Hệ thống thông tin là tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng, phần mềm, dữ liệu… thực hiện hoạt động thu thập , lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin trong một tập hợp các dàng
Trang 1Thu thập Lưu trữ và xử lý
Đích
Phân phát
Kho dữ liêu
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI
I - CÁC KHÁI VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN
1 Hệ thống thông tin
Trong bất kỳ một tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị nào cũng đều tồn tại một hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng, phần mềm, dữ liệu… thực hiện hoạt động thu thập , lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin trong một tập hợp các dàng buộc được gọi là môi trường Để có thể nhìn nhận một cách trực quan
về hệ thống thông tin người ta thường tiến hành mô hình hoá hệ thông tin Nhờ việc mô hình hoá các hệ thống thông tin mà nhà quản lý có thể thực hiện một cách tốt hơn công việc quản lý của mình Trong mỗi tổ chức thì mô hình hệ thống thông tin có một đặc thù riêng, tuy nhiên chúng vẫn tuân theo một quy tắc nhất định Sau đây là mô hình hệ thống thông tin tổng quát.
Mô hình hệ thống thông tin :
Nhằm giúp cho công việc đánh giá phân tích hệ thống thông tin một cách thuận lợi người phân tích cần tiến hành phân loại hệ thống thông tin Hiện nay tồn tại nhiều cách phân loại hệ thống thông tin trong tổ chức, nhưng có hai các phân loại thông dụng nhất là:
- Phân loại theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra
- Phân loại theo theo lĩnh vực và mức độ ra quyết định
2 Cơ sở dữ liệu
Một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống thông tin đó là cơ sở dữ liệu của hệ thống Trong bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào, các nhà doanh nghiệp luôn phải lưu trữ và xử lý dữ liệu phục vụ cho công tác quản lý cũng như hoạt động của doanh nghiệp
đó Dữ liệu có tầm quan trọng sống còn đối với các doanh nghiệp hay tổ chức, do vậy mỗi khi phân tích, thiết kế một hệ thống thông tin thì yêu cầu đối bắt buộc đối với các phân tích viên
là làm việc với cơ sở dữ liệu
Khi máy tính điện tử chưa ra đời thì tất cả các thông tin đó vẫn được thu thập, lưu trữ,
xử lý, phân tích và cập nhật Các dữ liệu này được ghi trên các bảng, ghi trong sổ sách, ghi
Trang 2trong các phích bằng bìa cứng… và ngay trong đầu của nhân viên làm việc Ngày nay nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ máy tính mà việc xử lý, lưu trữ dữ liệu trở nên thuận tiện và nhanh chóng hơn rất nhiều Sự bùng nổ của Internet và thương mại đã tạo điều kiện cho việc thiết kế các cơ sở dữ liệu tập trung có khối lượng lớn và được chia sẻ cho nhiều người dùng khác nhau.
Các khái niệm chủ yếu liên quan đến cơ sở dữ liệu cần phải quan tâm :
Thực thể ( Entity ) Thực thể là một đối tượng nào đó mà nhà quản trị muốn lưu trữ
thông tin về nó Chẳng hạn như nhân viên, máy móc thiết bị, hợp đồng mua bán, khách hàng… Điều quan trọng là khi nói đến thực thể cần hiểu rõ là nói đến một tập hợp các thực thể cùng loaị.
Trường dữ liệu ( Field ) Để lưu trữ thông tin về từng thực thể mà người ta thiết lập
một bộ thuộc tính để ghi các giá trị cho các thuộc tính đó Mỗi thuộc tính được gọi là một trường Nó chứa một mẩu tin về thực thể cụ thể Nhà quản lý kết hợp với các chuyên viên hệ thống thông tin để xây dựng lên những bộ thuộc tính như vậy cho các thực thể.
Bản ghi ( Record ) Tập hợp bộ giá trị của các trường của một thực thể cụ thể làm
thành một bản ghi.
Bảng ( Table ) Toàn bộ các bản ghi lưu trữ thông tin cho một thực thể tạo ra một bảng
mà mỗi dòng là một bản ghi và mỗi cột là một trường.
Cơ sở dữ liệu ( Data Base ) được hiểu là tập hợp các bảng có liên quan với nhau được
tổ chức và lưu trữ trên các thiết bị hiện đại của tin học, chịu sự quản lý của một hệ thống chương trình máy tính, nhằm cung cấp thông tin cho nhiều người dùng khác nhau với những mục đích khác nhau.
Cập nhật dữ liệu : Đây là nhệm vụ không thể thiếu được khi sử dụng cơ sở dữ liệu Xu
thế hiện nay của các hệ quản trị cơ sở dữ liệu là làm dễ dàng cho việc tạo và nhập dữ liệu Thể thức dữ liệu được nhập vào cơ sở dữ liệu không giống như thể thức dữ liệu được nhìn thấy Hiện nay hầu hết các phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu đều cho phép ta sử dụng giao diện đồ hoạ để nhập dữ liệu, điều này giúp cho người dùng dễ dàng khi nhập dữ liệu.
Truy vấn dữ liệu Truy vấn dữ liệu là làm thế nào để lấy được dữ liệu từ cơ sở dữ liệu.
Để thực hiện được nhiệm vụ này ta phải có cách thức nào đó giao tác với cơ sở dữ liệu Thông thường là thông qua một dạng nào đó của ngôn ngữ truy vấn.
• Ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc SQL ( Structured Query Language ) Là ngôn ngữ phổ
dụng nhất dùng để truy vấn các cơ sở dữ liệu hiện nay Việc viết một lệnh SQL đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ năng, nhất là những truy vấn phức tạp trong một cơ sở dữ liệu lớn có nhiều thực thể.
• Truy vấn bằng ví dụ QBE ( Quyre By Example ) Nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu có cách
thức đơn giản hơn để giao tác với cơ sở dữ liệu dựa vào khái niệm QBE QBE tạo cho người
sở dụng một lưới điền hoặc một mẫu để xây dựng cấu trúc một mẫu hoặc mô tả dữ liệu mà
họ muốn tìm kiếm
Trang 3Lập các báo cáo ( Report) từ cơ sở dữ liệu Thường thì các hệ quản trị cơ sở dữ liệu bổ
sung tính năng lập báo cáo cho việc truy vấn dữ liệu Báo cáo là những dữ liệu được kết xuất ra từ cơ sở dữ liệu, được tổ chức và đưa ra dưới dạng in ấn Tuy nhiên báo cáo vẫn có thể được thể hiện ra trên màn hình Lập báo cáo là một bộ phận đặc biệt của hệ quản trị cơ
sở dữ liệu được dùng để lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu đẻ xử lý và đưa ra cho người sử dụng dưới một thể thức sử dụng được.
Cấu trúc tệp và mô hình dữ liệu Dữ liệu phải tổ chức theo một cách nào đó để không
dư thửa và dễ dàng tìm kiếm, phân tích và hiểu được chúng Vì vậy cơ sở dữ liệu cần phải cấu trúc lại Để lưu trữ dữ liệu chúng ta cần một cơ chế đẻ gắn kết các thực thể mà chúng có mối quan hệ tự nhiên giữa cái nọ với cái kia Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thường sử dụng 3 mô hình sau để chế ngự các mối quan hệ nào đó :
• Mô hình phân cấp ( Hierarchical Model )
• Mô hình mạng lưới ( Network Model )
• Mô hình quan hệ ( Relational Model )
3 Phân tích, thiết kế một hệ thống thông tin
Phát triển một hệ thống thông tin nhằm mục tiêu cuối cùng là cung cấp cho nhà quản lý
một công cụ quản lý tốt nhất Để có thể đạt được mục tiêu đó thì hệ thống thông tin cần phải trải qua một công đoạn gọi là công đoạn phân tích thiết kế Đây là công việc chủ đạo trong quá trình phát triển một hệ thống thông tin Phân tích thiết kế hệ thống thông tin lại bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn lại có các công việc cụ thể
a/ Đánh giá yêu cầu
Một dự án phát triển hệ thống không tự động tiến hành ngay sau khi có bản yêu cầu Vì loại dự án này đòi hỏi đầu tư không chỉ tiền bạc, thời gian mà cả nguồn nhân lực, do đó quyết định về vấn đề này phải được thực hiện sau một cuộc phân tích cho phép xác định cơ hội và khả năng thực thi Sư phân tích này được gọi là đánh giá hay thẩm định yêu cầu, đôi khi nó được gọi là nghiên cứu khả thi và cơ hội.
Đánh giá đúng yêu cầu là quan trọng cho việc thành công của một dự án Một sai lầm trong giai đoạn này có thể làm lùi bước của toàn bộ dự án, kéo theo những chi phí lớn cho
tổ chức.
Đánh giá yêu cầu gồm có 4 công đoạn : Lập kế hoạch, làm rõ yêu cầu, đánh giá khả năng thực thi, chuẩn bị và trình bày báo cáo.
- Lập kế hoạch
- Làm rõ yêu cầu Làm rõ yêu cầu có mục đích làm cho phân tích viên hiểu đúng yêu cầu của người yêu cầu Xác định chính xác đối tượng yêu cầu, thu thập các yếu tố cơ bản của môi trường hệ thống và xác định khung cảnh nghiên cứu.
- Đánh giá khả thi Đánh giá khả năng thực thi của một dự án là tìm xem có yếu tố nào ngăn cản nhà phân tích thực hiện, cài đặt một cách thành công giải pháp đã đề xuất không? Tất nhiên trong quá trình phát triển hệ thống luôn luôn phải tiến hành đánh giá
Trang 4lại những vấn đề chính về khả năng thực thi là : khả thi về tổ chức, khả thi về kỹ thuật, khả thi về tài chính
- Trình bày báo cáo về đánh giá yêu cầu Báo cáo cho phép các nhà quyết định cho phép
dự án tiếp tục hay ngừng lại Báo cáo phải cung cấp một bức tranh sáng sủa và đầy đủ
về tình hình và khuyến nghị những hành động tiếp theo Báo cáo thường được trình bày
để các nhà quyết định có thể làm rõ thêm các vấn đề Sau đó là quyết định tiếp tục hay loại bỏ dự án
b/ Phân tích chi tiết
Mục tiêu của giai đoạn phân tích chi tiết
Mục đích của giai đoạn phân tích chi tiết là đưa ra một chuẩn đoán về hệ thống đang tồn tại, xác định mục tiêu của hệ thống mới và đề xuất ra các yếu tố giải pháp cho phép đạt được các mục tiêu trên Các bước cần thực hiện khi phân tích hệ thống :
- Xác định các yêu cầu Việc xác định các yêu cầu được thực hiện sau khi đã tiến hành thu thập thông tin của hệ thống Được tổng hợp từ kết quả của quá trình ghi chép, phỏng vấn, khảo sát, quan sát, phân tích các mẫu.
- Bước tiếp theo là phải cấu trúc hoá các yêu cầu của hệ thống
- Tìm lựa chọn giải pháp cho hệ thống mới, đưa ra các chiến lược về hệ thống thông tin trong tương lai.
Kết quả của các bước này được tổng hợp lại trong hồ sơ của dự án, từ hồ sơ của dự án lại
tác động trở lại các bước này làm cho việc thực hiện nó được hoàn thiện hơn
Các phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin là công việc mà phân tích viên thực hiện nhằm có được các thông tin
về hệ thống nhằm phục vụ cho quá trình phân tích thiết kế và đánh giá hệ thống Thông thường người ta sử dụng phương pháp phỏng vấn và nghiên cứu tài liệu để thu thập thông tin Hiện nay có các phương pháp thu thập thông tin phổ biến sau :
• Phỏng vấn là phương pháp mà phân tích viên thu thập thông tin thông qua các cuộc tiếp xúc với khách hàng
• Nghiên cứu tài liệu, cho phép nghiên cứu tỉ mỉ về nhiều khía cạnh
• Sử dụng các phiếu điều tra, được dùng khi phải lấy thông tin từ số lượng lớn các đối tượng và trên phạm vi địa lý rộng
• Quan sát là phương pháp phân tích viên thu thập các thông tin mà không thể hiện trong tài liệu hoặc qua phỏng vấn.
Mã hoá dữ liệu
Trang 5Mã hoá dữ liệu là việc xây dựng một tập hợp các hàm thức mang tính quy ước và gán cho tập hợp này một ý nghĩa bằng cách cho liên hệ với những đối tượng cần biểu diễn.Khi xây dựng hệ thống thông tin thì việc mã hoá dữ liệu là rất cần thiết nó giúp cho việc nhận diện các đối tượng không bị nhầm lẫn, mô tả nhanh chóng các đối tượng, nhận diện các nhóm đối tượng nhanh hơn Các phương pháp mã hoá cơ bản bao gồm :
- Phương pháp mã hoá phân cấp
- Phương pháp mã hoá liên tiếp
- Phương pháp mã hoá theo xeri
- Phương pháp mã hoá gợi nhớ
- Phương pháp mã hoá ghép nối
Mô hình hoá hệ thống thông tin
Để có thể có được một cái nhì trực quan về hệ thống thông tin đang tồn tại cũng như hệ thống thông tin trong tương lai người ta thường tiến hành mô hình hoá hệ thống Mô hình hoá không những giúp cho người phân tích nhìn nhận nhanh chóng hơn về hệ thống mà còn giúp cho người yêu cầu dễ dàng hình dung về hệ thống thông tin trong tổ chức của mình.
Hiện nay tồn tại một số công cụ tương đối chuẩn cho việc mô tả hệ thống thông tin đó là
sơ đồ luồng thông tin và sơ đồ luồng dữ liệu.
• Sơ đồ luồng thông tin IFD ( Information Flow Diagram ) dùng để mô tả hệ thống
thông tin theo cách thức động
• Sơ đồ luồng dữ liệu DFD ( Data Flow Diagram ) dùng để mô tả hệ thông tin trên góc độ trừu tượng Trên sơ đồ chỉ bao gồm các luồng dữ liệu, các xử lý, các lưu trứ dữ liệu, nguồn và đích nhưng không hề quan tâm tới nơi, thời điểm và đối tượng chịu trách nhiệm
xử lý
Sơ đồ ngữ cảnh ( Context Diagram ) thể hiện rất khái quát nội dung chính của hệ thống
thông tin Sơ đồ này không đi vào chi tiết, mà mô tả sao cho chỉ cần một lần nhì là nhận ra nội dung chính của hệ thống Để cho sơ đồ ngỡ cảnh sáng sủa, dễ nhìn có thể bỏ qua các kho
dữ liệu, bỏ qua các xử lý cập nhật Sơ đồ khung cảnh còn được gọi là sơ đồ mức 0 Đây chính
là mô hình tổng thể về hoạt động của hệ thống thông tin
Phân rã sơ đồ Để mô tả hệ thống một cách chi tiết hơn người ta dùng ký thuật phân rã
( Explosion ) sơ đồ Bắt đầu từ sơ đồ khung cảnh người ta phân rã thành các sơ đồ ở các
mức tiếp theo Các xử lý được chia nhỏ hơn, cơ sở dữ liệu của hệ thống phải được thể hiện trong sơ đồ chi tiết Nhờ kỹ thuật phân rã sơ đồ mà phân tích viên có thể chi tiết hoá các công đoạn hoạt động của hệ thống
c/ Thiết kế logic
Giai đoạn thiết kế logic nhằm mục tiêu xác định một cách chi tiết và chính xác cái gì mà
hệ thống mới phải làm để đạt các mục tiêu đã được thiết lập từ giai đoạn phân tích chi tiết
Trang 6mà vẫn luôn tuân thủ những ràng buộc của môi trường Sản phẩm của quá trình này là các
sơ đồ DFD, các sơ đồ cấu trúc dữ liệu DSD ( Data Structure Diagram ), các sơ đồ phân tích
tra cứu và các phích logic của từ điển hệ thống.
Thiết kế cơ sở dữ liệu và tính toán nhu cầu bộ nhớ
Thiết kế cơ sở dữ liệu xác định yêu cầu thông tin của của người sử dụng hệ thống thông tin mới Tồn tại nhiều phương pháp thiết kế cơ sở dữ liệu khác nhau, nhưng có 2 phương pháp được dùng phổ biến là : Thiết kế cơ sở dữ liệu từ các thông tin đầu ra và thiết kế cơ sở
dữ liệu logic bằng phương pháp mô hình hoá.
Thiết kế CSDL đi từ các thông tin ra : là phương pháp xác định các tệp cơ sở dữ liệu trên
cơ sở các thông tin ra của hệ thống Các bước thực hiện khi thiết kế CSDL đi từ các thông tin đầu ra :
Xác định các đầu ra : liệt kê tất cả các thông tin ra của hệ thống, nội dung
tần suất và nơi nhận của chúng
Xác định các tệp cần thiết cung cấp đủ dữ liệu cho việc tạo ra từng đầu ra của hệ thống : Liệt kê các phần tử thông tin trên đầu ra, thực hiện chuẩn hoá mức 1 ( 1.NF ), thực hiện chuẩn hoá mức 2 ( 2.NF ), chuẩn hoá mức 3 (3.NF)
, mô tả các tệp cơ sở dữ liệu
Thiết kế CSDL bằng phương pháp mô hình hoá: Để sử dụng phương pháp thiết kế cơ sở
dữ liệu bằng phương pháp mô hình hoá người ta đưa ra các khái niệm :
Thực thể ( Entity ) Thực thể trong mô hình logic dữ liệu được dùng để biểu diễn những
đối tượng cụ thể hoặc trừu tượng trong thế giới thực mà người ta muốn lưu trữ thông tin
về chúng Để biểu diễn một thực thể người ta sử dụng hình sau :
Liên kết ( Association ), một thực thể không tồn tại độc lập với các thực thể khác, mà
chúng có mối liên hệ qua lại với nhau Khái niệm liên kết hay quan hệ dùng để trình bày, thể hiện những mối liên hệ tồn tại giữa các thực thể Để biểu diễn mối liên hệ ta dùng hình sau :
Số mức độ liên kết : Để thiết kế tốt các sự trợ giúp quản lý của hệ thống thông tin, ngoài việc biểu diễn thực thể này liên kết với thực thể khác ra sao, còn phải biết có bao nhiêu lần xuất của thực thể A tương tác với mỗi lần xuất của thực thể B và ngược lại Có các loại liên kết của thực thể :
+ Liên kết Một – Một : Một lần xuất của thực thể A chỉ liên kết với 1 lần xuất của thực thể B và ngược lại.
Tên thực thể
Liên kết
Trang 7+ Liên kết Một – Nhiều : Một lần xuất của thực thể A liên kết với một hay nhiều lần xuất của B, mỗi lần xuất của thực thể B chỉ liên kết với duy nhất một lần xuất của thực thể A.
+ Liên kết Nhiều – Nhiều : Một lần xuất của thực thể A liên kết với nhiều lần xuất của thực thể B và ngược lại.
Khả năng tuỳ chọn liên kết, có những trường hợp lần xuất của A không không tham gia vào liên kết giữa thực thể
A và B, trong trường hợp này gọi là liên kết tuỳ chọn, người ta dùng hình ô van nhỏ để biểu diễn thực thể liên kết.
Thực thể khái quát : Khái quát hoá thực thể là tạo ra cấu trúc thứ bậc trong các thực thể,
có những thực thể chung và những thực thể bộ phận
Chuyển sơ đồ liên kết thực thể sang sơ đồ cấu trúc dữ liệu ( DSD ) Từ sơ đồ liên kết thực thể ta phải chuyển đổi sang sơ đồ cấu trúc dữ liệu Chuyển các quan hệ Một – Một, quan hệ Một – Nhiều, quan hệ Nhiều – Nhiều, chuyển từ thực thể khái quát.
Thiết kế xử lý logic và tính khối lượng xử lý
Các sơ đồ logic của xử lý xhỉ làm rõ những quan hệ có tính chất ngữ nghĩa của các dữ liệu
mà không quan tâm tới những yếu tố mang tính tổ chức Thiết kế xử lý logic được thực hiện thông qua phân tích tra cứu và phân tích cập nhật.
Phân tích tra cứu : Phân tích tra cứu là tìm hiểu xem, bằng cách nào có thể có được
những thông tin đầu ra từ các tệp đã được thiết kế trong phần thiết kế CSDL.
Phân tích cập nhật : Thông tin trong cơ sở dữ liệu phải thường xuyên được cập nhật đảm bảo CSDL phản ánh được tình trạng mới nhất của các đối tượng mà nó quản lý Phân tích
cập nhật phải thông qua các bước sau : Lập bảng sự kiện – cập nhật, xác định các cách thức hợp lý hoá dữ liệu cập nhật.
Tính toán khối lượng xử lý tra cứu và cập nhật : một xử lý trên sơ đồ con logic được phân
rã thành các thao tác xử lý cơ sở hay xử lý cập nhật Để tính toán khối lượng hoạt động của các thao tác xử lý cơ sở đó về theo khối lượng xử lý của một thao tác được lựa chọn làm đơn vị.
d/ Thiết kế vật lý ngoài
Thiết kế vật lý ngoài là mô tả chi tiết các phương án của giải pháp đã được lựa chọn.
Thiết kế chi tiết vào/ra : Thiết kế khuôn dạng trình bày của các đầu ra và thể thức nhập
tin cho người dùng Các bước thực hiện :
+ Thiết kế vật lý các đầu ra : Lựa chọn vật mang tin, bố trí thông tin trên vật mang, thiết kế trang in ra, thiết kế ra trên màn hình
+ Thiết kế vào : Lựa chọn phương tiện nhập
Trang 8Xử lý
Tiến trình 1
Tiến trình 2
Tiến trình 3
Pha 1 Pha 2 Pha 3
Thiết kế cách thức giao tác với phần tin học hoá Đây chính là công việc thiết kế giao tác
giữa người và máy, nếu việc thiết kế này kém có thể dẫn đến việc hạn chế nhiều tới việc sở dụng của hệ thống.
+ Giao tác bằng tập hợp lệnh
+ Giao tác bằng các phím trên bàn phím
+ Giao tác qua thực đơn ( Menu )
+ Giao tác thông qua các biểu tượng.
e/ Triển khai hệ thống thông tin
Thiết kế vật lý trong
Thiết kế vật lý trong nhằm mục đích đảm bảo độ chính xác của thông tin và làm hệ thống mềm dẻo, ít chi phí.
Thiết kế cơ sở dữ liệu vật lý trong Thiết kế cơ sở dữ liệu trong nhằm mục đích tìm cách
tiếp cận với dữ liệu nhanh và hiệu quả Có 2 phương thức quan trọng để đạt được mục đích trên là chỉ số hoá các tệp và thêm dữ liệu hỗ trợ các tệp
Thiết kế vật lý trong các xử lý Để thực hiện tốt các các thiết kế xử lý cho phép viết tốt các chương trình sau này IBM đã đưa ra phương pháp IPT-HIPO ( Improved Programming
Technoloies Hierachical Input Proces Output ) kỹ thuật phát triển chương trình phân cấp
theo Vào – Xử lý – Ra Khi thiết kế chương trình ta cần phải chú ý tới các khái niệm sau :
+ Sự kiện ( Evenement ) là một việc thực khi đến nó làm khởi sinh việc thực hiện một
hoặc nhiều xử lý nào đó.
+ Công việc ( Operation ) Là dãy xử lý có chung sự kiện khởi sinh
+ Tiến trình ( Process ) là dãy các công việc mà các xử lý bên trong của nó nằm trong
cùng một lĩnh vực nghiệp vụ.
+ Pha xử lý Là tập hợp các nhiệm vụ có tính đến các yếu tố tổ chức và thực hiện chúng
Ta có thể phân bổ các xử lý như sau :
Trang 9
+ Module xử lý Là một xử lý cập nhật hoặc tra cứu bên trong của xử lý Trong khi xây dựng chương trình người ta thường xác định các module xử lý, sau đó phân nhỏ các môdule đó ra
để tiện cho việc xử lý, dễ dàng kiểm tra, có thể dùng chung trong các xử lý Quá trình như vậy được gọi là quá trình phân cấp các module Cần phải dùng sơ đồ phân cấp để nối các module để tạo thành một hệ thống nhất Trong quá trình thiết kế chương trình người ta có thể thực hiện bằng các phương pháp :
• Thiết kế từ dưới lên ( Botton Top Design ), là phương pháp thiết kế từng module
nhỏ sau đó tích hợp chúng lại thành các module lớn hơn và cuối cùng là tích hợp các module lớn hơn đó thành chương trình.
• Thiết kế từ trên xuống ( Top Down Design ) Đây là phương pháp thiết kế mà đẩu
tiên người ta thiết kế hệ thống các chức năng sau đó đi vào thiết kế từng chức năng nhỏ một
Lập trình Sau khi đã thiết kế vật lý trong xong công việc tiếp theo cần tiến hành là lập trình, để xây dựng chương trình máy tính Đây là công việc dành cho các lập trình viên Họ phải xây dựng hoàn chỉnh một phần mềm máy tính cho hệ thống thông tin Phẩn mềm này phải đảm bảo rằng các chương trình phải phủ hợp hoàn toàn với các đặc tả thiết kế Lập trình viên sẽ lập trình từng module theo như thiết kế của phân tích viên Công việc lập trình cũng có thể tuân theo quy tắc lập trình từ trên xuống hay từ dưới lên tuỳ theo thiết kế của phân tích viên Thực tế của công đoạn lập trình chính là chuyển đổi các thiết kế vật lý của phân tích viên hệ thống thành các chương trình phần mềm máy tính.
Thử nghiệm chương trình Sau khi chương trình đã được các lập trình viên hoàn thành,
nó cần phải được thử nghiệm nhằm kiểm tra xem nó có đạt được các yêu cầu mà hệ thống đưa ra hay không, phát hiện các lỗi trong quá trình vận hành để tìm cách khắc phục.
Ngoài ra trong quá trình phát triển hệ thống thông tin, người ta còn tiến hành các công đoạn nữa như : cài đặt và vận hành, đào tạo sử dụng, bảo trì…
Trang 10II- YÊU CẦU CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG
Ngân hàng là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của nền kinh tế, nó bao gồm các công việc
liên quan đến tài chính tiền tệ Vai trò của Ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân là vô cùng quan trọng Có người còn ví nó là mạch máu của nền kinh tế, giống như mạch máu trong cơ thể chúng ta Nếu một quốc gia có hệ thống Ngân hàng vững mạnh thì quốc gia đó
sẽ có nền kinh tế phát triển và ngược lại Tuy nhiên hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng lại mang tính rủi ro rất cao, hậu quả của nó tác động rất lớn đến nề kinh tế Nhu cầu áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào ngành Ngân hàng là rất lớn, nhằm giúp cho hệ thống Ngân hàng có thể hoạt động một cách hiệu quả.
1 Công nghệ thông tin đối với hoạt động Ngân hàng
Các hoạt động của Ngân hàng rất phong phú, phức tạp, yếu cầu độ chính xác rất cao mà khả năng làm được việc này của con người rất hạn chế, ngoài ra còn có các hoạt động con người không thể thực hiện được mà phải cần đền các công nghệ hiện đại Xác định đúng được vai trò quan trọng của Ngân hàng đối với nền kinh tế, ngành Ngân hàng luôn chú trọng đầu tư nghiên cứu đổi mới công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Có thể nói hiện nay ngành Ngân hàng là một trong những ngành đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại.
Ngày nay các hệ thống ngân hàng hiện đại đều được nối mạng quốc tế, thông qua hệ thống này mà các ngân hàng có thể thực hịên việc thanh toán quốc tế Mạng thanh toán quốc tế SWIFT là một điển hình của sự phát triển công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng Thông qua mạng này, các ngân hàng có thể thực hiện các cuộc thanh toán quốc tế mà không dùng tiền mặt Nhờ có sự phát triển của công nghệ mà nhiều hoạt động thủ công của ngân hàng đã được thay thế bằng máy tính
Các dịch vụ ngân hàng ngày càng phong phú, đặc biệt là hoạt động ngân hàng thông qua mạng ngày càng phát triển do vậy công nghệ thông tin dành cho nó cũng phải phát triển theo để đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành này.
2 Tình trạng ứng dụng tin học đối với hoạt động tin học ở Việt Nam
Cùng với đà phát triển của nền kinh tế đất nước trong những năm sau đổi mới, ngành ngân hàng của Việt Nam đã có những bước tiến to lớn trong việc huy động và cung cấp vốn cho sự nghiệp phát triển của đất nước Đây là một trong những ngành đi đầu trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động kinh doanh
Một trong những nội dung qua trọng của đổi mới đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại quốc doanh hiện nay là cải tiến, đầu tư, ứng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công Ngân công nghệ vào hoạt động Ngân hàng nhằm cung cấp những sản phẩm dịch vụ tốt nhất cho các khách hàng Đây cũng là một yêu cầu thiết yếu cho hoạt động Ngân hàng ở Việt Nam trước yêu cầu của quá trình hội nhập quốc
tế về Ngân hàng.
Hiện nay, các Ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn đang hoạt động truyền thống là chính, tức là các nghiệp vụ cho vay, nhận gửi, thanh toán chiếm trên 60% doanh số hoạt