1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

25 458 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Cơ Bản Về Phương Thức Thanh Toán
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Quốc Tế
Thể loại Bài Luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 85,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thanh toán quốc tế, có thể kể tới nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: - Phương thức chuyển tiền Rimittance - Phương thức nhờ thu Collection of payment - Phương thức thanh t

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.

1.1 KHÁI NIỆM, QUY TRÌNH THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.1.1 Khái niệm.

Mọi khoản chi trả phát sinh giữa các chủ thể thanh toán của các nước được diễn

ra thông qua một quy trình xử lý kỹ thuật các chứng từ thanh toán, được gọi là phương thức thanh toán

Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng và có tính tổng hợp nhất trong các điều kiện thanh toán quốc tế Phương thức thanh toán quốc tế trong ngoại thương lại càng quan trọng và phức tạp Trong buôn bán, người ta có thể chọn lựa nhiều phương thức thanh toán khác nhau để thu tiền về, hoặc để trả tiền, nhưng xét cho cùng việc lựa chọn phương thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đúng, đủ và từ yêu cầu của người mua là nhập hàng đúng số lượng, chất lượng

và đúng hạn Trong thanh toán quốc tế, có thể kể tới nhiều phương thức thanh toán khác nhau như:

- Phương thức chuyển tiền (Rimittance)

- Phương thức nhờ thu (Collection of payment)

- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary credit)

Bằng ngôn ngữ luật, định nghĩa về Tín dụng chứng từ được nêu tại Điều 2, UCP

500, như sau:

“Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, theo đó một ngân hàng (NHPH) hành động theo yêu cầu và theo các chỉ thị của một khách hàng (người mở L/C) hoặc trên danh nghĩa chính mình,

i Phải trả tiền cho hoặc trả tiền theo lệnh của một bên thứ ba (người hưởng lợi), hoặc chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người hưởng lợi ký phát, hoặc

ii Uỷ quyền cho một ngân hàng khác trả tiền, hoặc chấp nhận và trả tiền các hối phiếu, hoặc

iii Uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu,

đối với chứng từ quy định được xuất trình và tuân thủ các điều kiện của Tín dụng”.

Trang 2

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến nhất hiện nay trong thương mại quốc tế.

1.1.2 Các thành phần tham gia thanh toán tín dụng chứng từ:

Trong quá trình thực hiện thanh toán tín dụng chứng từ, thông thường có các thành phần tham gia như sau:

ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này

hưởng số tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán

mua, phát hành một L/C cho người bán hưởng NHPH thường được hai bên mua bán thoả thuận và quy định trong hợp đồng mua bán Nếu không có sự thoả thuận trước, thì nhà nhập khẩu được phép tự chọn NHPH

thông báo L/C cho người hưởng Ngân hàng thông báo có thể là ngân hàng đại

lý hoặc là chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước người xuất khẩu

Ngoài các thành phần tham gia thanh toán trên, trong thực tế tuỳ thuộc vào từng loại thư tín dụng có thế xuất hiện thêm một số ngân hàng khác:

muốn có sự bảo đảm chắc chắn của L/C, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của NHPH Thông thường, NHXN là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp NHTB được đề nghị là NHXN Muốn được xác nhận, NHPH phải trả phí xác nhận rất cao và thường phải đặt cọc trước, mức đặt cọc có thể tới 100% trị giá của L/C

hàng nào khác được NHPH uỷ nhiệm Tuỳ theo từng loại thư tín dụng mà ngân hàng này có thể thực hiện một trong các nghiệp vụ sau:

+ Ngân hàng chỉ định thanh toán (Norminated Paying Bank)

+ Ngân hàng chỉ định chấp nhận (Norminated Accepting Bank)

Trang 3

+ Ngân hàng chỉ định chiết khấu (Norminated Negotiating Bank)

thực hiện thanh toán giá trị tín dụng thư cho ngân hàng được chỉ định thanh toán hoặc chiết khấu Ngân hàng bồi hoàn thường tham gia trong trường hợp giữa NHPH và ngân hàng được chỉ định không có quan hệ tài khoản trực tiếp với nhau

1.1.3 Quy trình nghiệp vụ trong thanh toán tín dụng chứng từ.

Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ có quy trình công nghệ khá phức tạp, gồm nhiều khâu xử lý nghiệp vụ, kể cả từ phía nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu

và các ngân hàng có liên quan Có thể tóm tắt quy trình thanh toán như sau:

SƠ ĐỒ 1.1 QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ THANH TOÁN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.

Ngân hàng thông báo

(Advising Bank)

Ngân hàng thông báo (Advising Bank) Ngân hàng thông báo (Advising Bank) Người thụ hưởng (Beneficiary) Người yêu cầu mở tín dụng thư

(Applicant)

(8)

(7)

(2)

(3) (5) (6) (1) (9) (10)

(4)

Hợp đồng

Trang 4

(3) Ngân hàng thông báo khi nhận được thư tín dụng sẽ khẩn trương thông báo, chuyển giao thư tín dụng này cho người xuất khẩu.

(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận nội dung thư tín dụng đã mở thì tiến hành giao hàng theo điều kiện hợp đồng

(5) Sau khi đã hoàn thành việc giao hàng người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo thư tín dụng, gửi tới ngân hàng phục vụ mình đề nghị thanh toán

(6) Ngân hàng này được chỉ định là ngân hàng thanh toán, tiến hành kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với các điều khoản trong thư tín dụng thì tiến hành thanh toán cho người xuất khẩu (trả tiền ngay, hoặc chấp nhận, hoặc chiết khấu)

(7) Sau khi đã thanh toán, ngân hàng chuyển bộ chứng từ sang ngân hàng phát hành và đòi tiền

(8) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ, nếu đáp ứng những điều kiện của thư tín dụng thì hoàn lại tiền cho ngân hàng đã thanh toán

(9) Ngân hàng phát hành báo cho người nhập khẩu biết bộ chứng từ đã đến, đề nghị họ làm thủ tục thanh toán

(10) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp thì tiến hành trả tiền (hoặc chấp nhận), ngân hàng sẽ trao chứng từ để họ đi nhận hàng Trong trường hợp người nhập khẩu không thanh toán, thì ngân hàng cũng không trao chứng từ cho họ

Qua quy trình thanh toán nêu trên cho chúng ta thấy rằng: phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán rất chặt chẽ về mặt thủ tục, Hơn

Trang 5

thế nữa, trong phương thức thanh toán này, ngân hàng mở L/C không chỉ là một trung gian trong thanh toán, mà còn là người có nhiệm vụ trả tiền nhà xuất khẩu trong thời gian hiệu lực của L/C, với số tiền tối đa bằng số tiền của L/C nếu nhà xuất khẩu trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C Vì vậy, đây là phương thức thanh toán bảo đảm chắc chắn quyền lợi cho nhà xuất khẩu.

Tuy nhiên, xét về phía nhà nhập khẩu, thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ sẽ làm cho nhà nhập khẩu bị đọng vốn trong trường hợp phải ký quỹ mở L/C Nếu thời gian hiệu lực của L/C càng dài, số tiền của L/C càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn của nhà nhập khẩu càng giảm đi Đây chính là một trong những vấn đề mà nhà nhập khẩu cần quan tâm khi xác định loại L/C và thời hạn hiệu lực của L/C để giảm bớt những thiệt hại cho nhà nhập khẩu

1.1.4 Lợi ích và rủi ro đối với các bên tham gia.

1.1.4.1 Đối với người nhập khẩu.

a Lợi ích:

1. Người nhập khẩu sẽ nhận được các chứng từ về hàng hoá do mình quy định như NHPH ghi rõ trong L/C Những chứng từ đó là bằng chứng của việc người mua được trao quyền sở hữu hàng hóa

2. Người nhập khẩu được đảm bảo rằng sẽ chỉ bị ghi nợ tài khoản số tiền L/C khi tất cả các chỉ định trong L/C được thực hiện đúng

3. Đảm bảo hàng hóa phù hợp với bộ chứng từ theo các điều kiện và điều khoản đã

ký kết trong hợp đồng ngoại thương

4. Vì có sự bảo đảm về thanh toán, người nhập khẩu có thể thương lượng để đạt được giá cả tốt hơn và mở rộng được quan hệ khách hàng cũng như quy mô kinh doanh

b Rủi ro:

1. Không có sự bảo đảm nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hoá sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không bị hư hại gì Trong trường hợp này, nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho NHPH

Trang 6

2. Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C làm kéo dài thời gian giao dịch, tăng chi phí.

3. NHXN hay một NHCĐ khác có thể mắc sai lầm khi đã thanh toán cho một bộ chứng từ có sai sót, sau đó ghi nợ NHPH Nếu ngân hàng mắc sai lầm lại do người nhập khẩu chỉ định, thì NHPH có quyền truy hoàn số tiền đã bị ghi nợ

4. Nhà nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng đã cập cảng

5. Nếu không quy định “bộ vận đơn đầy đủ” thì một người khác có thể lấy được hàng hoá khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi người trả tiền hàng hoá lại là nhà nhập khẩu

6. Người bán có thể không giao hàng khi giá cả thị trường biến động bất lợi cho họ, điều này có thể dẫn đến tình trạng đình trệ sản xuất, làm giảm lợi nhuận của người người mua

1.1.4.2 Đối với người xuất khẩu.

a Lợi ích:

1. Là người hưởng lợi của thư tín dụng, người xuất khẩu có được bảo đảm rằng khi xuất trình chứng từ phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng, người xuất khẩu sẽ nhận được tiền thanh toán

2. Tình trạng tài chính của người mua được thay thế bằng cam kết của NHPH là sẽ trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu trên cơ sở chứng từ xuất trình phù hợp với các điều khoản của L/C

3. Đối với L/C có xác nhận, thì NHXN và NHPH cam kết bảo đảm rằng việc

“thanh toán/chiết khấu/chấp nhận” quy địng trong L/C được thực hiện theo nguyên tắc không truy đòi người thụ hưởng

Trang 7

3. Trong trường hợp L/C không có xác nhận, nếu NHPH mất khả năng thanh toán, thì dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán.

4. Nếu nhà xuất khẩu nhận được một L/C trực tiếp từ NHPH (không gửi thông qua NHTB), thì đó có thể là một L/C giả

2. Liệu ngân hàng có thu lại được một phần hay toàn bộ số tiền đã thanh toán từ việc bán hàng nếu nhà nhập khẩu bị phá sản

3. Khi L/C không có xác nhận, NHCĐ có thể yêu cầu NHPH chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ Trong trường hợp này, nếu không có sự chấp nhận trước của người nhập khẩu về việc hoàn trả, thì NHPH sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, nên nhà nhập khẩu không chấp nhận, do đó ngân hàng sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà nhập khẩu

4. Nếu NHPH chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà nhập khẩu không chấp nhận, thì không thể đòi tiền nhà nhập khẩu được

1.1.4.3 Đối với các ngân hàng thông báo/chỉ định/xác nhận.

a Lợi ích:

1. Thu phí từ việc thông báo/thanh toán/xác nhận L/C và các khoản thu nhập khác liên quan đến chuyển đổi tiền tệ

Trang 8

2. Thông qua việc cung cấp dịch vụ thanh toán giúp khách hàng phát triển kinh doanh, thì các hoạt động khác của ngân hàng cũng phát triển theo Ví dụ, mở rộng được các khoản tín dụng xuất khẩu, chiết khấu bộ chứng từ…

3. Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau

b Bất lợi:

đảm rằng L/C là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khoá mã, mẫu điện trước khi gửi thông báo cho nhà xuất khẩu

phải thanh toán cho người xuất khẩu trước khi nhận được tiền từ NHPH Tuy nhiên, trong thực tế, trên cơ sở bộ chứng từ xuất trình, các NHCĐ thường ứng trước cho nhà xuất khẩu với điều kiện truy đòi (with recourse) để trợ giúp nhà xuất khẩu, do đó, ngân hàng này phải tự chịu rủi ro tính dụng đối với NHPH hoặc nhà xuất khẩu

- Nếu NHXĐ trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà không có

sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, NHPH không chấp nhận, thì không thể đòi tiền NHPH

Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, Ngân hàng vừa là trung gian thanh toán tiền hàng giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, vừa là người đảm bảo thanh toán cho hai bên mua và bán Người bán nhận được sự đảm bảo thanh toán từ ngân hàng mở L/C hoặc ngân hàng xác nhận, đảm bảo thu được tiền hàng khi xuất trình chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C Người mua được ngân hàng mở L/C, ngân hàng xác nhận dùng uy tín và tài chính của ngân hàng để cam kết thanh toán cho người bán yên tâm giao hàng Tuy nhiên đây không phải là phương thức tuyệt đối an toàn cho người bán hay người mua, mà thực tế phát sinh cũng dẫn đến

Trang 9

những bất lợi, rủi ro ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các bên tham gia Chính vì vậy, nhà nhập khẩu và xuất khẩu cần phải có những biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu những rủi ro này.

Các biện pháp phòng ngừa được dùng cho nhà xuất khẩu (nếu có điều kiện):

- Yêu cầu người mua mở thư tín dụng không huỷ ngang và thu xếp để thư tín dụng được ngân hàng thông báo xác nhận Ngân hàng xác nhận như thường lệ chiết khấu/chấp nhận/thanh toán, nhưng cơ bản là giải toả nỗi lo của nhà xuất khẩu khỏi những rủi ro về:

+ Sự đổ bể của ngân hàng mở thư tín dụng

+ Việc quản lý ngoại hối cấm chuyển ngoại tệ

Là thư tín dụng không huỷ ngang, thư tín dụng không thể huỷ bỏ hoặc sửa đổi nếu không được sự đồng ý của tất cả các bên tham gia

- Bảo đảm rằng các điều khoản của hợp đồng được bao gồm trong thư tín dụng Điều này cần thiết phải được kiểm tra cẩn thận khi nhà xuất khẩu nhận được thư tín dụng do NHTB gửi cho Nếu như các điều khoản trên đúng như theo thoả thuận thì nhà xuất khẩu phải thông báo cho người mua ngay lập tức và yêu cầu sửa đổi thư tín dụng

Các biện pháp phòng ngừa được dùng cho nhà nhập khẩu (nếu có điều kiện):

- Có được báo cáo tốt về trạng thái của người cung cấp như danh tiếng, khả năng tài chính và năng lực để sản xuất hàng hoá yêu cầu

- Có được mẫu hàng hoá

- Thêm vào điều khoản của thư tín dụng rằng người cung cấp phải giao hàng phù hợp với hợp đồng mua bán, có nghĩa là “hàng hó được giao phù hợp với hoá đơn tạm số … ngày …”

- Đưa ra sự đảm bảo thêm vào bằng cách yêu cầu các chứng từ như giấy chứng nhận kiểm định hoàn hảo do một công ty độc lập phát hành Công ty này xác nhận chất lượng/tiêu chuẩn nhất định của hàng hoá/đóng gói…

1.2 UCP ICC - VĂN BẢN ĐIỀU CHỈNH THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.

Trang 10

Nhằm thống nhất thực hành về nghiệp vụ tín dụng chứng từ trên phạm vi toàn

cầu, phòng Thương Mại Quốc Tế (International Chamber of Commerce – ICC) cho ra

đời bản điều lệ về quy tắc thực hành và thống nhất về tín dụng chứng từ lần đầu tiên vào năm 1933 (tại Viene – Áo) UCP là văn kiện tập hợp toàn bộ những qui tắc và định nghĩa quốc tế thống nhất về tín dụng chứng từ, được hơn 165 quốc gia công nhận (đặc biệt Mỹ và Canada coi UCP là một bộ luật cấu thành luật pháp quốc gia) Để phù hợp với trình độ phát triển của ngoại thương và công nghệ thông tin, UCP đã được tu chỉnh nhiều lần, lần tu chỉnh gần đây nhất là năm 2006 với kết quả là bản UCP 600 ra đời và

có hiệu lực từ ngày 1-7-2007

Tuy vậy, các bản UCP ra đời sau không bác bỏ các UCP ra đời trước đó, nên toàn bộ 7 bản UCP vẫn còn giá trị hiệu lực trong thanh toán quốc tế Do vậy, các bên tham gia trong một quy trình thanh toán quốc tế cụ thể nào đó có thể thỏa thuận với nhau chọn bất kỳ bản nào và nhất thiết phải ghi nhận trong hợp đồng ngoại thương và L/C Cần lưu ý rằng, UCP là một văn bản quy phạm tuỳ ý, có nghĩa là muốn sử dụng thì các bên phải dẫn chiếu vào trong hợp đồng và L/C, các bên cũng có thể có những thoả thuận khác nhưng phải ghi rõ trong L/C

Trong trường hợp UCP mâu thuẫn với luật pháp quốc gia thì ngoại trừ Mỹ và Colombia, các quốc gia còn lại sử dụng luật pháp quốc gia để xử lý tranh chấp Tại Việt Nam các ngân hàng và các tổ chức xuất nhập khẩu đều cam kết thực hiện UCP 500 của ICC

1.3 THƯ TÍN DỤNG - MỘT CÔNG CỤ QUAN TRỌNG TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.

1.3.1 Khái niệm.

Thư tín dụng là một văn bản do Ngân hàng phát hành mở ra, trên cơ sơ yêu cầu của người nhập khẩu; trong đó ngân hàng này cam kết trả tiền cho người thụ hưởng, nếu họ xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của thư tín dụng Như vậy L/C là một bộ phận quan trọng của thanh toán tín dụng chứng từ, nếu không

có thư tín dụng chứng từ thì cũng không thể có phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

1.3.2 Tính chất của L/C.

Trang 11

L/C là sự bảo lãnh thanh toán có điều kiện bởi một ngân hàng cho một người thụ hưởng khi người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C Trong ngoại thương người yêu cầu mở L/C là nhà nhập khẩu, còn người thụ hưởng là nhà xuất khẩu Như vậy, về bản chất, L/C là một bức thư do một ngân hàng viết ra theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, cam kết trả cho nhà xuất khẩu một số tiền nhất định, trong một thời hạn nhất định với điều kiện là nhà xuất khẩu phải thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong L/C.

L/C hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này Tức là, khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C, thì NHPH phải trả tiền vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hoá không hoàn toàn đúng như đã ghi trên chứng từ Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hoá; nếu hàng hoá không khớp với chứng từ, thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau, không liên quan đến NHPH

1.3.3 Nội dung cơ bản của L/C:

- Số hiệu thư tín dụng (Credit number) : Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi thông tin giữa các bên liên quan, trên mỗi thư tín dụng đều có số hiệu riêng Số hiệu này còn được sử dụng để ghi vào các chứng từ thanh toán

- Địa điểm phát hành thư tín dụng : Là nơi NHPH mở thư tín dụng để cam kết trả tiền cho người thụ hưởng Địa điểm này còn có ý nghĩa quan trọng, liên quan đến việc tham chiếu luật để giải quyết những tranh chấp về L/C

- Ngày phát hành thư tín dụng (Date of Issue) : Là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực về sự cam kết của NHPH thư tín dụng đối với người thụ hưởng Là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực thư tín dụng và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu có thực hiện mở thư tín dụng đúng thời hạn như đã thỏa thuận trong hợp đồng thương mại

- Loại thư tín dụng : Trong đơn đề nghị mở thư tín dụng người nhập khẩu phải nêu rõ loại thư tín dụng cần mở Dựa trên cơ sở này ngân hàng sẽ phát hành đúng loại thư tín dụng đó Bởi mỗi loại thư tín dụng đều có những nội dung

Trang 12

tính chất khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan cũng khác nhau.

- Tên, địa chỉ của những thành phần liên quan đến L/C : Tuỳ từng loại thư tín dụng, các thành phần tham gia thanh toán cũng khác nhau Thông thường những thành phần đó là:

+ Người yêu cầu mở thư tín dụng

+ Người thụ hưởng

+ Ngân hàng phát hành

+ Ngân hàng thông báo

+ Ngân hàng thanh toán

+ Ngân hàng xác nhận (nếu có)

+ …

- Số tiền của thư tín dụng (kim ngạch) : phải được ghi rõ bằng số và bằng chữ và phải thống nhất với nhau Đơn vị tiền tệ phải rõ ràng, không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối vì như vậy sẽ gây khó khăn trong việc giao hàng và thanh toán cho người xuất khẩu

- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng : Là khoảng thời gian mà ngân hàng phát hành cam kết trả tiền cho người thụ hưởng, khi người này xuất trình bộ chứng

từ trong thời hạn đó và phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng Thời hạn hiệu lực được tính kể từ ngày phát hành đến ngày hết hạn hiệu lực của thư tín dụng Ngày hết hạn hiệu lực thường được gắn liền với nơi (địa điểm) hết hiệu lực Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng có liên quan đến một số thời hạn sau:

không được trùng với ngày cuối cùng hết hiệu lực của tín dụng

nằm trong hiệu lực của tín dụng

hợp lý

hợp lý

Ngày đăng: 09/10/2013, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w