nghiên cứu lịch sử phương Đông thời trước chủ nghĩa thực dân và tái hiệnnhiều đặc điểm quan trọng của xã hội phương Đông như vai trò của thuỷ lợitrong phát triển nông nghiệp và hình thàn
Trang 1I Những vấn đề cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á:
1 Lược khảo khái luận phương thức sản xuất Châu Á của Các Mác – Eng ghen:
Phương thức sản xuất Châu Á là gì? Là một vấn đề được nói đến rấtnhiều lần từ hơn một nửa thế kỉ nay Càng bàn, ý kiến càng tân kì, nhận địnhcàng khác và cho đến nay giữa các nhà học giả macxít trên thế giới vẫn chưa
có một kiến giải nhất định, thoả đáng Vì vậy, vấn đề phương thức sản xuấtChâu Á có một tầm quan trọng nhất định trong công tác nghiên cứu lịch sửnhưng cũng là một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó hiểu nhất mànhững nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đề ra cho những người làm côngtác sử học
Vậy thì vấn đề phương thức sản xuất Châu Á đã xuất phát từ đâu? Nó
xuất phát từ một đoạn văn trong bài tựa cuốn sách “Phê phán chính trị kinh
tế học” của Mác viết năm 1859 Trong đoạn văn ấy, Mác nhận định: “Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất Châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội”( C.Mác – Ănghen, Tuyển tập, tập1, trang 578).
Mác chỉ phát biểu một cách đại thể như thế và cũng chỉ phát biểu mộtlần Ở đây cũng như trong toàn bộ tác phẩm trước Mác không hề xác địnhphương thức sản xuất Châu Á là phương thức sản xuất của giai đoạn lịch sửnào của Châu Á, phong kiến hay nô lệ hay công xã nguyên thuỷ mặc dùMác luôn luôn nói đến Châu Á và đề cập đến nhiều vấn đề Châu Á Mãi tới
50 năm sau khi Mác phát biểu, khái niệm phương thức sản xuất Châu Á mớilại được nhắc tới
Khái niệm khoa học do Mác đề ra đầu tiên để biểu thị một số đặc thù
của xã hội phương Đông cổ xưa Trong lời tựa tác phẩm “góp phần phên phái khoa kinh tế chính trị” xuất bản năm 1859, Mác coi phương thức sản
xuất Châu Á cùng với cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thờiđại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội Mác cùng với Ănghen đã
Trang 2nghiên cứu lịch sử phương Đông thời trước chủ nghĩa thực dân và tái hiệnnhiều đặc điểm quan trọng của xã hội phương Đông như vai trò của thuỷ lợitrong phát triển nông nghiệp và hình thành nhà nước, sự bảo tồn lâu dài củacông xã nông thôn kiểu Á châu, hình thái sở hữu nhà nước về ruộng đất, đặcđiểm của thành thị và mối quan hệ mật thiết, không tách rời giữa thành thị
và nông thôn, sự hình thành sớm nhà nước quân chủ tập quyền phát triểntheo xu hướng chuyên chế, tình trạng trì trệ vào cuối thời trung đại… NhưngMác – ănghen chưa đưa ra một kết luận rõ ràng phương thức sản xuất Châu
Á có phải là một hình thái kinh tế - xã hội hay không Vì vậy đã diễn ra cuộctranh luận về phương thức sản xuất Châu Á vào cuối những năm 20 đầunhững năm 30 ở Liên Xô và những năm 60 thế kỉ XX ở Pháp rồi lan rộng ranhiều nước ở Châu Âu, Á, Phi, Mỹ… Trong tranh luận, hình thành hai xuhướng chủ yếu: Phương thức sản xuất Châu Á là những nét đặc thù của hìnhthái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ hay phong kiến ở phương Đông;phương thức sản xuất Châu Á là một hình thái kinh tế - xã hội phân hoá giaicấp và nhà nước sơ kì ở phương Đông không thuộc phạm trù chế độ chiếmhữu nô lệ hay phong kiến
Các ý kiến thảo luận đều nhận thấy phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơnnữa các hình thái kinh tế - xã hội cổ đại và trung đại phương Đông để đi đếnmột khái quát khoa học vững chắc về vấn đề này và trong trường hợp thừanhận phương thức sản xuất Châu Á là một hình thái kinh tế - xã hội thì phảixây dựng một thuật ngữ khoa học mới thay thế cho khái niệm phương thứcsản xuất Châu Á
Phương thức sản xuất Châu Á là sự đúc kết của nhiều công trình nghiên
cứu mà Mác và Ănghen đã phát hiện ở phương Đông Trong công trình “Hệ
tư tưởng Đức” (1845 – 1846), Mác đã phát hiện ra rằng: “Sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác của sở hữu” và tìm thấy các
hình thức sở hữu đầu tiên trong lịch sử nhân loại: Thứ nhất là sở hữu bộ lạc,thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước, thứ ba là sở hữu phong kiến
Trang 3hay sở hữu đẳng cấp Tất cả các hình thức sở hữu đó đều gắn với sự xuấthiện nhà nước.
Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Mác phát hiện ra mối
quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thứcsản xuất: Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượngsản xuất Do có những lực lượng sản xuất mới loài người thay đổi phươngthức sản xuất của mình… loài người thay đổi tất cả những quy luật xã hộicủa mình Từ nhận thức lí luận đó đã đưa đến khẳng định sự ra đời kế tiếplẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên thuỷ đến chiếmhữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa
Vào những năm đầu của thập kỉ 50 của thế kỉ XIX, nhìn sang Ấn Độ,Mác và Enghen đã phát hiện ra cái mới Những thư từ mà Mác công bố trước
1855 cùng với công trình “sự thống trị Anh ở Ấn Độ (10 – 6- 1857) đã chothấy rõ những điều rất cơ bản về nét đặc thù của các xã hội phương Đông là
“nhà nước chuyên chế phương Đông – Chuyên chế Châu Á” và “chế độ công
xã nông thôn” Từ những công trình “những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa” (1857 – 1858), cuốn “nguyên lý phê phán chính trị kinh tế học” và đến tác phẩm “góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” (1859),
Mác đã chính thức đưa ra khái niệm phương thức sản xuất Châu Á, coi nhưmột trong những phương thức sản xuất có trong lịch sử loài người
2 Xuất xứ của khái luận phương thức sản xuất Châu Á:
Khái luận phương thức sản xuất Châu Á của Mác và Enghen được đúckết từ ba nguồn ý tưởng:
Lý luận của các nhà kinh tế học quốc gia thửơ ấy như Streat Mill vàRiched Jones mà Mác đã nghiên cứu vào năm 1853 và sử dụng những kháiniệm của họ
Kiến thức lấy từ các kí sự chuyên đề các xứ phương Đông
Nguồn kiến thức từ những nghiên cứu về các cộng đồng xóm làng củanhiều xứ khác trên thế giới mà hai ông đã đặt trọng tâm nghiên cứu vào ýnghĩa của các cộng đồng này tại các nước phương Đông
Trang 4Những công trình nghiên cứu này là những đóng góp hỗ trợ cho côngtrình nghiên cứu nền ngoại thương của Anh quốc và sự thịnh vượng kinh tếcủa xứ này Thị trường phương Đông đã trở thành khu vực ảnh hưởng tăngtrưởng của nền công nghiệp Anh quốc Sự bành trướng xuất cảng hàng hoáAnh đã dẫn tới những xáo trộn sâu rộng nội tại của xã hội phương Đông.Loạn Thái Bình thiên quốc ở Trung Hoa, cuộc nổi dậy Sepoy tại Ấn Độ lànhững phản ứng trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình giải thể đang tăng mạnhcủa các xã hội trên Với kiến thức khai phá, Mác và Enghen đã nghiên cứu thíđiểm cấu trúc của các xã hội Châu Á đang lâm vào quá trình tan rã Từ đó haiông đã phác thảo đại cương khái luận phương thức sản xuất Châu Á
3 Những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á:
- Chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất: Mác và Enghen đã xuất phát
từ phân công lao động và các hình thức sở hữu để tìm tới phương thức sảnxuất Châu Á Chế độ này bao gồm: Kẻ sở hữu tối cao hay sở hữu duy nhất
là nhà vua, kẻ chiếm dụng đất đai theo kiểu cha truyền con nối là các công
xã, kẻ sử dụng đất đai là các thành viên công xã và phải thực hiện nghĩa vụnộp cống cho kẻ sở hữu Mâu thuẫn của chế độ sở hữu nảy sinh từ khi tưhữu hoá về ruộng đất xuất hiện dẫn đến sự giải thể của phương thức sản xuấtChâu Á Chúng ta có thể khẳng định quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất làphổ biến ở các xã hội phương Đông cổ trung đại Nhà vua đại biểu cho nhànước cũng là kẻ nắm nhà nước có toàn quyền phong cấp đất đai trong lãnhthổ của mình cho bất cứ ai, vì vậy sở hữu nhà nước là một thực quyền Chế
độ sở hữu nhà nước thiết lập trên cơ sở các công xã nông thôn có thể là cả
bộ lạc là đặc trưng của chế độ sở hữu theo phương thức sản xuất Châu Á.Quyền sở hữu nhà nước biểu hiện trong quyền hướng dùng sản phẩm thặng
dư - quyền thu địa tô – do nông dân công xã cống nạp Mác đã nói rất rõ vềchế độ sở hữu nhà nước thông qua ông vua chuyên chế và việc bóc lột địa tôcủa những nhà nước kiểu phương thức sản xuất Châu Á và phân biệt nó vớicác phương thức bóc lột khác… sự chiếm hữu địa tô là hình thái kinh tế
Trang 5dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện, và mặt khác địa tô giả định
đã phải có quyền sở hữu ruộng đất tức là giả định đã phải có một số ngườinào đó là những kẻ sở hữu (bàn về các xã hội tiền tư bản, trang 237)
- Nhà nước chuyên chế cổ đại: Nhà nước thực hiện chuyên chế dựa trên
quyền sở hữu tối cao về ruộng đất được xác lập trên mối quan hệ kẻ thống trị lànhà vua và đẳng cấp, giai cấp cầm quyền thu cống nạp, giai cấp bị trị nộp cốngphẩm, nhà nước thực hiện ba chức năng, ngoài việc bóc lột nhân dân trongnước bằng hình thức tô kết hợp với thuế làm một và đi cướp bóc nhân dân cácnước khác, chức năng tích cực là chăm lo xây dựng các công trình mỹ quan vàcông cộng mà ở phương Đông quan trọng nhất là trị thuỷ, thuỷ lợi
Với tư cách là kẻ sở hữu tối cao về ruộng đất, nhà nước trực tiếp giữquyền phân phối ruộng đất cho bất cứ ai, đồng thời nhà nước cũng can thiệpvào việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp cấm bỏ hoang ruộng đất thực hiện didân lập làng Nhà nước quân chủ Châu Á do quý tộc quan liêu nắm với tưcách là giai cấp bóc lột thu cống phẩm các công xã nông thôn, lợi ích của nógắn liền với sự tồn tại của công xã nông thôn Vì vậy nhà nước bảo vệ sởhữu công xã, bảo vệ người nông dân công xã khỏi rơi xuống thân phận nô
lệ Nhà nước hạn chế sự cướp đoạt nông dân, hạn chế sự áp bức bóc lột củabọn quý tộc, quan lại nhằm bảo vệ người đóng thuế, người đi lính, đi laodịch cho nhà nước Nhà nước thực hiện những chức năng xã hội – xây dựngthuỷ lợi với quy mô lớn và điều khiển việc thuỷ lợi Rõ ràng chức năng thủylợi của nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông là một nét đặc biệt, nó
có thể giải thích phần nào những đặc trưng của nhà nước phương Đông Mộtnét chung của nhà nước theo phương thức sản xuất Châu Á là sự thực hiệnnhững chức năng xây dựng công cộng Ngoài thuỷ lợi, đê điều còn có việc
mở mang đường giao thông xây cầu cống, đào sông, xây dựng các côngtrình kiến trúc lớn như đền đài, cung điện, lăng tẩm quy mô Như Mác nói:
Đó là nhờ có việc các nhà nước quân chủ phương Đông đã tập trung trongtay của cải và nhân công mới có thể tiến hành được
Trang 6- Công xã nông thôn: Với nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc khép kín,
kinh tế hàng hoá chậm ra đời và kém phát triển Thủ công nghiệp khôngtách rời khỏi công nghiệp, đô thị chỉ như những cái bướu của cơ cấu kinh tế.Duy trì và tàng trữ lâu dài những tàn dư lạc hậu cổ đại Tình trạng thấp kémhạn chế của tư duy, phản ánh trong tôn giáo cổ đại và sự thần thánh hoá tựnhiên… hạn chế lý trí con người và hạ thấp nhân phẩm trước cả thiên nhiên
và xã hội
Sự trì trệ của phương thức sản xuất Châu Á không phải là ở giai đoạnkhởi đầu mà là ở giai đoạn sau Tính chất trì trệ của phương thức sản xuấtChâu Á biểu lộ ở chỗ nó đã bảo lưu công xã nông thôn lâu dài, nó làm chậmquá trình tư hữu hoá giai cấp, làm chậm quá trình tư hữu hoá, làm cho kinh
tế hàng hoá không phát triển có nghĩa là duy trì nền kinh tế tự cấp tự túc Sựkết hợp giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp cũng tạo nên tình trạng chậmphát triển, ngưng đọng và đóng kín của công xã làm cho công xã trở thànhbầu trời riêng, thế giới tự đầy đủ Thiếu giao lưu với bên ngoài, công xã trởthành ngưng đọng Ở các nước phương Đông công xã nông thôn được duytrì lâu hơ, chiếm một tỷ trọng lớn Chế độ sở hữu lớn cũng đã xuất hiện cùngvới giai cấp địa chủ nhưng suốt thời cổ đại và trung đại chưa bao giờ chế độ
sở hữu lớn phát triển mạnh và lấn át sở hữu công xã, chưa bao giờ giai cấpđịa chủ bắt được công xã lệ thuộc vào nó và trở thành giai cấp thống trị.Trong xã hội phương thức sản xuất Châu Á, chế độ quân chủ chuyên chế tậptrung đã hình thành sớm nên chế độ này đã phát huy tác dụng kìm hãm sựtan rã của công xã, kìm hãm sự phát triển chế độ sở hữu lớn Nhà nước bảo
vệ sở hữu công xã và sau khi công xã tan rã thì nhà nước lại bảo vệ sở hữunông dân tự do trong các cộng đồng làng xã để bảo đảm nguồn tô thuế, laodịch, đi lính và nhà nước, công xã xuất phát từ những lợi ích khác đều đấutranh chống lại sự phát triển sở hữu lớn của địa chủ
- Phương thức bóc lột: Chúng ta có thể sơ bộ định nghĩa phương thức
bóc lột của chế độ xã hội theo phương thức sản xuất Châu Á là trên cơ sở
Trang 7chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, giai cấp quý tộc quan liêu đã bóc lộtsản phẩm thặng dư dưới hình thức tô thuế do nông dân công xã nộp Trong
“tư bản luận” tập III đã hai lần Mác nói đến các giai cấp bóc lột của xã hội
nô lệ, phong kiến và phương thức sản xuất Châu Á và xác định rõ ràng cũngnhư giai cấp chủ nô, giai cấp chúa đất, nhà nước là người sở hữu chính cùasản phẩm thặng dư: “Trong điều kiện cùa chế độ nô lệ, chế độ nông nô củachế độ nạp cống thì người chủ nô, tên chúa đất và nhà nước thu cống nạpđều chiếm hữu sản phẩm do đó bán sản phẩm”
Mác đã nêu lên mối quan hệ hữu cơ giữa chiếm địa tô và quyền sở hữuruộng đất: “…Sự chiếm hữu địa tô là hình thái kinh tế dưới đó quyền sở hữuruộng đất được thực hiện và mặt khác địa tô giả định đã phải có quyền sởhữu ruộng đất tức là giả định đã phải có một số người nào đó là những kẻ sởhữu” Thời cổ đại và trung cổ nhà nước là kẻ thu tô địa tô của các công xã,điều đó chứng tỏ nhà nước là kẻ sở hữu ruộng đất vì chế độ sở hữu nhà nướcthiết lập trên công xã nông thôn nên nông dân công xã phải nộp tô dưới hìnhthức thuế cho nhà nước Địa tô bao gồm toàn bộ phần sản phẩm thặng dưcủa người nông dân công xã, khi công xã nông thôn bị thu hẹp lại thì chế độ
sở hữu nhà nước cũng bị thủ tiêu Chế độ phong cấp, ban phát ruộng đất choquý tộc, quan lại không còn nữa Theo truyền thống nhà nước quân chủ vẫntiếp tục thu thuế trên nông dân các làng nhưng thuế người tiểu noong phảinộp cho nhà nước bây giờ không còn là địa tô nữa, vì nó không phải là toàn
bộ sản phẩm thặng dư mà chỉ là một phần của sản phẩm thặng dư
II Các cuộc tranh luận về phương thức sản xuất Châu Á trên thế giới và ở Việt Nam
1 Các quan điểm về phương thức sản xuất Châu Á trên thế giới:
Khái niệm phương thức sản xuất Châu Á lần đầu tiên được Mác đưa ratrong những năm 50 của thế kỉ XIX do kết quả của việc nghiên cứu sâu sắclịch sử và kinh tế của nhiều nước phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ Mác đã
đi đến kết luận rẳng tính chất độc đáo của các hiện tượng kinh tế xã hội ở
Trang 8những nước này đã được giải thích bằng việc duy trì một phương thức sảnxuất cổ đại nào đó mà bản thân nó không chỉ tồn tại ở Châu Á mà còn cótính chất phổ biến toàn thế giới.
Quan điểm của Mác và Enghen về phương thức sản xuất Châu Á đượcgiới học giả thế giới quan tâm từ sớm nhưng chỉ tới đầu thế kỉ XX này nhất
là từ những năm 30 của thế kỉ này khi mà các nước Á, Phi, Mĩ la tinh saukhi giải phóng dân tộc đi vào xây dựng xã hội mới thì giới học giả thế giớinhất là các nhà khoa học mác xít mới đặc biệt quan tâm Việc nghiên cứuthảo luận được diễn ra ở nhiều nước kể cả những nước tư bản phát triển,những nước xã hội chủ nghĩa và một số nước thuộc thế giới thứ ba
a Trường phái phủ nhận phương thức sản xuất Châu Á:
Vào cuối những năm 40 của thế kỉ XX, nhận xét của Mác: “Về đại thể,
có thể coi phương thức sản xuất Châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiệnđại là những thời đại tiến triển dần của hình thái kinh tế xã hội” đã là đốitượng của những cuộc thảo luận sôi nổi của các nhà sử học, triết học, dântộc học và đặc biệt trong giới học giả phương Đông học Trong những cuộcthảo luận từ những năm 1925 đến năm 1931 những người tham gia tranhluận cho rằng có sự tồn tại của một hình thái kinh tế xã hội đặc biệt ở Châu
Á Dấu hiện chủ yếu của hình thai này là sự phổ biến của quyền sở hữu nhànước đối với tư liệu sản xuất, và hình thái này đã tồn tại ở các nước Châu Ácho đến trước khi bọn thực dân Châu Âu xâm nhập Cuộc thảo luận trongnhững năm này đã chưa đặt ra được nhiều những vấn đề có tính chất lí luận
và phương pháp luận cho việc nghiên cứu phương thức sản xuất Châu Á,cũng như chưa có nhiều những công trình nghiên cứu về các xã hội cụ thể.Người đầu tiên giải thích khái niệm phương thức sản xuất Châu Á là
Pơlêkhanốp trong cuốn “những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác” viết năm
1905, Pơlêkhanốp cho rằng Mác đã dùng khái niệm phương thức sản xuấtChâu Á hay phương thức sản xuất phương Đông là để chỉ một loại hình pháttriển kinh tế xuất hiện đồng thời với xã hội cổ đại Và cả hai xã hội cổ đại và
Trang 9xã hội phương Đông đều song song tồn tại và đều hình thành trên sự tan rãcủa xã hội thị tộc, đều là sự tiếp tục của cơ cấu xã hội thị tộc Như vậy, theoông phương thức sản xuất Châu Á mà Mác đề cập đến chính là hình thái xãhội có giai cấp ở Châu Á, xuất hiện đồng thời với xã hội cổ đại, tức xã hộichiếm hữu nô lệ ở Châu Âu Cũng theo Pờlêkhanốp sở dĩ xã hội có giai cấp
ở Châu Á phát triển theo một con đường khác với xã hội cổ đại Châu Âu là
do hoàn cảnh địa lý của Châu Á chi phối
Ở đây Pờlêkhanốp đã giải thích không đầy đủ và chưa làm cho vấn đềđược sáng rõ, nhận định phương thức sản xuất Châu Á là phương thức sảnxuất của xã hội có giai cấp ở Châu Á nhưng không xác định được nó làphương thức sản xuất của thời kì nào của Châu Á, nó là phương thức sảnxuất chiếm hữu nô lệ hay phong kiến hay là một phương thức sản xuất đặcbiệt, không phải chiếm hữu nô lệ cũng không phải Pờlêkhanốp đã quá đềcao tác dụng của hoàn cảnh địa lý, là sa vào nhị nguyên luận, vào địa lý sửquan… Dù vậy, những kiến giải của Pờlêkhanốp cũng được nhiều nhà họcgiả Liên Xô tán thành
Một học giả Đức là Vittơ phô ghen đã dựa vào giải thích củaPờlêkhanốp đưa vào trong cuốn sách của ông viết về xã hội và kinh tế TrungQuốc một lý luận về phương thức sản xuất Châu Á: Công tác trị thuỷ ởTrung Quốc cũng như ở các nước phương Đông khác là nhân tố quyết địnhđặc điểm của phương thức sản xuất Châu Á, mặc dù vậy ông vẫn chưa xácđịnh được phương thức sản xuất Châu Á là phương thức sản xuất hay hìnhthái xã hội của thời kì lịch sử nào của Châu Á
Ở Liên Xô, nhà học giả Mátgia đã xuất bản cuốn “Nghiên cứu nôngthôn Trung Quốc” trên cơ sở ảnh hưởng của hai quan điểm của Pờlêkhanốp,Víttơ Phô ghen và tiến thêm một bước khẳng định thời kì tồn tại của phươngthức sản xuất Châu Á Theo quan điểm Mátgia, lịch sử Trung Quốc không
có thời kì chế độ chiếm hữu nô lệ, cũng không có thưòi kì chế độ phongkiến mà từ khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã đến trước ngày chủ nghĩa
Trang 10tư bản phương Tây xâm nhập, ở Trung Quốc chỉ có một thời kì lịch sử là
thời kì “phương thức sản xuất Châu Á”, yếu tố cơ bản của phương thức sản
xuất này là vấn đề nước, vấn đề trị thuỷ
Cũng trong năm 1928, một học giả Liên Xô là Xaphanốp cho rằng ởTrung Quốc trước thời Chu là xã hội nguyên thuỷ, thời Chu là xã hội phongkiến, thời Tần Hán là xã hội vừa phong kiến vừa nô lệ, tức là thời kì mà cảhai chế độ phong kiến và nô lệ đều song song tồn tại và hỗn hợp với nhau.Thời kì này chính là thời kì phương thức sản xuất Châu Á ở Trung Quốc.Như vậy, theo quan điểm của Xaphanốp, phương thức sản xuất Châu Á làmột phương thức sản xuất hỗn hợp vừa nô lệ vừa phong kiến, có sau xã hộiphong kiến ở phương Đông
Như vậy, với những quan điểm của Pờlêkhanốp, Vittơ Phô ghen đãđược Mátgia làm cho hoàn bị hơn coi phương thức sản xuất Châu Á là mộthình thái xã hội đặc biệt của Châu Á Xuất hiện từ sau chế độ công xãnguyên thuỷ tới khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập vào Châu Á.Các nhà học giả Xaphanốp chủ trương phương thức sản xuất Châu Á là mộthình thái xã hội đặc biệt của Châu Á, hỗn hợp hai chế độ vừa phong kiếnvừa nô lê, có sau thời kì chế độ phong kiến ở Châu Á Trong khoảng thờigian từ năm 1928 – 1931, kiến giải của Mátgia là kiến giải chiếm ưu thế, cónhiều ảnh hưởng hơn cả
Tháng 1 / 1931, một nhà học giả là Ôncơ đã tham bác cả hai quan điểmcủa Mátgia và Xaphanốp Quan điểm này giống quan điểm Mátgia ở chỗ coiphương thức sản xuất Châu Á là hình thái xã hội xuất hiện ngay từ sau chế
độ công xã nguyên thuỷ và tồn tại cho đến trước khi chủ nghĩa tư bảnphương Tây xâm nhập nhưng lại giống quan điểm Xaphanốp ở chỗ coiphương thức sản xuất Châu Á là phương thức hỗn hợp vừa nô lệ vừa phongkiến
Tóm lại, những chủ trương của Mátgia, Xaphanốp, Ôncơ coi phươngthức sản xuất Châu Á là một hình thái xã hội đặc biệt của Châu Á, chỉ có ở
Trang 11Châu Á hoặc phương Đông mà không có ở tất cả các nơi khác trên thế giới.Tới bây giờ, những chủ trương ấy đã thật sự lỗi thời không còn ai nhắc nhở,luyến tiếc nữa bởi vì nó trái với lí luận chủ nghĩa Mác Lênin và không phùhợp với thực tế lịch sử Châu Á Chủ nghĩa Mác Lênin quan niệm toàn bộquá trình phát triển của xã hội loài người chỉ bao gồm 5 giai đoạn: Nguyênthủy, nô lệ, phong kiến, tư bản và cộng sản Chủ trương phương thức sảnxuất Châu Á là một hình thái xã hội tồn tại ngoài 5 hình thái trên tức là phủnhận lý luận phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin về quá trình phát triển của
xã hội loài người Về mặt thực tế lịch sử trải qua mấy chục năm nghiên cứuquá trình phát triển của xã hội Châu Á tới nay mọi người đều nhất trí khẳngđịnh: Xã hội Châu Á trước khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phươngTây là xã hội phong kiến, nó không phải là một xã hội đặc biệt phi nô lệ, phiphong kiến hoặc trái lại vừa nô lệ vừa phong kiến có sau xã hội phong kiến
Vì thế những kiến giải trong những năm 1928 – 1931 hoàn toàn không cógiá trị
Tháng 2/1931, tại Lêningơrát hội nghị thảo luận về vấn đề phương thứcsản xuất Châu Á đã nêu rõ phương thức sản xuất Châu Á là một hình tháiđặc thù của xã hội phong kiến Châu Á và toàn bộ phương Đông Kiến giảinày đã có ảnh hưởng lớn trong giới sử học các nước lúc bấy giờ Ở Trung
Quốc, những nhà sử học Lã Chấn Vũ với tác phẩm “sử tiền kỳ Trung Quốc
xã hội nghiên cứu” và Lý Đạt trong cuốn “xã hội học đại cương” coi
phương thức sản xuất Châu Á là phương thức sản xuất phong kiến của xãhội phương Đông Quan điểm này ít nhiều ảnh hưởng tới các nhà sử họcphương Đông và khá đậm nét trong một số nhà Đông phương học Liên Xô,khi nghiên cứu về lịch sử cổ đại của các nước như: Nhật Bản, Triều Tiên,Việt Nam… thường nhận định chế độ phong kiến ở những nước này đã xuấthiện liền sau chế độ công xã nguyên thuỷ, coi đó là biểu hiện của phươngthức sản xuất Châu Á
Trang 12Sang năm 1932, ở Nhật Bản nhiều học giả như: Vũ nhân ngũ lang,Doãn đậu công phu… không tán thành quan điểm mới của các học giả Liên
Xô mà vẫn ủng hộ quan điểm của Ôncơ coi phương thức sản xuất Châu Á làhình thái xã hội phù hợp vừa phong kiến vừa nô lệ ở phương Đông có sau xãhội phong kiến
Từ tháng 1/1934 nhà học giả Liên Xô côvalốp đã viết một loạt bài bàn
về xã hội cổ đại để chứng minh phương thức sản xuất Châu Á là chế độchiếm hữu nô lệ phương Đông, một biến chủng của chế độ chiếm hữu nô lệđiển hình Hy Lạp, La Mã Quan điểm của Côvalốp được giới sử học mác xítủng hộ coi như một quan điểm chính thống Từ năm 1934 trở đi các nhàĐông phương học nổi tiếng của Liên Xô: Strưvê, Andiep… đều theo quanđiểm này
Nhưng không phải ai cũng tán thành quan điểm của Côvalốp, một nhà
sử học Liên Xô khác cũng chủ trương phương thức sản xuất Châu Á khôngthể là một phương thức sản xuất độc lập như phương thức sản xuất chiếmhữu nô lệ hay phong kiến mà chỉ là một phương thức sản xuất của thời kìquá độ từ chế độ công xã nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ mà thôi.Đặc biệt ở Nhật Bản, nhiều nhà sử học như: Sâm Cốc khắc kỷ, Y đằng tàngbình, Tảo xuyên nhị lang… đều khẳng định phương thức sản xuất Châu Á
là hình thái xã hội có trước chế độ chiếm hữu nô lệ và tán đồng quan điểmcủa Quách Mạt Nhược coi phương thức sản xuất Châu Á là chế độ công xãnguyên thuỷ hay là chế độ nô lệ gia trưởng tức giai đoạn cuối của xã hộicông xã nguyên thuỷ hay là chế độ cống nạp tức thời kì quá độ từ xã hộicông xã nguyên thuỷ sang xã hội chiếm hữu nô lệ mà thời kì này cũng vẫnchỉ là giai đoạn cuối cùng của xã hội công xã nguyên thuỷ
Ở Trung Quốc, năm 1936 nhà sử học Quách Mạt Nhược viết trên tạp
chí văn vật với nhan đề “xã hội phát triển giai đoạn chi tân nhận thức” đã
coi phương thức sản xuất Châu Á là hình thái xã hội nguyên thuỷ trước đâyxoá bỏ mà đưa ra một nhận định mới cho phương thức sản xuất Châu Á là
Trang 13chế độ gia trưởng hoặc là hình thức tài sản thị tộc tức vẫn không khác chủtrương cũ bao nhiêu vẫn đặt phương thức sản xuất Châu Á vào trong phạm
vi xã hội nguyên thuỷ có chăng chỉ khác ở chỗ nó không phải là toàn bộ xãhội nguyên thuỷ mà là một giai đoạn cuối của xã hội nguyên thuỷ
Những kiến giải trên có nhược điểm chung là trong những đặc điểm củaphương thức sản xuất Châu Á chỉ lấy một đặc điểm công xã làm căn cứ mà
bỏ qua đặc điểm nhà nước chuyên chính xây dựng trên cơ sở công xã ấy.Một khi nói đến nhà nước thì phải nói đến xã hội có giai cấp phương thứcsản xuất Châu Á có hình thức nhà nước chuyên chính thì nhất định khôngthể coi nó là hình thái xã hội nguyên thuỷ được Đồng thời những chủtrương giải thích phương thức sản xuất Châu Á là giai đoạn cuối của xã hộinguyên thuỷ hoặc là thời kì quá độ từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội chiếmhữu nô lệ có nhược điểm là coi phương thức sản xuất Châu Á là xã hộinguyên thuỷ bởi vì giai đoạn cuối của xã hội nguyên thuỷ hay thời kì quá độ
từ công xã nguyên thuỷ sang chiếm hữu nô lệ cũng vẫn ở trong phạm vi xãhội nguyên thuỷ; mặt khác các chủ trương trên quan niệm mỗi giai đoạn củacùng một hình thái xã hội lại có một phương thức sản xuất riêng biệt Theoquan điểm của chủ nghĩa Mác, mỗi hình thái xã hội chỉ có một phương thứcsản xuất nhất định, không thể cùng một hình thái xã hội lại có hai ba phươngthức sản xuất khác cũng như không thể có một phương thức sản xuất riêngnào cho những thời kì quá độ từ hình thái xã hội này sang hình thái xã hộikhác
Năm 1952 ở Liên Xô tổ chức hội nghị bàn về phương thức sản xuấtChâu Á và nêu lên những chủ trương sau: Không dùng những khái niệmphương thức sản xuất Châu Á và phương đông cổ đại nữa vì nó không chínhxác và đã cũ lắm rồi; dùng những khái niệm không chính xác ấy chỉ là duytrì lâu dài quan điểm sai lầm của các học giả phương Tây, lấy Đông phươngđối lập với Tây phương Nhưng tuy không nói đến phương thức sản xuấtChâu Á nhưng các học giả vẫn lấy những đặc điểm của phương thức sản
Trang 14xuất Châu Á mà Mác đã đề ra làm đặc điểm của chế độ nô lệ tảo kỳ như:chế độ sở hữu phương Đông, chế độ nhà nước chuyên chính phương đông…Tóm lại: Từ việc nghiên cứu về xã hội cổ đại phương Đông thông quahai nước lớn là Trung Quốc cổ đại, Ấn Độ cổ đại giải thích về khái niệmphương thức sản xuất Châu Á đã có nhiều chủ trương khác nhau Cho đếntrước thập kỉ 60 – 70 các ý kiến đều có đúng chỗ sai nhưng nhìn chung donhận thức về tri thức lịch sử cổ đại phương Đông không nhiều và do ý kiếnchủ quan của các nhà học giả nên nhiều kiến giải không chính xác phủ nhận
về phương thức sản xuất Châu Á, về lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin.Chúng ta có thể tóm tắt qua những kết luận của một số hội nghị, một số nhà
sử học của các nước trên thế giới như sau:
Trước hết, đó là các cuộc thảo luận rộng rãi trong giới khoa học Xôviết Một cuộc thảo luận diễn ra sớm nhất và lâu dài nhất có các viện nghiêncứu thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô, trường đại học tổng hợpMaxcơva, viện chủ nghĩa Mác Lênin thuộc ban chấp hành trung ương đảngcộng sản Liên Xô… Đợt thứ nhất diễn ra vào những năm 1925 – 1931 màkết quả là chủ trương không tán thành phương thức sản xuất Châu Á chiếm
số đông
Đợt thứ hai sôi nổi diễn ra vào những năm 60 – 70 của thế kỷ này, đặcbiệt là những cuộc hội thảo vào năm 1965 Một số chủ trương thừa nhận cóphạm trù phương thức sản xuất Châu Á nhưng không cho đó là một hìnhthái kinh tế xã hội riêng biệt phương thức sản xuất Châu Á chỉ là để nói đếnnhững cộng đồng thôn xã có thể có mặt ở nhiều hình thái xã hội khác trongcác xã hội có giai cấp chính thức Một số chủ yếu là viện các dân tộcphương Đông coi phương thức sản xuất Châu Á chỉ là đặc điểm Châu Áhoặc của chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc của chế độ phong kiến Và một số đãphản bác quan điểm về sự tồn tại của phương thức sản xuất Châu Á cho rằngkhông nên phân biệt quá rõ rệt những hình thái xã hội tiền tư bản trong đó