1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH

33 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Cơ Bản Về Cán Cân Thanh Toán Quốc Tế Và Điều Chỉnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 161,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐCTẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH 1.1.Cán cân thanh toán quốc tế 1.1.1.Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế Để phục vụ cho việc thiết lập, phân tích và điều

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC

TẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH

1.1.Cán cân thanh toán quốc tế

1.1.1.Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế

Để phục vụ cho việc thiết lập, phân tích và điều chỉnh, theo quan điểm củaQuĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF), cán cân thanh toán quốc tế có thể được định nghĩa nhưsau:

“ Cán cân thanh toán quốc tế là một bản thống kê được tổng hợp một cách

có hệ thống các giao dịch kinh tế của một nền kinh tế với phần còn lại của thế giớitrong một khoảng thời gian nhất định Các giao dịch, chủ yếu giữa người cu trú vàngười không cư trú, bao gồm các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ và thu nhập; cácgiao dịch về các tài sản và các khoản nợ tài chính đối với phần còn lại của thế giới;

và các giao dịch (như quà tặng ) được xếp loại chuyển giao, mà đòi hỏi phải có cácbút toán bù đắp để cân bằng - theo ý nghĩa kế toán- các giao dịch một chiều Bảnthân một giao dịch được nhìn nhận như một luồng kinh tế phản ánh sự phát sinh,

sự biến đổi, sự trao đổi, sự chuyển giao, hay sự thanh toán các giá trị kinh tế vàdẫn đến những thay đổi về quyền sở hữu hàng hoá hay các tài sản tài chính, cungcấp các dịch vụ, hay cung cấp lao động và vốn”

Tóm lại, cán cân thanh toán quốc tế của một nước là bản ghi chép có hệthống tất cả các giao dịch kinh tế giữa những người cư trú của nước lập báo cáo vànhững người cư trú ở phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian nhấtđịnh (thường là 1 năm)

Để nhất quán các nội dung phản ánh vào cán cân thanh toán quốc tế, IMF đãquy định chỉ ghi chép vào cán cân thanh toán của mỗi quốc gia các giao dịch kinh

tế giữa “người cư trú” với “người không cư trú” của quốc gia đó Mọi giao dịch

Trang 2

kinh tế giữa người cư trú với nhau của cùng một quốc gia không được phản ánhtrong cán cân thanh toán quốc tế.

Khi thống kê cán cân thanh toán, việc phân biệt giữa người cư trú và ngườikhông cư trú là rất cần thiết do mối quan hệ giữa hệ thống tài khoản quốc gia vàcán cân thanh toán Nhìn chung, khái niệm người cư trú và người không cư trúđược hiểu theo luật định của từng quốc gia cụ thể và nó tương đối thống nhất giữacác quốc gia Ở Việt Nam, vấn đề này được quy định rõ trong Nghị định số164/NĐ-CP ngày 16/11/1999

Người cư trú và người không cư trú ở đây bao gồm các cá nhân, các hộ giađình, các công ty, các cơ quan đại diện cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế Căn

cứ để phân biệt giữa người cư trú và người không cư trú chủ yếu dựa vào khoảngthời gian sinh sống làm việc liên tục cần thiết phải có tại một quốc gia ( thường làmột năm trở lên)

Về nguyên tắc, tổ chức hoặc người nước ngoài sinh sống và làm việc ở nước

sở tại từ một năm trở lên được coi là người cư trú của nước đó Ngược lại, tổ chứchoặc người của nước sở tại sinh sống và làm việc ở nước ngoài từ một năm trở lênđược coi là người không cư trú ở nước đó Tuy nhiên cũng có những trường hợpđặc biệt như các công dân của nước khác đến học tập, du lịch, chữa bệnh và thămviếng không kể thời gian dài, ngắn bao nhiêu, đều được coi là người không cư trú(chỉ tạm trú) Ngược lại, các công dân đi học tập, du lịch, chữa bệnh và thăm viếng

ở nước ngoài không kể thời gian dài, ngắn vẫn được coi là người cư trú Đối vớicác cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, lực lượng vũ trang của nước sởtại hoạt động ở nước ngoài cũng vậy, vẫn được coi là người cư trú của nước đó màkhông phụ thuộc vào thời gian sinh sống và làm việc tại nước ngoài

Đối với các công ty đa quốc gia có chi nhánh ở nhiều nước sẽ là người cư trúđồng thời tại nhiều quốc gia Tuy vậy, để tránh trùng lặp thì chi nhánh đặt ở nướcnào được coi là người cư trú của nước đó

Trang 3

Còn đối với các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) thì không được coi là những người cư trú củaquốc gia nơi mà chúng đóng trụ sở Tức là các tổ chức này được xem như là ngườikhông cư trú đối với mọi quốc gia Do đó, các giao dịch kinh tế của chúng vớingười cư trú của nước sở tại được ghi chép vào cán cân thanh toán của nước đó.

Vậy, giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú bao gồm cácgiao dịch sau: các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ; thu nhập của người lao động;đầu tư trực tiếp; đầu tư chứng khoán như tín phiếu, trái phiếu và cổ phiếu; quan hệtín dụng; các hình thức đầu tư và các giao dịch khác làm tăng hoặc giảm tài sản cóhoặc tài sản nợ giữa người cư trú và người không cư trú; các khoản chuyển giaomột chiều

1.1.2 Nội dung cán cân thanh toán quốc tế

Trước đây, mỗi quốc gia biên lập cán cân thanh toán quốc tế theo cách riêngcủa mình Mỗi chính phủ thường có cơ quan riêng nhằm thực hiện công việc thống

kê liên quan đến cán cân thanh toán Do không có mẫu và phương pháp thống nhất

để thống kê cán cân thanh toán cho nên mỗi quốc gia có phương pháp đo lường vàtrình bầy cán cân thanh toán khác nhau Chính vì vậy, để có thể so sánh tình hìnhcán cân thanh toán giữa các quốc gia với nhau, hiện nay IMF đã công bố một mẫucán cân thanh toán quốc tế thống nhất cho tất cả các nước thành viên Theo IMF,cán cân thanh toán quốc tế bao gồm những khoản mục chủ yếu sau:

1.1.2.1.Cán cân vãng lai

Cán cân vãng lai còn được gọi là tài khoản vãng lai, là một trong những bộphận chính hình thành bảng cán cân thanh toán của một nước Cán cân này phảnánh toàn bộ các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú về hànghoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều Do vậy, cán cân vãng laiđược chia thành bốn hạng mục chi tiết là: hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyểngiao vãng lai một chiều

Trang 4

+ Dịch vụ du lịch bao gồm: chi phí đi lại; chi phí thuê khách sạn, nhà nghỉ;chi phí ăn uống, mua sắm và các loại chi phí du lịch khác.

Trang 5

giao dịch với các cơ quan khác như: phái đoàn viện trợ, các phái đoàn du lịchchính phủ, thông tin và các văn phòng thúc đẩy thương mại; các chi phí bản quyền

và giấy phép kinh doanh; các dịch vụ phục vụ cá nhân

Tuỳ theo điều kiện của từng quốc gia mà có thể cán cân thương mại hoặccán cân dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng doanh số của cán cân vãng lai.Nhưng trong những năm gần đây, doanh số xuất nhập khẩu các loại hình dịch vụtăng lên nhanh chóng so với doanh số xuất nhập khẩu hàng hoá Các loại hình dịch

vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh bao gồm: du lịch, vận tải biển, bưu chính viễnthông, tài chính ngân hàng

 Hạng mục thu nhập

Hạng mục thu nhập bao gồm:

+ Thu nhập của người lao động là các khoản thu từ lao động gồm các khoảntiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền hoặc là bằng hànghoá do người không cư trú trả cho người cư trú

+ Thu nhập đầu tư là các khoản thu từ vốn gồm: các khoản lợi nhuận từ đầu

tư trực tiếp; các khoản lãi từ đầu tư vào giấy tờ có giá; thu nhập đầu tư khác nhưcác khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay (ngắn hạn, dài hạn) giữa người cưtrú và người không cư trú

Trong thống kê cán cân thanh toán, thu nhập từ việc cung cấp các tài sản phi tàichính, phi sản xuất như bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu thương mại đượcđưa vào hạng mục dịch vụ, không đưa vào phần thu nhập đầu tư

 Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều

Hạng mục chuyển giao vãng lai một chiều ghi chép các khoản chuyển giaokhông hoàn lại cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú chuyển cho người

cư trú và ngược lại Bao gồm:

+ Các khoản viện trợ, quà tặng, quà biếu như: quà tặng về thực phẩm, quần

áo, thuốc men và hàng hoá tiêu dùng khác của các chính phủ với mục đích cứu trợ;

Trang 6

các khoản viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (tổ chức chữ thập đỏ quốc tế)bằng tiền hoặc bằng hàng trợ giúp dưới hình thức kỹ thuật

+ Các khoản chuyển giao khác bằng tiền hoặc hiện vật như chuyển tiền củangười lao động ở nước ngoài gừi về cho gia đình, tiền lương trả cho cư dân nướcngoài

Các khoản chuyển giao vãng lai một chiều này phản ánh sự phân phối lại thunhập giữa người cư trú và người không cư trú

1.1.2.2 Cán cân vốn và tài chính (loại trừ dự trữ quốc tế)

Cán cân vốn và tài chính còn gọi là tài khoản vốn và tài chính Cán cân nàyghi chép các dòng vốn ra và vào của một quốc gia, tức là nó phản ánh sự chuyểndịch tư bản (vốn) của một nước với các nước khác Các luồng vốn chuyển dịch baogồm:

+ Luồng vốn ngắn hạn: là những luồng vốn giao dịch kéo dài dưới 12 tháng

Nó gồm nhiều hạng mục phong phú và chủ yếu là tín dụng thương mại ngắn hạn,tín dụng ngắn hạn của ngân hàng, các hoạt động tiền gửi, mua bán các giấy tờ cógiá ngắn hạn, kinh doanh ngoại hối Ngày nay, luồng vốn ngắn hạn có ảnh hưởngđáng kể đến cán cân thanh toán quốc tế nói chung của một quốc gia do các luồngvốn đầu cơ tăng lên nhanh chóng trong môi trường tự do hoá tài chính

+ Luồng vốn dài hạn: là những luồng vốn giao dịch kéo dài trên 12 thánggồm các khoản mua, bán tài sản cố định ở nước ngoài (nhà xưởng, hầm mỏ, đấtđai ), mua bán các giấy tờ có giá dài hạn; các khoản đi vay và cho vay dài hạn

+ Chuyển giao vốn một chiều: gồm các khoản viện trợ không hoàn lại chomục đích đầu tư; các khoản nợ được xoá giữa người cư trú và không cư trú; cácloại tài sản bằng tiền, hiện vật của người cư trú di cư mang ra nước ngoài và củangười không cư trú di cư mang vào trong nước lập báo cáo

Cán cân vốn và tài chính được chia thành cán cân vốn và cán cân tài chính.Cán cân vốn bao gồm hai hạng mục: chuyển giao vốn và các giao dịch về tài sản

Trang 7

phi tài chính, phi sản xuất Căn cứ theo chức năng, cán cân tài chính được chiathành các phần sau đây: đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư vào giấy tờ có giá (như

cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, trái phiếu ngắn hạn, các công cụ thị trường tiền tệ vàcác công cụ tài chính phái sinh) và đầu tư khác (gồm những khoản vay nợ dài hạn -trung hạn - ngắn hạn, tín dụng thương mại, các khoản tiền gửi và các tài sản có, tàisản nợ khác

Thông thường, để thuận tiện trong việc theo dõi tình trạng của cán cân thanhtoán quốc tế, người ta tổng hợp cán cân vãng lai với cán cân vốn và tài chính vàomột cán cân chung được gọi là cán cân tổng thể Kết quả của cán cân tổng thể nàythể hiện tình trạng kinh tế đối ngoại của một quốc gia trong một thời kỳ (hoặc tạimột thời điểm) nhất định

tỷ giá khi tỷ giá có nguy cơ biến đổi ngoài mong muốn Khi số dư tài khoản vãnglai và tài khoản vốn là âm thì NHTƯ phải rút từ quỹ dự trữ ngoại hối, vay NHTƯnước ngoài hoặc IMF để bù đắp (ghi dấu dương trong cán cân thanh toán) Vàngược lại, khi số dư tài khoản vãng lai và tài khoản vốn là dương thì NHTƯ cónguồn để tăng dự trữ ngoại hối, trả nợ nước ngoài hoặc trả nợ IMF (ghi dấu âmtrong cán cân thanh toán)

Tóm lại, giá trị của tài khoản dự trữ chính thức đúng bằng với kết quả củacán cân tổng thể nhưng ngược dấu Thực tế đây là một dạng “cân đối tài khoản kế

Trang 8

toán” để tổng các hạng mục trong cán cân thanh toán quốc tế phải bằng không.Nhìn vào hạng mục này, có thể thấy ngay dự trữ ngoại hối của một quốc gia đượctăng thêm hay giảm đi.

Ngoài các khoản mục nêu trên, trong cán cân thanh toán quốc tế còn có mộtkhoản mục nữa được gọi là lỗi và sai sót thống kê Khoản mục này được đưa vàocán cân thanh toán để đảm bảo sự cân bằng kế toán đáp ứng nguyên tắc kế toán(tổng nợ bằng tổng có) Số dư của khoản mục này nếu có là do sự sai lệch về thống

kê do nhầm lẫn, bỏ sót hoặc không thu thập được số liệu trong các hạng mục củacán cân thanh toán Số dư này sẽ bằng không nếu tất cả các khoản mục trong cáncân thanh toán quốc tế đã được thống kê chính xác Giá trị của khoản mục này nếuđược ghi, chỉ là ước tính sự thay đổi về giá trị của tư bản đầu tư, tái đầu tư, về giá

cả khi hạch toán (giữa giá CIF và giá FOB)

1.1.3 Nguyên tắc thiết lập cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế là một trong những tài khoản kinh tế vĩ mô quantrọng, nó phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với phần cònlại của thế giới Nó có mối quan hệ chặt chẽ với các tài khoản kinh tế vĩ mô khácnhư bảng cân đối ngân sách, cân đối tiền tệ, hệ thống tài khoản quốc gia Chính vìvậy, khi thiết lập cán cân thanh toán quốc tế cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

 Nguyên tắc hạch toán kép:

Theo quan điểm kế toán, cán cân thanh toán quốc tế luôn cân bằng Bởi vì, mộtgiao dịch quốc tế được hạch toán trong cán cân thanh toán theo nguyên tắc ghi sổkép giống như các hạch toán kế toán ở các công ty kinh doanh Nghĩa là một khoảngiao dịch giữa người cư trú và người không cư trú được ghi hai lần trong cán cânthanh toán: một ghi nợ và một ghi có (đối ứng) với giá trị như nhau

+ Ghi nợ: trong trường hợp phải chi trả cho nước ngoài, nghĩa là những giaodịch làm cho quỹ tiền tệ ở trong nước (của chính phủ hoặc tư nhân) giảm đi Trongcán cân thanh toán, những khoản này được mang dấu âm (-)

Trang 9

+ Ghi có: trong trường hợp nhận được chi trả từ nước ngoài, tức là những khoảngiao dịch mang về cho quốc gia một lượng ngoại tệ nhất định Trong cán cân thanhtoán, những khoản này được mang dấu dương (+).

Nhìn chung, những khoản ghi dấu âm (ghi nợ) thể hiện việc mua thực tếngoại tệ được thực hiện bởi những người cư trú nhằm chi trả cho những nhập khẩuhàng hoá, dịch vụ, tiền tệ và các tài sản khác từ nước ngoài Nó phản ánh luồngvốn ra của một quốc gia Tương tự, những khoản ghi dấu dương (ghi có) thể hiệnviệc bán thực tế những ngoại tệ thu được của người cư trú do xuất khẩu hàng hoá,dịch vụ và các tài sản khác Nó phản ánh luồng vốn vào của một quốc gia

 Nguyên tắc hạch toán trên cơ sở số phát sinh

Nguyên tắc này đảm bảo rằng các giao dịch quốc tế được hạch toán tại thờiđiểm mà giá trị kinh tế được tạo ra, được chuyển giao và trao đổi Bởi vì, khi hạchtoán các giao dịch quốc tế trong cán cân thanh toán, chúng ta sử dụng số đến hạnchứ không phải số thực trả Hơn nữa, nguyên tắc này còn tạo điều kiện thuận lợitrong việc phân tích mối quan hệ qua lại giữa khu vực tài chính và các khu vựckhác trong nền kinh tế

 Nguyên tắc hạch toán trị giá toàn bộ và trị giá ròng

Các hạng mục của cán cân vãng lai được đánh giá trên cơ sở trị giá toàn bộ đểphù hợp với mối quan hệ giữa các giao dịch của cán cân vãng lai với hệ thống tàikhoản quốc gia

Các hạng mục của cán cân vốn và tài chính không kể đầu tư trực tiếp, đượcđánh giá trên cơ sở trị giá ròng Bởi vì, chúng ta không có số liệu trên cơ sở trị giátoàn bộ và có những thay đổi của Bảng tổng kết tài sản được đưa vào cán cân vốn

và tài chính trên cơ sở trị giá ròng

 Nguyên tắc định giá các giao dịch

Trị giá các giao dịch quốc tế ghi trong cán cân thanh toán đều được tính theogiá thị trường Xét từ góc độ cán cân thanh toán, giá thị trường là số tiền mà người

Trang 10

mua sẵn sàng bỏ ra để mua một loại hàng hoá nào đó từ người bán Theo địnhnghĩa này, giá thị trường là giá của một giao dịch cụ thể trong các các điều kiệnnhất định Tuy nhiên, đối với các hàng hoá xuất nhập khẩu thì trị giá giao dịchkhông bao gồm chí phí vận tải, bảo hiểm Các chi phí này được ghi chép trong

“hạng mục dịch vụ”

 Các thời kỳ và thời gian ghi chép

Về nguyên tắc, thời kỳ để ghi chép các dòng giao dịch của cán cân thanh toán

có thể có độ dài bất kỳ Còn về độ dài của khoảng thời gian ghi chép thì còn phụthuộc vào tần số thu thập số liệu Cho nên, tuỳ thuộc vào từng quốc gia mà thờigian ghi chép được tính theo năm hoặc theo quý Nhưng vẫn phải tuân theo quy tắc

cả hai bên trong giao dịch quốc tế đều ghi chép giao dịch này khi có sự thay đổihợp pháp về quyền sở hữu

 Đơn vị tiền tệ hạch toán và tỷ giá quy đổi

Đồng tiền được sử dụng để ghi chép hạch toán trong cán cân thanh toán quốc tếtuỳ thuộc vào địa vị tiền tệ của từng quốc gia Nhưng để thuận tiện cho việc sosánh đối chiếu giữa các nước và cũng gần như là thông lệ quốc tế, các nước thường

sử dụng đồng đô la Mỹ (USD) Tỷ giá quy đổi (tỷ giá trên thị trường hiện hànhthời gian hạch toán) được sử dụng để chuyển đổi các số liệu trong các giao dịchsang số liệu tính toán

1.2 Vấn đề thặng dư và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế

1.2.1 Khái niệm về mất cân bằng cán cân thanh toán (thặng dư và thâm hụt)

Xét từ góc độ hạch toán, cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia luônluôn được cân bằng vì nó được lập theo nguyên tắc bút toán kép Tức là, trong cáncân thanh toán, tổng các bút toán ghi có đúng bằng tổng các bút toán ghi nợ Tuynhiên, cán cân thanh toán luôn cân bằng không có nghĩa là tất cả các cán cân thànhphần đều phải trong trạng thái cân bằng Ví dụ, cán cân vãng lai có thể thâm hụttrong khi cán cân vốn và tài chính thặng dư Vì vậy, khi xem xét khái niệm thặng

Trang 11

dư hay thâm hụt cán cân thanh toán, các nhà kinh tế luôn phải phân biệt các giaodịch tự định và các giao dịch điều chỉnh Bởi vì, về nguyên tắc, các giao dịch đượcghi trong cán cân thanh toán được chia thành hai loại chính: các khoản giao dịch tựđịnhvà các khoản giao dịch tự điều chỉnh.

+ Giao dịch tự định là những giao dịch được thực hiện vì lợi ích bản thân chúng.Các tài khoản giao dịch tự định ghi các giao dịch độc lập, không phụ thuộc vàotrạng thái cán cân thanh toán của nước lập báo cáo Các giao dịch trong cán cânvãng lai và cán cân vốn do các hộ gia đình, các công ty, cơ quan chính phủ trungương và địa phương thực hiện được xếp vào các giao dịch tự định

+ Giao dịch điều chỉnh là những giao dịch không được thực hiện vì lợi ích bản thân

nó Hay nói cách khác, tất cả các giao dịch do cơ quan tiền tệ tiến hành nhằm cânbằng cán cân thanh toán chính là các giao dịch điều chỉnh Các tài khoản giao dịchđiều chỉnh ghi chép các giao dịch để bù đắp cho chênh lệch của các giao dịch tựđịnh

Như vậy, cán cân thanh toán thặng dư khi tổng số các khoản thu tự định(những khoản ghi có) lớn hơn tổng số các khoản chi tự định (những khoản ghi nợ).Tức là khi đó số tổng số dư của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn dương Và cáncân thanh toán thâm hụt khi tổng số các khoản thu tự định nhỏ hơn tổng số cáckhoản chi tự định Tức là khi đó tổng số dư của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn

âm Còn khi số dư của các giao dịch tự định bằng không có nghĩa là tổng số cáckhoản thu tự định bằng tổng số các khoản chi tự định thì cán cân thanh toán cânbằng

Tóm lại, cán cân thanh toán quốc tế cân bằng, thặng dư hay thâm hụt đềuđược xác định bằng chênh lệch giữa tổng số những khoản thu tự định và tổng sốnhững khoản chi tự định

+ Thu tự định = Chi tự định  cán cân thanh toán cân bằng

+ Thu tự định > Chi tự định  thặng dư cán cân thanh toán

Trang 12

+ Thu tự định < Chi tự định  thâm hụt cán cân thanh toán

Do cán cân thanh toán là một đồng nhất thức nên ta có:

Tổng các giao dịch tự định + Tổng các giao dịch điều chỉnh = 0

hay Tổng các giao dịch tự định = - Tổng các giao dịch điều chỉnh

Do đó, đo lường sự mất cân bằng cán cân thanh toán cũng có thể xác địnhnhư là số âm của chênh lệch giữa các khoản thu và chi của giao dịch điều chỉnh

Tuy nhiên, trong thực tế, để phân biệt được giao dịch tự định và giao dịchđiều chỉnh là hết sức khó khăn Vấn đề là ở chỗ những giao dịch kinh tế nào đượcxếp vào loại giao dịch tự định và những giao dịch kinh tế nào được xếp vào loạigiao dịch điều chỉnh Bất đồng trong quan điểm về vấn đề này dẫn đến xác địnhtrạng thái cán cân thanh toán (thâm hụt hay thặng dư) không đồng nhất Khó khăntrong xác định tính tự định hay tính điều chỉnh của giao dịch kinh tế xuất phát từthực tế khó có thể xác định chính xác động cơ của giao dịch Ví dụ, nếu dòng vốnngắn hạn đầu tư vào thị trường nội địa do lãi suất nội địa cao hơn lãi suất nướcngoài thì khi đó dòng vốn ngắn hạn thuộc loại tự định Tuy nhiên, nếu dòng vốnngắn hạn đó được vay để tài trợ cho hoạt động nhập khẩu thì được xếp vào tàikhoản điều chỉnh Chính khó khăn này làm nảy sinh các khái niệm khác nhau vềmất cân bằng cán cân thanh toán Nói chung, để phản ánh trạng thái của cán cânthanh toán quốc tế của một quốc gia, người ta thường dùng cán cân tổng thể (tổnghợp cán cân vãng lai với cán cân vốn và tài chính) Còn đối với các nước đang pháttriển thì người ta lại quan tâm nhiều hơn tới cán cân vãng lai mà cụ thể là cán cânthương mại

1.2.2 Phân loại mất cân bằng cán cân thanh toán

Căn cứ vào bản chất, người ta chia mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tếthành hai loại: mất cân bằng tạm thời và mất cân bằng cơ bản

Về nguyên tắc, mất cân đối tạm thời thường chỉ diễn ra trong một thời gianngắn, do các xáo trộn ngoại lai có tính chất thời vụ hay tính chu kỳ Mất cân đối

Trang 13

tạm thời có khả năng và có thể được tài trợ bằng cách thay đổi dự trữ quốc tế.Chẳng hạn như trong trường hợp thâm hụt cán cân thanh toán tạm thời quốc gia đó

có thể rút ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối để bù đắp

Mặt khác, mất cân bằng cơ bản lại mang tính thường xuyên, nó có xu hướngkéo dài, dai dẳng Nguyên nhân chính dẫn đến mất cân đối cơ bản là do sự mất cânđối sâu sắc trong nền kinh tế các nước Trong trường hợp thâm hụt cơ bản, quốcgia đó có thể thoả thuận với IMF phá giá đồng tiền với mục đích giải quyết thâmhụt và vay ngoại tệ để tài trợ cho việc thực hiện chính sách đó Trong trường hợpphải đối phó với thâm hụt cơ bản, một nước có thể phá giá đồng tiền trong khoảngdưới 10% mà IMF có thể không phản đối Nhưng trong trường hợp phá giá nhiềuhơn 10% thì phải được sự thống nhất của IMF Chính vì vậy, đối với mất cân bằng

cơ bản thì cần có một sự điều chỉnh thật sự Quá trình điều chỉnh các mất cân đối

cơ bản của cán cân thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua cơ chế điều chỉnhnhư thu nhập, tiền tệ và tỷ giá

Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân biệt giữa mất cân đối tạm thời và mấtcân đối cơ bản là rất khó Cho nên, các quốc gia cần thực hiện việc phân tích tìnhtrạng cán cân thanh toán quốc tế một cách sâu sắc nhằm đưa ra được các biệnpháp, cơ chế điều chỉnh mất cân bằng cán cân thanh toán cho phù hợp với từngthời kỳ

1.2.3 Mất cân bằng cán cân vãng lai - mục tiêu điều chỉnh của các nước đang phát triển.

Tình trạng cán cân vãng lai luôn là một bộ phận không thể thiếu được trongphân tích kinh tế vĩ mô đối với các nền kinh tế mở Nó phản ánh đúng năng lực sảnxuất hay khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế Đặc biệt, nó có khả năng ảnhhưởng trực tiếp và nhanh chóng đến các chỉ tiêu quan trọng của nền kinh tế như tỷgiá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế nội địa và nước ngoài Chính vì vậy, hầu hết các

Trang 14

quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển đều quan tâm đến việc phân tích cáncân vãng lai để có thể đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp.

Như chúng ta đã biết, cán cân vãng lai đo lường các giao dịch kinh tế củamột nước với phần còn lại của thế giới về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyểngiao một chiều Hay nói cách khác, nó là tổng chênh lệch giữa xuất khẩu và nhậpkhẩu hàng hoá và dịch vụ (X-M), cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài(NF) và chuyển khoản ròng từ nước ngoài (NTR) Như vậy, cán cân vãng lai (CA)

sẽ bằng: CA = X-M + NF + NTR

+ Cán cân vãng lai thặng dư khi: X-M + NF + NTR > 0

+ Cán cân vãng lai thâm hụt khi: X-M + NF + NTR < 0

+ Cán cân vãng lai cân bằng khi: X-M + NF + NTR = 0

Nếu thặng dư, có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ người không cư trúlớn hơn so với chi cho người không cư trú Hay nói cách khác, quốc gia này tăngthu nhập từ nước ngoài, từ đó tăng tích luỹ tài sản quốc tế ròng

Nếu thâm hụt, có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ người không cư trúthấp hơn so với chi cho người không cư trú Hay nói cách khác, quốc gia này đanggiảm thu nhập từ nước ngoài tức là giảm dần ngoại tệ hoặc tích luỹ thêm nghĩa vụ

nợ nước ngoài

Tuy vậy, mặc dù cán cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản nợ ròng của mộtquốc gia đối với phần thế giới còn lại tăng lên nhưng không phải bao giờ cũng xấu.Đôi khi thiếu hụt tài khoản vãng lai còn thể hiện sự thu hút vốn đầu tư nước ngoàivào để phát triển sản xuất tăng xuất khẩu và tăng sản lượng Không phải mọi sựthiếu hụt cán cân vãng lai đều đưa đến một cuộc khủng hoảng Điều đó còn phụthuộc vào khả năng chịu đựng thiếu hụt của cán cân vãng lai trong điều kiện cụ thểcủa nền kinh tế Để có thể đánh giá được khả năng chịu đựng của cán cân vãng laicuả một quốc gia thì ta phải dựa vào khả năng thanh toán của quốc gia đó

Trang 15

Khả năng thanh toán của một quốc gia là khả năng tạo ra thặng dư cán cânvãng lai trong tương lai (không bao gồm các khoản trả lãi) đủ để hoàn trả nợ hiện

có của quốc gia đó Tức là, thâm hụt hiện tại chưa hẳn đã là kết quả xấu nếu đảmbảo thặng dư trong tương lai Trên quan điểm này, cũng cần quan tâm tới cơ cấuhàng hoá nhập khẩu trong cán cân thanh toán Nếu hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọnglớn trong kim ngạch nhập khẩu thì đây có thể là một dấu hiệu không tốt Nhưngnếu máy móc, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn thì cơ cấu này

có thể đảm bảo thúc đẩy xuất khẩu trong tương lai, tạo ra thặng dư ngoại tệ bù dắpthâm hụt cán cân vãng lai Để đánh giá được khả năng thanh toán của một quốc gia(hay khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai), người ta thường dùng các chỉ sốkinh tế vĩ mô như: tỷ lệ xuất khẩu so với GDP, tỷ giá hối đoái thực tế, tiết kiệm vàđầu tư nội địa, cán cân ngân sách Như vậy là đối với một nền kinh tế có cơ sởxuất khẩu lớn, tỷ giá hối đoái thực tế sát với tỷ giá thực, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tưcao, không có thâm hụt ngân sách lớn thì những mất cân bằng lớn của cán cânvãng lai ít có khả năng gây ra khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng Còn nếu mộtquốc gia bị thâm hụt cán cân vãng lai trong tình trạng lạm phát cao, tăng trưởngthấp thì hậu quả của thâm hụt sẽ là vấn đề đáng lo ngại hơn rất nhiều so với khiquốc gia đó đang trong tình trạng tăng trưởng cao và lạm phát thấp

Ngoài ra, số dư cán cân vãng lai là số dư của tất cả các hạng mục trong cáncân vãng lai (cán cân thương mại, dịch vụ, thu nhập, chuyển giao vãng lai mộtchiều) và bằng tổng tất cả các khoản mục tài trợ cho cân bằng tài khoản vãng lai.Xét trên ý nghĩa kinh tế vĩ mô rộng hơn thì cán cân vãng lai phản ánh chênh lệchgiữa tổng thu nhập quốc dân khả dụng (GNDI) và tổng chi tiêu (hấp thụ) của nềnkinh tế, hay chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của một quốc gia Điều này chứng

tỏ rằng cán cân vãng lai có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố khác trong nền kinh

tế Những mối liên hệ này càng nhấn mạnh hơn tầm quan trọng của cán cân vãnglai với vai trò là trung tâm kết nối nền kinh tế trong nước với phần còn lại của thế

Trang 16

giới Chính vì vậy, tình trạng thặng dư hay thâm hụt cán cân vãng lai có ý nghĩa vôcùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia và làmục tiêu điều chỉnh của các quốc gia đang phát triển trên thế giới.

1.3 Vấn đề điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế

1.3.1 Các cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế

1.3.1.1 Cơ chế điều chỉnh tỷ giá

Các quốc gia khác nhau áp dụng chế độ tỷ giá khác nhau tuỳ thuộc vào tìnhtrạng nền kinh tế của mỗi nước và mức độ kiểm soát tỷ giá của chính phủ Mộtquốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi tức là quốc gia đó cho phép đồng tiền của nó

tự do tăng hay giảm trên thị trường nhằm phản ứng lại những thay đổi trong cungcầu đồng tiền Ngược lại, một quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá cố định tức là mọi tỷgiá hối đoái đều do chính phủ đặt ra và điều chỉnh trong ngắn hạn Hành động thayđổi tăng hay giảm tỷ giá (tăng hay giảm giá trị đồng ngoại tệ) của chính phủ đượcgọi là phá giá hay nâng giá đồng nội tệ Sự thay đổi về giá của một đồng tiền dẫnđến làm thay đổi giá trị trao đổi của đồng tiền đó

Thực tế cho thấy, cán cân thanh toán quốc tế chịu chi phối bởi cơ chế điềuchỉnh tỷ giá Mà việc áp dụng cơ chế điều chỉnh tỷ giá như thế nào để có thể cảithiện cán cân thanh toán của một quốc gia còn phụ thuộc vào chế độ tỷ giá củaquốc gia đó Việc điều chỉnh tỷ giá tức là việc phá giá hay nâng giá đồng tiền cótác động khác nhau đến cán cân thanh toán Phá giá đồng tiền có xu hướng thúcđẩy cạnh tranh quốc tế và góp phần làm giảm thâm hụt cán cân thanh toán của mộtnước do nó giảm được chi phí và giá cả Nhưng nó cũng có thể làm xấu đi cán cânthanh toán của một quốc gia

Có ba phương pháp để xem xét trong điều kiện nào thì việc phá giá đồngtiền có tác dụng cải thiện hay làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế, đó là: phươngpháp hệ số co giãn (the elasticity approach), phương pháp hấp thụ (the absorptionapproach) và phương pháp tiền tệ (the monetary approach)

Ngày đăng: 30/10/2013, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tác động đường cong J - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN  THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH
Hình 1 Tác động đường cong J (Trang 18)
Đồ thị dưới đây sẽ minh hoạ cụ thể việc xác định thu nhập quốc dân trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa. - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN  THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH
th ị dưới đây sẽ minh hoạ cụ thể việc xác định thu nhập quốc dân trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa (Trang 23)
Hình 3: Cung-cầu tiền và mất cân bằng cán cân thanh toán - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN  THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH
Hình 3 Cung-cầu tiền và mất cân bằng cán cân thanh toán (Trang 26)
Bảng 2: Chính sách tiền tệ và tài khoá nhằm thiết lập cân đối bên trong và bên - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁN CÂN  THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH
Bảng 2 Chính sách tiền tệ và tài khoá nhằm thiết lập cân đối bên trong và bên (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w