1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo trình côn trùng

78 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 4,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở một số ít loài côn trùng một số ấu trùng thuộc bộ hai cánh và nhộng vànhiều loài giáp xác có chứa các muối calcium như những chất cứng hiện diện trongbiểu bì, nhưng sclerotin còn cứng

Trang 1

MỤC LỤC

TrangBài 1: HÌNH THÁI CÔN TRÙNG .Bài 2: PHÂN LOẠI CÔN TRÙNG .19

1

Trang 2

Hình 1.1: Sự phân đốt và các chi phụ trên cơ thể côn trùng.

BÀI 1:

HÌNH THÁI CÔN TRÙNG

1.1 Định nghĩa và nhiệm vụ môn hình thái học côn trùng.

Côn trùng là động vật phân đốt, cơ thể côn trùng do 18-20 đốt nguyên thủy tạonên, các đốt này tập hợp thành ba phần rõ rệt: đầu, ngực và bụng

Đầu là một khối đồng nhất, trên đầu có mắt, râu đầu và các bộ phận củamiệng

gực gồm ba phần: ngực trước, ngực giữa và ngực sau Mỗi phần mang mộtđôi chân ngực, ngực giữa và ngực sau mỗi phần còn mang một đôi cánh

Bụng được cấu tạo bởi 12 đốt nhưng các đốt trong quá trình tiến hóa thường gắnchặt vào nhau nên người ta chỉ quan sát được từ 8 đến 11 đốt Phần bụng thườngkhông mang các bộ phận di chuyển nhưng thường mang các phụ bộ ở cuối bụng

Sự phân đốt rõ rệt nhất được ghi nhận ở phần bụng, là nơi mà các đốt có cấu tạođơn giản nhất Mỗi đốt bụng cơ bản gồm hai phiến cứng (sclerites): phiến lưng vàphiến bụng Hai phiến này được nối liền với nhau bởi vùng màng nằm hai bên cơ thể.Các phiến lưng hoặc các phiến bụng còn được nối liền với nhau bởi các màng giữađốt Nhờ những vùng màng này mà côn trùng có thể co dãn, cử động dễ dàng Cácphiến lưng và phiến bụng không phải là những phiến bằng phẳng mà phần cuối phíatrước của những phiến này thường được xếp thành từng lớp vào phía trong của vách datạo thành những chóp nổi ở phía trong cơ thể và một đường nối hiện diện ở phía ngoàiđược gọi là đường nối Antecostal

2

Trang 3

1.2 Cấu tạo da côn trùng

Da côn trùng gồm có 3 lớp chính:

- Lớp biểu bì: lớp ngoài cùng có cấu tạo chitine, protein và sắc tố

- Lớp tế bào nội bì: nằm phía dưới lớp biểu bì và tiết ra các chất tạo nên lớpbiểu bì

- Màng đáy: là một lớp màng mỏng không có cấu tạo tế bào, nằm sát ngaydưới lớp tế bào nội bì

1.2.2 Tế bào nội bì

Là một lớp tế bào đơn, giữa các lớp tế bào này có xen kẽ một số tế bào cóchức năng đặc biệt như tế bào hình thành lông, tế bào hình thành các tuyến Tế bàonội bì thường có hình trụ, phía trong phần đỉnh của tế bào thường có tuyến lạp thể sắc

tố Sự hình thành tuyến lạp thể có liên quan đến việc kiếm ăn, tích lũy dinh dưỡng vàbài tiết Trong tuyến lạp thể, người ta ghi nhận có sự hiện diện của chitosan, lipid vàcác muối urat Phía ngoài ở đỉnh tế bào nội bì có các sợi nguyên sinh kéo dài thànhcác đường ống nhỏ thông lên tới lớp biểu bì Nhân của tế bào nội bì nằm phía dướiđáy tế bào

Chitin Là Polysaccharid có đạm, có công thức (C H NO)n Đây là một chấtđặc trưng của ngành chân khớp (Arthropoda), hiện diện chủ yếu ở biểu bì dưới Chấtnày hoàn toàn không hiện diện ở biểu bì trên Chitine là một chất rất bền vững, khôngtan trong nước, rượu, acide loãng hay chất kiềm Chitine không bị phân hủy bởi cácenzyme của động vật có vú, tuy nhiên chitine có thể bị phân hủy bởi các loại ốc, sên,một vài loại côn trùng (như gián) và một vài loại vi khuẩn (như vi khuẩn Bacilluschitinivorous)

Biểu bì cứng là do ở phần biểu bì ngoài có chứa một chất sừng gọi làsclerotin sclerotin được thành lập từ protein của biểu bì dưới tác dụng của các chấtquinones Ở một số ít loài côn trùng (một số ấu trùng thuộc bộ hai cánh và nhộng) vànhiều loài giáp xác có chứa các muối calcium như những chất cứng hiện diện trongbiểu bì, nhưng sclerotin còn cứng hơn các loại muối calcium này, ngàm (hàm trên)của một số loại côn trùng có thể cắn xuyên qua lớp kim loại

Trang 4

Một số vùng trên biểu bì da côn trùng còn chứa chất protein co dãn gọi làresilin, chính những chất này làm cho biểu bì có khả năng đàn hồi và tạo nên nhữnggân đàn hồi cho hầu hết các cơ thịt.

1.2.3 Các vật phụ trên vách da cơ thể

Ngoài những chóp nổi bên trong (được hình thành là do những đường xếplõm vào phía trong của da côn trùng) là chổ bám cho các hệ cơ, giúp cơ thể giữ đượcmột khung xương vững chắc và một hình dạng nhất định thì vách da cơ thể côn trùngcòn mang nhiều vật phụ ở phía ngoài cơ thể như lông, gai, vẩy, cựa, u lồi, Các vậtnày bao gồm những phần không có cấu tạo tế bào (mấu lồi, gai nhỏ, lông nhỏ, ) hoặc

có cấu tạo tế bào (như lông cứng, gai, cựa) Lông trên da côn trùng thường là lôngcảm giác, có thể cảm thụ được nhiều thông tin khác nhau như va chạm cơ học, âmthanh, mùi vị, nhiệt độ…

Các tuyến của da côn trùng

Các tuyến của da côn trùng sản sinh ra các chất cần thiết cho đời sống củasinh vật Do có nguồn gốc từ một số tế bào nội bì nên được xem như tuyến của da côntrùng Gồm 2 nhóm chính: tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết

Tuyến nội tiết

Tiết ra các hormon cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển và một số

hoạt động sống khác của côn trùng Quan trọng nhất là tuyến Corpora allata tiết ra

hormon điều tiết sự sinh trưởng, còn gọi là hormone trẻ (juvenile hormon), và tuyếnngực trước (prothoracic glands) tiết ra hormon lột xác (ecdyson hormon)

Tuyến ngoại tiết

Bao gồm một số tuyến chính như:

- Tuyến nước bọt: sản sinh nước bọt, còn được gọi là tuyến môi dưới Ở các loài côntrùng thuộc bộ Cánh vẩy, tuyến nước bọt biến đổi thành tuyến tơ

- Tuyến sáp: phổ biến ở các nhóm rệp sáp thuộc tổng họ Coccoidea

- Tuyến độc và tuyến hôi: Tuyến độc gây ngứa, phổ biến ở các loài sâu róm(Lymantriidae), sâu nái (Limacodidae) và tuyến hôi phổ biến ở các loài bọ xít gây hạicây trồng như Alydidae, Coreidae hoặc Pentatomidae

1.3 Cấu tạo đầu

Đầu là phần trước của cơ thể mang mắt, râu đầu và miệng Dạng đầu thay đổirất nhiều tùy theo các loại côn trùng nhưng nói chung phần đầu rất cứng so với cácphần khác của cơ thể Đa số côn trùng có một đôi mắt kép khá lớn nằm hai bên lưngđầu và phần lớn côn trùng ngoài hai mắt kép cũng có ba mắt đơn nằm ở phần trên đầugiữa hai mắt kép Bề mặt của đầu được chia thành từng khu vực nhờ những ngấn, cácngấn này cũng thay đổi rất nhiều trên từng nhóm côn trùng

Trang 5

Nói chung thường có những ngấn và khu vực như sau trên bề mặt của đầu:

- Ngấn trán chân môi: gồm có ngấn trên môi và ngấn dưới má hợp thành một đườngngang ở ngay sát phần gốc trên của miệng Ngấn này tạo thành mặt trước của vỏ đầuvới hai khu vực: khu trán và khu chân môi

- Ngấn má: gồm hai ngấn đối xứng nằm hai bên má, ngấn này kéo dài từ gốc hàm trênlên phía trên Nếu kéo dài đến gốc chân râu thì ngấn này được gọi là ngấn má chânrâu, còn nếu kéo dài đến gốc mắt thì được gọi là ngấn hốc mắt

- Khu vực của đầu nằm phía trên ngấn chân môi và nằm giữa các ngấn má được gọi làtrán Vị trí nằm giữa hai mắt kép về phía đỉnh được gọi là đỉnh đầu, khu vực nằm phíadưới mắt kép ở hai bên đầu là má Phía dưới ngấn trán chân môi là một khu vực gồmhai mảnh cứng: mảnh trên được gọi là clypeus, mảnh dưới là môi trên Phía dưới haibên môi trên là hai hàm trên cứng và bên dưới hai hàm trên là hai hàm dưới Và ngaysát dưới hàm dưới là môi dưới

- Đỉnh đầu và má được giới hạn bởi ngấn ót, phía sau ngấn ót là các khu vực như: khu vực ót nằm ở phần lưng ngay phía sau ngấn ót và khu vực má sau nằm về phía má, sau ngấn ót, cả hai khu vực này bị giới hạn về phía sau bởi ngấn ót sau, phía sau ngấn ót

sau là một vùng cứng hẹp gọi là ót sau bao quanh lấy lỗ sọ (nơi nối tiếp giữa phần đầu

và phần ngực)

Chi phụ của đầu

- Râu đầu

* Cấu tạo: gồm cơ bản các đốt như sau:

- Đốt chân râu (scape): mọc từ ổ chân râu, ổ chân râu thường nằm ở vị trí khoảnggiữa hai mắt kép thuộc khu trán

- Đốt cuống râu (pedicel): thường ngắn và thường mang các cơ quan cảm giác

- Đốt roi râu (flagellum): đốt này thường phân thành nhiều đốt nhỏ, hình dạng roirâu rất thay đổi tùy theo các nhóm côn trùng

Nói chung ở hầu hết côn trùng, râu đầu có thể cử động dễ dàng nhờ có hệthống cơ thịt điều khiển sự hoạt động của râu nằm ở phía đốt chân râu và cuốngrâu

Chức năng chủ yếu của râu đầu là cơ quan xúc giác và khứu giác, đôi khi râu

đầu cũng là cơ quan thính giác (muỗi đực)

Hình dạng và kích thước râu đầu thay đổi rất nhiều tùy loại côn trùng, ngaytrong cùng một loài, hình dạng và kích thước râu đầu có thể khác nhau giữa conđực và con cái Đặc điểm này cũng được sử dụng rất nhiều trong công tác phân

Trang 6

Hình 1 2: Cấu tạo râu đầu côn trùng.

loại và phân biệt con đực và con cái

* Các dạng râu đầu

Sau đây là các dạng râu đầu thường gặp ở các loài côn trùng:

- Râu lông cứng (chuồn chuồn, rầy xanh): nhỏ, nhọn dần về phía cuối giống như sợi lông cứng

- Râu sợi chỉ (gián, bướm, sạt sành, xén tóc, chân chạy): dài, mỏng mảnh

- Râu chuỗi hạt (mối thợ): gồm những đốt hình hạt tròn, nhỏ nối tiếp nhau như chuỗihạt

- Râu lông chim (muỗi đực)

- Râu đầu gối (kiến, ong, vòi voi): đốt chân râu dài, kết hợp với đốt roi râu tạo thànhhình cong gấp tựa đầu gối

- Râu răng lược (bổ củi, đom đóm): gồm những đốt hình tam giác nhô về một phía trông như răng cưa

- Râu dùi đục (bướm, một số loài cánh cứng): hình ống nhỏ dài, riêng các đốt cuối phình to dần lên như dùi đục

- Râu hình lá lợp (bọ hung): các đốt ở phần roi râu phát triển thành những mảnh có thể xòe ra hoặc xếp vào

- Râu lông nhỏ (ruồi nhà): ngắn, đốt cuối thường phình to, có một lông cứng ởphía lưng đốt cuối

Trang 7

Hình 1.3: Một số dạng râu đầu (a: râu lông cứng (chuồn chuồn); b: râu sợi chỉ (chân chạy); c: râu hình chuỗi hạt (mối); d: râu hình răng cưa; e: râu lông nhỏ (ruồi); f: râu dùi đục (cánh cứng);g: râu cầu lông (muỗi); h: râu hình lá lợp (bọ hung); i: râu đầu gối

* Miệng

Nói chung miệng côn trùng gồm 5 phần: môi trên, đôi hàm trên, đôi hàm dưới,môi dưới và lưỡi Các bộ phận này cũng thay đổi rất lớn ở các bộ, họ côn trùng Vì vậycấu tạo của miệng cũng là một tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến trong công tác phânloại Từng kiểu hình của miệng cho phép xác định được tính ăn của côn trùng cũngnhư cách phá hại của chúng trên cây trồng Có thể phân thành hai kiểu miệng chính:

miệng gậm nhai và miệng hút Miệng gậm nhai là loại miệng nguyên thủy, các kiểumiệng khác đều từ miệng gậm nhai biến hóa thành

* Miệng gậm nhai

Là kiểu miệng ăn các thức ăn động và thực vật ở thể rắn, kiểu miệng nàythường gặp ở các bộ: Thysanura, Diplura, Collembola, Orthoptera, Dermaptera,Psocoptera, Mallophaga, Odonata, Plecoptera, Isoptera, Neuroptera, Mecoptera,Trichoptera, Coleoptera và Hymenoptera Kiểu miệng này cũng thường gặp ở ấu trùngcủa nhiều loại côn trùng (Lepidoptera, Coleoptera, )

Miệng nhai có cấu tạo cơ bản như sau:

- Môi trên (Labrum): đây là một mảnh cứng, nằm phía dưới mảnh clypeus, ngay phía

trên các chi phụ khác của miệng

- Hàm trên (Mandible): gồm một đôi xương cứng không phân đốt, nằm

Trang 8

ngay phía dưới môi trên Hàm trên cũng thay đổi tùy theo các loại côn trùng, ở một sốloài (như cào cào) mặt trong hàm có những khía răng nhọn để cắn và nhai, ở một sốloài khác (nhóm ăn thịt, thuộc bộ Coleoptera), hàm trên kéo dài ra và có dạng lưỡi hái.

- Hàm dưới (Maxillae): gồm một đôi xương cứng nằm ngay phía dưới hàm trên Hàm

dưới gồm nhiều đốt: đốt chân hàm, đốt thân hàm, lá ngoài hàm, lá trong hàm và râuhàm dưới Lá trong hàm thường cứng và có khía răng nhọn để cắt nghiền thức ăn.Râu hàm dưới cũng gồm có nhiều đốt, được dùng để nếm hoặc ngửi thức ăn

- Môi dưới (Labium): là một mảnh duy nhất nằm ở phía dưới môi trên Môi dưới

được chia thành hai phần bởi một đường nối ngang, hai phần này có tên gọi là cằmtrước và cằm sau Ở các loài cào cào, cằm sau lại chia làm hai phần: cằm phụ và cằmchính Cằm trước gồm có một đôi râu môi dưới, hai lá ngoài râu và hai lá giữa môi.Cằm sau thường không cử động được mà phần cử động được là cằm trước với cácchi phụ ở trên đó

Là kiểu miệng ăn các thức ăn động và thực vật ở thể lỏng, gặp chủ yếu ở các bộThysanoptera, Hemiptera, Homoptera, Diptera và Lepidoptera Loại hình miệng hút córất nhiều dạng nhưng đặc điểm chung của loại hình này là các chi phụ thường kéo dài

ra thành vòi hay kim chích để thích nghi với việc lấy thức ăn ở dạng lỏng

- Miệng giũa hút (bọ trĩ- Thysanoptera)

Vòi thường ngắn, thô, bất đối xứng, có dạng hình chóp nằm ở phần sau của đầu,

về phía bụng Môi trên tạo thành phần trước của vòi, phần gốc của hàm dưới tạo thànhphần bên của vòi và môi dưới tạo thành phần sau của vòi Có ba kim chích: hai kimchích do hàm dưới tạo thành, một kim do hàm trên ở phía trái kéo dài ra hình thành(hàm trên ở phía phải đã thoái hóa còn rất nhỏ) Cả râu môi dưới và râu hàm dưới đềuhiện diện nhưng rất nhỏ Lưỡi là một thùy giữa nhỏ, nằm trong vòi Mặc dùđược xem như "giũa hút" nhưng có thể côn trùng lấy thức ăn chủ yếu bằng cách sửdụng kim chích để chọc vào nơi có thức ăn và sau đó hút thức ăn vào cơ thể Thức ănchủ yếu ở dạng lỏng tuy nhiên những bào tử thật nhỏ cũng có thể được tiêu thụ

- Miệng chích hút (bọ xít Hemiptera và rầy Homoptera)

Môi dưới kéo dài ra hình thành vòi, vòi thường phân đốt Ở bộ Cánh nửa cứng(Hemiptera), vòi phát xuất từ phía trước đầu, ở bộ Cánh đều (Homoptera) vòi phátxuất từ phía sau của đầu Trong vòi có 4 kim chích do hai hàm trên và hai hàm dướikéo dài ra hình thành Môi trên là một thùy ngắn, hiện diện ở mặt trước của phần cuốivòi, lưỡi cũng là một thùy nhỏ nằm trong vòi Vòi không giữ nhiệm vụ trực tiếp lấythức ăn, khi côn trùng lấy thức ăn vòi sẽ bẻ cụp về phía sau và nằm ở phía ngoài, chỉ

có các kim châm (chích) vào thức ăn để hút dịch Bên trong vòi, các kim chích kết hợp

Trang 9

lại thành hai ống nhỏ: một ống dẫn thức ăn và một ống dẫn nước bọt.

Vòi cũng do môi dưới hình thành, trong vòi có 6 kim chích do môi trên, hàmtrên, hàm dưới và lưỡi tạo thành Kim chích rất mỏng mảnh và có dạng sợi chỉ Ốngnước bọt hiện diện trong lưỡi và ống thức ăn được hình thành do sự kết hợp giữađường rãnh của môi trên với lưỡi

- Miệng của ruồi ăn mồi (Asilidae, Diptera)

Có cấu tạo miệng tương tự như các nhóm trên nhưng hoàn toàn không có vếttích của hàm trên và bộ phận châm (chích) duy nhất là do lưỡi biến hóa thành Có 4kim châm: một do môi trên, hai do đôi hàm dưới và một do lưỡi Ống nước bọt hiệndiện trong lưỡi và ống thức ăn nằm giữa môi trên và lưỡi Các loại ruồi ăn mồi có kiểumiệng này thường tấn công trên các loại côn trùng khác hoặc trên các loàinhện

- Miệng liếm hút của ruồi nhà (Diptera)

Gồm có một cái vòi đàn hồi đính vào phần màng hình chóp của phần dưới đầu.Râu hàm dưới hiện diện ở gần cuối vòi Mặt trong của vòi là dạng lòng máng được chebởi phiến môi trên và lưỡi Môi trên và lưỡi hợp lại tạo thành ống dẫn thức ăn, tronglưỡi có ống nước bọt Phần cuối vòi phình to thành hai thùy to, mềm, hình bầu dục gọi

là đĩa vòi Mặt dưới của đĩa vòi có nhiều vòng máng ngang nhỏ được sử dụng nhưnhững ống dẫn thức ăn, Các vòng máng này thông với cửa rãnh của vòi giúp cho ruồi

có thể dùng đĩa vòi để liếm và hút các thức ăn dạng lỏng Do có tính co dãn nên ởtrạng thái không ăn vòi có thể được xếp sát mặt dưới của đầu hoặc trong một khe hở ởmặt dưới của đầu

Đặc điểm của kiểu miệng này là hàm trên hoàn toàn biến mất, môi trên chỉ còn

là một mảnh ngang nhỏ Râu môi dưới phát triển, hai lá ngoài hàm của râu môi dướikéo dài ra và kết hợp với nhau thành một vòi hút dài, bên trong có ống dẫn thức ăn.Bình thường khi không ăn, vòi được cuốn cong lại thành nhiều vòng trôn ốc

- Miệng gậm hút (bộ Cánh màng Hymenoptera)

Ở một số loài ong, mặc dù môi trên và hàm trên vẫn còn hình dạng của kiểumiệng nhai nhưng môi dưới và hàm dưới đã kéo dài thành một lưỡi dài, thức ăn sẽđược hút qua bộ phận lưỡi này

Trang 10

Hình 1.4: Miệng nhai gậm của dế (Orthoptera).a: hàm trên; b: hàm dưới; c: môi trên; d: môi dưới; e: phần đầu cắt ngang với lưỡi ở phía trong

1.4 Ngực côn trùng 1.4.1 Cấu tạo

Ngực được chia thành 3 đốt: ngực trước, ngực giữa và ngực sau, mỗi đốt ngựcmang một đôi chân, ngoài ra ở hai bên về phía lưng của đốt ngực giữa và ngực saucòn có hai đôi cánh Đôi cánh ở ngực giữa gọi là cánh trước, đôi cánh ở ngực sau gọi

là cánh sau Bộ phận ngực có độ hóa cứng khá cao

Mỗi đốt ngực có thể cấu tạo bởi 4 mảnh cứng (sclerites): mảnh lưng (notum); haimảnh bên (pleura) và mảnh bụng (sternit) Tên gọi của các mảnh cứng thay đổi tùytheo vị trí của các đốt ngực trên cơ thể, nếu các mảnh cứng này thuộc đốt ngực trướcthì được gọi là mảnh lưng ngực trước, mảnh bên ngực trước và mảnh bụng ngựctrước Các mảnh hiện diện trên ngực giữa và ngực sau cũng có tên gọi tương ứng

Trên các mảnh cứng này lại có những ngấn nhỏ, các ngấn này phân chia bề mặt củacác đốt ngực thành những phiến (mảnh) cứng nhỏ có tên gọi riêng

1.4.2 Chi phụ của ngực

Chân ngực

Là chi phụ, phân đốt điển hình của côn trùng với các đốt cơ bản như: đốt chậu(coxa), đốt chuyển (trochanter), đốt đùi (femur), đốt chày (tibia), đốt bàn (tarsus) vàđốt cuối bàn (móng, vuốt)

Trang 11

Hình 1.5: Sự phân đốt của chân côn trùng

Hình 1 6: Các dạng chân côn trùng (a: chân chạy; b: chân nhảy; c: chân bắt mồi;)

Các đốt được nối liền với nhau bởi các phần bằng chất màng Đốt chậu là đốtthứ nhất của chân, đốt này thường có hình chóp nhỏ, cử động được trên ngực nhờ mộtlớp màng hay nhờ sự hiện diện của khớp cử động Đốt chuyển là đốt thứ hai của chân,thường ngắn, hẹp; các loài chuồn chuồn (thành trùng và ấu trùng) có hai đốt chuyểngắn chặt nhau Đốt đùi là đốt thứ ba của chân, thường to và mập hơn các đốt khác Đốtchày thường dài, hình ống, mảnh, hai bên thường có 2 hàng gai, hoặc mang các cựa cóthể cử động được Đốt bàn chân là đốt kế tiếp đốt chày, thường phân thành nhiều đốtnhỏ (1 đến 5 đốt) Hình dạng và số đốt của đốt bàn chân được sử dụng phổ biến trongcông tác phân loại Đốt cuối bàn chân là phần phía cuối của đốt bàn thường gọi làmóng hay vuốt Móng thường gồm hai cái Thường có một bộ phận gọi là thùy hayđệm nằm ở giữa móng (arolium) hay ở góc móng (pulvillus) Ở một số loại côn trùng,đệm giữa móng được thay thế bằng gai hay bằng một dạng lông cứng (empodium)

Trang 12

Côn trùng có rất nhiều dạng chân khác nhau, sau đây là một số dạng chân ngựcphổ biến:

- Chân chạy: rất phổ biến ở các loài côn trùng Chân này có các đốt dài, nhỏ phát triển

khá đều nhau (gián, bọ chân chạy carabids, )

- Chân nhảy: đốt đùi rất phát triển Đốt chày thường dài, hình ống (cào cào, dế, một số

loại rầy, )

- Chân bắt mồi: điển hình nhất là chân ngực trước của Bọ ngựa (Mantidae) Đốt chậu

dài vươn ra phía trước, đốt đùi rất phát triển, mặt bụng đốt đùi có một đường rãnh, trênhai bờ rãnh này có hai hàng gai sắc nhọn Đốt chày về phía mặt bụng cũng có hai hànggai nhọn Khi đốt chày gập lại thì có thể nằm lọt vào rãnh của đốt đùi, trông tựa nhưchiếc dao cạo râu Nhờ cách gập lại này cùng với những dãy gai nhọn mà con mồi bịkẹp chặt (giữ) lại

những răng cứng để đào đất và bới đứt rễ cây (dế nhũi)

thường dẹp, trên mép đốt chày, đốt bàn chân có lông rất dài, hoạt động như mái chèokhi côn trùng bơi trong nước (Dytiscidae)

thường dẹp và rộng, phía ngoài lõm và trơn nhẵn Bờ rãnh lõm có lông dài tạo thànhmột lẳng chứa phấn hoa Đốt gốc của bàn chân cũng phình to, mặt trong có nhiều dãylông cứng xếp thành hàng ngang dùng để chải các phấn hoa dính trên lưng cơ thể ong

1.4.3 Cánh và cấu tạo của cánh

*Cấu tạo của cánh

Trừ côn trùng thuộc lớp phụ không cánh (apterygota) và một số loại có cánhthoái hóa, hầu hết côn trùng trưởng thành đều có cánh Cánh côn trùng không phải làchi phụ (như cánh của chim, dơi) mà là phần kéo dài ra hai bên của mảnh lưng ngực

Sự phát triển của cánh thay đổi rất nhiều qua các bộ côn trùng, đôi khi cánh xuất hiệnbên ngoài cơ thể, phát triển từ từ và lớn lên, qua mỗi lần lột xác (như cào cào, ),nhưng cũng có khi cánh lại xuất hiện thình lình ở giai đoạn nhộng (bướm hoặc bọhung)

Trên mầm cánh người ta ghi nhận có hai lớp tế bào, hai lớp này dính nhau ở phầncuối để tạo nên một lớp màng, trên có những mạch (gân) cánh, trong mạch có sự hiệndiện của máu, dây thần kinh và khí quản Khi cánh phát triển hoàn chỉnh lớp tế bào nội

bì biến mất và cánh có cấu tạo hoàn toàn bởi biểu bì không có cấu tạo tế bào Sựnghiên cứu hệ thống khí quản ở cánh rất quan trọng cho công tác phân loại, đặc biệt là

Trang 13

ở những nhóm mà sự phân loại dựa chủ yếu trên hệ thống mạch cánh.

* Mạch cánh

Có một sự thay đổi rất lớn trong hệ thống mạch cánh ở các bộ, họ côn trùng Dựatrên những sự tương đồng của các mạch cánh, một hệ thống mạch cánh mang tínhnguyên thủy giả thuyết đã được xây dựng bởi Comstock và Needham Mặc dù khôngphải nhà côn trùng học nào cũng đồng ý với sơ đồ mạch cánh của Comstock vàNeedham Nhưng hệ thống này cho đến nay vẫn là cơ sở cho việc xác định nghiên cứu

và xây dựng hệ thống mạch cánh cho nhiều nhóm côn trùng khác nhau

Hệ thống mạch cánh các côn trùng gồm có các mạch dọc và mạch ngang:

- Mạch dọc

Là gân cánh chạy từ gốc cánh theo chiều dọc của cánh ra phía mép cánh Gânngang là gân ngắn nối liền ngang giữa hai gân dọc Gân dọc và gân ngang đều có têngọi nhất định Gân dọc gồm các gân chủ yếu như sau:

- Mạch dọc mép (Costa = C): nằm sát rìa trên của cánh, mạch này không bao giờ phânnhánh

- Mạch dọc mép phụ (Subcosta = Sc): nằm phía dưới mạch Costa, mạch này đôi khicũng phân thành hai nhánh nhỏ (Sc1 và Sc2)

- Mạch dọc chày (Radius = R): nằm phía sau mạch Sc, mạch này chia thành hai nhánhphụ: R1 và SR R1 không phân nhánh, nhưng nhánh SR lại chia thành 4 nhánh: R2,R3, R4, R5 Nếu SR chỉ chia thành hai nhánh thì các nhánh này được gọi SR1 (R2+3)

và SR2 (R4+5)

- Mạch dọc giữa (Medius = M): nằm kế sau mạch R Mạch này thường phân làm 4nhánh nhỏ: M1, M2, M3, M4, ở một số loài, mạch này chỉ phân thành 2 nhánh nhỏđược gọi là Ma (trước) và Mp (sau), đôi khi một nhánh có thể biến mất, chỉ còn lại cácnhánh như: M1, M3, M4,

- Mạch dọc khuỷu (Cubitus = Cu): tiếp sau mạch Medius là mạch Cubitus, mạch nàychia thành 2 nhánh: Cu1 và Cu2, nhánh Cu1 có thể lại phân thành 2 nhánh nhỏ làCu1a và Cu1b

Mạch dọc mông (Analis = A) thường gồm 3 mạch: 1A, 2A, 3A

- Mạch dọc đuôi (Jugalis = J) là những mạch rất ngắn, nhiều loại côn trùng không cógân này, thường có 2 gân 1J, 2J

Trang 14

Mạch ngang

Là những mạch ngắn nối liền ngang giữa 2 mạch dọc Tùy theo vị trí mà từnggân ngang có tên gọi khác nhau Mạch ngang gồm có các mạch chủ yếu như sau:

- Mạch ngang mép (Humeralis = h) : nối liền mạch C và Sc

- Mạch ngang chày (Radial = r): nối liền R1 và R2

- Mạch ngang chày chung (Sectorial = s): nối liền R3 và R4 hoặc nối liền R2+3 vàR4+5

- Mạch ngang chày giữa (Radio-medial = r-m): nối liền R và M

- Mạch ngang giữa (Medial = m): nối liền M2 và M3

- Mạch ngang giữa khuỷu (Medio-cubital = m-cu): nối liền M và Cu

- Mạch ngang khuỷu mông (Cubito-anal =Cu-a): nối liền 1A với Cu2

Vanalis và Analis, khu đuôi nằm phía sau của khu mông được giới hạn bởiđường gấp Jugalis và mép sau cùng của cánh gần góc cánh

-Buồng cánh

Các vùng trên cánh được giới hạn bởi các mạch, được gọi là buồng cánh Buồngcánh được phân thành hai dạng: buồng cánh kín (giới hạn hoàn toàn bởi gân cánh) vàbuồng cánh hở (giới hạn bởi mạch cánh và mép ngoài của cánh) Tên của buồng cánhđược gọi dựa theo tên gọi của các mạch dọc nằm phía trên buồng cánh, ví dụ: buồng

hở nằm giữa mạch R2 và R3 được gọi là buồng R2 Buồng cánh nằm phía góc cánhthường gọi tên theo tên gọi của phần góc của mạch dọc (phần chưa phân nhánh) nằm ởphía trên của buồng cánh, ví dụ như buồng R, M và buồng Cu Nếu hai buồng đượcngăn cách nhau bởi một mạch ngang, các buồng này sẽ có cùng một tên gọi nhưng có

số thứ tự khác nhau, ví dụ như mạch ngang Medial chia buồng M2 thành hai buồng,buồng ở phía góc sẽ được gọi là buồng M2 thứ nhất, buồng còn lại sẽ được gọi làbuồng M2 thứ hai

Ở một số loại côn trùng khác, buồng cánh còn có những tên gọi đặc biệt khácnhư "buồng hình tam giác" trên cánh chuồn chuồn hay "buồng discal" trên cánh cácloài bướm

Nói chung hệ thống mạch cánh của từng loại côn trùng riêng biệt có thể khác với

hệ thống mạch cánh cơ bản trình bày ở trên Mạch cánh có thể tăng thêm hay giảm đi,thậm chí thoái hóa không còn mạch cánh

Việc xây dựng một hệ thống mạch cánh chung cho các loại côn trùng rất phứctạp do sự khó khăn trong việc chuẩn hóa các mạch cánh Các nhà sinh học chuyênnghiên cứu từng bộ côn trùng lại xây dựng hệ thống mạch cánh với những tên khácnhau cho từng bộ, họ phổ biến

Trang 15

Hình 1.7: Cánh và sự phân bố các mạch dọc, mạch ngang.

1.5 Cấu tạo bụng

Gồm 11 đốt nhưng đốt thứ 10 thường không quan sát thấy được và được thay thếbởi các chi phụ, vì vậy số đốt cao nhất quan sát được ở phần bụng ít khi lớn hơn 10đốt Nhiều loài côn trùng số đốt bụng rất ít, như bụng ruồi chỉ có 5 đốt, và đa số thànhtrùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) chỉ có 6 đốt bụng

Mỗi đốt bụng được cấu tạo chủ yếu bởi hai mảnh cứng: một mảnh lưng (tergum)

và một mảnh bụng (sternum) có kích thước nhỏ hơn, vùng bên (pleural) đa số

là vùng màng, đôi khi cũng có một số chỗ cứng ở vùng này Mỗi đốt bụng đềumang một đôi lỗ thở ở hai bên

Giai đoạn ấu trùng của một số loài cũng như thành trùng của các loài côn trùngthuộc lớp phụ không cánh (Apterygota) và thành trùng đực của bộ Chuồn chuồn(Odonata), đốt bụng từ 1-7 có mang một số chi phụ như mang ở ấu trùng phù du(Ephemeroptera), hoặc chân bụng của ấu trùng bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) Chi phụcủa trưởng thành bộ phụ không cánh gồm có bộ phận styli và một số bộ phận khác Ởthành trùng đực thì bộ phận phụ là bộ phận giao phối

Ngoài ra, đốt thứ 8 và thứ 9 của bụng cũng mang những chi phụ, và những chiphụ này gọi là bộ phận sinh dục ngoài của côn trùng, ở con đực, đó là những bộ phận

có liên quan đến vấn đề giao phối và thụ tinh con cái Ở con cái đó là bộ phận đẻtrứng Những bộ phận sinh dục ngoài này, hoặc một phần hoặc toàn bộ, được giấu kíntrong phần bụng khi không sử dụng và thường chỉ quan sát được khi giải phẫu

Trang 16

Hình 1.8: Cấu tạo cơ bản của bụng a: mảnh lưng (tergum); b: mảnh bụng (ternum); c: phần màng; d: lỗ thở; e: lông đuôi; f: mảnh trên hậu môn; g: mảnh dưới hậu môn.

1.5.1 Bộ phận sinh dục của con cái

Bộ phận sinh dục ngoài của con cái gồm chủ yếu là các phiến đẻ trứng với cấu

tạo như sau:

- Một đôi phiến đẻ trứng dưới (còn có thể gọi là phiến đẻ trứng bụng hoặc

van đẻ trứng thứ nhất) do chi phụ đốt bụng thứ 8 hình thành

Một đôi phiến đẻ trứng giữa (phiến đẻ trứng trong hoặc van đẻ trứng thứ

hai) do chi phụ đốt bụng thứ 9 hình thành

- Một đôi phiến đẻ trứng trên (phiến đẻ trứng lưng hoặc van đẻ trứng thứ 3) cũng do chi

phụ của đốt bụng thứ 9 hình thành Bộ phận đẻ trứng hoặc ống đẻ trứng thường do hai

đôi trong 3 đôi phiến đẻ trứng cấu tạo nên

Ống đẻ trứng thường phát triển ở bộ Cánh thẳng (Orthoptera) như cào cào, châu

chấu, vạt sành, dế, hoặc ở bộ Cánh đều (Homoptera) như ve sầu, rầy thân, rầy lá,

và cả ở bọ Cánh màng (Hymenoptera) như các loài ong mật, ong vàng và nhiều loài

ong ký sinh khác Ở một số loài ong như ong mật, ong vò vẽ thì kim chích nọc độc ở

cuối bụng cũng chính là phiến đẻ trứng dưới và giữa biến thành

Trang 17

Phần lưng

Lỗ thở

Đuôi

Hình 1 9: Bụng và các các dạng gai sinh dục của con cái

1.5.2 Bộ phận sinh dục ngoài của con đực

Bộ phận sinh dục ngoài của con đực thường gồm có các bộ phận như bộ phậnquặp âm cụ và dương cụ Bộ phận quặp âm cụ có cấu tạo từng đôi, có thể di động vànằm trên đốt bụng thứ 9 Ngoài ra còn có một số bộ phận phụ không cử động khác nhưcác bộ phận phallique, bộ phận phallomere có nguồn gốc từ mảnh lưng hoặc mảnhbụng Dương cụ nằm trong xoang sinh dục ở phía sau đốt bụng thứ 9 và được cấu tạobởi hai bộ phận: bộ phận phallobase và bộ phận edeage Hai bộ phận này được gắnliền với các hệ thống cơ của edeage giúp cho dương cụ có thể co dãn dễ dàng Ở một

số loài, bộ phận phallobase biến thành một ống bao bọc edeage Trong trường hợp bộphận edeage thoái hoá thì bộ phận phallobase sẽ giữ nhiệm vụ của bộ phận giao phối

Ở một số loài côn trùng, dương cụ không hiện diện Nói chung bộ phận sinh dục ngoàicủa con đực có cấu tạo rất phức tạp, rất khác biệt theo từng nhóm, loài và được sửdụng rất nhiều trong công tác phân loại

- Ở bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), bộ phận sinh dục ngoài của con đực rất phức tạp, phát

xuất chủ yếu từ đốt bụng thứ 9, bao gồm một ống bao bọc các bộ phận sinhdục đực, ống này có nguồn gốc từ đốt bụng thứ 8 Ở bộ Cánh vẩy, đốt bụng thứ

10 sẽ thoái hoá thành những phiến lưng hình tam giác, đôi khi phiến này có hai thùy,gọi là bộ phận uncus Đốt thứ 9 gồm một phần phía lưng phát triển được gọi là bộphận Tegmen, bộ phận này có thể kéo dài ra hai bên bởi hai que dài để tạo thành bộphận vinculum, phần nối liền về phía bụng của vinculum sẽ hình thành một phiến nhọn(eperon) trong cơ thể, phiến này kéo dài về phía trước và được gọi là bộ phận saccus

Trang 18

Hình 1 10: Bộ phận sinh dục ngoài (A: con đực; B: con cái; a: mảnh trên hậu môn; b: mảnh dưới hậu môn; c: lông đuôi; d: dương cụ; e: gai lồi; f: ống đẻ trứng;g: phiến đẻ trứng trên; h: phiến đẻ trứng giữa; i: phiến đẻ trứng dưới).

Câu hỏi gợi ý ôn tập

1- Các đặc điểm hình thái quan trọng thường được sữ dụng trong phân loại côn trùng?

2- Tầm quan trọng của việc nghiên cứu về hình thái học côn trùng?

3-Ý nghĩa thực tiển của việc nghiên cứu khẩu biện (miệng) và da của côn trùng?

4- Cấu tạo tổng quát về cơ thể côn trùng ?

Trang 19

BÀI 2 PHÂN LOẠI CÔN TRÙNG

2.1 Khái niệm chung và nguyên tắc trong phương pháp phân loại

Có trên hàng triệu loài động vật đã được ghi nhận, vì vậy mà một sự phânloài nhằm sắp xếp một cách có hệ thống các loài nầy vào từng nhóm là một điềucần thiết Động vật có thể được phân chia theo nhiều cách nhưng sự phân loài củacác nhà động vật học thường dựa chủ yếu trên các đặc tính cấu trúc, những loài cócùng những đặc tính về cấu trúc thì được xếp vào cùng một nhóm, những loài cócấu trúc khác thì được xếp vào những nhóm khác Vì vậy mà động vật được sắpxếp vào thành từng ngành (Phylum), mỗi phylum có một tên riêng và những độngvật cùng một ngành phải có một số đặc điểm về cấu trúc giống nhau

Dựa trên mức độ phức tạp và quá trình tiến hóa, động vật được sắp xếp theocác ngành từ thấp đến cao Giới động vật gồm các ngành chủ yếu như sau:

- Ngành Protozoa (Động vật nguyên sinh)

- Ngành Porifera (Sponges - Động vật thân lỗ)

- Ngành Coelenterata (Động vật ruột khoang)

Trang 20

2.2 Hệ thống phân loại côn trùng

Dựa trên sự cấu tạo của cánh, miệng, sự biến thái và nhiều đặc tính khác nhau

mà lớp côn trùng được chia thành nhiều bộ Tùy theo quan điểm của các nhà côn trùnghọc mà giới hạn loài của từng bộ côn trùng khác nhau vì mỗi người đều có một lý do

và cơ sở khoa học nhất định để phân chia các bộ côn trùng chính, do đó số lượng bộcôn trùng trong mỗi hệ thống đều có ít nhiều khác nhau Hệ thống phân loại củaCarlvon Linne (1758) gồm 7 bộ, J C Fabricins (1775) chia thành 13 bộ, Brauer(1885) chia thành 17 bộ, Sharp (1895) chia thành 21 bộ, Chu Nghiêu (1950) chia thành

32 bộ, Jeannel (1938-1949) chia thành 40 bộ Trong giáo trình nầy, chúng tôi sắp xếptheo 28 bộ

Trang 22

A B

Hình 2.1: Cào cào Locusta migratoria (A) ; Acrita sp.(B)

2.2.1 Bộ cánh thẳng (orthoptera)

Gồm rất nhiều loài khác nhau, trong nhóm nầy có rất nhiều loài rất phổ biến Đa

số có kích thước lớn từ 20 - 50 mm, một số ít loài có kích thước đến 180 mm Phần lớngây hại thực vật, nhiều loài thuộc nhóm gây hại quan trọng, một số loài thuộc nhóm ănmồi, một số ít loài thuộc nhóm ăn các chất mục nát hoặc ăn tạp Bộ Cánh thẳng gồmnhững loài có cánh hoặc không cánh, nếu có cánh thì gồm hai cặp Cặp cánh trướcthường dài, nhiều mạch cánh, dầy tựa chất da, cặp cánh sau rộng, bằng chất màng,cũng có rất nhiều gân, ở trạng thái nghỉ cặp cánh sau xếp phía dưới cánh trước Miệngkiểu gặm nhai phát triển Râu đầu hình sợi chỉ, thường rất dài, có nhiều đốt Một sốloài có cánh thoái hóa rất nhỏ hoặc không có Cơ thể thường dài, lông đuôi phát triển,lông đuôi thường có nhiều đốt Một số loài có ống đẻ trứng phát triển Ống đẻ trứngđôi khi có chiều dài bằng chiều dài cơ thể Một số loài khác ống đẻ trứng ngắn Đốtbàn có từ 3 - 5 đốt Nhiều loài có thể phát ra tiếng kêu bằng cách cọ xát 2 cánh vàonhau (họ Dế mèn, Sạt sành) hoặc do đốt đùi chân sau cọ xát với cánh Bộ phận nghecủa châu chấu nằm hai bên đốt bụng thứ nhất, ở họ Sạt sành, dế mèn, dế nhũi, bộ phậnnghe nằm ở đốt chậu chân trước Ở các loài nầy, con cái có thể phát một số âm thanhnhỏ, nhưng thường chỉ có con đực mới phát tiếng kêu

Một số họ quan trọng trong nông nghiệp

2.2.1.1. Họ Cào cào (Acrididae = Locustidae)

Râu đầu thường ngắn hơn cơ thể, hình sợi chỉ hoặc hình lưỡi kiếm, đa số có mầuxanh, nâu Ở một số loài cặp cánh sau có mầu sắc rực rở Đôi chân trước kiểu chân

bò, chân sau kiểu chân nhẩy Bàn chân 3 đốt, bộ phận nghe nằm ở hai bên đốt thứnhất của bụng, bộ phận đẻ trứng ngắn và cong Nhiều loài (con đực) phát tiếng kêu(ban ngày) bằng cách cọ sát mặt trong của chân sau với mép dưới của cánh trướchoặc cọ sát hai cánh Trứng thường được đẻ thành từng tổ dưới đất Mỗi tổ có khoảng

30 - 100 trứng Một con cái có thể đẻ vài ổ Ấu trùng và trưởng thành đều gây hại trêncây trồng, nhiều loài gây hại nghiêm trọng

Một số loại phổ biến: Locusta migratoria , Oxya velox

22

Trang 23

ăn thực vật, một số ít thuộc nhóm ăn mồi Trứng thường được đẻ thành hàng phíatrong mô cây, một số loài đẻ dưới đất.

Một số loài thường gặp: Euconocephalus pallidus Red; Conocephalus sp.

2.2.1.3 Họ Dế (Gryllidae)

Côn trùng thuộc họ Gryllidae cũng có cặp râu đầu dài như họ Sạt sành, bộ phậnnghe cũng nằm ở đốt chày chân trước, bộ phận phát âm nằm trên cánh trước của conđực, nhưng khác với vạt sành là nhóm nầy chỉ có 3 đốt ở bàn chân, bộ phận đẻ trứngdạng hình trụ hoặc kim nhọn kéo dài ra phía cuối bụng Đa số côn trùng thuộc họ nầy

có khả năng phát âm thanh rất tốt Mỗi loài có một âm thanh khác nhau Đa số đẻtrứng dưới đất, trứng được đẻ rải rác hay được đẻ thành từng ổ trong những lỗ hang đãđược đào sẳn trong đất, trừ dế thuộc họ phụ dế Oecanthinae đẻ trứng trong mô cây Đa

số ăn thực vật, thường sống ở dưới đất gặm rễ cây con hoặc những phần non của cây ởsát mặt đất

Trang 24

Loài phổ biến: Gryllotalpa africana Pal de Beauvois

2.2.1.5 Bọ que (Phasmidae)

Có hình dạng rất giống cành khô, thân và chân rất dài, rất mảnh khảnh, bàn chânthường có 5 đốt, cánh thoái hoá rất nhỏ hoặc không có cánh Di chuyển chậm, khônggiống như đa số các loại côn trùng, bọ que có thể tái lập lại chân nếu mất (ít nhất làmột phần) Thành trùng màu nâu, ấu trùng thường có màu xanh Bộ phận đẻ trứngngắn, không để lộ ra ngoài cơ thể Trứng thường được đẻ rải rác trên mặtđất

Thường chỉ có 1 thế hệ /năm Mật số thường rất thấp nên không ảnh hưởng đếnthực vật, tuy nhiên nếu mật số cao, cũng có thể gây hại quan trọng trên câytrồng

2.1.5

Trang 25

Hình 2.5: Bọ que Cyphocrania gigas (dài 17,5cm)

Hình 2.6: Thành trùng bọ ngựa Mantidae (A) và chân (trước) bắt mồi (B)

2.2.1.6 Họ Bọ ngựa (Mantidae)

Thường có kích thước lớn, dài, di chuyển chậm Ngực phát triển, dài, chântrước rất phát triển, dạng chân bắt mồi: đốt chậu rất dài vươn ra phía trước làm giatăng phạm vi hoạt động có lợi cho việc săn bắt mồi, đốt đùi và đốt chày được trang bịnhiều gai nhọn, mặt bụng của đốt đùi có một đường rãnh, khi đốt chày cong gập lại thì

có thể nằm lọt vào rãnh của đốt đùi trông tựa như chiếc dao thợ cạo Nhờ những bộphận nầy mà con mồi bị kẹp và giữ lại Đầu có thể cử động dễ dàng Thuộc nhóm ănmồi, có thể tấn công nhiều loại côn trùng khác nhau, tấn công cả những côn trùng cùng

họ Trứng được đẻ từng bọc trên cành hoặc trên các thân cây cỏ

2.2.1.7 Họ Gián (Blattidae)

Rất dễ nhận diện do cơ thể có hình bầu dục, dẹp, đầu được phần ngực che khuất,râu đầu dài Cánh có thể phát triển, hoặc thoái hóa rất nhỏ hoặc không có cánh, ở nhiềuloài con cái có cánh ngắn hơn con đực Trứng được đẻ thành từng bọc (Oothecae),

Trang 26

Hình 2.7: Một số loài gián (Blattidae) phổ biến tại Việt Nam

được đẻ ra ngoài ngay khi bọc trứng được thành lập hoặc được con cái mang trên mình(dính ở phía ngoài của phần cuối bụng) trên mình cho tới khi trứng nở Mùi hôi khóchịu Đa số có tính ăn tạp

Loài phổ biến: gián nhà Blatta orientalis

2.2.2 Bộ cánh cứng (coleoptera)

Coleo: cái bao, cái vỏ ptera: cánh

Đây là bộ lớn nhất trong lớp côn trùng Đã có trên 250.000 loài đã được mô tả.Côn trùng thuộc bộ Cánh cứng có kích thước rất thay đổi, từ rất nhỏ (nhỏ hơn 1 mm)đến rất lớn (trên 75 mm), một số loài thuộc vùng nhiệt đới, chiều dài cơ thể có thể đạtđến 125 mm Bộ nầy phân bố rất rộng rải, hầu như hiện diện khắp nơi

Đặc điểm chủ yếu của bộ nầy là từ cấu tạo của cánh: phần lớn côn trùng thuộc bộnầy có hai cặp cánh, cặp cánh trước có cấu tạo bằng chất sừng cứng, cặp cánh saubằng chất màng, thường dài hơn cặp cánh trước và ở trạng thái nghỉ cặp cánh sauthường xếp lại dưới cặp cánh trước Miệng của các loại côn trùng thuộc bộ nầy có kiểunhai gậm, 2 ngàm (hàm trên) rất phát triển

Côn trùng bộ cánh cứng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn Ấu trùng có nhiều dạnghình khác biệt nhau, nhưng đa số có dạng chân chạy hoặc dạng bọ hung Nhộng đa số

là nhộng trần Có nhiều loài làm nhộng trong đất và được bao bọc bằng kén đất hoặctàn dư thực vật Có một số loài như xén tóc, nhộng được bao bọc bằng một lớp kénmỏng Côn trùng thuộc bộ cánh cứng thường đẻ trứng trong đất, trong vỏ thân cây,trong mô lá, trong nước Trứng có hình cầu hoặc hình bầu dục

Tính ăn của côn trùng cánh cứng rất phức tạp, đa số ăn thực vật, nhưng cũng cónhiều loài ăn động vật, chuyên tấn công các loại côn trùng nhỏ khác, có loài lại chuyên

ăn các chất hữu cơ mục nát và những di thể động thực vật, bộ nầy còn gồm cả nhữngloài côn trùng chuyên ăn các bào tử nấm, và một số ít loài thuộc nhóm ký sinh hoặcsống cộng sinh trong ổ những côn trùng sống thành xã hội Đối với những loài ăn thựcvật, thì tính ăn cũng đa dạng, nhiều loài ăn phá lá, đục thân, cành, trái, một số loài

Trang 27

Hình 2.8: Cấu tạo cánh của bộ Cánh cứng a: cánh trước (sừng cứng) b: cánh sau.

Hình 2.9: Một số loại côn trùng chân chạy và Kiến ba khoan

khác đục lòn trong lá, tấn công rễ, bông Hầu như côn trùng thuộc bộ nầy có thể tấncông tất cả các bộ phận khác của cây Chu kỳ sinh trưởng của bộ nầy có thể kéo dài từ3-4 thế hệ trong một năm đến nhiều năm để hoàn thành một thế hệ

2.2.2.1 Họ Chân chạy (Carabidae)

Đây là một trong những họ lớn nhất trong bộ Cánh cứng Bao gồm nhiều loài cókích thước, hình dạng và màu sắc khác nhau Phần lớn có màu tối, bóng loáng, đẹp vàcánh cứng có nhiều ngấn dọc Côn trùng thuộc họ nầy có đốt thứ nhất của bụng vềphía mặt bụng thường bị cắt quảng, không liên tục bởi ở đốt chậu chân râu Đầu cómiệng phát triển, bề ngang của đầu hẹp hơn bề ngang của ngực trước Bàn chân của 3đôi chân đều có 5 đốt (ký hiệu 5-5-5) Ấu trùng mình dài nhỏ, râu đầu 4 đốt, chân ngựcphát triển Thường có một đôi lông đuôi Đốt thứ 10 của bụng thường có một đôi chânmông Côn trùng thuộc họ nầy sống trên cạn, cư trú và hoạt động trong đất, trên mặtđất, dưới gạch đá lá cây rụng, khi bị quấy rầy loại nầy chạy rất nhanh, ít khi bay Đa

số hoạt động về đêm, một số ít bị hấp dẫn bởi ánh sáng đèn

Hầu hết côn trùng thuộc họ nầy là nhóm có ích, cả thành trùng lẫn ấu trùng đềusinh sống trên những động vật nhỏ khác Trên ruộng lúa thường gặp loài phổ biến như

kiến ba khoang Ophionea indica

Trang 28

Hình 2.10: Cicindela aurulent và Cicindela sexguttata

2.2.2.2 Họ Vằn hổ (Cicindellidae)

Đa số côn trùng thuộc họ nầy có màu sắc rực rỡ và rất hoạt động, có thể chạy vàbay rất nhanh Cơ thể có kích thước trung bình Bề ngang của đầu rộng hơn bề ngangcủa ngực trước Mắt kép to và lồi Hàm trên hơi cong dài và sắc Chân dài, nhỏ, côngthức bàn chân: 5-5-5 Sâu non mình mềm, da nhăn nheo Đầu và ngực lớn hơn cácphần khác Hàm trên cong và to Trên đốt bụng thứ 5 về phía lưng có một bướu lồi vàtrên đó có một đôi móc câu hướng về phía trước Cả thành trùng lẫn ấu trùng đều sinhsống bằng cách săn bắt các côn trùng nhỏ khác Trưởng thành thích hoạt động dướinắng Ấu trùng thường sống trong những hang đục thẳng xuống mặt đất Loài phổ biến

tại Việt nam là loài Cicindela aurulenta.

2.2.2.3 Họ Cánh cụt (Staphylinidae)

Cơ thể dài, mảnh, cánh rất ngắn không che phủ đa số các đốt của bụng Cơ thể

có từ 6-7 đốt không được cánh trước che phủ Cánh sau trái lại rất phát triển, ở trạngthái nghỉ cánh sau xếp lại phía dưới cánh trước Họ cánh cụt rất hoạt động, thườngchạy và bay nhanh Bàn chân có công thức 5-5-5 hoặc 4-5-5 hoặc 3-5-5

Đa số có màu đen hay nâu, kích thước rất thay đổi, đa số có kích thước nhỏ vàtrung bình Họ nầy cũng gồm rất nhiều loại, riêng ở Bắc Mỹ đã có gần 3100 loài Sinhsống trong nhiều vị trí khác nhau nhưng thường thấy sống dưới các tàn dư thực vật,dưới vỏ cây, bẹ cây, đá, gạch, Cả thành trùng lẫn ấu trùng của nhiều loài thuộc họCánh cụt thuộc nhóm có ích, sinh sống trên những côn trùng nhỏ khác Một số ít loài

có thể sống ký sinh trong nhộng ruồi hoặc ăn các chất mục nát

Trang 29

Hình 2.11: Bọ cánh cụt Paederus fuscipes

Loài phổ biến: kiến ba khoang Paederus fuscipes trên ruộng lúa và ruộng đậu

nành tại vùng đồng bằng sông Cửu Long

2.2.2.4 Họ Bọ rùa (Coccinellidae)

Thành trùng bọ rùa đa số có hình bầu dục hoặc tròn, kích thước nhỏ, mặt lưngcủa cơ thể thường vồng lên hình bán cầu, dài từ 1 mm đến trên 10 mm tùy loài, mặtlưng của cơ thể thường vồng lên hình bán cầu, thường con cái có kích thước lớn hơncon đực Thành trùng thường có màu sắc tươi sáng, miệng thuộc nhóm miệng nhaigậm Bàn chân có 4 đốt, đốt thứ 3 nhỏ, mảnh lưng ngực trước phủ hết đầu hoặc gầnhết đầu, râu đầu hình chùy hay dùi đục, ngắn có từ 7 – 11 đốt Râu đầu thường đínhngay trước mắt ở góc bên lưng của trán Hai râu đầu nằm cách xa nhau Mắt lớn, hìnhtròn hoặc gần tròn ở dạng ăn thịt Râu đầu tương đối ngắn, không dài hơn 1,5 chiềungang đầu và số đốt râu thường là 11 đốt nhưng cũng có thể giảm từ 10 đến 7 đốt, khámảnh và có chùy nhỏ Đốt cuối của râu hàm dưới nói chung là hình rìu, tuy nhiên ởmột số loài thì đốt này hình nón cụt hoặc có hai cạnh bên song song Đốt cuối của râumôi dưới hình nón cụt

Trứng của bọ rùa thường có hình thoi, màu vàng hay da cam, ấu trùng có hìnhdạng khác nhau tùy loài, đa số ấu trùng bọ rùa có cơ thể dài, đôi khi dẹp, cơ thể mangnhiều lông hoặc ống nhỏ, phần nhiều có màu đen xám hoặc nâu nhạt pha lẫn vớinhững đốm vân màu trắng, đỏ Miệng ở phía trước đầu, râu đầu có 3 đốt, bụng có 10đốt Hình dạng bọ rùa nhìn chung khá giống với nhiều loài thuộc bộ Ánh kim(Chrysomelidae), tuy nhiên có thể phân biệt được dễ dàng với bộ Ánh kim qua cấu tạocủa bàn chân, bàn chân có cấu tạo 3-3-3

Đa số bọ rùa (cả thành trùng lẫn ấu trùng) có tính ăn thịt, sinh sống chủ yếu bằng

cách tấn công rầy mềm (Aphididae) (Coccinella, Harmonia, Micraspis…), hoặc rệp sáp (Rodolia, Chilocorus…) thường gặp phổ biến trên các loại hoa màu, cây ăn trái,

hoa kiểng.… nơi có nhiều rầy mềm hoặc rệp sáp gây hại Trong họ này cũng có một số

29

Trang 30

A B

Hình 2.12: Bọ rùa Epilachna vigintioctopunctat (A: thành trùng; B: Ấu trùng).

Hình 2.13: Cấu tạo đốt bàn chân Chrysomelidae (A)

Có nhiều dạng rất khác biệt nhau và mặc dù một số loài có hình dạng tương tự

bọ rùa, nhưng họ nầy lại có liên hệ khá chặt với họ Xén tóc (Cerambycidae) do bànchân có cùng một cấu tạo (dạng Cryptopentamère: Bàn chân nguyên có công thức 5-5-

5 nhưng đốt thứ nhất rất nhỏ nên thường chỉ thấy 4-4-4 và phía cuối đốt thứ 3 thườngphát triển và chẻ đôi) và do đa số côn trùng họ Ánh kim thuộc nhóm ăn thực vật, tuynhiên côn trùng họ Ánh kim thường có râu đầu ngắn, cơ thể có hình bầu dục và nóichung, kích thước thường nhỏ hơn họ Xén tóc và nhiều loại có màu sắc sáng, đẹp

Trang 31

Hình 2.14: A: (loài bổ củi phổ biến tại ĐBSCL); B: ( A+B: Ctenicera noxia; C: Alaus oculatus; D: Anelastes druryi(B: Borror và ctv, 1981)

Ấu trùng thường có nhiều hình dạng khác nhau tuỳ loài, thường mập, trắng hoặcvàng, 3 chân ngực phát triển, trên mình thưòng có những gai thịt hoặc u lồi Thànhtrùng thuộc nhóm ăn thực vật, phần lớn ăn phá trên lá, hoa

Ấu trùng có tập quán thay đổi, có loài ăn động vật, có loài ăn thực vật, tấn côngbằng cách đục lòn trong lá, hoặc ăn phá bộ phận rễ và đôi khi đục thân Rất nhiều loài

thuộc họ nầy gây hại quan trọng trên cây trồng như bọ nhẩy hại rau cải (Phyllotreta striolata Fabr.), sâu gai hại lúa (Hispa armigera Olivier), bọ vàng (Aulacophora sp.), miểng kiến hại khoai lang (Cassida circumdata Herbst) và bọ dừa Brontispa longissima gây hại phổ biến hiện nay trên dừa.

2.2.2.6 Họ Bổ củi (Elateridae)

Côn trùng thuộc họ nầy cũng khá phổ biến trong thiên nhiên, có đặc điểm là côntrùng trưởng thành có thể bật nẩy mình lên khi bị ấn xuống hoặc lật ngửa mình và cóthể nhẩy Họ Bổ củi thường có cơ thể dài, hai bên mép cánh thường song song nhau vàtròn về phía cuối cánh Mảnh lưng ngực trước phát triển, hai góc sau của mảnh lưngngực trước kéo dài ra phía sau thành hai răng nhọn sát với chân cánh Mảnh bụng ngựctrước có một kim dài, nhọn, nằm lọt vào khe lỏm của ngực giữa Ba đôi chân ngựcthường co sát mình lúc không hoạt động Râu đầu thường có hình răng cưa và dạng sợichỉ Kích thước từ 12-30 mm, đa số thường có màu nâu hay đen Bàn chân có côngthức 5-5-5 Đa số ấu trùng có cơ thể dài, hẹp, cứng, bóng láng nên còn được gọi là sâuthép, thường có màu vàng hoặc nâu Chân ngực phát triển Ấu trùng nhiều loại gây hạiquan trọng cho thực vật , tấn công trên cây con, rễ củ, hạt giống Thành trùng gây hạitrên thực vật, phá hại cành non, mầm non hoặc hoa Một số giống thường gặp là:

Melanotus, Agriotes.

2.2.2.7 Họ bổ củi giả (Buprestidae)

Đa số côn trùng thuộc họ nầy có màu sắc kim loại (màu đồng, xanh lá cây, xanh

da trời, đen, ), sáng đẹp Cơ thể thường rất cứng, có cấu tạo thành khối rất chắc vàthường có hình dạng đặc biệt Đầu thường bị che khuất tới phần sau của mắt kép Ấu

Trang 32

Hình 2.15: Bọ cánh cứng Strigoptera bimaculata (A) và Sternocera aequisignata (B)

trùng có màu trắng hoặc vàng nhạt, chân ngực không có hoặc kém phát triển Ngực trước phình to, đầu bé, dẹp

Đa số ấu trùng bổ củi giả gây hại thực vật bằng cách đục dưới vỏ cây hoặc đụcvào trong gỗ cây, tấn công cả cây sống lẫn những cây gỗ vừa mới được cưa, cắt Rấtnhiều loài gây hại quan trọng cho cây trồng Trứng thường được đẻ vào các vết nứttrên vỏ cây Ấu trùng khi nở ra sẽ đục những đường hầm dưới vỏ cây và một số loàiđục cả vào thân gỗ

Gây hại quan trọng trên các loại cây ăn trái và cây rừng Một số giống thường

Phần lớn ấu trùng ăn phá thực vật bằng cách đục vào trong gỗ, nhiều loại gây hạiquan trọng cho cây ăn trái, cây rừng và nhiều loại cây gỗ Thành trùng đẻ trứng trênnhững kẻ nứt của vỏ cây, sau khi nở, ấu trùng sẽ đục vào trong phần gỗ cây Nhữngđường đục trong gỗ cây thường có dạng hình tròn (thiết diện cắt ngang) khác vớiđường đục của ấu trùng họ Bổ củi giả, thường có dạng bầu dục, và các đường đụctrong gỗ gây ra bởi ấu trùng bộ Xén tóc thường kéo dài một đoạn thẳng nhỏ trước khiquay hướng đục

Thành trùng của một số loài có thể ăn phá trên bông

Một số loài gây hại phổ biến là xén tóc đục thân, cành xoài Plocaderus ruficornis, bọ hại cà phê Xylotrechus quadripes, Chevr., xén tóc đục cành cây Vên vên Celosterna pollinosa sulphurea.

Trang 33

Hình 2.16: Xén tóc , A: Plocaederus ruficornis gây hại trên cây Xoài; B: Celosterna pollinosa sulphurea gây hại cây Vên vên

2.2.2.9 Họ Mọt đậu (Bruchidae)

Cơ thể ngắn, thường nhỏ hơn 5 mm, hình trứng hoặc bầu dục ngắn, thường hẹp

về phía trước Mặt lưng hơi vồng lên Cánh cứng ngắn và không che phủ hết phầnbụng Mình phủ đầy lông nhỏ, màu nâu hoặc xám, pha lẫn các đốm màu trắng Đầuhơi cuối thẳng xuống Râu đầu có 11 đốt mọc phía trước mắt kép, thường dài bằnghoặc ngắn hơn nửa chiều dài thân Râu đầu dạng sợi chỉ hoặc răng cưa hoặc dùi đục

Mắt kép rất lớn, mép trước của mắt kép thường lõm vào hình chữ U ôm lấy chân râu

Bàn chân có công thức 4-4-4

Ấu trùng mình hơi cong, béo, không mắt, không chân, ăn phá bên trong hạt củanhiều loại cây trồng Thành trùng đẻ trứng trên hạt, ấu trùng nở ra sẽ chui vào đục pháhạt Một số loài tấn công cả những hạt giống đã khô, dự trữ trong kho

Một vài loài, đặc biệt là các loài gây hại trên hạt các cây họ đậu là những loài gây

hại quan trọng như loài Bruchus chinensis L.

Trang 34

Hình 2 17: A: Loài Bruchus chinensis L; B: cách gây hại của mọt Bruchus trong hạt

Hình 2 18: Các loài mọt gây hại trên ngũ cốc A : Tribolium castaneum, B: Tribolium destructor; C: Tenebrio molitor

Sâu non đa số có hình dài, mảnh, hơi dẹp; da cứng màu vàng nâu tựa sâu thép

Phần lớn gây hại thực vật, một số loài đục khoét các hạt ngũ cốc hoặc các sản phẩmnông nghiệp tồn trữ trong kho, vựa Gây hại quan trọng, ví dụ như các loại mọt

Tribolium và Tenebrio molitor.

2.2.3 Bộ cánh màng (hymenoptera)

Hymeno: sự nối liền cánh trước và cánh sau nhờ hàng móc câu nhỏ ptera:

cánhBao gồm các loại côn trùng có những đặc điểm như sau: hai cặp cánh đều thuộcloại cánh màng, cặp cánh sau thường nhỏ hơn cặp cánh trước và thường trên mép

A

Trang 35

trước của cánh sau có một hàng móc câu nhỏ móc lên nếp cuống của mép sau cánhtrước, hệ thống mạch cánh thay đổi, phức tạp Các mạch dọc thường gấp khúc, có têngọi là mạch quay Có loài mạch cánh thoái hóa gần hết, có loài lại không có cánh.Miệng thuộc kiểu miệng nhai, nhưng ở nhóm cánh màng cấp cao, môi dưới và hàmdưới hợp thành một cấu tạo giống như lưỡi, dùng để lấy thức ăn Râu đầu thường có từ

10 đốt trở lên và thường rất dài Bàn chân thường có 5 đốt, có 1 - 2 đốt chuyển Bộphận đẻ trứng thường phát triển và ở một số loài, ống đẻ trứng thường có dạng ngòichâm và được sử dụng như một cơ quan tự vệ

Thuộc nhóm biến thái hoàn toàn Ấu trùng đa số có đầu phát triển, ngực gồm 3đốt và bụng có 10 đốt Ấu trùng của bộ phụ Symphyta có dạng sâu non của bộ cánhvẩy, với 3 đôi chân ngực, tuy nhiên khác với bộ cánh vẩy vì ấu trùng của Symphyta cótrên 5 đôi chân bụng và chân bụng không có móc và thường chỉ có một đôi mắt đơn.Nhộng thuộc dạng nhộng trần, có nhiều loài có kén bao bọc nhộng Phần lớn giới tínhđược quyết định qua việc thụ tinh của trứng, trứng được thụ tinh cho ra cá thể cái,trứng không được thụ tinh thường cho ra cá thể đực

Theo đánh giá của con người, thì bộ cánh màng là một bộ có lợi nhất trong toànlớp côn trùng, bộ nầy gồm hầu hết những loài có ích, đó là những loài ăn mồi, ký sinh

và bộ nầy còn bao gồm rất nhiều loại ong cần thiết cho vấn đề thụ phấn cây trồng Hầuhết các loại ong ký sinh đều có kích thước rất nhỏ Trong bộ Cánh màng có nhiều loài

có tập quán sống quần tụ thành xã hội như ong, kiến; có hành vi tập quán rất cao Chỉmột số ít loài là gây hại trên cây trồng như những loài thuộc bộ Ong ăn lá(Tenthredinidae)

có râu đầu dài (thường có từ 6 đốt trở lên), có 2 đốt chuyển và thiếu một buồng Costal

ở cánh trước Cánh trước có hai mạch quay, tạo thành 3 buồng giữa nhỏ (buồng M1

và buồng M2 cách nhau bởi một mạch quay) Bụng có 7-8 đốt dài và hẹp Phía trướcđốt bụng thứ nhất thon nhỏ như một cái cuống Ống dẻ trứng khá dài, thường dài hơnchiều dài của cơ thể

Ong cự có thể tấn công nhiều loại ký chủ, phần lớn các loài thuộc nhóm nội kýsinh trên ấu trùng hoặc sâu non của côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy và Cánh cứng

Trang 36

Hình 2 19: Ong Amauromorpha ký sinh và Ong Charops sp ký sinh sâu đục thân lúa sâu ăn tạp

Hình 2 20: Ong Microplistis manila và Ong Opius sp ký sinh ký sinh sâu cắn gié

2.2.3.2 Họ Ong kén nhỏ (Braconidae)

Đây cũng là một họ lớn của bộ Cánh màng Thành trùng thường có kích thước rất

nhỏ, ít khi vượt quá 15 mm chiều dài, phần lớn cơ thể trông mạnh và chắc hơn các loài

ong cự và chiều dài của bụng thì gần bằng với chiều dài của ngực và bụng cộng lại

Nhóm nầy giống ong cự ở chổ là cánh trước thiếu một buồng costal, nhưng khác là

nhóm ong kén nhỏ chỉ có một mạch quay (recurrent vein) Tập quán ký sinh của ong

kén nhỏ tương tự ong cự nhưng khác với ong cự là nhóm nầy thường kéo kén hoá

nhộng bên ngoài cơ thể ký chủ

Hiện tượng đa phôi được ghi nhận ở một số loài, chủ yếu trong giống

Macrocentrus, mỗi trứng của M grandii đẻ trên ấu trùng của sâu đục thân bắp sẽ cho

ra từ 16-24 ấu trùng ký sinh mới

Trang 37

A B

Hình 2.21: A: Ong Brachymeria excarinata ; B: Brachymeria sp ký sinh trên nhộng

2.2.3.3 Họ Ong nhỏ (Chalcidae)

Họ lớn của bộ Cánh màng Đa số đều có kích thước rất nhỏ, một vài loài thuộc

họ Mymaridae có kích thước nhỏ hơn 0,5 mm Họ Ong nhỏ hiện diện khắp mọi nơinhưng do kích thước quá nhỏ nên ít được nhận thấy Phần lớn dài từ 2-3 mm, mặc dùmột số ít loài cơ thể dài đến 10-15 mm (Leucospiridae) Phần lớn có màu nâu hay đenpha trộn với những đốm vân màu trắng hay vàng hoặc màu xanh kim loại Phần lưng

ngực hơi vồng lên, đốt đùi chân sau thường phình to và có những răng lồi nhỏ Đốt

chày chân sau hơi cong vào Râu đầu có dưới 13 đốt

Rất dễ nhận diện do cấu tạo đặc biệt của gân cánh Phần lớn ký sinh trên nhữngloại côn trùng khác, tấn công chủ yếu trứng hay ấu trùng của bộ Cánh vẩy, bộ Haicánh, bộ Cánh cứng và bộ Cánh đều Rất nhiều loài đã được du nhập vào Mỹ để sửdụng trong biện pháp phòng trị sinh học Trên lúa thường gập các loài ong

Brachymeria ký sinh trên sâu non và nhộng của sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá to và sâu

Loại phổ biến: Trichogramma spp ký sinh bộ Cánh vẩy

Trang 38

Hình 2.22: Trichogramma ký sinh trứng và Trichogramma ký của

Trichoplusia

Hình 2.23: Ong Copidosomopsis nacoleiae ký sinh sâu cuốn lá nhỏ trên lúa B: Ong ký sinh Copidosomopsis nacoleiae (hàng trăm con) trong cơ thể của sâu trên lúa.

2.2.3.5. Họ Ong nhảy nhỏ (Encyrtidae)

Gồm khá nhiều loài, phân bố rộng Kích thước nhỏ từ 1-2 mm Râu đầu có từ 8

-12 đốt Bàn chân 5 đốt Chân giữa phát triển, nhảy giỏi Phần cuối đốt chày chân

giữacó một cựa lớn Cánh trước thường có vân mầu nâu hoặc đen Đa số Ong nhảy

nhỏ ký sinh rầy mềm (Aphididae), rệp dính các loại và rầy bột phấn (Aleyrodidae)

thuộc bộ Homoptera Có một số loài có chuyên tính ký sinh đối với ký chủ như giống

Aphycus thích ký sinh trên giống rệp sáp Coccus Giống ong Blastothrix chuyên ký

sinh trên Coccus và Pulvinaria Một số loài đã được sử dụng để phòng trừ rệp sáp có

hiệu quả như ong Pseudophycus utilus Timb, Blastothrix sericae Dalm.

Một số ít loài thuộc nhóm ký sinh cấp 2 Nhiều loài có kiểu sinh sản đa phôi,

từ một trứng có thể sản sinh ra từ 10 - trên 1000 cá thể mới

1.

Trang 39

Hình 2 24: Các loại ong ký sinh họ Eulophidae (A: Aphelinus jucundus; B: Tetrastichusbruchophagi; C: Centrodora speciosissima; D: Hemiptarsenus anementus) (Borror và ctv, 1981)

Khá phổ biến, chỉ riêng tại Bắc Mỹ đã phát hiện trên 600 loài Kích thước nhỏ

(1-3 mm), Râu đầu ngắn ít đốt Bàn chân có 4 đốt Lông mịn trên mặt cánh không xếpthành hàng Bụng thắt nhỏ phía trước Nhiều loài có màu sắc kim loại sáng Râu đầucon đực (của nhiều loài) có dạng răng lược

Một số loài thuộc nhóm ký sinh cấp 2

Loài phổ biến: Giống Aphelinus ký sinh trên cơ thể rầy mềm, giống Coccophagus ký sinh trên rệp sáp.

2.2.3.7 Họ Ong xanh nhỏ (Pleromalidae)

Gồm khá nhiều loại kích thước rất nhỏ, màu đen hoặc màu xanh kim loại Râuđầu 13 đốt, bàn chân 5 đốt Cuối hàm trên có 3-4 răng Ký sinh và tấn công nhiềuloại ký chủ khác nhau

Đa số ký sinh trên sâu non và nhộng bộ Cánh vẩy và bộ Cánh cứng Một sốkhác ký sinh trên sâu non bộ Cánh màng và nhộng bộ Hai cánh Cũng có một sốloài ký sinh trên bộ Cánh đều, bộ Cánh thẳng, bộ Cánh mạch Có thể ăn hoặc kýsinh trứng

Loài phổ biến: ong xanh nhỏ Dibrachys cavus Walker ký sinh trên sâu hồng

hại cây bông vải (đã được sử dụng trừ sâu hồng tại nước ngoài)

Ngày đăng: 20/06/2020, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w