C.Mac và F.Enghen tuy tập trung quán triệt chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào lĩnh vực xã hội, song không coi nhẹ lĩnh vực khoa học tự nhiên, mà luôn luôn coi khoa học tự nhiên là
Trang 1GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA
F.ENGHEN
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
Tác phẩm được F.Enghen viết vào những năm 1873-1883 Lúc này F.Enghen còn bận nhiều công việc khác của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế Đây
là tác phẩm chưa hoàn thành của F.Enghen
- Trước 1925 chỉ có hai bài trong tác phẩm này được công bố: “Vai trò của lao động trong quá trình vượn biến thành người - 1896”, “Khoa học tự nhiên trong thế giới thần linh - 1898” Năm 1925, toàn bộ tác phẩm lần đầu tiên được xuất bản tại Liên-xô
- Giữa thế kỷ XIX khoa học tự nhiên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đã tích luỹ được một khối lượng tri thức khổng lồ, nhưng vẫn chưa có một sự khái quát mới về triết học C.Mac và F.Enghen tuy tập trung quán triệt chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào lĩnh vực xã hội, song không coi nhẹ lĩnh vực khoa học
tự nhiên, mà luôn luôn coi khoa học tự nhiên là cơ sở của mọi tri thức Theo F.Enghen “với những phát minh mới của khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật cũng thay đổi hình thức” Cho nên, để phát triển triết học không thể không nghiên cứu khoa học tự nhiên, khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên Tác phẩm này của F.Enghen trên cơ sở khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên, đưa ra khái quát mới về mặt triết học, bổ sung và phát triển phép biện chứng duy vật, đánh giá đúng các thành tựu đã đạt được và vạch phương hướng cho khoa học tự nhiên tiếp tục phát triển
- Đây cũng là thời kỳ chủ nghĩa duy tâm, siêu hình và chủ nghĩa thực chứng đang gây những cản trở lớn cho sự phát triển của khoa học tự nhiên F.Enghen viết tác phẩm này cũng nhằm phê phán các quan điểm đó và chứng minh chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứng là duy nhất thích hợp với khoa học tự nhiên hiện đại Chính thế, các nhà khoa học tự nhiên phải tự giác đi theo phép biện chứng duy vật
và từ bỏ thế giới quan duy tâm và siêu hình
- Tác phẩm chưa hoàn thành, nhưng nó có ý nghĩa to lớn trong kho tàng lý luận Mác-Lênin Nó cung cấp cho chúng ta kiểu mẫu về việc vận dụng phép biện chứng trong quá trình phân tích, khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên, vạch ra phương hướng cho khoa học tự nhiên phát triển Nó cung cấp cho chúng ta nhiều vấn đề thế giới quan và phương pháp luận biện chứng duy vật
Cho đến nay khoa học tự nhiên đã có nhiều thay đổi nhưng những vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị
II Bố cục của tác phẩm.
Vì là bản thảo nên trật tự chương mục là vấn đề còn phải nghiên cứu Khi nghiên cứu tác phẩm này cần tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản theo từng bài, từng phần
Trang 2- Lời tựa (Tr 5 - 30)
- Những sơ thảo đề cương (Tr 31 - 36)
[ Các chương]
- Lời nói đầu (Tr 37 - 69)
- Bài tựa cũ của cuốn “Chống Đuy Rinh” (Tr 70 - 84)
- Khoa học tự nhiên trong thế giới thần linh (Tr 85 - 103)
- Phép biện chứng (Tr 104 - 114)
- Những hình thái vận động cơ bản (Tr 115 - 142)
- Sự đo lường vận động - Công (Tr 143 - 165)
- Sự ma sát của nước thuỷ triều Cant và Tômxơn - Te Sự quay của quả đất
và sức hút của mặt trăng (Tr 166 - 174)
- Nhiệt (Tr 175 - 182)
- Điện (Tr 183 - 265)
Tác dụng của lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người (Tr 266 -289)
Bút ký và đoạn ngắn
- Trích yếu lịch sử khoa học (Tr 290 - 316)
- Khoa học tự nhiên và triết học (Tr 317 - 332)
- Phép biện chứng (Tr 333 - 388)
- Những hình thái vận động của vật chất Phân loại các ngành khoa học (Tr
389 - 414)
- Toán học (Tr 415 - 442)
- Cơ học và thiên văn học (Tr 443 - 452)
- Vật lý học (Tr 453 - 478)
- Hoá học (Tr 479 - 481)
- Sinh vật học (Tr 482 - 512)
III Nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm
1 Những sơ thảo đề cương [31 - 36]
Ở đây F.Enghen vạch ra những dự kiến nghiên cứu bước đầu của mình Nhập đề cuốn sách khẳng định:
- Quan điểm siêu hình học tự bản thân nó khoa học tự nhiên không thể tồn tại được
- Phép biện chứng của Heghen là đầy rẫy mâu thuẫn
- Khẳng định sự sống của phép biện chứng duy vật
- Khẳng định giữa các khoa học tự nhiên đều có sự liên hệ lẫn nhau, trong đó toán học là công cụ bổ trợ và là phương thức biểu hiện quan hệ biện chứng Trong
Trang 3cơ học thiên thể, F.Enghen coi quán tính chỉ là biểu hiện của mặt trái của tính không thể tiêu diệt được của vận động
Trong vật lý học F.Enghen coi vận động vật lý chẳng qua là sự chuyển hoá lẫn nhau của các vận động phân tử (Điện, nhiệt, quang)
Trong hoá học F.Enghen bàn về lý luận năng lượng (phân tích và tổng hợp) Trong sinh học, từ chủ nghĩa Đác-uyn F.Enghen chỉ ra tính tất nhiên và ngẫu nhiên
- Lý luận về nhận thức F.Enghen chỉ ra sự khác biệt trong nhận thức luận của Đuy-boa Rây-mông và Nêghêli với Hemhôn, Cant, Hium
- Nghiên cứu về thuyết cơ giới của Hecken
- Bàn về linh hồn của nguyên sinh bào của Hecken và Nêghêli
- Bàn về khoa học và việc giảng dạy - Quốc gia tế bào của Viêcsốp
- Chính trị của chủ nghĩa Đác-uyn và học thuyết Đác-uyn về xã hội Hecken
và Smít những người phản đối chủ nghĩa xã hội Lao động phân hoá con người Ap dụng kinh tế chính trị học vào khoa học tự nhiên
- Khái niệm về công của Hemhôn
Trong sơ thảo sơ bộ, F.Enghen đã bàn đến các nội dung cơ bản sau:
1) Vận động nói chung
2) Hút và đẩy Truyền dẫn vận động
3) Việc áp dụng ở đây (định luật) bảo tồn và chuyển hoá năng lượng Đẩy -Hút - Sự can thiệp của sức đẩy = năng lượng
4) Trọng lực - Thiên thể - Cơ học địa cầu
5) Vật lý học, Nhiệt học, Điện học
6) Hoá học
7) Tóm tắt
a) Trước điểm 4: Toán học Đường thẳng vô cực + và - bằng nhau
b) Lúc khảo sát thiên văn học: Công do thuỷ triều sinh ra
Tính toán của Hemhôn về hai mặt II, 120 Lực của Hemhôn II, 190
[Chương]
2 Lời nói đầu [37 - 69]
Ở đây, F.Enghen đã trình bày một số vấn đề cơ bản sau:
- Các giai đoạn phát triển cơ bản của khoa học tự nhiên và triết học trong lịch
sử loài người cho đến khi F.Enghen viết tác phẩm này (1873 - 1883)
- Sự xuất hiện sự sống, xuất hiện con người là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của tự nhiên Sự khác nhau cơ bản giữa con người và động vật là con người biết lao động sản xuất Lao động sản xuất là hoạt động cơ bản của con người Nó quyết định mọi hoạt động khác
Trang 4- Vận động của vật chất là bất diệt Vận động có nhiều hình thức Các hình thức có thể chuyển hoá lẫn nhau Bất diệt của vận động không chỉ về mặt số lượng,
mà còn cả về mặt chất lượng
3 Bài tựa cũ của cuốn “Chống Đuy Rinh” về biện chứng (Tr 70-84)
F.Enghen xếp bài tựa này vào trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” Trong bài tựa này, F.Enghen vạch ra các tư tưởng sau:
- Mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên và triết học Các nhà khoa học tự nhiên khi tích luỹ đến một trình độ nhất định sẽ đi đến những kết luận có tính chất triết học, ngược lại các nhà triết học phải dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên
- Vai trò của tư duy lý luận, của phép biện chứng F.Enghen khẳng định
“Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có
tư duy lý luận Phép biện chứng là một hình thức tư duy quan trọng nhất của khoa học tự nhiên hiện đại
- Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng: Biện chứng cổ Hy lạp, Biện chứng của triết học cổ điển Đức, Biện chứng của C.Mac
4 Khoa học tự nhiên trong thế giới thần linh (Tr 85 - 103)
F.Enghen chỉ ra, nếu các nhà khoa học tự nhiên chỉ dừng lại chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tư duy lý luận thì sẽ đi đến những kết luận sai lầm, đi đến chủ nghĩa thần linh F.Enghen chỉ rõ: “xem thường phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt Chỉ có phép biện chứng mới giúp cho chúng ta liên kết hai sự kiện với nhau, vạch ra mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng.”
5 Phép biện chứng (Tr 104 - 114)
F.Enghen chỉ ra: Các quy luật của phép biện chứng là rút ra từ lịch sử của giới tự nhiên và lịch sử loài người Đó là quy luật chung của tự nhiên, xã hội, và tư duy Các quy luật đó quy thành ba quy luật: Lượng - Chất, Mâu thuẫn, Phủ định của phủ định biện chứng
F.Enghen tập trung trình bày một số nội dung cơ bản của quy luật Lượng -Chất Trong đó ông chỉ ra cơ sở của sự chuyển hoá về chất, sự chuyển hoá về chất
và điểm nút trong quá trình chuyển hoá đó, những biểu hiện của quy luật lượng -chất trong các lĩnh vực khác nhau, nhất là trong lĩnh vực hoá học
6 Những hình thái vận động cơ bản (Tr 115 - 142)
F.Enghen tập trung nói về vận động với các nội dung cơ bản sau:
- Vận động là phương thức tồn tại và là thuộc tính cố hữu của vật chất
- Giới tự nhiên có các hình thức vận động cơ bản là: Cơ học, Vật lý, Hoá học, Sinh học
- Mối quan hệ giữa vận động và thay đổi vị trí Vận động càng cao thì sự thay đổi vị trí càng nhỏ
Trang 5- Vật chất vận động là tuyệt đối Mọi vận động luôn luôn là vận động của vật chất Vận động của vật chất là vận động tự thân, nó không tự nhiên sinh ra và cũng không bị tiêu diệt
- Mọi vận động đều là tác đông tương hỗ giữa hút và đẩy Hút và đẩy trong
vũ trụ phải bằng nhau, không có một lúc nào đó mặt này sẽ thắng mặt kia
- Các hình thức vận động có thể chuyển hoá lẫn nhau trong điều kiện nhất định
7 Sự đo lường vận động - Công (Tr 143 - 165)
F.Enghen vạch ra cuộc đấu tranh giữa các nhà vật lý về công thức đo vận động - công Người chỉ ra: do bị chi phối bởit tư tưởng siêu hình cho nên các nhà vật lý đương thời đã không xác định đúng giới hạn của các phát minh của mình
Vận dụng phép biện chứng vào việc phân tích các công thức đo vận động -công, F.Enghen đã đánh giá một cách đúng đắn giá trị của các công thức đó F.Enghen chỉ ra “mỗi một cách đo thích hợp với một loạt hiện tượng có hạn và rất xác định” và F.Enghen đã chỉ ra một cách cụ thể công thức nào thích hợp với trường hợp nào
8 Sự ma sát của nước thuỷ triều Cant và Tômxơnte Sự quay của quả đất và sức hút của mặt trăng (Tr 166 - 174) Nhiệt (Tr 175 - 182) Điện (Tr 183
- 265)
Trong ba phần này, F.Enghen đi phân tích một số lĩnh vực cụ thể trong khoa học tự nhiên
9 Tác dụng của lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người (Tr
266 - 289)
Ở đây F.Enghen tập trung phân tích vai trò của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người Ông chỉ ra: “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người Lao động đã làm cho con người khác với con vật, đã làm cho ý thức của con người hình thành, phát triển Sự phát triển của lao động sản xuất cũng quyết định hình thành phát triển các mặt khác của đời sống xã hội”
F.Enghen cũng chỉ ra vai trò to lớn của ý thức đối với hoạt động của con người và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa duy tâm
F.Enghen cũng chỉ ra mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên Xã hội là một bộ phận cuả tự nhiên, thống nhất chặt chẽ với tự nhiên Trong quá trình chinh phục tự nhiên có nhiều hậu quả không thể biết ngay được, mà phải trải qua một thời kỳ phát triển, tìm tòi Song để giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thì chỉ nhận thức thôi là chưa đủ mà phải giải quyết về mặt xã hội nữa
Bút ký và đoạn ngắn 10.Trích yếu lịch sử khoa học (Tr 290 - 316)
Trang 6F.Enghen chỉ ra phải nghiên cứu sự phát triển tuần tự của từng ngành khoa học tự nhiên và khẳng định: “ngay từ đầu, sự phát sinh và phát triển của các ngành khoa học đã do sản xuất quy định” Sản xuất vật chất là cơ sở nền tảng của mọi chế
độ xã hội trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử, đồng thời giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của mọi ngành khoa học
F.Enghen trình bày khái quát sự phát triển của khoa học từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XVIII và khẳng định vai trò quyết định của sản xuất đối với sự ra đời và phát triển của khoa học
- Đoạn “quan niệm của những người cổ đại về tự nhiên”, F Enghen tóm tắt những quan niệm mộc mạc chất phác của các nhà triết học thời cổ đại về giới tự nhiên và linh hồn
- Đoạn “Sự khác nhau giữa tình hình hồi cuối thời cổ đại vào khoảng những năm 300 và tinh hình hồi cuối thời kỳ trung cổ, năm 1453” F.Enghen nhận xét một
số mặt về sự phát triển văn hóa cuối thời trung cổ so với cuối thời cổ đại
- Đoạn “Lấy trong lĩnh vực lịch sử Những sáng chế” F.Enghen ghi lại thời gian của một số sáng chế
- Đoạn “Lấy trong lĩnh vực lịch sử” F.Enghen đánh giá cao tính chất cách mạng của khoa học tự nhiên hiện đại và đã chia ra các giai đoạn phát triển của khoa học tự nhiên hiện đại:
+ Giai đoạn đầu bắt đầu từ thời phục hưng và kết thúc với sự thống trị của cơ học cổ điển của Niutơn Đây là giai đoạn khoa học tự nhiên nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt, tách rời nhau; nghiên cứu tự nhiên trong trạng thái không có lịch sử trong thời gian
+ Giai đoạn thứ hai, sự phát triển của khoa học tự nhiên bắt đầu từ Cant và Lapơlátxơ Đây là giai đoạn khoa học tự nhiên đi vào nghiên cứu sự thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau giữa các lĩnh vực; nghiên cứu sự vận động phát triển của giới tự nhiên từ thấp đến cao
- Đoạn “Rút bỏ ra khỏi tập Ludwig Feuerbach”, F.Enghen đánh giá các thành tựu của khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XIX, đặc biệt là ba phát kiến vĩ đại: Học thuyết tế bào của bốn nhà khoa học Gôriannhicốp (người Nga), Puckin (người Tiệp), Sơlâyđen và Savanơ (người Đức); Học thuyết về bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của Rô-bét May-e; và học thuyết tiến hoá của Đac-uyn Những phát hiện đó đã chứng minh giới tự nhiên là một hệ thống những mối liên hệ và các quá trình, và chúng là cơ sở của “quan điểm duy vật về giới tự nhiên” F.Enghen khẳng định: “Thế giới quan duy vật chỉ có nghĩa là sự hiểu biết về giới tự nhiên y như nó
đã biểu hiện ra, không thêm thắt gì ở ngoài vào”
11 Khoa học tự nhiên và triết học (Tr 317 - 332)
Ở đây F.Enghen tập trung nói về mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên với triết học Nội dung cơ bản của phần này là:
Trang 7- Hai phương pháp cơ bản của triết học là: Siêu hình gắn với những phạm trù
cố định; Biện chứng gắn với những phạm trù không cố định F.Enghen chỉ ra biện chứng của Heghen là thần bí vì ông ta cho phạm trù là cái có sẵn, còn biện chứng của thế giới hiện thực chỉ là phản chiếu của những phạm trù ấy mà thôi F.Enghen khẳng định: Phép biện chứng ở trong đầu óc người ta chỉ là sự phản ánh của những hình thức vận động của thế giới hiện thực”
- F.Enghen chỉ ra, nếu như cuối thế kỷ XVIII thậm chí đầu thế kỷ XIX các nhà khoa học tự nhiên phần nào còn sử dụng phương pháp siêu hình cũ, thì vào giữa thế kỷ XIX với những phát minh mới của khoa học tự nhiên thì những phạm trù siêu hình cũ không còn thích hợp nữa, buộc một số nhà khoa học tự nhiên trở thành những nhà biện chứng không tự giác
- F.Enghen khẳng định các nhà khoa học tự nhiên không thể tách khỏi triết học mà luôn luôn bị triết học chi phối Vấn đề chỉ là chỗ họ bị chi phối bởi triết học nào, các thứ triết học tồi tệ hay là triết học thực sự khoa học (phép biện chứng)
12.Phép biện chứng (Tr 333 - 388)
a) Những vấn đề chung của biện chứng Những quy luật cơ bản của biện chứng.
F.Enghen chỉ ra sự khác nhau giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan đồng thời đi vào phân tích các quy luật cơ bản của phép biện chứng, nhưng trong đó đặc biệt nhấn mạnh quy luật mâu thuẫn
- F.Enghen nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của giới tự nhiên và có lĩnh vực ý thức tư tưởng và khẳng định, không có ở đâu có đồng nhất tuyệt đối mà đồng nhất là bao hàm sự khác biệt Đó là sự đồng nhất, thống nhất cuỉa các mặt đối lập
Sự vận động của giới tự nhiên là thông qua sự đấu tranh thường xuyên và sự chuyển hoá cuối cùng của các mặt đối lập Trong sự chuyển hoá ấy, F.Enghen đặc biệt chú ý đến khâu trung gian và cho rằng: các mặt đối lập đều phải thông qua những khâu trung gian mà chuyển hoá lẫn nhau
- Khi bàn về tất nhiên và ngẫu nhiên, F.Enghen phê phán các quan điểm siêu hình đã tách rời tất nhiên và ngẫu nhiên Ông đánh giá cao quan điểm của Heghen
về sự thống nhất biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
b) Lôgíc biện chứng và nhận thức luận bàn về những giới hạn của nhận thức.
- F.Enghen đánh giá cao quan điểm của Heghen cho rằng tính ngẫu nhiên đóng vai trò của nó, vai trò này được khái quát lại thành tính tất yếu trong tư duy biện chứng Trong mối quan hệ giữa trừu tượng và cụ thể, F.Enghen cho rằng quy luật chung còn cụ thể hơn bất cứ thí dụ “cụ thể” riêng lẻ nào
- F.Enghen nêu ra những sự khác nhau giữa lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng: Những phương pháp mà lôgíc thông thường thừa nhận thì con người và con vật đều giống nhau, chúng chỉ khác nhau về trình độ Trái lại, tư duy biện chứng
Trang 8-tư duy lấy sự nghiên cứu bản chất của ngay những khái niệm làm tiền đề - chỉ có thể có được ở con người
Khi phân loại các phán đoán, F.Enghen chỉ ra: “Lôgíc biện chứng - ngược lại với logíc học cũ hoàn toàn hình thức - không bằng lòng với việc chỉ nêu ra những hình thức vận động của tư duy, tức là những hình thức khác nhau của phán đoán và suy lý, và với việc xếp những hình thức ấy cái nọ bên cạnh cái kia không có sự liên
hệ nào cả Lôgíc học biện chứng suy từ hình thức này ra hình thức khác: xác định mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng; phát triển những hình thức cao từ những hình thức thấp F.Enghen đã chia phán đoán thành ba loại: đơn nhất, đặc thù
và phổ biến
- Giữa quy nạp và diễn dịch, F.Enghen phê phán những quan điểm tuyệt đối hoá cái này, phủ nhận cái kia và chỉ ra: giữa chúng có mối liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau Vấn đề là ở chỗ phải sử dụng mỗi cái cho đúng chỗ của nó F.Enghen cũng chỉ ra vai trò của phương pháp phân tích mô hình lý tưởng trong nghiên cứu khoa học
- F.Enghen đạc biệt nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Ông khẳng định chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn mới nhận thức được tính tất yếu Việc con người cải biến tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và là công việc trực tiếp nhất của tư duy Trí tuệ của con người phát triển song song với việc con người học cải biến tự nhiên
- Khi bàn về mối quan hệ nhân quả, F.Enghen chỉ ra: tác dụng lẫn nhau là nguyên nhân thật sự của các sự vật Muốn nhận thức được mối quan hệ nhân quả thì phải xuất phát từ những tác động lẫn nhau Khi tách khỏi mối liên hệ phổ biến
và nghiên cứu từng mối liên hệ riêng rẻ thì sự vận động nối tiếp nhau sẽ biểu hiện
ra cái này là nguyên nhân, cái kia là kết quả Phủ nhận nhân quả là phủ nhận quy luật
- Khi bàn về chất và lượng của sự vật, hiện tượng, F.Enghen khẳng định: Mọi chất lượng đều có vô vàn mức độ khác nhau về số lượng và chúng có thể đo được và nhận thức được; Sự vật nào cũng có chất, hơn nữa có vô vàn chất Giữa các sự vật khác nhau luôn luôn có một vài chất lượng chung nào đó; Trong nhận thức, các giác quan của chúng ta mang lại những tài liệu cảm tính khác nhau về sự vật nhưng cuối cùng chúng liên kết với nhau thành một chỉnh thể cho chúng ta nhận thức được sự vật
- F.Enghen chỉ ra nhận thức của con người đi từ cái đơn nhất lên cái đặc thù,
từ cái đặc thù lên cái phổ biến Khả năng nhận thức của con người là vô hạn, nhưng
nó được thực hiện thông qua cái hữu hạn Nhận thức của con người cũng phát triển rất quanh co, các học thuyết không ngừng loại trừ lẫn nhau
+ Đối với các khái niệm, F.Enghen cho rằng không thể nhận thức trực tiếp bằng các giác quan, mà chúng hình thành bằng con đường trừu tượng tượng hoá từ
Trang 9các tài liệu cảm tính do các giác quan mang lại Các khái niệm “vật chất”, “vận động” đều được hình thành như vậy
+ Trong các hình thức phát triển của khoa học, giả thuyết đóng một vai trò quan trọng Khi xuất hiện một vấn đề mới đòi hỏi phải đưa ra các giả thuyết Tài liệu kinh nghiệm về sau sẽ chọn lọc lại các giả thuyết, gạt bỏ giả thuyết này, sửa đổi giả thuyết khác cho đến lúc quy luật được xác định dưới hình thức thuần khiết
13.Những hình thái vận động của vật chất Phân loại các ngành khoa học (Tr 389 - 414)
- Theo F.Enghen, vật chất vừa gián đoạn, vừa liên tục Trong thế giới vật chất thì hút và đẩy không tách rời nhau
Vận động là hình thức tồn tại của vật chất: vật chất luôn luôn vận động, vận động luôn luôn là vận động của vật chất, vận động của vật chất là không thể bị tiêu diệt
Vận động và cân bằng không tách rời nhau Có vận động trong cân bằng và
có cân bằng trong vận động Cân bằng tạm thời là điều kiện chủ yếu của sự phân hoá của vật chất, của sự sống Vận động của cá biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng Vận động toàn bộ lại phá vỡ sự cân bằng riêng biệt Mọi sự cân bằng chỉ là tương đối tạm thời
Vận động của vật chất có nhiều hình thức và có quan hệ với nhau, có thể chuyển hoá lẫn nhau Hình thức vận động cao thực hiện được không thể tách rời hình thức vận động thấp, nhứng các hình thức vận động thấp đó không thể bao quát được hình thức vận động chủ yếu Thuộc tính của vật chất được bộc lộ thông qua vận động Các hình thức vận động là do bản chất của vật thể đang vận động mà ra F.Enghen đã phân chia các hình thức vận động của vật chất đi từ thấp đến cao là:
Cơ học, Vật lý học, Hoá học, Sinh học, Xã hội
- Về phân loại các khoa học, F.Enghen viết: “Mỗi ngành khoa học nghiên cứu một hình thức vận động riêng biệt hoặc một loạt hình thức vận động liên quan với nhau và chuyển hoá lẫn nhau Việc phân loại, sắp xếp bản thân các hình thức vận động theo thứ tự vốn có của chúng có tầm quan trọng đối với việc phân loại các ngành khoa học
Các hình thức vận động cùng phát triển, chuyển hoá từ hình thức này sang hình thức khác Chính thế các ngành khoa học cũng phát triển từ ngành này sang ngành khác Khi nghiên cứu khoa học, phải nghiên cứu những bước quá độ từ hình thức này sang hình thức khác F.Enghen rất chú ý bước quá độ này
- F.Enghen chỉ ra, vật chất và vận động là không thể sáng tạo ra, là nguyên nhân cuối cùng của bản thân chúng
- Vật chất với tính cách là vật chất thì không tồn tại cảm tính mà là một trừu tượng thuần tuý Các dạng vật chất cụ thể thì tồn tại cảm tính
Trang 10- F.Enghen chỉ ra mối quan hệ lẫn nhau và chuyển hoá lẫn nhau giữa lượng
và chất và cho rằng, không thể quy mọi sự khác nhau và mọi sự biến đổi về chất thành sự khác nhau và biến đổi về lượng
14.Toán học (Tr 415 - 442) Cơ học và thiên văn học (Tr 443 - 452) Vật
lý học (Tr 453 - 478) Hoá học (Tr 479 - 481) Sinh vật học (Tr 482 - 512)
Những phần còn lại này, F.Enghen phân tích một số lĩnh vực cụ thể như Toán học, Cơ học, Thiên văn học, Vật lý học, Hoá học và Sinh học
KẾT LUẬN: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM.
Nội dung triết học trong tác phẩm này là rất phong phú, tuy nhiên cần tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản về triết học xuyên suốt trong tác phẩm như sau:
1 Lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên.
F.Enghen đã khái quát lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên cho đến khi ông viết tác phẩm này và nghiên cứu nó gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội, với sự phát triển của sản xuất
Ông chia lịch sử phát triển của khoa học tự nhiên thành hai thời kỳ lớn: Thời
cổ đại khoa học tự nhiên chỉ là trực giác thiên tài, và Thời hiện đại khoa học tự nhiên đạt trình độ phát triển khoa học, toàn diện và có hệ thống
- Thời cổ đại, sự xuất hiện của khoa học tự nhiên gắn liền với yêu cầu phát triển của một số ngành sản xuất nhất định như trồng trọt và chăn nuôi Sự phân nghành khoa học khi đó chưa rõ ràng mà tất cả đều hoà vào triết học Khoa học tự nhiên còn mang tính trực quan, nó xem xét thế giới tự nhiên như một chỉnh thể và
là một quá trình biến đổi, phát triển
- Sau thời trung cổ và phục hưng khoa học tự nhiên mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ: thời kỳ khoa học tự nhiên hiện đại F Enghen lại chia khoa học tự nhiên hiện đại cho đến khi ông viết tác phẩm này thành hai giai đoạn:
+ Giai đoạn I bắt đầu từ thời phục hưng cho đến thế kỷ XVIII Giai đoạn này khoa học tự nhiên gắn với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, với cuộc cách mạng công nghiệp và gắn liền với cuộc đấu tranh kiên cường chống tôn giáo để khẳng định quyền sống của mình Đây là lúc khoa học tự nhiên đi vào phân ngành một cách mạnh mẽ Cuối giai đoạn này vật lý cơ học cảu Niu-Tơn giữ vai trò chi phối, khoa học tự nhiên khi đó chủ yếu là khoa học thực nghiệm Do phương pháp siêu hình, nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt không liên hệ nhau, nghiên cứu trong trạng thái tĩnh không biến đổi, không phát triển, mà bắt đầu của giai đoạn này khoa học tự nhiên rất cách mạng, nhưng về cuối lại trở nên bảo thủ Theo F Enghen, trong nửa đầu của thế kỷ XVIII, khoa học tự nhiên đã vươn cao hơn thời Hy-La cổ đại cả về khối lượng kiến thức cả về việc phân loại các tài liệu của mình bao nhiêu thì về mặt nắm vững những tài liệu này trên lý luận, về mặt quan niệm tổng quát giới tự nhiên nó lại kém xa thời ấy bấy nhiêu