Vài nét về sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại Từ nửa sau thế kỷ XX, một nhân tố đã gây nên những biến động chưa từng có trong đời sống con người mà mọi quan điểm chính trị
Trang 1− −
C¬ së ph−¬ng ph¸p luËn nghiªn cøu
vµ ph¸t triÓn v¨n hãa, con ng−êi
vµ nguån nh©n lùc trong ®iÒu kiÖn
kinh tÕ thÞ tr−êng, toµn cÇu hãa
Trang 2nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực
trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Chủ nhiệm: PGS.TS Hồ Sĩ Qúy
ư
ThS Phạm thanh đức PGS.TS Phạm văn đức GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc PGS.TSKH Lương việt hải
TS Dương thị bạch kim TSKH Trịnh thị kim ngọc Nguyễn Hoàng oanh PGS.TS Vũ Hào quang PGS.TS Hồ Sĩ Qúy ThS Nguyễn hòai sanh
TS Nguyễn anh tuấn Nguyễn đình tuấn
TS Lưu minh văn
TS Nguyễn hữu vượng
TS Nguyễn bình yên
∙ Viện Nghiên cứu Con người
Trang 3nghiên cứu và phát triển văn hoá - con người - nguồn nhân lực:
từ lý luận đến thực tiễn Kinh nghiệm thế giới và Kinh nghiệm việt nam
Trang 4I
tiến bộ khoa học – công nghệ
và những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu và phát triển văn hóa - con người - nguồn nhân lực
I 1 Vài nét về sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại
Từ nửa sau thế kỷ XX, một nhân tố đã gây nên những biến động chưa từng
có trong đời sống con người mà mọi quan điểm chính trị - xã hội đều phải thừa nhận - đó là sự tác động mạnh mẽ và sâu rộng của tiến bộ khoa học và công nghệ
Đây là một nhân tố chi phối và quy định sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khác; bởi vậy nó có ý nghĩa đặc biệt đối với sự nghiên cứu và phát triển văn hóa - con người - nguồn nhân lực ở bất cứ nước nào cũng vậy, nhất là đối với những nước
đi sau như Việt Nam, người ta không thể xem nhẹ sự tác động của khoa học và công nghệ đến các qúa trình văn hóa - xã hội: Sự xuất hiện những phát kiến khoa học mới, làn sóng đổi mới công nghệ, sự ứng dụng tri thức và thông tin đó là những yếu tố trực tiếp làm biến đổi bộ mặt của đời sống kinh tế - xã hội
Vấn đề là ở chỗ, sự thâm nhập vào nhau ngày càng sâu giữa các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ, hình thành nên những khoa học và kỹ thuật mới
ở những vùng giáp ranh hoặc liên ngành, tạo nên sự thống nhất giữa khoa học tự nhiên với khoa học xã hội và khoa học nhân văn (với vai trò ngày càng quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn), tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa khoa học cơ bản với khoa học ứng dụng, tạo nên sự đồng bộ giữa qúa trình nghiên cứu với qúa trình triển khai các kết qủa khoa học Khoa học hiện đại là khoa học gắn liền với công nghệ thông tin
Với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ như một xu thế xuyên qua mọi quốc gia (kể cả các quốc gia chậm phát triển), thông tin, tri thức, tay nghề cùng với trí sáng tạo - tưởng tượng, tài năng quản lý, văn hoá, nhân phẩm đã từng bước trở thành nhân tố quan trọng hơn đối với sự phát triển Con người và tri thức ngày càng trở thành một nguồn lực rất cơ bản, quyết định sự đi lên hay thụt lùi của mỗi quốc gia Việc áp dụng các công nghệ viễn thông và công nghệ thông tin
đã có những ảnh hưởng rộng rãi đến các cá nhân, các tổ chức, làm thay đổi phương thức làm việc, học tập và giải trí của con người; làm thay đổi mối quan hệ
Trang 5giữa cá nhân và nhà nước, thay đổi các phương thức thương mại quốc tế cũng như các phương tiện sản xuất trong nền kinh tế, và về lâu dài nó sẽ làm thay đổi sâu sắc hơn nữa các đặc tính văn hóa - giáo dục đã hình thành qua nhiều thế kỷ
Khoa học - công nghệ đã tác động đáng kể đến nền văn hoá và sự giao tiếp xã hội Công nghệ thông tin đã bắt đầu liên kết gia đình, công ty, xí nghiệp, quốc gia, quốc tế thành một mạng lưới làm cho các nhà chiến lược buộc phải ít nhiều thay đổi thái độ của mình đối với thiên nhiên và xã hội, từ các hoạt động sống đến lối sống, từ cách làm việc đến phương thức tiêu thụ Đang hình thành những tiêu chuẩn mới chi phối nghiên cứu, đào tạo, sản xuất chào hàng, chuyển giao công nghệ và các loại dịch vụ khác mà mọi quốc gia đều buộc phải chú ý
Đặc điểm nổi bật của xã hội thông tin là sự phát triển của xã hội không còn dựa chủ yếu vào các nguồn dự trữ tự nhiên như trong xã hội công nghiệp mà chủ yếu dựa vào những nguồn lực có yếu tố tri thức, có khả năng tái tạo, tự sinh sản
và không bao giờ cạn.Nhờ cách mạng khoa học - công nghệ, nền sản xuất xã hội
đã thay đổi rất nhiều, mở ra cho các quốc gia sự tìm kiếm cách thức phát triển mới không nhất thiết phải dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như trước kia Ngày nay, không nhất thiết phải có tiềm năng tự nhiên to lớn các quốc gia mới có thể phát triển được Người ta chú ý hơn đến các nguồn lực có khả năng tái sinh và tự sinh sản Thông tin và tri thức trở thành yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất, quản lý; đó là công cụ để sáng tạo của cải, là chìa khoá của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Rõ ràng, cách mạng khoa học và công nghệ là một nhân tố có ý nghĩa quan trọng, quyết định khả năng phát triển rút ngắn, đi tắt và đón đầu cho các quốc gia
đang phát triển Khả năng ấy phụ thuộc nhiều vào chính sách và giải pháp xử lý vĩ mô sự tác động của khoa học và công nghệ đối với quan hệ văn hóa - con người - nguồn nhân lực
Tầm quan trọng của chính sách và giải pháp xử lý vĩ mô thể hiện ở chỗ, khoa học và công nghệ không phải không có mặt trái của nó Do những nguyên nhân chính trị - xã hội phức tạp khác nhau, khi thúc đẩy qúa trình chuyển các xã hội từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh cao hơn, khoa học và công nghệ hiện đại đã đồng thời làm tăng thêm khoảng cách giữa các nước phát triển
và các nước đi sau, giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo Cơ hội để hội nhập và tránh tụt hậu mở ra đối với đa số các nước nhưng
có thể cũng khép lại hay nói chính xác hơn, chỉ trở thành hiện thực với những nước có sự quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ sáng suốt Hơn thế nữa, cùng với khoa học và công nghệ hiện đại, vũ khí giết người hàng loạt đã ngày
Trang 6càng tinh vi hơn, nhiều ngành công nghệ phát triển bằng cách bóc lột tài nguyên ngày càng dữ dội hơn, thị trường ảo, nền kinh tế ảo xuất hiện và đã ít nhiều tác
động tiêu cực tới mọi nền văn hóa, nhất là những nền văn hóa không có bề dày truyền thống Tình trạng đói nghèo, suy thoái xã hội và cạn kiệt tài nguyên - ba
căn bệnh của xã hội hiện đại đều có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp nằm ở chính sách và giải pháp xử lý vĩ mô sự tác động của khoa học và công nghệ đối với quan hệ văn hóa - con người - nguồn nhân lực
Ngoài ra, thành quả của cách mạng khoa học và công nghệ cũng do khâu quản lý lại được sử dụng một cách khá lãng phí Trên thực tế, những phát minh, sáng chế mới chỉ được vận dụng một phần trong cuộc sống, có những nhà nghiên cứu đánh giá rằng phần ấy là dưới 50 % Con người chưa dùng được bao nhiêu những khả năng mà chính con người đã tìm thấy và có thể làm ra được, trong khi
đó con người lại đầu tư không ít vào việc khai thác một cách phi nhân bản những thành tựu ấy để phục vụ những mưu đồ thống trị con người
Nhiều ý kiến cho rằng, việc “phân phối” thành quả cách mạng khoa học và công nghệ là một trong những sự bất công lớn nhất của loài người và điều đó đã gây nhiều hậu quả tai hại 1 Quá nửa số bằng phát minh, sáng chế của thế giới là ở nước Mỹ; công nghiệp phần mềm của Hoa Kỳ chiếm gần 50% thị trường tin học toàn cầu; mạng Internet được tiếng là nối mạng cho con người khắp hành tinh, song thực tế mới có khoảng 150 triệu người (trong số gần 7 tỷ người sống trên trái
đất) sử dụng, 93,3 % số người sử dụng thuộc loại người giàu, còn chỉ 0,2 % số người sử dụng thuộc loại người nghèo Sự “phân phối rất bất công” thành quả cách mạng khoa học và công nghệ là do chính sách của một số cường quốc, do sự cách biệt quá xa giữa các nước về trình độ phát triển kinh tế, xã hội, dân trí và con người, đồng thời cũng do sự đúng hay sai của các chính sách quốc gia về quản lý khoa học và công nghệ
I 2 Những thành tựu chính của khoa học và công nghệ hiện đại
I.2.1 Đầu tiên phải kể đến tin học Sự bùng nổ của cách mạng tin học nửa
cuối thế kỷ XX đã làm mở rộng phạm vi, chất lượng, vai trò và khả năng của
thông tin trong không gian sống của con người Trên cơ sở cách mạng tin học, nhiều khoa học và nhiều hoạt động sống đã có sự thay đổi về chất John L Petersen, nhà tương lai học nổi tiếng người Mỹ nhận xét: “Nếu bạn là người trưởng thành, trong cuộc đời bạn, khoa học đã rút ra được nhiều điều về bản chất
1 Xem: Globalization with a human face UNDP (1999) Human Development Report 1999
New York, Oxford University Press, tr 3-4
Trang 7của mọi thứ hơn so với 5000 năm trước khi bạn sinh ra” 2 Sự thay đổi đó đã trực tiếp nâng cao trình độ sống và vị thế của con người (nên chú ý rằng, cho đến nay,
xu hướng biến đổi của con người trong thế giới nói chung, không phải là biến đổi
về cơ thể sinh học, cũng không phải là biến đổi về bản chất con người, mà là biến
đổi về trình độ sống và vị thế của con người; Steven Pinker, giám đốc Trung tâm
các khoa học thần kinh Cambridge, Mỹ cho rằng, ngày nay trên thế giới đang diễn ra “cuộc cách mạng về địa vị con người”3)
I.2.2 Cùng với tin học, cách mạng sinh học tuy mới chỉ là bắt đầu, song đã
tạo ra bước tiến vượt bậc trong các khoa học y - sinh, hoá - sinh và sinh - tin học (Bioinformatics), bao gồm:
• Những khám phá mới về não bộ đã làm con người hiểu biết hơn rất nhiều về cơ chế của tư duy người và những bệnh tật có căn nguyên từ
não người
• Những tiến bộ trong công nghệ gen đã tạo ra cuộc cách mạng về lương thực, thực phẩm Đặc biệt, vào cuối thế kỷ, bản đồ gen người đã được công bố; người ta coi đây là “chiếc bản đồ kỳ diệu nhất trong lịch sử nhân loại” (Bill Clinton, cựu Tổng thống Mỹ), con người “đã học được thứ ngôn ngữ mà nhờ nó Thượng đế đã tạo ra cuộc sống.” (Francis
Collins, giám đốc Chương trình nghiên cứu gen người - Human genome Project, Mỹ)
• Cùng với những khám phá về gen, về não, về tim, v.v , những hiểu biết
về cơ chế bên trong và bên ngoài của tật bệnh đã giúp con người phát hiện được nguyên nhân của nhiều căn bệnh
• Đặc biệt, các phát minh thuốc chữa bệnh đã có bước tiến kỳ diệu trong thế kỷ XX Đến cuối thế kỷ, nhiều căn bệnh hiểm nghèo đã có thể chữa
được Thái độ của con người đối với nhiều căn bệnh đã khác hẳn trước
đây
• Do tiến bộ về mức sống, tuổi thọ con người không ngừng được nâng lên; những người có tuổi thọ vượt quá giới hạn 70 không còn là phi thường nữa (ở phương Đông, quan niệm chung về tuổi thọ được thừa nhận là
2 John L Petersen (2000) Con đường đi đến năm 2015 Nxb CTQG Hà Nội, tr 21
3Bản chất con người sẽ vẫn không thay đổi Báo Quốc tế 9-15/10/2000
Trang 8“nhân sinh thất thập cổ lai hy- Đỗ Phủ; ở phương Tây, giới hạn tuổi thọ ghi trong Kinh thánh cũng ghi rõ là 70 tuổi 4)
I.2.3 Những thành tựu của y - sinh và hoá - sinh cùng các thành tựu khác
của cách mạng khoa học và công nghệ đã đặt lại những vấn đề khoa học về con người:
• Vấn đề nguồn gốc con người và loài người: có sự đối lập gay gắt giữa học thuyết của Alan Wilson (người hiện đại xuất hiện đột ngột từ một quần thể nhỏ sống cách đây khoảng 100.000 năm ở châu Phi) và học thuyết của Milford Wolpof (hơn 1.500.000 năm trước, những họ Erectus, Sapien và Neandertan đã có trao đổi gen với nhau và sau sự biến
động lớn của khí hậu khoảng 100.000 năm cách đây, người hiện đại định hình và dần lan ra khắp thế giới) 5
• Con người là gì?- câu hỏi đầy bí ẩn đặt ra từ thời cổ đại ngày càng cuốn hút trí tuệ nhân loại: là sản phẩm thụ động của quá trình tổ hợp gen hay vẫn là thực thể xã hội? Vấn đề bản chất con người: công nghệ, kỹ thuật
có làm thay đổi bản chất con người hay không? Trí thông minh, vốn hiểu biết, đạo đức con người, giá trị con người liệu có thể được phát triển bằng công nghệ gen hay bằng những biện pháp kỹ nghệ tương tự? Hay những phẩm chất người vẫn buộc phải phát triển trong và thông qua các quan hệ xã hội? 6
• Sự tiến bộ của khoa học ngày càng làm tăng thêm nhu cầu khám phá khả năng kỳ diệu của con người Mối quan hệ bí ẩn giữa tâm hồn và thể xác? Vấn đề thế giới tâm linh? Vấn đề số phận con người? Đâu là giới hạn sức mạnh của ý thức con người?
I.2.4 Những thành tựu của khoa học thế kỷ XX, đặc biệt là các khoa học về
vũ trụ đã làm cho vốn tri thức của con người về nguồn gốc trái đất và nguồn gốc
sự sống phong phú hơn trước rất nhiều Con nguời đã có thêm căn cứ để hoài nghi
liệu trái đất có phải là hành tinh duy nhất có sự sống và liệu con người có phải là sinh vật duy nhất có trí tuệ trong vũ trụ này?
I.2.5 Thế kỷ XX cũng được coi là thế kỷ phát hiện ra vai trò nhân tố văn
hóa Trong việc này, công lao của UNESCO được đánh giá là rất có ý nghĩa Đến
4 Xem: Rosalyn S Yalow (1988) Khoa học và kỹ thuật phục vụ con người Thông tin UNESCO
số 5, tr.7
5 Xem: Nouvel Observateur 2001, No 01
6 Luc Ferry, Jean-Didier Vincent (2001) Qu’ect-ce que L’homme Poches Odile Jacob Paris
Trang 9cuối thế kỷ, cùng với khoa học và các động lực khác, văn hoá, mà đặc biệt là văn hoá của các dân tộc có bề dày lịch sử được thừa nhận là một động lực của sự phát
triển (khoa học không phải mọi lúc mọi nơi đều là công cụ hữu hiệu để giải quyết các vấn đề xã hội) F Mayor, cựu giám đốc UNESCO nhận xét, từ chỗ văn hoá chỉ được coi là “một thứ trang trí”, ngày nay, văn hoá đã được nhìn nhận là “nền tảng và linh hồn của cuộc phiêu lưu của con người Trước kia người ta coi nó là thứ yếu, ngày nay người ta bắt đầu nhận ra nó là cốt lõi của vấn đề” 7 Thậm chí, Samuel P.Huntington, một giáo sư nổi tiếng người Mỹ, người khởi xướng chủ thuyết “sự đụng độ giữa các nền văn minh” còn cho rằng: “Các ranh giới quan trọng nhất chia rẽ loài người và nguồn gốc bao trùm của các xung đột sẽ là văn hoá Ranh giới giữa các nền văn minh sẽ là chiến tuyến của tương lai” 8
I.2.6 Từ những năm 70 của thế kỷ XX, sau tiếng chuông cảnh tỉnh của câu
lạc bộ Rôma về “những giới hạn của sự tăng trưởng”, loài người đã ý thức sâu sắc hơn về nguy cơ khủng hoảng sinh thái do chính quá trình con người bóc lột môi trường gây ra Khởi đầu từ đó, cộng đồng quốc tế đã có nhiều hoạt động nhằm làm thay đổi nhận thức và hành động của con người đối với môi trường Khoa học
đạo đức môi sinh (environmental ethics) được định hình và được đặc biệt chú ý
Loài người đã dần trở về với quan điểm con người cần phải sống hài hoà với tự nhiên (con người với giới tự nhiên là một - Ph Ăngghen, thiên nhân hợp nhất -
Khổng tử, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người - C Mác9)
I.2.7 Cuối thế kỷ XX, khoa học về tương lai (một phương án khác của
khoa học mới về con người) đã xuất hiện Triết lý chỉ đạo của khoa học này là: con người cần phải thích nghi với tương lai, nghĩa là muốn có sự phát triển trong tương lai con người cần phải biết chuẩn bị và thích ứng với nó ngay từ hiện tại Gơni, chủ tịch hội futurology Mỹ, một trong những người nhiệt thành cổ vũ cho
khoa học về tương lai cảnh báo: “Từ khi có lịch sử đến nay, đại bộ phận các học
giả cùng biểu hiện chung một đặc trưng: coi thường hiện thực và tương lai” Nhằm hạn chế lệch lạc này, hơn một thập niên gần đây, các nhà khoa học Mỹ đã thiết kế nhiều phương án khác nhau cho môn học khoa học về tương lai với các
đơn nguyên có nội dung rất hiện đại và bổ ích Hiện nay, một số giáo trình đã
được giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Mỹ Các giáo trình này đều đi theo hướng chú trọng hơn đến vai trò và địa vị của con người 10
7 F Mayor (1994) Ban đầu và cuối cùng là văn hoá Người đưa tin UNESCO số 10, tr 35
8 Samuel P Huntington (1993), The clash of civilizations Foreign Affairs Summer 1993, vol
72, n.3, p 22 (28), www.alamut.com/subj /economic/ misc/clash.html
9 Xem: Hồ Sĩ Qúy (chủ biên, 2000) Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội Nxb KHXH Hà Nội
10 Xem: Dự báo thế kỷ XXI (1998) Nxb Thống kê Hà Nội, tr 691- 699
Trang 10I.2.8 Trong thế kỷ XX, con người một lần nữa được coi là chiếm vị trí
trung tâm của sự phát triển (không phải theo tinh thần anthropocentrisme, một tư
tưởng có nguồn gốc Kitô giáo, mà theo quan điểm hiện đại được UNDP thừa nhận
từ đầu thập kỷ 90): con người đóng vai trò quyết định ở cả “đầu vào”, ở cả “đầu ra” và trong toàn bộ quá trình phát triển ở “đầu vào” nhân tố quyết định sự phát
triển là vốn con người, tiềm năng con người ở “đầu ra”, mục tiêu của sự phát
triển là chất lượng sống, phát triển con người, hạnh phúc con người Trong suốt
quá trình phát triển, nhân tố quyết định là nguồn nhân lực, là nguồn lao động, con
người là động lực của sự phát triển
I.2.9 Với sự gia tăng vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong thế kỷ
XX, sự tha hoá của con người trong xã hội hiện đại được nhìn nhận một cách sâu sắc hơn: tiến bộ xã hội phải chăng không tránh khỏi bất công, bất bình đẳng, phân hoá xã hội và tha hoá? Những căn bệnh của xã hội hiện đại là tất nhiên hay có thể tránh được?
Đánh giá tổng quát về những tiến bộ khoa học - công nghệ đã đạt được trong thế kỷ XX, tại Hội nghị quốc tế chuyên bàn về những vấn đề khoa học do UNESCO tổ chức tại Hungari, tháng 6/1999, cộng đồng thế giới đã ra Tuyên bố
về những trách nhiệm mới của khoa học; trong đó có đánh giá rất cao những đóng
góp của khoa học và công nghệ cho tiến bộ của loài người Tuyên bố này nêu rõ: tri thức khoa học thế kỷ XX đã đem lại “những kết quả có lợi ở mức cao nhất” cho con người Bệnh tật đã được khống chế ở mức đáng mừng Sản xuất nông nghiệp đã cho phép số dân tăng đáng kể Nguồn năng lượng cho đời sống tăng kỳ diệu Phần lớn lao động nặng nhọc được giải phóng Các thế hệ người ngày nay
được hưởng “một phổ lớn” các sản phẩm công nghệ và công nghiệp so với cha anh họ Tri thức về nguồn gốc vũ trụ, về nguồn gốc sự sống, về nguồn gốc con người và loài người đã cho phép con người có những cách tiếp cận mới đối với các vấn đề của cuộc sống Khoa học “đã tác động sâu sắc tới hành vi và triển vọng” của chính con người 11
I.3 Sự tác động trực tiếp của khoa học và công nghệ hiện đại tới nghiên cứu và phát triển văn hóa - con người nguồn nhân lực
I.3.1 Khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Mặc dù nhiều nước và nhiều tổ chức xã hội đang gay gắt lên án tình trạng
có quá ít người được trực tiếp hưởng thành quả của cách mạng khoa học - công
11 Xem: Tuyên bố của Hội nghị thế giới “khoa học cho thế kỷ XXI: Những trách nhiệm mới”
Tạp chí Thông tin KHXH số 5, 2000 tr 36-45
Trang 11gnhệ, song dẫu sao vẫn phải thấy rằng, từ Đông sang Tây, dù ở nước phát triển hay ở nước chậm tiến, đâu đâu con người cũng cảm nhận được sự biến đổi mau chóng của khoa học và công nghệ Những thành tựu khoa học mới và những ứng dụng kỹ thuật mới đang hàng ngày hàng giờ xuất hiện, làm cho mọi sự thống kê
và mô tả đều trở nên không đầy đủ Với thế kỷ XXI, dự báo của C Mác về khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đã được thực tế chứng minh một cách
thuyết phục
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học và công nghệ thế giới đã vận
động trong xu thế đổi mới với một tốc độ vô cùng nhanh chóng; thậm chí nhanh chóng đến mức được nhiều người coi là vượt quá khả năng tiếp nhận của phần lớn cư dân Xu thế này được hình thành dựa trên các điều kiện cơ bản: Những thành tựu to lớn của công nghệ thông tin; sự phát triển đa dạng của các qúa trình nghiên cứu liên ngành; sự thay đổi rất nhanh các nhu cầu tiêu dùng; sự cạnh tranh khốc liệt của mọi ngành sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế toàn cầu hóa; nhu cầu sử dụng khoa học để khẳng định vị thế của các quốc gia trong trật tự thế giới mới
I.3.2 Tác động nhiều mặt của khoa học và công nghệ tới con người và xã hội
Nhờ tiến bộ khoa học và công nghệ một xu thế quan trọng đang được khẳng định trong quá trình sản xuất, đó là lao động của con người trực tiếp tác
động đến sản phẩm vật chất ngày càng chiếm tỷ lệ ít đi trong toàn bộ quá trình lao động - sản xuất
Với quá trình tự động hóa sản xuất, tương quan giữa lao động gián tiếp và lao động trực tiếp sẽ thay đổi nhanh hơn và vì thế, bản chất của lao động cũng biến đổi sâu sắc Người lao động trước đây bị gắn chặt vào máy móc, nay chuyển sang thực hiện chức năng mới, chức năng điều khiển thiết bị tự động, kiểm tra chất lượng và kiểm tra sự ổn định của hệ thống tự động hóa, còn những công đoạn trực tiếp sản xuất thì do máy hoặc người máy thực hiện Đương nhiên, hiệu quả sản xuất nói chung phụ thuộc vào quyết định của con người
Xu thế là giảm lao động chân tay, lao động dây chuyền và tăng lao động có hàm lượng trí tuệ, lao động với máy móc tự động hóa, với quá trình tự động hóa
xử lý thông tin
Những biến đổi to lớn trong hệ thống sản xuất, trong ứng dụng các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ sẽ dẫn đến việc sắp xếp lại lao động, nâng cao tay nghề, đào tạo lại, và giảm biên chế lao động
Theo đà phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ , các quốc gia
đều tiến hành điều chỉnh lại cơ cấu quản lý các ngành trong nền kinh tế nhằm tạo
Trang 12độ thích nghi cao, tăng thế mạnh cạnh tranh quốc gia trong khu vực và trên thế giới Định hướng chính trong việc cấu trúc lại các nền kinh tế nhằm nâng cao và giữ được địa vị dẫn đầu của các ngành kinh tế dựa trên các công nghệ có hàm lượng chất xám cao và lấy nguồn trí lực làm cơ sở; nâng cao tỷ lệ đóng góp của lĩnh vực dịch vụ vào thu nhập quốc nội
Dưới tác động của khoa học - công nghệ hiện đại, văn hóa, con người, nguồn nhân lực trở thành những thành tố của một quá trình thống nhất Một chiến lược quản lý có hiệu quả trong xã hội hiện đại phải là một chiến lược huy
động được tối đa năng lực của con người, trước hết là người lao động, tạo ra được những nếp văn hóa thích hợp giúp con người tăng khả năng cảm nhận và phản ứng thích nghi với môi trường đầy biến động, nhằm làm cho xã hội đi vào quỹ đạo của xu hướng phát triển bền vững
I.3.3 Tác động nhiều mặt của khoa học và công nghệ tới văn hóa và đời sống văn hóa
Yếu tố bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững mà yêu cầu cao nhất là phát triển bền vững về con người chính là xu thế văn hóa ngày nay đã được tính đến ngay từ khi xuất hiện ý niệm mới về quy trình khoa học - công nghệ hiện
đại và trên thực tế đang là áp lực của khoa học - công nghệ hiện đại đối với đời sống
Trong điều kiện nền kinh tế mở toàn cầu, mạng thông tin Internet được sử dụng phổ cập, các quốc gia, các ngành sản xuất phát triển trong mối liên quan và tương tác chặt chẽ với nhau, định hướng văn hóa buộc phải được quan tâm ngay
từ khi xuất hiện ý tưởng khoa học và triển khai công nghệ Khoa học và công nghệ luôn luôn phát triển trong một môi trường kinh tế - xã hội nhất định và đếm lượt mình, nó lại tác động ngược trở lại ngày càng mạnh đến văn hóa, các giá trị xã hội và con người, làm biến động các giá trị đã được hình thành từ truyền thống, tạo ra những giá trị mới, làm phong phú nền văn hóa, đời sống văn hóa
Như vậy, gần như bất kể thành tựu nào của khoa học và công nghệ cũng
đều trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của văn hóa và đời sống văn hóa Tuy nhiên, có những thành tựu không mang lại cho đời sống văn hóa những biến đổi mong muốn về mặt xã hội và nhân văn Đây là đòi hỏi phức tạp của xã hội hiện đại đặt ra đối với công tác nghiên cứu và phát triển văn hóa - con người - mguồn nhân lực
Vì mục tiêu phát triển bền vững, việc sử dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phải được định hướng rõ nét trong việc đảm bảo giữ vững các giá trị tốt đẹp của truyền thống, định hướng sử dụng các công nghệ có khả năng tiết kiệm tài
Trang 13nguyên, tái tạo các tài nguyên, thăm dò phát hiện các tài nguyên mới, sử dụng các phế thải công - nông nghiệp, không gây ô nhiễm môi trường, nhằm đảm bảo sự sinh tồn bền vững của các thế hệ hiện nay và mai sau
Trong điều kiện toàn cầu hóa, tiến bộ khoa học và công nghệ luôn gắn liền với một mô thức văn hóa sản xuất và tiêu dùng cụ thể, cũng như tiêu biểu cho một trình độ nhất định về phát triển nguồn nhân lực, vì vậy trong quá trình tiếp nhận, chuyển giao công nghệ phải luôn xem xét tính phù hợp và tính định hướng văn hóa của các thành tựu khoa học và công nghệ Toàn cầu hoá về văn hóa là có thực
và xu hướng này luôn ẩn nấp (vô tình hoặc hữu ý) đằng sau các quy trình chuyển giao công nghệ, các thiết chế kinh tế xuyên quốc gia, các hợp tác đa phương, các
đề án đầu tư, hỗ trợ kinh tế - khoa học - giáo dục, v.v
I.3.4 Vai trò ngày càng tăng của giáo dục và đào tạo trên cơ sở cách mạng khoa học và công nghệ
Do tác động sâu rộng của khoa học và công nghệ, trong bối cảnh một thế giới bùng nổ thông tin, cạnh tranh để phát triển, lượng tri thức đang tăng lên gấp bội Nhiều khái niệm, phương thức hoạt động đang thay đổi hàng ngày, kể cả phương thức tư duy, phương thức ra quyết định và phương thức học tập Trong khi
đó, thời gian vật chất của cuộc sống con người dường như ngày càng eo hẹp hơn
Do vậy, muốn tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại buộc phải học tập không ngừng để thích nghi cao độ với những biến động và do đó, xã hội trong thế kỷ XXI sẽ luôn là xã hội hướng tới học tập không ngừng, học tập ở khắp mọi nơi và bằng mọi phương tiện: ở trường học, ở công sở, tại xí nghiệp, ở gia
đình, bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, và đặc biệt là bằng các mạng lưới cơ sở dữ liệu, các mạng thông tin Intranet, Internet
Tiến bộ khoa học và công nghệ đã làm cho các nền giáo dục mang tính truyền thống, khép kín phải biến đổi dần trở thành hệ thống mở, đa dạng, linh hoạt và mang tính hiện đại trên cơ sở của nền văn hóa đương đại
Tính mở, đa dạng và tính linh hoạt được thể hiện ở phương thức tổ chức
giáo dục, ở phạm vi và quy mô giáo dục, ở quan điểm, chương trình giảng dạy và việc định hướng, gợi mở tư duy cho người học
Tính hiện đại thể hiện ở mức độ thường xuyên cập nhật tri thức và hiện đại
hóa các phương tiện đào tạo
Tính đa dạng của giáo dục không chỉ thể hiện ở nội dung, phương thức giáo
dục, mà còn thể hiện ở phạm vi quan tâm: chẳng những mỗi cá thể, mỗi gia đình,
Trang 14mỗi quốc gia quan tâm đến giáo dục, mà các xí nghiệp, các doanh nghiệp sử dụng lao động cũng trực tiếp phải quan tâm đến giáo dục
Xu thế đào tạo nguồn nhân lực có khả năng sáng tạo cao hơn với định hướng nhân văn sẽ là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo và được thể
hiện trong các nội dung chủ yếu sau đây:
- Đảm bảo kiến thức nền tảng tối thiểu cần thiết
- Tạo ra những phương pháp tư duy có ý nghĩa chung, có thể áp dụng cho
nhiều lĩnh vực khác nhau
- Cung cấp cho người học những khả năng lao động sáng tạo với định
hướng nhân văn
- Cung cấp cho người học những khả năng thích nghi cao với những biến
động; khả năng đổi mới tư duy; khả năng độc lập ra quyết định với tầm nhìn mang tính chiến lược
Ngày nay, các quốc gia đều tiến hành xây dựng chiến lược phát triển trên cơ sở huy động tối đa năng lực nội sinh, tạo những khả năng văn hóa (yếu tố tri thức, trí tuệ) và khả năng xã hội (phản ứng thích nghi với cơ cấu và tổ chức xã hội hiện đại) trong môi trường toàn cầu hóa đầy biến động Tiềm lực khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực được đào tạo, có tri thức sẽ là thế mạnh không gì
thay thế được, góp phần tạo lập năng lực quốc gia trong quá trình cạnh tranh và hội nhập
Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, yếu tố quan trọng bậc nhất của mỗi quốc gia là nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng cao Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, cũng như cho công tác giáo dục - đào tạo
có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo khả năng cạnh tranh của một nước Một đơn vị tiền tệ đầu tư cho nghiên cứu, giáo dục - đào tạo có thể sẽ mang lại lợi nhuận lớn gấp nhiều lần đầu tư trực tiếp cho nền kinh tế
Và đó là bài toán đặt ra cho việc nghiên cứu và phát triển văn hóa - con người - nguồn nhân lực
Trang 15II
toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - bối cảnh và điều kiện của nghiên cứu và phát triển
văn hóa - con người - nguồn nhân lực
II.1 Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa là một hiện tượng kinh tế - xã hội thực tế đang ngày càng chi phối cả về chiều rộng và chiều sâu trong thế giới ngày nay Mọi nghiên cứu và hoạch định xã hội về văn hóa - con người – nguồn nhân lực đều cần phải tính đến hiện tượng này như là một điều kiện hoặc bối cảnh quan trọng để đưa ra các quyết sách
Cùng với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nền kinh tế thị trường hiện đại theo quy luật tự nhiên của nó đẫ thúc đẩy các quan hệ của cộng đồng thế giới tiến đến một khuôn khổ toàn cầu Từ cuối những năm 80, cơ chế thị trường cùng với sự vận động của các công ty xuyên quốc gia - đa quốc gia đã làm cho nền kinh tế thế giới từng bước chuyển sang cấp độ toàn cầu; từ đó, thuật ngữ toàn cầu hoá như cách hiểu hiện nay xuất hiện Các nền kinh tế ngày càng xâm nhập
vào nhau và hoạt động như một đơn vị ở cấp thế giới Đây là một xu thế chứa
đựng các cơ hội, đồng thời cũng là thách thức đáng kể đối với mọi quốc gia, dân tộc, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Đến nay, bất kể quốc gia nào, nếu không tính được những bài học của thị trường, không tạo lập được những phẩm chất cho phép cạnh tranh trong một trật tự thế giới mới, thì khó có cơ hội thành công, kể cả ở những lĩnh vực nằm ngoài kinh tế
III.1.1 Bộ mặt của toàn cầu hóa
Trước đây vài năm, hội nhập, toàn cầu hoá được đón nhận ở Việt Nam tương đối nồng nhiệt Nhưng kể từ khi UNDP công bố Báo cáo phát triển con người (HDR), 1999 (mà trong đó có bài Toàn cầu hoá với gương mặt con người
phân tích khá thấu đáo những mặt trái của toàn cầu hoá 1), đặc biệt, từ sau Hội nghị G7 ở Genova, Italy 2001, khi cảnh sát ngăn trở những người biểu tình chống
1 Xem: Globalization with a human face UNDP Human Development Report, 1999 Oxford
University Press., p.1-13
Trang 16toàn cầu hoá đến nỗi gây ra cảnh đổ máu, thì toàn cầu hoá bị nhìn nhận một cách hoài nghi hơn
Thực ra, bài Toàn cầu hoá với gương mặt con người chỉ là cái cớ, thêm vào
tâm lý hoài nghi vốn đã có ở không ít người đối với toàn cầu hoá Không nên thổi phồng ý nghĩa của bài báo này Nhưng từ góc độ nào đó, cũng cần ghi nhận HDR
1999 có tác dụng nhất định trong việc hướng dẫn dư luận không chỉ ở Việt Nam
Mặc dầu vậy, đến nay, số đông các nhà lý luận và chính trị - xã hội Việt Nam vẫn thừa nhận giá trị của toàn cầu hoá, coi toàn cầu hoá là một hiện tượng chứa đựng nhiều cơ may đối với sự phát triển: toàn cầu hoá tạo ra cơ hội cho nhiều nước, cho nhiều cộng đồng và cho nhiều cá nhân Điều này khó có thể phủ nhận Nhưng việc nắm bắt được cơ hội đó ở mức nào lại tuỳ thuộc đáng kể vào nội lực của từng chủ thể (quốc gia, dân tộc, cộng đồng, cá nhân ) Nước nghèo, người nghèo vì thiếu vốn, hạn chế về công nghệ và kỹ năng quản lý nên tuy vẫn
có nhiều cơ hội hơn trong toàn cầu hoá, song nắm bắt và tận dụng được cơ hội thật ra không dễ Trong toàn cầu hoá, khoảng cách và trình độ phát triển của những nước nghèo lại có nguy cơ ngày càng cách xa các nước giàu, dễ gặp bất lợi khi phải gia nhập các chế tài toàn cầu, dễ bị tổn thương và gặp rủi ro trong cạnh tranh, hợp tác quốc tế Hơn thế nữa, trong toàn cầu hoá, các thang bậc giá trị mới về bạn và thù, về thành đạt và thất bại, về cơ may và rủi ro, về nội sinh và ngoại nhập, v.v đã ít nhiều khác trước 2 Nhiều quan niệm truyền thống đã không còn đúng nữa và có thể trở thành định kiến trong toàn cầu hoá
Nhưng chắc chắn sẽ là sai lầm nếu quay lưng lại với toàn cầu hoá Không thể đóng cửa hoặc từ chối hội nhập Nghĩa là không thể đi ngược lại các xu hướng vận động khách quan của các giá trị hiện đại: bước vào thế kỷ XXI, giao tiếp quốc
tế, trao đổi thông tin, kết nối các hoạt động, tăng cường vốn xã hội đã trở thành
một thứ văn hoá chung chi phối mọi hoạt động sản xuất, dịch vụ, hoạt động khoa
học và công nghệ, và cả những hoạt động sống thường nhật của từng con người
Đó là khuynh hướng khách quan, buộc người ta phải chấp nhận trong xã hội hiện
đại
Điều đáng lưu ý là, quan điểm này cũng phổ biến ở tất cả các nước trong khu vực Đông á và Đông nam á ở khu vực này, tất cả các chính phủ (ngay cả Malaysia, nơi lên án trực diện nhất và gay gắt nhất mặt trái của toàn cầu hoá , thể hiện đặc biệt rõ trong cuốn sách "Sự nghiệp mới của châu á" (New Deal for
Asia), 1999 của nguyên Thủ tướng Mahathir Mohamad, cũng đều chủ trương
2 Xem: Nguyễn Duy Qúy (chủ biên, 2002) Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI Nxb
CTQG Hà Nội tr 53-73
Trang 17chấp nhận và tham gia toàn cầu hoá Cho đến nay, chưa có một cuộc biểu tình nào, một hội nghị nào, hay một diễn đàn nào (phi chính phủ hoặc chính phủ) trực tiếp phản đối toàn cầu hoá (những cuộc biểu tình ở Nhật bản và Hàn quốc
2000, 2001, ở Indonesia và Philippines 2003 có phê phán toàn cầu hoá, nhưng không phải là tẩy chay toàn cầu hoá theo kiểu ở Italy, Pháp, Mỹ Latinh hay Nam Phi ) Trong khi đó ở phương Tây, toàn cầu hoá ngày càng bị chỉ trích nặng nề
Điển hình cho những tư tưởng phản đối toàn cầu hoá ở Tây Âu có lẽ là nhà văn, nhà hoạt động xã hội Dennis Tillinac Trong cuốn sách rất nổi tiếng của mình
"Chiếc mặt nạ của sự phù du" (Les masques de l' éphémerè), Dennis Tillinac hình
dung, toàn cầu hoá là "sự diệt vong đang tới và đang được đón tiếp tưng bừng"
Nó là "con quỷ Frankenstein hống hách điều hành một thứ thú tính kỹ thuật cao, cái còn tệ hại hơn cả những lời tiên tri của Orwell và của Huxley, hoặc là một cuộc đấu tranh giai cấp trên quy mô toàn thế giới" 3
ở đây có vấn đề cần phải suy ngẫm
Về phương diện giá trị, câu hỏi đặt ra là: tại sao làn sóng phản đối toàn cầu hoá ở khu vực Đông á (kể cả ở nước giàu và ở nước nghèo) lại không xảy ra một cách dữ dội như ở Tây Âu, Bắc Âu, Mỹ hay Mỹ Latinh? Tại sao người Đông á lại chấp nhận toàn cầu hoá, thích nghi với nó một cách nhẹ nhàng đến thế? Và nếu điều đó không phải là ngộ nhận thì có hay không có nguyên nhân thuộc về giá trị Đông á?
Người ta đã cắt nghĩa những vấn đề nêu trên bằng nguyên nhân kinh tế:
Đông á là một trong ba khu vực được hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình tập trung vốn (Bắc Mỹ, châu Âu và Đông á) 4
Và một số học giả đã trở lại tìm cách giải thích vấn đề nêu trên bằng những nguyên nhân mang nặng thái độ định kiến đối với văn hoá phương Đông: phải chăng do văn hoá Đông á mang tính chất nhị nguyên (nhị nguyên cả trong tư tưởng, trong thái độ và trong hành vi)? hay vị lợi, thực dụng? chiết trung? mềm dẻo? duy kinh tế?
Nguyên nhân chắc là không ít Ngoài nguyên nhân lịch sử, kinh tế, xã hội, chính trị , thì những tính chất ít nhiều có trong văn hoá Đông á như nhị nguyên,
Trang 18thực dụng, chiết trung, mềm dẻo, duy kinh tế 5 có thể cũng là những yếu tố tham gia làm nên "sự bí ẩn Đông á" này Song vấn đề có lẽ không phải chỉ đơn giản như thế
Đúng là phương Đông không phản ứng tiêu cực với toàn cầu hoá Nhưng
điều đó chưa chắc đã có nguyên nhân thuộc về những nhân tố tiêu cực trong văn hoá truyền thống phương Đông Trái lại, theo chúng tôi, điều đó còn phù hợp một cách căn bản với cách giải thích phổ biến ở phương Tây về nguyên nhân của những hiện tượng "thần kỳ châu á": không ít nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng, trong thế kỷ XX, sự phồn vinh nhanh chóng của Nhật Bản và các nước NIC châu á có nguyên nhân thuộc về truyền thống văn hoá Đông á, mà trong đó văn hoá Nho giáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; chính văn hoá Nho giáo với các phẩm chất tích cực của nó như cần cù, hiếu học, tôn trọng cộng đồng, gia đình, sự hoà hợp, v.v đã góp phần làm cho nhiều nước Đông á có chiến lược khéo léo sử dụng nội lực và ngoại lực, kết hợp được văn minh phương Tây với văn hoá Đông
á để làm cho quốc gia mình đạt tới "nhịp điệu rồng" trong sự phát triển 6
Trong khuôn khổ của các nghiên cứu văn hóa - con người – nguồn nhân lực, cần thiết phải tính đến xu thế biến động chung của các giá trị trong toàn cầu hoá vấn đề là ở chỗ, trong toàn cầu hoá, các nước đi sau nhận thấy xu hướng biến
động chung của các giá trị như thế nào? Liệu các giá trị nội sinh bản địa có bắt
được cơ may để đồng hành cùng với các giá trị ngoại sinh, phát huy bản sắc ưu trội của mình hay không?
III.1.2 Xu thế biến động của các giá trị trong quá trình toàn cầu hóa
• Trong toàn cầu hoá, không ít giá trị khu vực, dân tộc, quốc gia giảm đi; hoặc tuy không giảm đi song vẫn trở nên nhỏ bé khi đứng cạnh các giá trị chung toàn cầu
1 Dễ dàng nhận ra rằng, trong toàn cầu hoá, quốc gia dân tộc không còn là
đơn vị duy nhất có vai trò chế định các chính sách, luật lệ và chế tài (không chỉ trong lĩnh vực kinh tế), mà sự tồn tại đồng thời, ít nhất là của 4 thể chế sẽ đảm nhận vai trò này Đó là:
5 Xem: Philosophy and democracy in Asia (1997) UNESCO, the Asia-Pacific Philosophy
Education Network for Democracy.// (1987),
No 6 c p 111–122
6 Xem: Francis Fukuyama (1998) Asian Value and the Asian Crisis “Commentary”, Feb.,
p.23-27.// Francis Fukuyama, Sanjay Marwah (2000) Comparing East Asia and Latin America Dimensions of development Journal of Democracy, Vol 11, No4 p.80-94
Trang 19- Quốc gia dân tộc có chủ quyền
- Các cộng đồng quốc tế, khu vực (chẳng hạn, ASEAN, EU, APEC )
- Các thể chế quốc tế (chẳng hạn, IMF, WB, ADB, UNDP, UNESCO )
- Các tổ chức kinh tế - chính trị -xã hội xuyên quốc gia (chẳng hạn, công
ty xuyên quốc gia, hiệp hội quốc tế về nghề nghiệp, NGO )
Chúng tôi muốn nói rằng, giá trị của một sản phẩm, của một hiện tượng văn hoá hoặc kinh tế, xã hội (kể cả giá trị của một ý tưởng tinh thần thiêng liêng nào
đấy) không còn toàn quyền do quốc gia - dân tộc quyết định hoặc đánh giá nữa Vai trò danh nghĩa của quốc gia - dân tộc có thể vẫn là duy nhất, song vai trò thực
tế của quốc gia - dân tộc đối với các giá trị thì đã suy giảm tương đối trong tương quan với các chủ thể khác Điều này, đương nhiên xảy ra trước hết trong kinh tế, nhưng toàn cầu hoá không chỉ dừng lại trên lĩnh vực kinh tế Trong toàn cầu hoá, mọi giá trị đều "vô tình" bị sắp đặt lại trong tương quan với bảng giá trị của các cộng đồng khác, của các quốc gia khác, của khu vực và quốc tế
2 Trong quá trình toàn cầu hoá, nét đặc sắc dân tộc, quốc gia cũng có thể vẫn là nét đặc sắc của dân tộc, quốc gia. Nghĩa là, nó vẫn được bảo tồn, lưu giữ
với tính cách là những hiện tượng độc đáo Nhưng khả năng để những nét đặc sắc
ấy trở thành hàng hoá sẽ lớn hơn Cái độc đáo, đặc sắc của dân tộc, quốc gia sẽ phải thể hiện tính độc đáo của nó bằng cách đem "bày bán ở thị trường", hoặc
đem "triển lãm ở nơi công cộng" Trong toàn cầu hoá, mọi hiện tượng sẽ phải thể hiện giá trị của mình bằng cách lưu truyền rộng rãi và điều đó không tránh khỏi làn sóng thương mại hoá
Chẳng hạn, văn hoá ẩm thực Trung Hoa trước độc đáo thì nay vẫn độc đáo, nhưng người ta có thể thưởng thức nó không chỉ ở Bắc Kinh, mà còn ở New York, Paris, London Ngày nay, người ta có thể ngắm tháp Effel và nhiều kỳ quan thế giới cả ở Paris, Thượng hải, Thái Lan (dưới hình thức thu nhỏ) Một vài loại hình văn hoá phi vật thể của Việt Nam, Trung Quốc đang được biểu diễn ngày càng nhiều ở Paris, New York Nhân sâm Triều Tiên, Trà Đạo Nhật Bản đã có mặt gần như khắp thế giới; và một số doanh nghiệp Mỹ đang có ý định tăng khẩu phần phở Việt Nam trong thực đơn người Mỹ lên 2 bữa/tuần, v.v và v.v
Về đại thể, điều đó không đến nỗi là một hiện tượng tiêu cực Nhưng cũng không hoàn toàn là tích cực Một khi giá trị văn hoá đã trở thành hàng hoá thì chí
ít nó cũng không thể còn là một giá trị nguyên vẹn được nữa Về điều này, Lưu Hướng Đông, một nhà thơ nổi tiếng người Trung Quốc tại cuộc Hội thảo Thơ và toàn cầu hoá, Varsava, 10/2001 đã chỉ ra rằng:
Trang 20"Toàn cầu hoá trong kinh tế không có nghĩa là cũng phải như vậy trong văn hoá Lịch sử nhân loại chứng minh rằng, việc giao lưu kinh tế không đòi hỏi phải
có chỗ dựa dưới dạng đồng nhất văn hoá Vì thế sự cùng tồn tại của các nền văn hoá là điều kiện cơ bản cho sự phát triển của chúng Các nền văn hoá với bản sắc riêng của mình là cần thiết đối với công cuộc phát triển văn minh" 7
ở mức độ gay gắt hơn, Dennis Tillinac lên án:
"Giới tinh hoa chính trị, trí thức hay truyền thông khẳng định rằng người ta
có thể điều hoà giữa bản sắc riêng với tính hiện đại Đây là sự lừa dối lớn của thời
đại chúng ta Hiện đại hóa và bản sắc vốn không thể hoà hợp được với nhau Hiện
đại, cái mà người ta đang mong mỏi hiện nay, là sự mê tín đánh lộn sòng số lượng nhiều nhất với chất lượng tốt nhất Việc thần phục kỹ thuật nhổ bật đi gốc rễ của lương tri và tước khỏi con người chính số phận của mình" 8
Rõ ràng, chẳng phải vô cớ mà người ta lo ngại về sự thui chột các giá trị
trong toàn cầu hoá
3 Trong toàn cầu hoá, chủ quyền xuyên quốc gia, lợi ích xuyên quốc gia
trở nên phổ biến hơn Điều này, đôi khi, có thể làm hạn chế chủ quyền quốc gia,
vi phạm lợi ích quốc gia Trong một số trường hợp, quyền lợi của các công ty xuyên quốc gia sẽ không gắn với quyền lợi của từng quốc gia Có thể sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa giá trị xuyên quốc gia và giá trị quốc gia, khi cá nhân hoặc cộng
đồng nào đó chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của mình
ở những trường hợp như thế, sự tương thích về giá trị sẽ bị phá vỡ; giữa các giá trị cũng khó có thể điều hoà được Người ta buộc phải lựa chọn: vì lợi ích của
ông chủ công ty hay vì lợi ích của quốc gia Chẳng hạn, vào năm 2001, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ bị Quốc hội Mỹ trì hoãn phê chuẩn đã làm hại các công ty
Mỹ có chân rết tại Việt Nam Các doanh nhân Mỹ làm ăn tại Việt Nam lúc đó rất phản đối quyết định của quốc hội Mỹ, mặc dù ai cũng biết rằng, sự phản đối ấy đi ngược lại quyền lợi quốc gia của Mỹ Trong trường hợp này, cá nhân phải tự chọn lựa hành vi của mình Bởi vậy, cũng là dễ hiểu khi các ông chủ công ty xuyên quốc gia thường lo lắng cho số phận của công ty vệ tinh của ông ta ở nước ngoài hơn là lo lắng cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Trong hiện tượng này,
đương nhiên có chứa mâu thuẫn giữa giá trị cá nhân với giá trị cộng đồng Tuy
Trang 21nhiên, vấn đề là ở chỗ, chỉ trong toàn cầu hoá, hiện tượng này mới mang thêm mâu thuẫn giữa giá trị quốc gia với giá trị xuyên quốc gia
Tính không tương thích giữa giá trị quốc gia và giá trị xuyên quốc gia còn
được biểu hiện ở một số hiện tượng văn hoá dân tộc có khả năng được bảo vệ,
được gìn giữ ở nước ngoài tốt hơn, trong khi ở nơi quê hương của mình, những hiện tượng đó lại không được coi trọng hoặc kém được chú ý gìn giữ Gần đây, một nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc khi khảo cứu một số hiện tượng văn hóa phi vật thể Trung Hoa cổ mới chợt nhận ra rằng, hoá ra tư liệu về những hiện tượng văn hóa ấy, và đặc biệt việc duy trì chúng trong đời sống cộng đồng đã không còn tồn tại ở trong nước nữa Dấu vết cũng như tư liệu về các hiện tượng đó chỉ còn tồn tại ở nước ngoài, nơi những người di cư do các nguyên nhân nào đấy
đã đem theo và bảo quản được Hiện tượng này cũng không đến nỗi hiếm ở các cộng đồng di cư khác; đặc biệt, với những dân tộc đã một thời là thuộc địa của thực dân châu Âu, thì cũng dễ hiểu tại sao trong các bảo tàng văn hoá nằm ở hải ngoại, lại phong phú đến thế các hiện vật, tư liệu phản ánh văn hoá các dân tộc thuộc địa Trong toàn cầu hoá, sẽ nảy sinh hiện tượng có những sưu tập văn hóa, hoặc những bảo tàng văn hoá có bài bản của một dân tộc này lại được thực hiện ở một quốc gia khác; sẽ có những người nước ngoài nói về văn hoá của một dân tộc nào đó hay hơn nhiều chuyên gia của chính dân tộc đó nói về mình 9
4 Trong toàn cầu hoá , phản giá trị xuyên quốc gia cũng tăng lên Đây là
một vấn đề nổi cộm của xã hội hiện đại
Nếu như vào những năm 80 (thế kỷ XX), sự lộng hành của các nhóm khủng
bố người Algieria chỉ là vấn đề riêng của quốc gia này, thì ngày nay, hoạt động của tổ chức Abu Seiaf ở Philipine, hoạt động của giáo phái Aum ở Nhật bản, hoạt
động của các nhóm phiến quân Chechel ở Nga, và đặc biệt là hoạt động của các nhóm khủng bố Hồi giáo cực đoan đã lây lan nhanh chóng và trở thành vấn đề nhức nhối của nhiều quốc gia Cùng với điều đó, tội phạm xuyên quốc gia, đại dịch HIV/AIDS, nạn buôn bán phụ nữ, nạn rửa tiền, v.v cũng đã thường xuyên xuất hiện trên bàn nghị sự của nhiều chính phủ
Ngoài ra còn phải kể đến tình trạng tham nhũng, vi phạm nhân quyền, chủ quyền hiện cũng đang ngày một công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Trước kia, nghĩa là chỉ cách đây vài ba chục năm thôi, người ta không thể tin vào mắt mình nếu thấy cảnh một phóng viên nào đó bị cảnh sát dùng dùi cui can thiệp vào công việc báo chí của họ Còn ngày nay, việc thẳng tay xua đuổi báo giới, thu giữ công cụ hành nghề của nhà báo, đánh nhà báo thành thương đã
9 Xem: Lưu Hướng Đông (2001) Sđd
Trang 22là cảnh quen thuộc trong các chương trình thời sự Về tình trạng này, Dennis Tillinac phê phán:
Toàn cầu hoá là "sự hạ thấp những tư tưởng và những giá trị để nhường chỗ cho những đồ vật trong trao đổi, việc tập trung tư bản tăng nhanh, việc dân dã hoá những cái thiêng liêng, sự vô văn hoá của lớp người giàu có mới, sự kết thúc của nghệ thuật sống, sự hủy hoại của cảm xúc, sự khô kiệt của những ham muốn, sự khô cằn của nghệ thuật phương Tây, sự tan rã của cấu trúc gia đình, sự xoá bỏ mọi
ký ức ở lớp trẻ, nhịp độ điên cuồng của các hiện tượng mốt, việc sẵn sàng có
những hành động xâm phạm tàn bạo, chính trị bị kinh tế ngoạm dần, sự mong manh của quan hệ giữa con người với con người" 10
Có thể dễ dàng nhận thấy, thái độ của Dennis Tillinac có phần cực đoan, song điều ông lên án không phải là bịa đặt Phải gọi tình trạng đó là sự lộng hành của phản giá trị, hay nói theo cách nói của C Mác, sự thắng lợi của kỹ thuật đã
được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần 11
5 Trong toàn cầu hoá , một số người trở thành "thượng lưu" còn một số (rất tiếc, lại là số đông) như bị rơi vào một thế giới xa lạ
Ngày nay, thực trạng phát triển con người trên phạm vi thế giới đang có những mâu thuẫn cực kỳ sâu sắc: toàn cầu hoá mở ra những cơ hội tốt lành cho hàng triệu người, nhưng đồng thời cũng lại làm tăng thêm khoảng cách giữa hàng triệu người Thật khó che giấu, sự vi phạm quyền con người, tình trạng bất công,
sự đe dọa an ninh xã hội, nạn nghèo đói, bần cùng trong khi được giảm đi ở nơi này, trong lĩnh vực này thì lại tăng lên ở nơi kia, trong lĩnh vực kia Cho đến năm
2000, vẫn còn hơn 80 nước thành viên Liên hợp quốc có thu nhập quốc dân đầu người thấp hơn mức mà họ đã đạt được trước đó khoảng 10 năm Theo Báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc (HDR), 1999, ở Trung Quốc, số người nghèo khổ ở vùng duyên hải là 20% nhưng ở vùng sâu nội địa lại lên đến hơn 50% Hiện thời, chỉ 20% dân số của các nước có thu nhập cao đã chi phối 86% GDP, 82% thị trường xuất khẩu, 68% đầu tư nước ngoài và 74% số máy điện thoại của toàn thế giới; tài sản của ba tỷ phú hàng đầu thế giới thế giới lớn hơn toàn bộ GNP của tất cả các nước kém phát triển với 600 triệu dân của họ 12
ở Việt Nam hiện nay, đã có sự khác biệt đáng kể giữa các tầng lớp cư dân trong việc tiêu dùng các giá trị hàng hoá "Thế giới đồ vật" của người nghèo và
10 Trích theo: Nguyễn Văn Tường (2001) Sđd
11 C.Mác và Ph Ăngghen (1993) Toàn tập t 2 Nxb CTQG Hà Nội tr 11
12Globalization with a human face UNDP Human Development Report, 1999 Oxford
University Press., p.3
Trang 23của người giàu đã chênh lệch tới mức không thể đối thoại được với nhau Tuy nhiên sự khác biệt ấy chưa phải là đáng nói nhất Sự khác biệt về tiêu dùng giá trị văn hoá mới là cái đáng quan tâm hơn Hiện nay, chỉ một bộ phận những người có ngoại ngữ, có tri thức cao, có điều kiện vật chất là được sống trong thế giới của Internet, của những tụ điểm ca nhạc, giải trí đắt tiền, của những loại hình thể thao sang trọng ở đó thông tin, tri thức, âm nhạc, giải trí và các quan hệ khác nhiều với cuộc sống bên ngoài Số đông còn lại (kể cả một bộ phận trí thức) không hề biết ở đó có những gì
Như vậy, toàn cầu hoá với bộ mặt phức tạp của nó đang làm cho hệ thống các giá trị thay đổi đáng mừng và cũng đáng lo Điều mà chúng tôi muốn nói ở
đây là, sự biến động của các giá trị trong toàn cầu hoá không phải là không tuân theo những quy luật nào đó; thậm chí, một số xu hướng biến động của các giá trị
đến nay đã thể hiện khá rõ Con người, mà trước hết là những người có trách nhiệm, cần chủ động nắm bắt các quy luật và xu hướng đó Nắm được quy luật là nắm được tương lai; tương lai không bao giờ thuần túy là cái tiền định
II.2 Kinh tế thị trường hiện đại
Có cơ sở để khẳng định rằng, kinh tế thị trường dẫu có lịch sử gắn rất chặt với lịch sử của chủ nghĩa tư bản song dù sao vẫn không phải là thành quả riêng của chủ nghĩa tư bản Đó là thành quả chung của văn minh nhân loại; và điều này
có ý nghĩa lớn đối với các nghiên cứu văn hóa – con người – nguôn nhân lực Cho tới nay, để xã hội phát triển, loài người vẫn chưa tìm ra được công cụ nào hữu ích hơn kinh tế thị trường Nhưng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thì chất đầy mâu thuẫn nan giải đưa đến "phản phát triển"; còn kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hay định hướng xã hội chủ nghĩa là cái mới đang được tìm tòi thể nghiệm
Đây chính là sự khai phá để phát triển có nhiều triển vọng đối với xã hội tương lai
Bản thân kinh tế thị trường là một hiện tượng kinh tế - xã hội hết sức phức tạp Sự vận hành của nó trong đời sống xã hội hiện đại với xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới với các thể chế song phương và đa phương lại càng làm cho
nó trở nên phức tạp hơn Đối với những nước vừa mới bước vào kinh tế thị trường như Trung Quốc, Việt Nam việc nhận thức đúng và sâu sắc kinh tế thị trường ngày càng trở thành một nhu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách Vì chúng ta không chấp nhận kiểu thị trường tự do, kiểu thị trường không người điều khiển hoặc
được điều khiển chỉ thuần túy bởi một “bàn tay vô hình” như A.Smit đã nói tới Chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường có sự điều tiết hợp lý từ phía vĩ mô, tức là đề cao sự can thiệp đúng và có hiệu quả của nhà nước xã hội chủ nghĩa Mà muốn điều khiển được một sự vật nào đó, thì trước hết ta phải hiểu
Trang 24những nguyên lý vận hành của nó, những đặc điểm, sự tương tác của nó với sự vật khác
Như đã biết, lịch sử sự phát triển của kinh tế thị trường gắn liền với sự ra
đời và phát triển của công nghiệp hóa Các nhà nghiên cứu đã khái quát rằng, trải qua hơn ba thế kỷ loài người đã tiến hành nững mô hình công nghiệp hóa gắn với những trình độ khác nhau
Thời kỳ công nghiệp hóa thứ nhất bắt đầu ở nước Anh từ thế kỷ XVIII kéo dài khoảng hơn 100 năm Thời kỳ công nghiệp hóa thứ hai diền ra ở Mỹ và các nước châu Âu khác chỉ kéo dài khoảng 80 năm Thời kỳ thứ ba diễn ra với một số nước như Nga, Nhật chỉ khoảng hơn 50 năm Và thời kỳ thứ tư với các nước công nghiệp mới ở châu á chỉ khoảng 30 năm 13 Trình độ khoa học và công nghệ hiện
đại đã cho phép các nước đi sau có khả năng phát triển nhanh hơn nhưng cũng bị
lệ thuộc hơn so với các qúa trình công nghiệp hóa trước đó Điều này rất có ý nghĩa Những nước đi sau không thể được phép đưa ra luật lệ của riêng mình đối với thị trường Ngược lại, tất cả cơ chế, luật lệ của thị trường là do các nước dddi trước quyết định Các nước chậm phát triển bao giờ cũng phải chịu sức ép và sự
áp đặt Muốn phát triển thì không có cách nào khác là phải hội nhập và cạnh tranh quyết liệt trong cơ chế thị trường
Xu hướng này phản ánh một quá trình khách quan là cùng với toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, càng ngày nhiều thị trường quốc gia và khu vực lần lượt nối liền vào quỹ đạo của thị trường thế giới và theo đó, phạm vi và dung lượng của thị trường thế giới không ngừng mở rộng với một kết cấu nhiều tầng nấc để cuối cùng hình thành một thị trường thống nhất toàn cầu Thị trường toàn cầu nhất thể hoá thực sự bắt đầu mở ra kể từ sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới, kể cả các nền kinh tế nguyên là kinh tế xã hội chủ nghĩa,
đã từng bước chuyển sang quỹ đạo của nền kinh tế thị trường Điều này được thể hiện:
Thứ nhất, mức độ liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống hữu cơ
ngày càng gia tăng Từ năm 1950 đến nay, trong khi GDP toàn thế giới chỉ tăng 5 lần, khối lượng thương mại quốc tế đã tăng 16 lần, chu chuyển thương mại giữa các quốc gia được bổ sung mạnh mẽ bởi xu hướng tăng cường sự chu chuyển thương mại nội bộ các công ty xuyên quốc gia Với cấu trúc phát triển theo mô hình mạng lưới để thực hiện cắm nhánh sâu, rộng ở hầu hết các quốc gia và khu vực, tự các tập đoàn xuyên quốc gia đã trở thành chất kết dính làm sâu sắc sự liên
13 Xem: Hội đồng lý luận Trung ương Kỷ yếu hội thảo khoa học Kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa Hà Nội, 3/1999
Trang 25kết thị trường thế giới Với hơn 50.000 công ty mẹ và gần 600.000 chi nhánh phân bố theo cấu trúc mạng, các công ty xuyên quốc gia thực sự đang "phong toả"
và chi phối hoạt động của toàn bộ hệ thống kinh tế toàn cầu Điều đáng lưu ý là khi các thị trường quốc gia và khu vực gắn chặt với nhau, quy định và chi phối lẫn nhau thì các quan hệ kinh tế quốc tế đã trở nên rộng mở và tự do hơn
Thứ hai, thị trường thế giới thống nhất đã bao hàm tất cả các lĩnh vực hàng
hoá, dịch vụ, lao động, vốn, công nghệ, thông tin được cấu trúc theo kiểu lập thể
mở rộng ra khắp các châu lục, không gian và hải dương và theo đó, thâu tóm hầu hết thị trường các nước phát triển, đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi, các thị trường khu vực và liên khu vực ở đây, cần lưu ý 2 biểu hiện đặc trưng
Một là, sự lưu thông tiền vốn quốc tế đã bào trùm cả trao đổi hàng hoá và dịch vụ,
đang trở thành một lực lượng chi phối quan trọng đối với nền kinh tế thế giới Nói cách khác, trình độ nhất thể hoá của thị trường tài chính lớn gấp nhiều lần so với thị trường sản phẩm - dịch vụ Hàng ngày, lượng tiền tệ lưu chuyển của thị trường tài chính lớn gấp 30 lần khối lượng hàng hoá lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu
Đối với các nước đang phát triển, chỉ trong khoảng 10 năm, dòng vốn đầu tư tư nhân đổ vào tăng hơn 5 lần và trong khi mậu dịch quốc tế chỉ tăng 5%/năm thì dòng vốn tư nhân quốc tế lưu chuyển tăng 30%/năm 14 Như vậy, cũng có nghĩa là thế giới đang nằm trong sự phụ thuộc chặt chẽ với nhau về mặt tài chính Điều này giúp phân bổ lại nguồn lực trên bình diện quốc tế, tạo cơ hội để các thị trường nhỏ tiếp cận với các thị trường lớn, tạo sự đổi mới và sáng tạo trong cạnh tranh để kinh doanh thuận lợi và hiệu quả hơn, thúc đẩy các dòng di chuyển tự do về lao
động, hàng hoá - dịch vụ và các ý tưởng xuyên biên giới Tuy nhiên, do dòng tài chính có đặc điểm là biến động cao, sự bất ổn định thường tỷ lệ thuận với quy mô phát triển của thị trường tài chính nên sự tăng giảm đột ngột của chúng có thể sẽ
là nguyên nhân sâu xa của những chấn động kinh tế toàn cầu, của sự đổ vỡ ở những khâu yếu trong hệ thống cấu trúc của nó và đương nhiên, thường là hay rủi
ro ở những nước nghèo Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở một số nước Đông Nam
á là một ví dụ Hai là, mạng lưới tình báo về kinh tế, về thương mại và đầu tư
quốc tế phát triển mạnh, đang trở thành trung tâm thần kinh của hệ thống thị trường toàn cầu Mạng lưới này được hình thành và dẫn dắt bởi các tập đoàn xuyên quốc gia, các ngân hàng xuyên quốc gia và thêm vào đó, có sự tham gia của các thể chế kinh tế toàn cầu Cơ sở vật chất - kỹ thuật của nó là công nghệ thông tin Thông tin nhanh, chuẩn xác toàn diện dưới sự hỗ trợ của các máy tính
có tốc độ siêu lớn và mạng Internet đang trở thành nguồn tài nguyên chiến lược
14 The World bank East Asia: The Road To Recovery 1998, P 4
Trang 26của sự phát triển thị trường, thâm nhập và kiểm soát thị trường và theo đó, ai sẽ nắm được những nguồn thông tin chất lượng cao, người đó có thể bất ngờ giành
được thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh thương mại quốc tế ngày càng lớn và quyết liệt Ngày nay, các nền kinh tế lớn nhỏ đã và đang tích cực tham gia vào các mạng thông tin toàn cầu để tìm kiếm cho mình những thị trường chiến lược và những ngách thị trường tối ưu Lượng từ khả năng và tiềm lực công nghệ, từ những lợi thế so sánh bậc thấp, các nước nhỏ cần và chủ động tìm kiếm cho mình các thị trường ngách Họ là sự bổ sung hữu hiệu cho một thị trường thế giới khổng
lồ, rộng khắp và xoắn bện chặt chẽ dưới nhiều cấp độ
Thứ ba, như trên đã phân tích, cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri
thức đang được toàn cầu hoá, thị trường thế giới hình thành như một chỉnh thể thống nhất đã bắt buộc mọi nền kinh tế quốc gia cải cách và chuyển đổi tích cực
để trở thành một bộ phận hữu cơ của nó , vô luận các nền kinh tế quốc gia thuộc mô hình và trình độ phát triển nào Cụ thể là nhiều mô hình kinh tế thị trường như mô hình kinh tế thị trường tự do (Mỹ là điển hình), mô hình kinh tế thị trường xã hội (Đức là điển hình) hoặc mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp (Nhật Bản là điển hình) đều phải cải tổ sâu sắc Những nền kinh tế hướng trọng tâm vào tiêu dùng trong nước như Mỹ đã phải cải cách theo hướng đẩy mạnh hơn nữa việc hướng ra bên ngoài: mở rộng xuất khẩu, chống thâm hụt thương mại và tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài để thực hiện một bước chuyển đổi căn bản trong dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng để phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ và tri thức cao Mô hình kinh tế thị trường tự do với việc cải tổ để thích ứng với xu hướng tự do hoá về thương mại và đầu tư đang cho phép Mỹ có thuận lợi nhất so với Tây Âu và Nhật Bản trong việc nắm bắt các cơ hội của sự phát triển thế giới Các thành viên EU, đặc biệt là Đức trong khi thừa nhận những mặt tích cực của mô hình kinh tế thị trường xã hội, đã thẳng thắn chỉ ra những khiếm khuyết của
nó như: tính trì trệ về mặt xã hội của chính sách phúc lợi xã hội, tính năng động sáng tạo yếu kém của người lao động, vấn đề thất nghiệp lớn kinh niên và theo
đó, họ đặt ra những yêu cầu mới cho sự phát triển của Châu Âu là công nghệ cao, nhất thể hoá sâu và có tiềm lực hùng hậu trong cuộc cạnh tranh quốc tế với Mỹ và Nhật Bản Cũng tương tự như vậy, nền kinh tế Nhật, từ chỗ là một nền kinh tế lấy trọng tâm hướng mạnh vào xuất khẩu ra thị trường thế giới để phát triển đã tất yếu phải chuyển sang khôi phục nhu cầu trong nước bằng thực hiện các biện pháp kích cầu tiêu dùng trong nước, giảm bớt tiết kiệm, thành lập hệ thống ngân hàng cầu nối để hỗ trợ cho sự tăng trưởng đang ngày càng yếu kém trong suốt thập kỷ
90 Khắc phục tính chất khép kín, thuế quan và giá thành cao trong thông tin và thương mại dưới sự bảo hộ và can thiệp quá mức của nhà nước, nền kinh tế Nhật
đã thực sự phải chuyển sang nền kinh tế mở với sự kết hợp hài hoà giữa nhu cầu
Trang 27trong nước và nhu cầu ngoài nước Hầu hết các nền kinh tế đang phát triển cũng
đang trong quá trình cải cách để thích ứng với các chiều hướng phát triển mới của nền kinh tế thế giới Dù được bắt đầu là các mô hình phát triển hướng nội dựa vào thay thế nhập khẩu hoặc hướng ngoại dựa vào xuất khẩu các nguồn tài nguyên thì cuối cùng các nền kinh tế này đều tiến tới mô hình phát triển hướng ngoại dựa vào
đa dạng hoá xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế tạo Các nền kinh tế thuộc mô hình Đông á được coi là hình mẫu của sự phát triển cho các nền kinh tế đang phát triển đã đến lúc phải xem xét lại và tìm sự thích ứng mới cho các nhân tố vốn
là nguồn gốc sâu xa của sự thần kỳ "Đông á, nghĩa là các nhân tố tiết kiệm cao, phát triển mạnh giáo dục, hướng trọng tâm vào xuất khẩu, kết hợp "chính phủ cứng với thị trường mềm" đã đến lúc phải thích hợp mới với các tiến trình tự do
hoá về thương mại, đầu tư, tài chính và thông tin Các nền kinh tế tập trung bao cấp cũng lần lượt chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập quốc
tế mạnh mẽ Nhờ vậy, nhiều nền kinh tế Đông Âu đã tiến gần hơn đến tiến trình gia nhập EU và WTO Nền kinh tế Trung Quốc đã liên tục có tốc độ tăng trưởng cao và được dự báo là một trong những nền kinh tế lớn nhất của thế kỷ XXI Rõ ràng, kinh tế thị trường mở cửa với tính cách là một xu hướng phổ biến của nền kinh tế thế giới trong thiên niên kỷ thứ 3 đang đặt ra những tư duy mới cho mọi nền kinh tế quốc gia dân tộc trong vấn đề bắt kịp và thích ứng với tự do hoá; trong việc phải có quan niệm đúng hơn về vấn đề bảo hộ mậu dịch; trong thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá thông qua việc gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế; trong việc cần thiết phải cải cách các thể chế kinh tế bên trong để thực hiện sự kết hợp đúng đắn hơn các nguồn lực bên trong và bên ngoài Tất nhiên, đây là vấn đề nan giải đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nhất là đối với các nền kinh tế chuyển đổi vốn không thể ngày một ngày hai chấp nhận ngay được với quan niệm
về "kinh tế thị trường mở" và "xã hội mở" Mặt khác, để thúc đẩy xu hướng nhất thể hoá thị trường thế giới, các nước cần nhanh chóng loại bỏ những phản ứng cực
đoan nhằm chống lại các dòng di chuyển tự do về vốn và hàng hoá Để đảm bảo tính chất mở cửa thị trường và toàn cầu hoá, thế giới cần phải có một sự đồng thuận cao trong việc tìm ra các cơ chế điều hành nhằm giúp cho các nền kinh tế
có xuất phát điểm thấp, dễ tổn thương vượt qua được các khó khăn do suy thoái và chấn động tài chính gây nên Ví dụ, các nước G-7 đã bắt đầu bàn tới sự cần thiết phải có "một cơ cấu tài chính toàn cầu mới" để củng cố các khoản tài chính của IMF, cũng như đưa ra các thủ tục IMF mới trong việc đánh giá mức độ rủi ro của các quốc gia và đặc biệt, cơ cấu này sẽ đòi hỏi khu vực tư nhân và các thể chế phi chính phủ hoạt động tích cực hơn trong nền kinh tế thế giới Người ta cũng lý giải rằng dù sự đồng thuận của thế giới có diễn ra thế nào chăng nữa thì cũng không thể phủ nhận được các yếu tố công nghệ thông tin, vận tải viễn thông, các hiệp
Trang 28định thương mại, đầu tư và hoạt động thị trường mở hiện nay sẽ tiếp tục là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự tăng trưởng thương mại, đầu tư và sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong thế kỷ tới
Như vậy, nền kinh tế thị trường thế giới bước vào thế kỷ XXI đã chuyển sang một trình độ mới trên cơ hạ tầng mới Nền đại công nghiệp cơ khí cho tới nay đã trở nên không đầy đủ để tạo ra một sự phát triển của sản xuất và của đời sống xã hội Cơ sở vật chất kỹ thuật mới hiện nay được gọi bằng các thuật ngữ khác nhau; có người gọi đó là cơ sở điện tử và tự động hóa, có người gọi đó là công nghệ thông tin, có người còn gọi đó là công nghệ sinh học, v.v Có thể các tên gọi này chưa phản ánh được chính xác trình độ mới của sự phát triển, song thực chất của nền sản xuất xã hội hiện đại là một cái gì đó chưa bao giờ có
Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại đã quy định toàn bộ những biểu hiện khác nhau của nền kinh tế thị trường
Trên cơ sở điều kiện vật chất kỹ thuật mới, các công ty cổ phần, các công
ty đa quốc gia, xuyên quốc gia, các tổ chức kinh tế quốc tế đã xuất hiện và có vai trò xã hội to lớn Toàn cầu hóa mà trong đó có thừa nhận khu vực hóa, địa phương hóa, hội nhập hóa mà trong đó có thừa nhận sự độc lập, cục bộ ở mức độ nhất định đã là xu hướng phổ biến trong nền kinh tế toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa Tất cả những hiện tượng đó vẫn nằm trong sự chi phối, điều tiết của chủ nghĩa tư bản
Từ hơn 20 năm nay, nền kinh tế thế giới đã từng bước thiết lập được những quan hệ ở trình độ toàn cầu Lúc đầu là sự hình thành các quan hệ hợp tác về lĩnh vực kinh tế ở phạm vi quốc tế và khu vực Sau đó là hình thành những công ty liên quốc gia, đa quốc gia trên cơ sở những quan hệ và những cơ chế kinh tế thế giới mới Thuật ngữ toàn cầu hóa cũng xuất hiện từ thời kỳ đó với tính cách là một khái niệm liên ngành chính trị - kinh tế - xã hội Ngày nay, bất cứ nền kinh tế nào cũng phải tự đặt mình trong xu thế toàn cầu hóa để hoạch định các chiến lược phát triển Những nhân tố chung của sự phát triển kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa mà các quốc gia đều phải chú ý là:
1 Trình độ dân trí của cư dân phải đảm bảo cho phép nền kinh tế phát triển Tiếng Anh dần trở thành ngôn ngữ phổ biến trong mọi giao tiếp quốc tế
2 Các nguồn lực của sự phát triển được chuẩn bị hợp lý, đặc biệt là nguồn lực con người, tri thức, lao động trí tụê Thị trường lao động sẽ được quốc
tế hóa mạnh mẽ Đội ngũ các nhà doanh nghiệp buộc phải ngày càng có trình độ cao hơn, năng động hơn
Trang 293 Hệ thống thông tin có hiệu qủa dựa trên trình độ khoa học công nghệ tiên tiến Thông tin trở thành nguồn lực ngày càng lớn trong tỷ trọng tăng trưởng kinh tế
4 Hệ thống tài chính năng động, có hiệu qủa Thị trường tiền tệ trở thành thị trường quốc tế
5 Các chế định quốc gia ngày càng thích nghi với các chế định quốc tế Hệ thống pháp chế trở thành hệ thống pháp chế toàn cầu
6 Mỗi quốc gia đều phải có một số công ty đa quốc gia - xuyên quốc gia Công ty quốc gia - xuyên quốc gia sẽ ngày càng chi phối cả bốn thị trường: hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ và lao động
7 Các mục tiêu của nhân lọai sẽ ngày càng nhất trí hoặc thỏa hiệp với nhau
Đi đôi với cơ sở vật chất kỹ thuật mới là nền quản lý cũng đã tiến tới một trình độ mới Điều tiết vĩ mô đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia Nó tạo điều kiện cho thị trường hiện đại triển khai ở phạm vi toàn cầu Chủ nghĩa tư bản độc quyền
ở phạm vi quốc gia đã mở rộng khả năng độc quyền của nó ở phạm vi quốc tế Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá
Nền kinh tế thị trường hiện đại còn có một điểm đặc biệt là do phải dựa trên công nghệ thông tin nên đã quản lý và giao dịch theo những kỹ thuật mới, từ
đó nảy sinh các trạng thái mà người ta chỉ có thể thấy được thông qua cái gọi là
“nền kinh tế số” Các khái niệm nền kinh tế ảo, nền kinh tế số, nền kinh tế tri thức xuất hiện đã phản ánh tình trạng này Sự phát triển đôi khi đã trở nên thiếu cân đối dẫn đến tình trạng “kinh tế bong bóng xà phòng”
Hiện nay sản lượng nền kinh tế thế giới sản xuất ra ước tính bằng khoảng 30.000 tỷ USD/ năm Hình thái tư bản tiền tệ khiến khối lượng giá trị đó vận động rất nhanh qua nền kinh tế các nước Nếu không có trình độ quản lý hữu hiệu khối lượng giá trị đó có thể sẽ gây ra khủng hoảng kinh tế Nhưng nếu biết điều tiết, quản lý nền kinh tế sẽ có cơ hội để đầu tư cho bảo vệ môi trường, cho phúc lợi công cộng, v.v Ngay từ cách đây 50 năm, nền kinh tế thị trường đã có xu hướng nhằm tới giải quyết các vấn đề xã hội đã được đặt ra Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải giải quyết các vấn đề xã hội Điều này cũng là mục đích vốn có của nhà tư bản và các chủ thể kinh tế, bởi giải quyết các vấn đề xã hội cũng là nguồn sinh lợi Nhà tư bản có thể không thiện chí với việc giải quyết những vấn đề đó, nhưng tính tất yếu của đời sống kinh tế thị trường buộc họ phải đáp ứng nhu cầu xã hội
Trang 30Không thể phủ nhận được rằng nền kinh tế thị trường đang ngày càng có xu hướng chủ động hơn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Tính chất nhân đạo của một thị trường văn minh là cái cần phải được xây dựng, nó không phải là ảo tưởng như một số quan niệm trước đây đã phê phán Nền kinh tế thị trường có mặt tích cực của nó là điều rất rõ, nó tạo ra sự tăng trưởng và phát triển xã hội Với mọi tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội thì ít nhất nó cũng đều có khả năng trở thành công cụ đắc lực của sự tiến bộ Kinh tế thị trường càng văn minh thì tính chất tiến
bộ của nó càng tăng lên, nói chính xác hơn, khả năng sử dụng nó vì tiến bộ xã hội càng tăng lên Đây chính là cơ sở để Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đối với những mặt trái của kinh tế thị trường, kinh nghiệm cho thấy, người
ta có thể hạn chế được nó, thậm chí có thể loại bỏ một số hiện tượng nào đó nếu nhà nước và các phương thức điều tiết vĩ mô có chiến lược đúng và có sức mạnh thực hiện chiến lược đó Đương nhiên không ai cho rằng có thể loại bỏ hoàn toàn mặt trái của cơ chế thị trường
Như vậy, nói tới nền kinh tế thị trường hiện đại là nói tới nền kinh tế có những đặc điểm sau:
1 Đó vẫn là nền kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, vận hành theo các quy luật của thị trường mà trong đó quy luật giá trị là quy luật cơ bản Tuy nhiên, nói tới nền kinh tế thị trường hiện đại là nói tới nền kinh tế mà bộ mặt và nhiều chức năng của nó đã được xã hội loài người hiện thực hóa trong hơn nửa thế
kỷ qua
2 Đó là nền kinh tế thị trường có xu thế toàn cầu hóa Kinh tế thị trường hiện đại bắt buộc mỗi quốc gia phải hội nhập với khu vực và với quốc tế, tham gia vào qúa trình toàn cầu hóa Nhưng tính cục bộ địa phương, khu vực của các nền kinh tế quốc gia vẫn được bảo tồn như là những nét đặc thù của nền kinh tế toàn cầu
3 Nền kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Nó sử dụng thành tựu của cuộc cách mạng đó để tăng trưởng phát triển và thúc đẩy chính cuộc cách mạng
đó phát triển mạnh hơn Công nghệ thông tin vừa là điều kiện vừa là công cụ lợi hại của kinh tế thị trường, nó đã và đang làm cho nền kinh tế tiến đến xu thế mà người ta thường gọi là nền kinh tế tri thức
4 Nền kinh tế thị trường hiện đại cạnh tranh gay gắt trên phạm vi toàn cầu, cạnh tranh có sòng phẳng nhưng cũng vẫn độc quyền một cách tinh vi, trên
Trang 31cơ sở thế mạnh của những tập đoàn kinh tế lớn, của những nước có tiềm lực kinh
tế mạnh
5 Kinh tế thị trường hiện đại gắn chặt với vai trò của nhà nước “Hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò nhà nước như nhân tố quyết định sự hoà giải giữa “cái kinh tế” và “cái xã hội” Vai trò của nhà nước, hay nói đúng hơn, sự can thiệp của nhà nước vào những hoạt động kinh tế xã hội là điều kiện không phải bàn cãi ở các nước phương Tây, dù thực hiện dường lối kinh tế theo chủ nghĩa bảo thủ mới (néoconservatisme) hay chủ nghĩa tự do mới (néoliberalisme), thì nhà nước vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng, nghĩa là vẫn can thiệp vào đời sống kinh tế ở mức độ này hay mức độ khác” 15
6 Các nguồn lực của kinh tế thị trường hiện đại không chỉ bao gồm nguồn lực tự nhiên mà còn bao gồm cả những nguồn lực con người Ngày nay, lao động, vốn, tài nguyên, khoa học, công nghệ, trình độ phân công lao động, quan hệ xã hội, trình độ quản lý, quan hệ quốc tế, v.v đều là những nguồn lực của sản xuất; chúng đều có khả năng sinh lời cho nền kinh tế Trong đó, nguồn lực quan trọng nhất là con người với những khả năng trí tuệ, vốn sống, văn hóa của nó
7 Kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế gắn chặt với các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hóa Những biến động về chính trị, văn hóa, xã hội đều trực tiếp
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Kinh tế thị trường hiện đại buộc phải chú ý
đến quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; công bằng xã hội trong một số trường hợp nhất định đã trở thành đông lực của phát triển kinh tế
8 Kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế buộc phải đi theo xu hướng không thể tiếp tục tàn phá môi trường sống của con người như nó đã từng mắc phải trong những thời kỳ đã qua Nếu như trước đây, việc tàn phá môi sinh có thể không mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế thì ngày nay tình trang đó đã không thể tồn tại được nữa Kinh tế muốn tăng trưởng, xã hội muốn phát triển, môi trường sống của con người phải được bảo vệ
Như vậy, kinh tế thị trường hiện đại là kiểu kinh tế thị trường đang vận
động theo xu hướng tiến bộ, văn minh Mặc dù còn mang trong mình những mặt trái nhức nhối của nó, nhưng tính chất nhân văn của cơ chế thị trường cũng đang
mở ra một cách thực tế dưới sự điều tiết của các chiến lược nhân đạo Bởi vậy, sự
định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường là hoàn toàn có cơ sở khách quan của nó Mặt tích cực của kinh tế thị trường, trên thực tế, luôn luôn kích thích tăng trưởng kinh tế và đi liền với điều đó là chú ý giải quyết các vấn đề
15 Viện thông tin khoa học xã hội Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội Hà Nội, 1997
tr.25
Trang 32xã hội Tự thân nó, kinh tế thị trường hiện đại vận động theo chiều tiến bộ chứ không phải ngược lại Kinh tế thị trường càng văn minh thì tính chất nhân đạo của
nó càng tăng lên, sự phục vụ lợi ích con người càng có khả năng được thực hiện Những biểu hiện tiêu cực, phản tiến bộ của kinh tế thị trường hiện đại có nguyên nhân chủ yếu nằm ở mục đích của người sử dụng kinh tế thị trường Nghĩa là mặt trái của kinh tế thị trường không phải là không thể hạn chế được Hoàn toàn có thể ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực nếu con người sử dụng cơ chế thị trường theo đúng quy luật khách quan của nó nhằm hướng tới các mục đích tốt đẹp, nhân
đạo, lành mạnh, văn minh
Trang 33III
Nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực:
kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm Việt Nam
III.1 Vai trò nguồn nhân lực trong sự phát triển xã hội và một số kinh nghiệm quốc tế
III.1.1 Nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội
Tài nguyên thiên nhiên, tư bản, kỹ thuật và nhân lực từ lâu đã được xem là
4 yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế quốc gia Sau cách mạng công nghiệp, việc phát minh các công cụ sản xuất mới, sự nổi lên của các nhà tư bản, tích luỹ tư bản lớn cùng với thu hút đầu tư nước ngoài và tăng tiết kiệm trong nước được coi là những điều kiện cần và đủ để cho một nền kinh tế cất cánh Song, sau chiến tranh thế giới lần thứ II, sự kiện Nhật Bản và Tây Đức vừa chịu thất bại một cách tàn tạ vừa không có đủ những điều kiện kể trên, lại có thể nhanh chóng xây dựng
và phát triển từ đống hoang tàn đổ nát, dường như chứng tỏ tài nguyên thiên nhiên
và tư bản không phải là nhân tố tuyệt đối của sự phát triển kinh tế Nhiều nhà kinh
tế học, qua nghiên cứu và phân tích thực tế, đã phát hiện việc sử dụng một cách có hiệu quả “nguồn nhân lực” mới là nhân tố quan trọng nhất để phát triển kinh tế; cũng chính do đó mà các quốc gia trên thế giới đã thấu hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, lấy việc phát triển nguồn nhân lực làm một vòng khâu không thể thiếu trong quy hoạch kinh tế chỉnh thể
Từ thế kỷ XVIII đến nay, quản lý xí nghiệp phương Tây đã đưa ra những lý thuyết khác nhau, từ thuyết 5M đến 7M rồi 10M Từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, quản lý chú trọng đến 5 yếu tố: nhân lực (Manpower), vốn (Money), máy móc (Machine), nguyên liệu (Material) và phương pháp (Method) Trước thập kỷ
60 thế kỷ XX, các nhà quản lý bổ sung thêm hai yếu tố là thị trường (Market) và tinh thần làm việc (Morale); còn sau thập kỷ 60, lại chú trọng hơn đến thông tin quản lý (Management Information), triết lý quản lý (Management Philosophy) và môi trường quản lý (Management Enviroment) Tính tổng cộng lại, từ thế kỷ XVIII đến nay, trong quản lý người ta nhắc đến 10 yếu tố tất cả
Tuy nhiên, ngày nay, khi nói đến các yếu tố của sự tăng trưởng kinh tế người ta thường nhắc tới 5 yếu tố cơ bản, đó là lưu lượng đầu vào của lao động
Trang 34(L), vốn (K), các tài nguyên thiên nhiên (N), khả năng kinh doanh (E) và công nghệ hiện hành (T) Nói một cách khái quát, các yếu tố của sự phát triển kinh tế nói riêng, của sự phát triển xã hội nói chung, ngoài nguồn vốn, bao gồm: nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người
Trước hết, cần phải nói rằng khái niệm nguồn lực ngày nay được sử dụng
theo nghĩa rộng hơn nhiều so với trước đây Nó không chỉ bao gồm những gì được coi là vốn “vật lực” (máy móc, thiết bị, kết cấu hạ tầng) mà còn bao gồm cả các loại hàng hóa “trung gian” (hàng hoá được sử dụng trong một khâu trung gian để sản xuất ra các loại hàng hoá cuối cùng khác như phân bón để sản xuất ra lúa mì)
và vốn “nhân lực” để biểu thị chất lượng lao động được cải thiện nhờ đầu tư giáo dục chính qui và hướng nghiệp1
Nguồn lực tự nhiên là khái niệm dùng để chỉ tiềm năng về đất đai, tài
nguyên thiên nhiên và những điều kiện tự nhiên khác Nguồn lực tự nhiên được coi là món quà của thiên nhiên hay của “Chúa” ban tặng Nó bao gồm cả những tài nguyên có thể sử dụng được, lẫn tài nguyên sẽ được sử dụng trong tương lai Mặc dù hàm lượng của nguồn lực tự nhiên có thể sử dụng được có xu hướng cạn dần, song nhờ những phát minh mới và những kỹ thuật mới trong khai thác, sử dụng, hàm lượng đó có thể được bổ sung thêm Chẳng hạn, đất đai và tài nguyên thiên nhiên được đánh giá là không sản sinh được, nhưng ở một số thành phố khan hiếm đất như Singapore, Bombay, Boston, lượng đất mới khai thác hàng năm vẫn tăng lên Thêm vào đó, mặc dầu chỉ có khoảng 11% vùng đất của quả
đất là đất canh tác, nhưng nhờ hệ thống tưới tiêu, thủy lợi, nhờ việc sử dụng phân bón, giống mới và kỹ thuật mới, diện tích đất canh tác thường xuyên được mở rộng 2
Trong nguồn lực tự nhiên, đất đai và tài nguyên thiên nhiên mặc dù thường
được xem xét trong sự kết hợp, song chúng vẫn là những tài sản khác nhau Nếu
đất đai là tài sản cố định, không di chuyển được và có thể được tái tạo thì ngược lại, tài nguyên thiên nhiên là thứ có thể di chuyển được và hầu hết không có khả năng tái tạo Các nguồn năng lượng thuộc tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo bao gồm dầu khí, than đá, than nâu, than bùn, khí đốt tự nhiên, các dòng hải lưu nóng trên trái đất, chất uranium và thorium Các nguồn năng lượng tái tạo được bao gồm năng lượng quang hợp chứa đựng trong các cây và động vật (chẳng hạn như lương thực, gỗ, phân động vật và nhiên liệu từ thực vật), năng lượng mặt trời, nước, gió và sức kéo động vật Tuy nhiên, trên thực tế, đường ranh
1 Xem: Michael P Todaro (1998) Kinh tế học cho thế giới thứ ba Nxb Giáo dục, tr.96
2 Xem: E Wayne Nafziger (1998) Kinh tế học của các nước đang phát triển Nxb Thống kê,
tr 299
Trang 35giới giữa tài nguyên thiên nhiên và vốn là không rõ ràng; chẳng hạn, năng lượng khi được đưa vào quá trình sản xuất lại trở thành nguồn vốn (Theo earl Cook 3)
Ngoài đất đai và tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, khí hậu) cũng có một vai trò đáng kể đối với sự phát triển kinh tế nói riêng, sự phát triển xã hội nói chung
Khác với khái niệm nguồn lực tự nhiên, khái niệm nguồn nhân lực hay nguồn lực con người (trong tiếng Anh thường sử dụng 2 từ “Manpower” và
“Human resources”) dùng để chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động Nội dung của khái niệm này không chỉ nói đến số lượng và khả năng chuyên môn, mà còn nói đến trình độ văn hoá, thái độ đối với công việc, cũng như mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động.ỡie
Xét theo ngữ nghĩa, nhân lực (Manpower) là một danh từ để hình dung nhân khẩu làm việc hay tham gia hoạt động kinh tế trong một quốc gia “Nhân lực” là chỉ người có năng lực và nguyện vọng làm việc, đã từng được học tập hay thông qua huấn luyện, hoặc có kinh nghiệm phù hợp với công việc, thông qua công việc đó để có được thu nhập cơ bản cho bản thân cũng như gia đình Trong từng thời điểm khác nhau, cá nhân trong cái gọi là “nhân lực” đó có thể là người làm việc, hay bán thất nghiệp (underemployment) hoặc thất nghiệp Nhân lực làm việc bao gồm: 1 Chủ; 2 Nhân viên được người khác thuê làm và kiếm được thu nhập; 3 Người kinh doanh sản xuất tự do không thuê người khác (self-employed workers); và 4 Người làm công việc gia đình không có thu nhập (unpaid family workers) Bất luận trạng thái công việc (employment status) của họ như thế nào chăng nữa, tất cả những bộ phận cấu thành đó đều có thể được gọi là “nhân lực”
Khái niệm “nguồn lực con người” (Human resources) có nội hàm rộng hơn khái niệm “nhân lực”, vì ngoài nhân khẩu hiện tại đang tham gia hoạt động kinh
tế, còn bao gồm những nhân khẩu tiềm tàng có thể được sử dụng Ví dụ như người phụ nữ hiện đang chăm lo việc nhà, song hy vọng khi con cái trưởng thành có thể
ra xã hội làm việc, hay người bị thương, đau ốm tạm thời không làm việc, hoặc học sinh đang chuẩn bị tương lai công việc của mình trong trường học đều có thể gọi là “nguồn lực con người” của quốc gia
Khái niệm “nguồn lực con người” từ lâu được sử dụng một cách khá phổ biến ở các nước phương Tây và nhiều nước trong khu vực châu á Thậm chí một
số nước Asean, chẳng hạn như Thái Lan, có Viện nghiên cứu nguồn lực con người Tuy nhiên, khái niệm “nguồn lực con người” đối với Việt Nam vẫn là một
3 Xem: E Wayne Nafziger (1998) Sđd., tr 299-300
Trang 36khái niệm mới Nó chỉ được sử dụng tương đối rộng rãi trên sách báo kể từ đầu những năm 90 trở lại đây Nói như vậy hoàn toàn không có nghĩa rằng, từ những năm 90 về trước chúng ta không nghiên cứu con người Trái lại, trước đây khi nói
đến vai trò của con người chúng ta thường sử dụng khái niệm “nhân tố con người”
Khi nói đến nhân tố con người, người ta thường xem xét con người trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Ngay quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về lực lượng sản xuất cũng nói lên điều đó Theo quan niệm ấy, lực lượng sản xuất là khái niệm biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện mức độ chinh phục tự nhiên của con người ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Do đó, lực lượng sản xuất chính là thước đo năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo
tự nhiên nhằm thoả mãn những nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài người Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động
Xét về thực chất, hai khái niệm “nguồn lực con người” và “nhân tố con người” không có gì khác nhau Nhưng khái niệm “nguồn lực con người” có nội hàm rộng hơn khái niệm “nhân tố con người” Khi nói đến nguồn lực con người, người ta xem xét con người trong mối quan hệ với tự nhiên Cùng với nguồn lực
tự nhiên và các nguồn lực khác, nguồn lực con người được xem là những yếu tố của sự phát triển xã hội
Bên cạnh các khái niệm trên, hiện nay người ta còn sử dụng khái niệm
“Phát triển nhân lực hay phát triển nguồn nhân lực” (Manpower or Human resources development) Một trong những chức năng của công nghiệp là thông qua chế tạo, luyện rèn, tạo hình để biến khoáng sản, kim loại thành những công
cụ có thể sử dụng được Tương tự như vậy, con người cũng phải thông qua một quá trình học tập và rèn luyện nhằm phát triển nhân cách cũng như những năng lực tiềm ẩn của mình, để có thể trở thành người có ích, hạnh phúc trong cuộc sống Phát triển nguồn nhân lực khác hẳn so với phát triển công cụ hay máy móc Kim loại không thể nào tự lựa chọn được mình sẽ được gia công như thế nào, trạng thái tương lai của mình hay cách sử dụng, vận hành của mình Nhưng trái lại, con người có thể lựa chọn con đường đi cho mình và tự do quyết định phương hướng cũng như hạn độ để phát triển bản thân Làm thế nào để người dân cả nước nắm bắt được các cơ hội giáo dục và đào tạo nhằm đưa ra những quyết định thích hợp nhất cho nhu cầu của quốc gia, cải tiến đời sống người dân, khiến mỗi người
có thể có được một nghề nghiệp mong ước nhất, là trách nhiệm của chính phủ và
Trang 37của toàn xã hội Việc tạo ra những cơ hội và đưa ra những chỉ dẫn, phương pháp
để nắm bắt và thực hiện những cơ hội đó chính là “phát triển nguồn nhân lực”
Trong quá trình phát triển, mọi quốc gia đều có kế hoạch hoặc quy hoạch phát triển nguồn nhân lực (Human resources development Planning) Làm thế
nào phát triển một cách thích đáng nguồn nhân lực của quốc gia là một công việc cực kỳ quan trọng, khó khăn và phức tạp Một quốc gia nếu không có kế hoạch thì rất có thể đến một lúc nào đó phát hiện ra nền công nghiệp hay nông nghiệp của mình bị đình đốn, đồng thời hàng triệu người bị thất nghiệp do quá trình học tập
và rèn luyện của họ không thích hợp với nhu cầu của kinh tế hiện đại Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực chỉ là việc dự tính nhu cầu kinh tế những năm trước mắt (dựa theo các ngành nghề cơ bản và sự phân chia các khu vực nghề nghiệp), đồng thời đưa ra những chính sách và những phương án thích đáng nhằm đạt được sự cân đối cho cung cầu nguồn nhân lực Do tính chính xác của việc dự tính thường
có nhiều giới hạn, nên kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cần có tính co dãn cao, thường xuyên phải kiểm tra để sửa chữa và bổ sung định kỳ cho phù hợp với nhu cầu thực tế và sự biến động của hoàn cảnh Do đó kế hoạch phát triển nguồn nhân lực là một nhân tố trọng yếu để đạt được sự phát triển về kinh tế, cho nên nó là một phần không thể thiếu trong kế hoạch phát triển kinh tế
Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực không chỉ nhằm mục đích tạo ra một cuộc sống tiêu chuẩn cao hay kinh tế phồn thịnh, mà hơn thế, nó phải bao gồm cả
sự ổn định chính trị lẫn những mục tiêu về các phương diện xã hội, văn hoá và
số phát triển người còn căn cứ vào hàng loạt tiêu chí khác dựa trên chỉ số tuổi thọ
và giáo dục của các nước
Trong lịch sử cũng như hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế nói riêng, đối với sự phát triển xã hội nói chung
Một số học giả đã nhấn mạnh vai trò quyết định của các yếu tố trong nguồn lực tự nhiên như vai trò của khí hậu, của các nguồn tài nguyên thiên nhiên đối với
sự phát triển kinh tế
Trang 38Ngay từ năm 1945, nhà địa lí học Ellesworth Huntington cho rằng, thông qua những tác động trực tiếp đến năng lượng và thành tựu của con người, các khí hậu khác nhau có vai trò quyết định đối với những mức độ khác nhau của nền văn minh Theo ông, những trình độ phát triển cao nhất của nền văn minh là do khí hậu ôn hoà quyết định Lúc đầu, quan điểm này bị phản ứng một cách hết sức mãnh liệt Nhưng gần đây, một số học giả lại cố gắng giải thích sự phát triển của kinh tế từ điều kiện khí hậu
Những người theo quan điểm trên đây cho rằng, các nền kinh tế chậm phát triển thường diễn ra ở các vùng khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là ở các vùng không có mùa đông Chính khí hậu nhiệt đới là điều kiện tốt cho cỏ dại, chuột, sâu hại, các bệnh ký sinh trùng phát triển Các gia súc ở vùng nhiệt đới thường mắc các bệnh
ký sinh trùng đường ruột Các bệnh này làm cho súc vật non chậm lớn, làm giảm năng suất, sản lượng sữa thịt, làm suy yếu khả năng làm việc của súc vật kéo, v.v
Bên cạnh đó, ở các vùng nhiệt đới, do khí hậu quá nóng, cho nên đất đai bị phá hủy, chất hữu cơ bị bốc cháy, các vi sinh bị giết chết Đồng thời, những cơn mưa như trút nước có thể phá vỡ cơ cấu đất đai và làm trôi đi màu mỡ Do đó, thảm thực vật nhiệt đới tươi tốt bị mất dần, đất đai bị bạc màu và giảm giá trị
Ngoài ra, khí hậu nhiệt đới còn là điều kiện thuận lợi cho bệnh tật của con người phát triển ở các vùng ôn đới, sự lan nhiễm bệnh ký sinh trùng thấp hơn nhiều so với các vùng nhiệt đới Người ta đã tính toán rằng khoảng 3/4 dân cư lớn tuổi của các vùng nhiệt đới bị nhiễm một số dạng bệnh ký sinh Chính bệnh tật cũng là nhân tố gây ra tình trạng kém phát triển về kinh tế ở các nước trong vùng khí hậu nhiệt đới
Như vậy, xuất phát từ ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới đối với đất đai, bệnh tật của cây trồng, động vật và con người , một số học giả đã đi đến kết luận rằng
sự chậm phát triển về kinh tế ở vùng khí hậu nhiệt đới là do điều kiện khí hậu qui
định
Một số học giả khác lại nói đến giới hạn của sự tăng trưởng do nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt Ngay từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhà kinh tế học người Anh - Manthus, đưa ra lí thuyết sự giảm sút kinh tế do lợi tức của tài nguyên thiên nhiên giảm dần Manthus cho rằng, mức tăng của dân
số có xu hướng nhanh hơn mức cung cấp lương thực Trong công trình của mình với nhan đề Luận về nguyên tắc của dân số (1798), Manthus đã trình bày về mối
quan hệ giữa tăng trưởng dân số và cái mà ông gọi là sự sống còn Theo ông, dân
số tăng lên theo cấp số nhân, còn của cải thì tăng theo cấp số cộng Do đó, mối
Trang 39quan hệ giữa tăng dân số và sự phát triển tuân theo quy luật thuận nghịch: người càng nhiều thì hàng hoá cho mỗi người càng ít; dân số tăng thì nguy cơ nghèo đói cũng tất yếu tăng lên Để giải quyết vấn đề đó, Manthus không chủ trương nâng cao các biện pháp kiểm soát dân số được thực thi ở tầm vĩ mô, mà thay thế điều
đó bằng việc ủng hộ tư tưởng tối ưu về dân số
Manthus đưa ra giả thuyết cho rằng, một nguồn lực cố định sẽ dẫn tới khả năng giảm thu nhập theo đầu người bởi hai hướng: nhiều người tiêu dùng phải chia nhau một số lượng sản phẩm nhất định và mỗi công nhân sẽ sản xuất ít hơn bởi có ít tư bản hơn Thêm vào đó, số lượng trẻ em tăng lên sẽ trở thành gánh nặng cho việc tiêu dùng bởi trẻ em chỉ tiêu dùng mà không sản xuất Điều đó cũng cản trở sự phát triển của phụ nữ - họ không thể đi làm ngoài các công việc gia đình Cuối cùng, sự gia tăng dân số sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế với lý do là phải tăng chi phí cho giáo dục mà giảm đầu tư cho sản xuất
Tuy nhiên, trước những thực tế của các nước, lý thuyết này đã vấp phải sự
bế tắc cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Việc phân tích trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, không thể dùng phép thống kê đơn thuần để để lý giải một cách giản đơn mối liên hệ giữa tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, giữa quy mô dân số và tăng trưởng kinh tế, giữa quy mô dân số và nguồn lực hoặc giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường4
Thực tế lịch sử chỉ ra rằng, các nước chậm phát triển nhất, mặc dù đã áp dụng chính sách kiểm soát dân số vẫn không giải quyết được những vấn của sự phát triển, những vấn đề thuộc về “bẫy dân số” Điều đó chứng tỏ rằng, chìa khoá của sự phát triển kinh tế không nằm ở sự kiểm soát dân số Đối lập với các nước chậm phát triển và đang phát triển, hiện nay các nước phát triển, như các nước ở châu Âu, đang đối mặt với tình trạng già hoá dân số và điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề tài chính công và sản xuất Các nghiên cứu mới đây ở phương Tây cũng khẳng định rằng, không có mối liên hệ rõ ràng và tất yếu giữa dân số và sự tăng trưởng kinh tế, dân số và nghèo đói, dân số và nguồn lực, hoặc dân số và môi trường Nghiên cứu một số nước, người ta có thể tìm ra một vài mối liên hệ qua lại nào đó giữa dân số và sự tăng trưởng kinh tế, nhưng lại không tìm thấy mối liên hệ đó trong các nước khác Do đó, xét trên bình diện chung, chúng ta có thể nói rằng, không đủ căn cứ để khẳng định một cách dứt khoát và chắc chắn rằng, mật độ dân số sẽ tạo điều kiện hoặc cản trở sự phát triển kinh tế
4 Nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng ở phương Tây đã khẳng định điều này; chẳng hạn: Denison (1985), Rosenbegr và Birdzell (1986), Eberstadt (1995), Agenor và Montiel (1996), v.v
Trang 40Để chống lại quan điểm của Manthus, một số nhà kinh tế học đã đưa ra lý thuyết mang tên Lý thuyết cổ điển mới Mô hình cổ điển mới về kinh tế do Solow
đưa ra năm 1956 Những người ủng hộ mô hình này cho rằng, để phát triển kinh
tế cần tăng cường phổ biến công nghệ, tập trung đầu tư tư bản vật chất Họ không quan tâm hoặc không tính đến bất kỳ mối liên hệ nào giữa dân số và kinh tế Những người ủng hộ mô hình kinh tế cổ điển mới đã lấy kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới (Nics) làm ví dụ để chứng minh cho lý thuyết của mình Thực tế đã chứng minh rằng, tất cả các nước NICs đều tiến hành đầu tư trực tiếp tư bản vật chất một cách rộng khắp trong vòng một thập kỷ gần đây và các trường
đại học của Mỹ cũng đã thu hút một số lượng lớn các sinh viên là công dân của các nưóc Nics Đồng thời, bản thân các nước này cũng đã không ngừng nâng cao vai trò và ý nghĩa của hệ thống giáo dục trong nước
Đến đầu những năm 70 (thế kỷ XX), câu lạc bộ Roma đã giao cho một nhóm các học giả nghiên cứu ảnh hưởng của các xu hướng tăng trưởng kinh tế đối với sự tồn tại của chúng ta Các học giả này đã dựa trên những xu hướng tăng trưởng kinh tế trong 70 năm (1900-1970) để dự báo tác động của việc mở rộng công nghiệp và mức tăng dân số đến ô nhiễm môi trường, tiêu dùng lương thực và
đến những nguồn tài nguyên không thể tái tạo được Xuất phát từ đó, họ cho rằng
do trái đất là có hạn, cho nên bất kỳ việc mở rộng kinh tế một cách không có giới hạn nào đều đe dọa sự tồn tại của bản thân trái đất Sự tăng trưởng kinh tế một cách ồ ạt, bất chấp sự hủy hoại môi trường, mức độ tăng theo cấp số nhân khí CO2
do đốt cháy nguyên liệu hóa thạch, ô nhiễm nhiệt và những chất thải tan được trong công nghiệp, nông nghiệp đã đe dọa nghiêm trọng bầu khí quyển và nguồn tài nguyên nước có hạn của chúng ta Các học giả đã đi đến kết luận rằng, do nguồn tài nguyên thiên nhiên giảm dần, chi phí tăng, cho nên vốn đầu tư cho tương lai giảm; rằng nếu tiếp tục tăng trưởng như hiện tại thì các giới hạn đối với
sự tăng trưởng của hành tinh này sẽ xuất hiện vào một thời điểm nào đó trong thế
kỷ XXI và tại thời điểm đó, hệ thống kinh tế chung sẽ sụp đổ
Tuy nhiên, nhiều học giả đã chỉ ra những điểm sai trong các dự đoán cụ thể, cũng như những thiếu sót chủ yếu trong lí thuyết mà các học giả MIT đã đưa
ra Chẳng hạn, theo E.Wayne Nafziger, thiếu sót của lý thuyết này ở chỗ, nó đã giả định về mức tăng trưởng theo cấp số nhân của nhu cầu công nghiệp và nông nghiệp, đồng thời đánh giá một cách tùy tiện về những hạn chế của kỹ thuật; trong khi đó, chính tiến bộ kỹ thuật có thể giải quyết được những nhu cầu này 5
5 Xem: E Wayne Nafziger (1998) Sđd., tr 319