nhìn chung khá giống với nhiều loài thuộc bộ Ánh kim (Chrysomelidae), tuy nhiên có thể phân biệt được dễ dàng với bộ Ánh kim qua cấu tạo của bàn chân, bàn chân có cấu tạo 3-3-3
Trang 36
Hình VI.26 Thành trùng các loài bọ rùa phổ biến
A: Harmonia octomaculata, B: Menochulus sexmaculatus, C:Coccinella
transversalis, D: Coelophora saucia , E: Rodolia sp., F: Micraspis discolor,
G: Synonicha grandis (đực và cái), H: Arisolemma dilatata, I: Scymnus sp
B A
Hình VI.27 Bọ rùa Epilachna vigintioctopunctat (A: thành trùng; B: Ấu trùng)
Trang 37Hình VI.28: Một số dạng ấu trùng của họ bọ rùa
A: Rodolia sp., B: Chilocorus sp., C: Menochulus sexmaculatus,
D: Cryptolaemus., E: Scymnus sp., F: Epilachna sp., G: Pseudaspidimerus sp
Hình VI.29 Bọ rùa Chilocorus sp ăn trứng rệp sáp Pulvinaria sp
Trang 38Đa số bọ rùa (cả thành trùng lẫn ấu trùng) có tính ăn thịt, sinh sống chủ yếu
bằng cách tấn công rầy mềm (Aphididae) (Coccinella, Harmonia, Micraspis…), hoặc rệp sáp (Rodolia, Chilocorus…) thường gặp phổ biến trên các loại hoa màu, cây ăn
trái, hoa kiểng.… nơi có nhiều rầy mềm hoặc rệp sáp gây hại Trong họ này cũng có
một số loài thuộc giống Epilachna lại thuộc nhóm côn trùng phá hại cây trồng như loài Epilachna sp gây hại phổ biến trên các loại bầu bí dưa
Các loài bọ rùa ăn thịt phổ biến gồm có: Coccinella transversalis, Micraspis
discolor, Harmonia octomaculata, Rodolia cardinalis
5 Họ Ánh kim (Chrysomelidae)
Có nhiều dạng rất khác biệt nhau và mặc dù một số loài có hình dạng tương tự
bọ rùa, nhưng họ nầy lại có liên hệ khá chặt với họ Xén tóc (Cerambycidae) do bàn chân có cùng một cấu tạo (dạng Cryptopentamère: Bàn chân nguyên có công thức 5-5-
5 nhưng đốt thứ nhất rất nhỏ nên thường chỉ thấy 4-4-4 và phía cuối đốt thứ 3 thường phát triển và chẻ đôi) và do đa số côn trùng họ Ánh kim thuộc nhóm ăn thực vật, tuy nhiên côn trùng họ Ánh kim thường có râu đầu ngắn, cơ thể có hình bầu dục và nói chung, kích thước thường nhỏ hơn họ Xén tóc và nhiều loại có màu sắc sáng, đẹp
Hình VI.30 Một số dạng đốt bàn chân của họ Chrysomelidae
Hình VI.31 Cấu tạo đốt bàn chân Chrysomelidae (A) và thành trùng bọ gai Hispa sp
B
A
Trang 39ình VI 32 Các loài miểng kiến Hình VI.33 Bọ nhẩy Phyllotreta striolata
b ách đục lòn trong lá, hoặc ăn phá bộ phận rễ và đôi khi đục thân Rất nhiều loài
thuộc họ nầy gây hại quan trọng trên cây trồng như bọ nhẩy hại rau cải (Phyllotreta striolata Fabr.), sâu gai hại lúa (Hispa armigera Olivier), bọ vàng (Aulacophora sp.), miểng kiến hại khoai lang (Cassida circumdata Herbst) và bọ dừa Brontispa longissima gây hại phổ biến hiện nay trên dừa
Trang 406 Họ Bổ củi (Elateridae)
Côn trùng thuộc họ nầy cũng khá phổ biến trong thiên nhiên, có đặc điểm là
ôn trùng trưởng thành có thể bật nẩy mình lên khi bị ấn xuống hoặc lật ngửa mình và
Hình VI.36 (loài bổ củi phổ biến tại ĐBSCL); b Ctenicera noxia;
C: Alaus oculatus; D: Anelastes druryi (B: Borror và ctv, 1981)
Họ bổ củi giả (Buprestidae)
ó màu sắc kim loại (màu đồng, xanh lá cây, xanh
a trời, đen, ), sáng đẹp Cơ thể thường rất cứng, có cấu tạo thành khối rất chắc và ường
c
có thể nhẩy Họ Bổ củi thường có cơ thể dài, hai bên mép cánh thường song song nhau
và tròn về phía cuối cánh Mảnh lưng ngực trước phát triển, hai góc sau của mảnh lưng ngực trước kéo dài ra phía sau thành hai răng nhọn sát với chân cánh Mảnh bụng ngực trước có một kim dài, nhọn, nằm lọt vào khe lỏm của ngực giữa Ba đôi chân ngực thường co sát mình lúc không hoạt động Râu đầu thường có hình răng cưa và dạng sợi chỉ Kích thước từ 12-30 mm, đa số thường có màu nâu hay đen Bàn chân có công thức 5-5-5 Đa số ấu trùng có cơ thể dài, hẹp, cứng, bóng láng nên còn được gọi là sâu thép, thường có màu vàng hoặc nâu Chân ngực phát triển Ấu trùng nhiều loại gây hại quan trọng cho thực vật , tấn công trên cây con, rễ củ, hạt giống Thành trùng gây hại trên thực vật, phá hại cành non, mầm non hoặc hoa Một số giống thường gặp là: