1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỔI MỚI CHẾ ĐỘ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

178 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục luận giải sâu sắc, tạo sự nhận thức thống nhất về quyền bầu cử; các nguyên tắc và tiêu chí bầu cử tiến bộ; khái niệm, đặc điểm, nội dung và phương t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN NGỌC

ĐỔI MỚI CHẾ ĐỘ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 9 38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Đường

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ các công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phan Văn Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 7

1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15

1.3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề tiếp tục được nghiên cứu trong luận án 19

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỔI MỚI CHẾ ĐỘ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA 31

2.1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta 31

2.2 Khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương thức và vai trò của đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta 47

2.3 Kinh nghiệm đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở các quốc gia trên thế giới 64

Chương 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI CHẾ ĐỘ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA 71

3.1 Quá trình xây dựng và đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta 71

3.2 Những hạn chế, bất cập của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay 87

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHẾ ĐỘ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 112

4.1 Những tiền đề khách quan và phương hướng đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay 112

4.2 Các giải pháp tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay 122

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 170

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Thứ tự Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

1 ĐBQH Đại biểu Quốc hội

2 HĐBCQG Hội đồng bầu cử Quốc gia

3 HĐND Hội đồng nhân dân

4 HTCT Hệ thống chính trị

5 MTTQ Mặt trận Tổ quốc

6 UBND Ủy ban nhân dân

7 UBTVQH Ủy ban thường vụ Quốc hội

8 XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chế độ dân chủ, mà ở đó tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là thành tựu vĩ đại trong sự phát triển của nhân loại Chế độ bầu cử trở thành trụ cột của dân chủ, thể hiện trình độ phát triển của nền dân chủ ở mỗi quốc gia

Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 14/SL ngày 08.9.1945 về tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội và đặt nền móng cho sự hình thành chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội Cuộc Tổng tuyển cử năm 1946

được đánh giá thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ

của nước ta [81] Trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội có sự thay đổi, góp phần vào quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng

Bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chủ trương đổi mới, cải tiến, hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội đã sớm được đặt ra và triển khai thực hiện Tuy đạt được những bước phát triển cả về hệ thống pháp luật bầu cử và thực tiễn tổ chức thi hành nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Bầu

cử còn mang tính hình thức, quyền bầu cử và ứng cử chưa được bảo đảm một cách thực chất Chế độ bầu cử ĐBQH chưa trở thành một công cụ dân chủ trực tiếp hữu hiệu để nhân dân ủy quyền và kiểm soát quyền lực, buộc đại biểu phải gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri Chất lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của quá trình đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội, phát huy cơ chế dân chủ đại diện Thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội trong hơn ba mươi năm qua cho thấy đây là vấn đề khó khăn và hết sức phức tạp Giữa quyết tâm chính trị, chủ trương nêu ra trong các Nghị quyết của Đảng và kết quả thực tế vẫn còn một khoảng cách lớn Nhận thức lý luận và thực tiễn triển khai còn thiếu nhất quán, chưa đạt được sự đồng thuận cao

Chủ quyền thuộc về nhân dân là nền tảng của chế độ dân chủ Nhân dân là chủ thể tối cao, duy nhất của quyền lực nhà nước Thực hành quyền lập hiến và bầu

cử là hai phương thức trực tiếp, cơ bản nhất để nhân dân thực hiện quyền lực của

Trang 6

mình Do vậy, đổi mới chế độ bầu cử nói chung và chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội nói riêng là một đòi hỏi khách quan Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục luận giải sâu sắc, tạo sự nhận thức thống nhất về quyền bầu cử; các nguyên tắc và tiêu chí bầu cử tiến bộ; khái niệm, đặc điểm, nội dung và phương thức đổi mới chế độ bầu cử; vai trò đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội; về phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò của Nhà nước và quyền của nhân dân trong bầu cử…

Hiện nay, Đảng và Nhà nước xác định tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phát huy dân chủ, khẳng định dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Hai nhiệm vụ này gắn liền với việc tiếp tục đổi mới chế

độ bầu cử đại biểu Quốc hội để đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, phát huy hiệu quả của hình thức dân chủ đại diện Đồng thời phải đề cao, coi trọng mở rộng dân chủ bằng cơ chế dân chủ trực tiếp, trong đó bầu cử chân thực và bãi nhiệm đại biểu là những hình thức dân chủ trực tiếp cơ bản nhất để nhân dân thực hiện chủ quyền, ủy thác và kiểm soát quyền lực nhà nước Hiến pháp năm 2013 ra đời đã hiến định những nội dung mới

về nguyên tắc chủ quyền nhân dân và cách thức nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước; nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Hiến pháp cũng đã quy định Hội đồng bầu cử quốc gia là một thiết chế hiến định độc lập

Bối cảnh chính trị - xã hội sau ba mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới đã

có những chuyển biến sâu sắc, tạo ra những tiền đề khách quan và cũng đặt ra những đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội Xây dựng và vận hành một chế độ bầu cử phù hợp có tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng và phát huy dân chủ, củng cố hệ thống chính trị, tạo sự chính đáng và hợp pháp cho chính quyền trong điều hành, quản lý đất nước

Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

ở nước ta là vấn đề thực sự có tính cấp thiết Chính vì vậy, Nghiên cứu sinh đã lựa

chọn chủ đề "Đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay" làm

Trang 7

đề tài Luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và các giải pháp tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội theo hướng thực sự dân chủ, dựa trên những nguyên tắc

và tiêu chuẩn bầu cử tiến bộ, phù hợp với điều kiện chính trị - xã hội của nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu tôn trọng, bảo đảm quyền bầu cử và ứng cử của công dân, bầu ra được những đại biểu xứng đáng đại diện cho nhân dân trong Quốc hội

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nêu trên, Luận án có nhiệm vụ:

- Khảo cứu, đánh giá các công trình nghiên cứu về bầu cử, đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở trong và ngoài nước, rút ra những giá trị tham khảo và xác định hướng nghiên cứu cho Luận án

- Khái quát và bổ sung thêm những luận điểm mới về chế độ bầu cử đại biểu

Quốc hội; xây dựng cơ sở lý luận về đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

- Nghiên cứu, phân tích thực trạng chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội qua các

giai đoạn lịch sử, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước; chỉ ra những tồn tại, bất cập của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội hiện hành

- Đề xuất phương hướng, giải pháp khả thi để tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội gắn với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng

và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa theo Cương lĩnh năm 2011 và Hiến pháp 2013

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận về chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội và đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội; quy định pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội; chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội và quá trình đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội từ năm 1986 đến nay; thực tiễn bầu cử đại biểu Quốc hội trong những nhiệm kỳ gần đây

Trang 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung, Luận án nghiên cứu về đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc

hội dưới góc độ luật Hiến pháp Trong quá trình nghiên cứu, Luận án có đề cập đến chế độ bầu cử nói chung để có cách nhìn tổng thể, liên hệ đến thực tiễn bầu cử trên thế giới dưới góc độ so sánh nhằm bổ sung, làm rõ hơn những vấn đề có liên quan

Về thời gian, Luận án xác định phạm vi nghiên cứu từ năm 1946 để thấy

được quá trình hình thành và phát triển của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội gắn với đặc điểm chính trị - xã hội ở mỗi giai đoạn, nhưng tập trung chủ yếu vào giai đoạn

từ 1986 đến nay - thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận:

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền nhân dân, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền,

bầu cử và đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong nghiên cứu khoa học pháp lý: tổng hợp, phân tích, đánh giá, bình luận, so sánh, thống kê số liệu, lịch sử cụ thể, phương pháp tham vấn chuyên gia, phương pháp nghiên cứu liên ngành

Các phương pháp được sử dụng cụ thể như sau:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, bình luận: là phương pháp cơ bản, được sử dụng để nghiên cứu, giải quyết các vấn đề đặt ra xuyên suốt Luận án;

- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu: sử dụng để nghiên cứu những vấn

đề về thực tiễn bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta;

- Phương pháp so sánh luật học: sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa quy định pháp luật cũng như thực tiễn bầu cử ở Việt Nam với một số nước trên thế giới;

- Phương pháp lịch sử cụ thể: sử dụng để đánh giá quá trình hình thành, đổi

Trang 9

mới, phát triển của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội gắn với từng giai đoạn lịch sử

Luận án sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia để thu thập các nhận định, đánh giá chuyên sâu của các chuyên gia có kinh nghiệm về bầu cử; sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành luật học, chính trị học và xã hội học để nghiên cứu một số nội dung đặc thù

5 Những đóng góp mới về khoa học của Luận án

- Một là, về phương diện lý luận, Luận án đã luận giải và làm sáng tỏ các

nguyên lý về bầu cử; tiếp cận quyền bầu cử từ chủ quyền nhân dân, dân chủ đại diện, quyền con người, quyền dân chủ trực tiếp Từ đó chỉ rõ khái niệm, nội dung

cơ bản và những đặc trưng của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta Trên cơ

sở đó, Luận án đã xây dựng được khái niệm, chỉ ra đặc điểm, nội dung, phương thức và vai trò đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội Đây chính là cơ sở lý luận góp phần nâng cao nhận thức, thống nhất hành động trong việc đổi mới chế độ bầu

cử đại biểu Quốc hội ở nước ta

- Hai là, về phương diện thực tiễn, Luận án đã nghiên cứu quá trình hình

thành, phát triển của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội gắn với những đặc điểm chi phối của bối cảnh lịch sử đất nước qua từng giai đoạn, nhất là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay Đồng thời, Luận án cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập của chế độ bầu cử trước những biến đổi trên nhiều mặt của đời sống chính trị - xã hội sau hơn ba mươi năm đổi mới đất nước Luận án đã phân tích, đánh giá cụ thể những hạn chế, bất cập theo từng yếu tố cấu thành của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội trong mối liên hệ với các yêu cầu của quá trình dân chủ hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền, thi hành Hiến pháp 2013 trong điều kiện mới Đây chính là cơ sở thực tiễn để Luận án đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay

- Ba là, về các phương hướng và giải pháp, trên cơ sở phân tích làm rõ

những tiền đề khách quan, những đòi hỏi của thực tiễn, Luận án chỉ ra được những định hướng đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay Từ đó, Luận án phân tích, kiến nghị theo các nhóm giải pháp khác nhau, có tính toàn diện

Trang 10

và nhấn mạnh đến một số giải pháp có tính đột phá: (i) Đổi mới tư duy lý luận về bầu cử, quyền bầu cử, tính đại diện của ĐBQH; (ii) Mở rộng các quyền bầu cử, bảo đảm thực chất quyền tự ứng cử trên cơ sở quy định chặt chẽ các điều kiện tự ứng

cử, lập danh sách người tự ứng cử không qua hiệp thương; (iii) Xây dựng Hội đồng bầu cử quốc gia độc lập, gợi mở phương hướng đổi mới hệ thống thiết chế quản lý bầu cử theo mô hình hỗn hợp; (iv) Đổi mới công tác dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu, cải tiến quy trình hiệp thương theo hướng dân chủ; (v) Tăng cường tính cạnh tranh, công khai, minh bạch trong bầu cử thông qua quy trình bầu cử, nhất là vận động bầu cử; (vi) Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về bầu cử

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Kết quả nghiên cứu của Luận án có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

- Về lý luận: Luận án góp phần làm phong phú thêm các luận điểm khoa học

về bầu cử và đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, về chủ quyền nhân dân, vai trò đại diện và mối quan hệ giữa đại biểu với cử tri, ủy quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua bầu cử Từ đó, Luận án góp phần đổi mới nhận thức lý luận

về bầu cử, bầu cử đại biểu Quốc hội và đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

- Về thực tiễn: Các phương hướng, giải pháp được đề xuất, kiến nghị trong

Luận án được áp dụng để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội cũng như các văn bản pháp luật về bầu cử; đổi mới công tác tổ chức các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội; các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy trong các trường đại học, các cơ sở đào tạo về luật hiến pháp

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận án được kết cấu gồm 4 chương

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

CẦN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Chế độ bầu cử, bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH là vấn đề mang tính chính trị - pháp lý, thuộc đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học như chính trị học, luật học Ở nước ta, đã có công trình nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống về chế độ bầu cử nói chung, nhưng chủ yếu vẫn là các bài viết trên các tạp chí khoa học

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về bầu cử, chế độ bầu cử

Các công trình nghiên cứu về chế độ bầu cử khá phong phú và đa dạng về thể loại:

- Sách chuyên khảo “Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới” (1997)[1]

của TS Vũ Hồng Anhtiếp cận khái niệm chế độ bầu cử theo nghĩa rộng là "tổng thể các quan hệ xã hội có trật tự gắn với cuộc bầu cử", theo nghĩa hẹp là "phương pháp phân ghế" Công trình nghiên cứu khái quát những vấn đề chung về bầu cử, các nguyên tắc và trình tự tiến hành bầu cử Pháp luật bầu cử có thể chia thành 3 nhóm: thủ tục trao quyền bầu cử; tổ chức, tiến hành bầu cử; xác định kết quả bầu cử và phương pháp phân bổ ghế đại biểu Đóng góp nổi bật của công trình nghiên cứu này

là đã đi sâu mô tả các hệ thống bỏ phiếu và các biến thể của nó, phân tích một số nội dung rất cơ bản về chế độ bầu cử ở 15 quốc gia

- Luận án tiến sĩ luật học "Chế độ bầu cử ở nước ta - những vấn đề lý luận và

thực tiễn" (2009) của Vũ Văn Nhiêm [97] Theo tác giả, chế độ bầu cử là tổng thể

các nguyên tắc, quy định pháp luật về tất cả các nội dung của bầu cử nhằm "chuyển hóa" ý chí nhân dân thành cơ quan đại diện; khẳng định bản chất của bầu cử là tính giai cấp, tính xã hội; đề cập đến các vai trò của chế độ bầu cử Tác giả đã phân tích

và đánh giá thực trạng chế chế độ, chỉ ra những hạn chế, bất cập Trên cơ sở đó đề

Trang 12

xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử từ góc độ nhận thức và pháp luật Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống đầu tiên dưới góc độ luật học về chế độ bầu cử

- Luận án tiến sĩ chính trị học "Hệ thống bầu cử ở một số nước tư bản phát

triển hiện nay - lý thuyết và hiện thực" (2008) [105] và sách chuyên khảo "Hệ thống bầu cử ở Anh, Mỹ và Pháp: Lý thuyết và hiện thực" (2009) [106] của TS Lưu Văn

Quảng Qua việc phân tích lý thuyết và thực tiễn bầu cử của các nước tư bản phát triển có nền dân chủ lâu đời (Anh, Mỹ, Pháp), tác giả đã chỉ ra những biểu hiện cụ thể và những giá trị phổ biến của một chế độ bầu cử dân chủ Kết quả nghiên cứu luận án đã đưa ra những gợi mở cho việc đổi mới và hoàn thiện công tác bầu cử ở Việt Nam như dân chủ hóa quá trình đề cử ứng cử viên trong Đảng, tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng, áp dụng đơn vị bầu cử một đại diện…

- Luận án tiến sĩ chính trị học "Hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng

nhân dân ở Việt Nam hiện nay" (2008) [82] của TS Vũ Thị Loan Mặc dù đây là

công trình nghiên cứu về chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) nhưng nhiều nhận định, đánh giá có sự liên hệ mật thiết với chế độ bầu cử nói chung Luận

án tập trung nghiên cứu quy trình bầu cử đại biểu HĐND và thực tiễn bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh Qua đó, đánh giá về sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, về nhận thức của người dân và các cơ quan, tổ chức trong quá trình bầu cử Tác giả cho rằng, Đảng phải nhận thức sâu sắc hơn về bầu cử, đổi mới phương thức lãnh đạo công tác nhân sự, thực hiện quy trình giới thiệu mở rộng, không nên hạn chế đảng viên tự ứng cử, phải xem cử tri bỏ phiếu cho đảng viên ứng cử đại biểu HĐND

là dịp nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm Đảng [82, tr.172-173]

- Cuốn sách "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực

nhà nước bằng dân chủ trực tiếp – Cơ sở lý luận và thực tiễn" (2017) [86] của

GS.TS Phan Trung Lý và TS Đặng Xuân Phương (Đồng chủ biên) đã nghiên cứu

về bầu cử và bãi miễn đại biểu với tính chất là một hình thức của dân chủ trực tiếp Xuất phát từ cách tiếp cận này, các tác giả đã đặt ra những vấn đề cần nghiên cứu như: Trách nhiệm của Nhà nước tổ chức để người dân thực hiện quyền bầu cử và

Trang 13

ứng cử; thẩm quyền của hội nghị hiệp thương; vấn đề thẩm tra, xác nhận tư cách đại biểu; cơ chế bảo đảm quyền bầu cử khi có khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bầu cử; xây dựng cơ chế pháp lý để cử tri bãi nhiệm đại biểu dân cử

- Cuốn sách “Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi

Hiến pháp 1992” (2012) [51] của GS.TS Trần Ngọc Đường đã nghiên cứu những

vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế thực hiện quyền lực Cuốn sách đã đề cập và nghiên cứu chế độ bầu cử với vai trò là một phương thức để kiểm soát quyền lực Theo tác giả, bầu cử và bãi miễn đại biểu của cử tri là phương thức để kiểm soát quyền lực nhà nước của nhân dân Dân có quyền bầu thì cũng có quyền bãi nhiệm những người phụ lòng tin của mình Do vậy, hoàn thiện pháp luật về bầu cử, ứng

cử, bãi nhiệm đại biểu ở nước ta là giải pháp để tăng cường phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước giữa nhân dân và Nhà nước

- Cuốn sách “Sự hạn chế quyền lực nhà nước” (2014) [27] của GS.TS

Nguyễn Đăng Dung đã dành một chương (Chương V) nghiên cứu về bầu cử với tính chất là một phương thức để giới hạn quyền lực nhà nước Theo tác giả, cơ chế bầu cử ở các chế độ chính trị có thể khác nhau nhưng những yếu tố cơ bản của chúng giống nhau đối với tất cả các xã hội dân chủ, kể cả dân chủ tư sản lẫn dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) Bầu cử trở thành công cụ để giới hạn quyền lực là

do tính định kỳ của các cuộc bầu cử và thông qua bầu cử người dân có khả năng thay thế các quan chức được bầu Sự hạn chế quyền lực bằng bầu cử còn thể hiện qua việc bãi nhiệm đại biểu không còn sự tín nhiệm của nhân dân Ngoài nội dung

về hạn chế quyền lực, chương V của cuốn sách cũng đã phân tích sơ lược về lịch sử của bầu cử, các hình thức bầu cử và những nét chính về chế độ bầu cử ở các nước

có nền dân chủ phát triển

- Cuốn sách “Bình luận khoa học Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ

nghĩa Việt Nam” (2014) [145] do GS.TSKH Đào Trí Úc và TS Vũ Công Giao

đồng chủ biên tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, trong đó có các bài viết về bầu

cử Bài viết “Các thiết chế hiến định độc lập trong Hiến pháp 2013” [145,

tr.548-554] của TS Nguyễn Văn Thuận cho rằng, Hiến pháp 2013 quy định Hội đồng bầu

Trang 14

cử quốc gia (HĐBCQG) là một thiết chế hiến định độc lập, hoạt động chuyên trách, thường xuyên Bài viết đã phân tích những ưu điểm của HĐBCQG độc lập và nêu

ra những yêu cầu cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của HĐBCQG

trong luật bầu cử Bài viết “Về việc luật định Hội đồng bầu cử quốc gia theo Hiến

pháp 2013” [145, tr.555-562] của TS Vũ Đức Khiển đề xuất phương án ban hành

văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của HĐBCQG tương tự như

luật tổ chức các cơ quan trong bộ máy nhà nước Bài viết “Thiết kế bộ máy giúp

việc của Hội đồng bầu cử quốc gia theo Hiến pháp 2013” [145, tr.563-574] của TS

Vũ Công Giao phân tích các mô hình bộ máy giúp việc cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới và đề xuất thiết kế bộ máy giúp việc cho HĐBCQG là một cơ quan chuyên trách, thường xuyên và chuyên nghiệp

Trong những năm vừa qua, những vấn đề lý luận và thực tiễn của chế độ bầu

cử còn được đề cập đến trong các bài viết nghiên cứu:

- Về chủ quyền nhân dân – nền tảng của chế độ bầu cử được đề cập đến

trong bài viết "Bầu cử - Một phương thức để nhân dân trao quyền, ủy quyền và

kiểm soát quyền lực nhà nước" (2011) [50] của GS.TS Trần Ngọc Đường; "Nguyên

lý chủ quyền nhân dân và biểu hiện của nó trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam" (2015) [124] của PGS.TS Trịnh Đức Thảo và PGS.TS Nguyễn Thị Việt

Hương; "Quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước qua các bản Hiến pháp" (2012) [118], "Chủ quyền nhân dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam" (2014) [119]

của GS.TS Phạm Hồng Thái Các bài viết đã phân tích, luận giải và khẳng định nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Bầu cử là phương thức nhân dân trao quyền, ủy quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước Chế độ bầu cử tự do và công bằng bảo đảm tính hợp pháp, chính đáng của quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị của đảng cầm quyền

- Về HĐBCQG – thiết chế hiến định độc lập trong Hiến pháp 2013 được

phân tích qua các bài viết "Quản lý bầu cử trên thế giới và những gợi ý cho Việt

Nam" (2013) [55] của TS Vũ Công Giao, "Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu

cử Quốc gia và việc sửa đổi Luật bầu cử đại biểu Quốc hội" (2014) [88] của TS

Trang 15

Ngô Đức Mạnh; "Bàn về Hội đồng bầu cử quốc gia trong dự thảo sửa đổi Hiến

pháp 1992" (2013) [52] của GS.TS Trần Ngọc Đường Các tác giả đã phân tích,

liên hệ với các mô hình cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới; khẳng định tính chất hiến định độc lập của HĐBCQG và cho rằng quy định HĐBCQG trong Hiến pháp

là điều kiện cần thiết để tổ chức các cuộc bầu cử công khai, minh bạch, dân chủ; đề xuất giải pháp để quy định về mối quan hệ, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐBCQG

- Về quy trình hiệp thương bầu cử, các bài viết "Góc nhìn khác về quy trình

hiệp thương giới thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân" (2016) [87] của ThS Mai Thị Mai; "Quy trình dân chủ và công khai để lựa chọn giới thiệu người có đủ điều kiện ứng cử đại biểu Quốc hội" (2011) [19] của

ThS Nguyễn Thanh Bình; "Ý chí nhân dân trong bầu cử và một vài ý kiến góp phần

bảo đảm ý chí nhân dân trong bầu cử ở nước ta" (2006) [73] và "Hiệp thương và tác động của hiệp thương đến việc phát huy tính tích cực của công dân trong thực hiện quyền bầu cử" (2007) [74] của ThS Trần Thanh Hương đã lý giải về sự tồn tại

của hiệp thương bầu cử, vai trò của hiệp thương trong giới thiệu người ứng cử, phân tích thực trạng và chỉ ra những bất cập của hiệp thương

Ngoài ra, liên quan đến chế độ bầu cử còn có các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học hoặc sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo của các tác giả: GS.TS Phan Trung Lý; GS.TS Nguyễn Đăng Dung; GS.TSKH Phan Xuân Sơn; TS Lưu Đức Quang; PGS.TS Trương Đắc Linh; TS Trần Đình Thắng Chế độ bầu cử nói chung cũng được đề cập đến với tính chất là một chế định của ngành luật Hiến pháp trong các giáo trình giảng dạy về ngành luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà

Nội, "Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam" (2014) [78] Trường Đại học Luật Hà Nội, "Giáo trình Luật Hiến pháp" (2009) [139]; Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, "Giáo trình bầu cử trong nhà nước pháp quyền" (2011) [99]… đã phân

tích nội dung pháp luật thực định về bầu cử ĐBQH

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Các công trình nghiên cứu về chế độ bầu cử ĐBQH, đổi mới, cải tiến, hoàn

Trang 16

thiện chế độ bầu cử ĐBQH có thể kể đến:

- Đề tài cấp bộ "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử ở Việt Nam

hiện nay" (2014) [127] do GS.TS Thái Vĩnh Thắng làm chủ nhiệm đã nghiên cứu

những vấn đề lý luận về bầu cử Nhóm tác giả đề tài đã phân tích nội dung, đánh giá thực trạng chế độ bầu cử qua 4 vấn đề cơ bản: quyền bầu cử, ứng cử; vận động tranh cử; đơn vị bầu cử; phương pháp xác định kết quả bầu cử Đề tài đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ sung và bảo đảm thực hiện các nguyên tắc bầu cử; tổ chức hai loại đơn vị bầu cử cho đại biểu ở trung ương và đại biểu ở địa phương; áp dụng bầu cử hai vòng; thành lập HĐBCQG; đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng đối với bầu cử

- Đề tài cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước

ta phù hợp với Hiến pháp mới” (2016) [84] do ThS Đặng Đình Luyến làm chủ

nhiệm đã phân tích về vai trò của chế độ bầu cử, nghiên cứu chế độ bầu cử qua 8 nội dung cấu thành Điểm mới của đề tài là đã bước đầu phân tích các quy định trong Hiến pháp 2013 có liên quan đến bầu cử, đánh giá sự tương thích, phù hợp giữa các quy định của Luật bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND năm 2015 với Hiến pháp mới Từ đó, đề tài rút ra ba vấn đề cần quan tâm nghiên cứu là: (i) Bảo đảm nguyên tắc bầu cử trực tiếp qua việc khắc phục tình trạng bầu hộ, bầu thay; (ii) Bảo đảm nguyên tắc bầu cử phổ thông bằng việc tạo điều kiện để công dân Việt Nam ở nước ngoài tham gia bầu cử; và (iii) Xác định tính chất của HĐBCQG là cơ quan chuyên môn, hoạt động thường xuyên

- Sách chuyên khảo "Đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Quốc hội" (2011)

[85] do PGS.TS Phan Trung Lý chủ biên đã phân tích, đánh giá thực trạng chế độ bầu cử ĐBQH ở nhiều khía cạnh như: nguyên tắc bầu cử; tiêu chuẩn, cơ cấu và số lượng đại biểu; hiệp thương bầu cử; đơn vị bầu cử… chỉ ra những hạn chế, bất cập trong thực tiễn bầu cử ở nước ta Tập thể tác giả đã kiến nghị những giải pháp để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử ĐBQH Đó là thực hiện việc giới thiệu ứng cử rộng rãi như cuộc Tổng tuyển cử năm 1946; áp dụng mô hình một đại diện; nghiên cứu để tổ chức các đơn vị bầu cử cho các ngành nghề, lĩnh vực; đổi mới phương thức vận động bầu cử, xây dựng ngân hàng thông tin về ứng cử viên; cải

Trang 17

tiến cách thức xác định kết quả bầu cử dựa trên tổng số phiếu bầu…

- Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm tính đại diện của Quốc hội đáp ứng yêu

cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” (2014)

[59] của Hoàng Minh Hiếu cho rằng, yếu tố bảo đảm đầu tiên cho tính đại diện của Quốc hội là chế độ bầu cử Mặc dù không đi sâu nghiên cứu về bầu cử ĐBQH, nhưng luận án đã đề cập đến thực trạng bầu cử và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện chế độ bầu cử ĐBQH như áp dụng đơn vị bầu cử một đại diện, bảo đảm quyền bầu cử của người Việt Nam ở nước ngoài, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và cạnh tranh…

- Luận văn thạc sĩ chính trị học "Bảo đảm tính cạnh tranh trong bầu cử Quốc

hội Việt Nam hiện nay" (2012) [58] của Phạm Thị Phương Hiền nghiên cứu những

vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp để tăng cường tính cạnh tranh trong các cuộc bầu cử ĐBQH Theo tác giả, tính cạnh tranh là yếu tố để đánh giá mức độ dân chủ của bầu cử Cạnh tranh giúp cho cử tri có cơ hội tốt nhất để lựa chọn đại biểu; nâng cao chất lượng đại biểu; phát huy tối đa giá trị lá phiếu Để bảo đảm tính cạnh tranh, cần có nhiều ứng cử viên tranh cử và họ phải có cơ hội để trình bày cương lĩnh hay chương trình hành động, có quyền bình đẳng vận động tranh cử,

cử tri phải có đầy đủ thông tin về ứng cử viên, đơn vị bầu cử có quy mô hợp lý và các thiết chế bầu cử thực sự trung lập…

- Các bài viết “Một số suy nghĩ về đổi mới chế độ bầu cử đảm bảo quyền bầu

cử và ứng cử của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”[125] và bài

“Những bất cập của chế độ bầu cử ở Việt Nam hiện nay”[126] của GS.TS Thái

Vĩnh Thắng phân tích về thực trạng bầu cử ở nước ta Tác giả cho rằng, trong bầu

cử ở nước ta tồn tại tư duy Đảng cử, dân bầu, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) hiệp thương, người dân không còn mặn mà với bầu cử, người tự ứng cử khó có thể vượt qua vòng hiệp thương và trúng cử Vì vậy, vấn đề đổi mới tư duy về bầu cử phải được coi là cấp bách, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội dân chủ thực sự Bài viết phân tích những hạn chế của chế độ bầu cử và đề xuất một số kiến nghị đổi mới chế

độ bầu cử, đảm bảo quyền bầu cử, ứng cử của công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

Trang 18

- Bài viết "Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu dân cử ở nước ta"

(2011) [48] của PGS.TS Nguyễn Minh Đoan đã đánh giá những mặt tích cực, phân tích thực trạng chế độ bầu cử, chỉ ra những hạn chế liên quan đến tính thực chất trong bầu cử, cơ hội lựa chọn của cử tri khi bỏ phiếu, ý thức và trách nhiệm của cử tri Tác giả bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử, trong đó cần lưu ý tiêu chí phân bổ ứng cử theo quê quán hoặc nơi làm việc, tăng số lượng ứng cử viên ở đơn vị bầu cử, giáo dục công dân về bầu cử, tăng cường số lượng đại biểu chuyên trách, xây dựng cơ chế bãi nhiệm đại biểu…

- Các bài viết “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII – Những vấn đề từ

thực tiễn” (2007) [120], “Các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI và XII – Một

số vấn đề đặt ra cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII” (2011) [121], "Xử lý những tình huống ngoài dự kiến trong bầu cử đại biểu Quốc hội " (2016) [123] của TS

Bùi Ngọc Thanh đã phân tích những bất cập từ thực tiễn bầu cử như: vấn đề tiêu chuẩn và cơ cấu; tự ứng cử; lấy ý kiến cử tri; phân bổ ứng cử viên trung ương; bầu thiếu đại biểu… và đề xuất các giải pháp khắc phục như quy định tiêu chí giới thiệu, lượng hóa các tiêu chuẩn ĐBQH, điều kiện ứng cử, bầu cử thêm, áp dụng thống nhất phương thức biểu quyết trong các hội nghị cử tri

- Bài viết “Đổi mới chế độ bầu cử ở Việt Nam là tiền đề quan trọng trong

việc đổi mới bộ máy nhà nước với việc bảo đảm quyền con người” (2012) [100] của

TS Vũ Văn Nhiêm Bài viết đã nêu ra các yêu cầu khách quan để đổi mới chế độ bầu cử là: (i) Bảo đảm tính đại diện của các cơ cấu xã hội trong các thiết chế dân cử

- Tiền đề trong việc đổi mới Quốc hội và HĐND, cơ sở quan trọng bảo đảm quyền con người; (ii) Sự thay đổi mạnh mẽ kết cấu xã hội Việt Nam tất yếu phải đổi mới chế độ bầu cử; và (iii) Dân chủ hóa và bảo đảm quyền con người - xu hướng tất yếu trong việc đổi mới chế độ bầu cử ở Việt Nam

- Bài viết "Đảng lãnh đạo công tác bầu cử ở nước ta: Thực trạng và giải

pháp" (2004) [114] của GS.TSKH Phan Xuân Sơn;"Đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội" (2011) [83] của TS Vũ Thị Loan,

Tống Đức Thảo đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác lãnh đạo của Đảng đối

Trang 19

với bầu cử ở nước ta nói chung và bầu cử ĐBQH nói riêng, chỉ ra những bất cập trong lãnh đạo công tác dự kiến cơ cấu, thành phần, giới thiệu nhân sự, lãnh đạo công tác hiệp thương… Bài viết cũng đã đề xuất những giải pháp về đổi mới nhận thức, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ để vừa phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của công dân

Chế độ bầu cử ĐBQH, hoàn thiện, đổi mới chế độ bầu cử cũng được đề cập đến trong các bài viết nghiên cứu đăng tải trên các Tạp chí khoa học, sách chuyên

khảo của các tác giả: PGS TS Bùi Xuân Đức, "Thành công của cuộc Tổng tuyển

cử bầu Quốc dân đại hội và những kinh nghiệm giúp hoàn thiện chế độ bầu cử hiện nay" (2016) [49]; GS.TSKH Phan Xuân Sơn, "Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta" (2007) [115]; Lưu Văn Quảng, "Đổi mới công tác bầu

cử để có một Quốc hội mang tính đại diện cao" (2007) [104]; TS Lê Thanh Bình,

"Thực hiện pháp luật về bầu cử và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam" (2014) [18]; ThS Hoàng Minh Hội, "Thực trạng thực hiện quyền bầu cử, ứng cử của công dân và một số đề xuất nâng cao việc thực hiện quyền bầu cử, ứng

cử ở Việt Nam hiện nay" (2014) [61]

1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở trên thế giới, vấn đề về bầu cử đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu theo hai lĩnh vực là pháp lý và chính trị

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về bầu cử, chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

- Cuốn sách "Free and Fair Elections" (2006) [180], "Bầu cử tự do và công

bằng", của Guy S.Goodwin-Gill do Liên minh Nghị viện thế giới xuất bản dưới sự

tài trợ của Viện nghiên cứu quốc tế về Dân chủ và Hỗ trợ bầu cử (International IDEA) Cuốn sách đã đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các quy định về tiêu chí bầu cử tự do và công bằng trong các điều ước quốc tế, sự chuyển hóa các tiêu chuẩn mang tính toàn cầu thành các quy định mang tính khu vực và được nội luật hóa phù hợp với điều kiện, bối cảnh của mỗi nước trong tiến trình cải cách chính trị, mở rộng dân chủ Công trình nghiên cứu đã phân tích các

Trang 20

tiêu chí về tự do và công bằng trong bầu cử thông qua các quy định cơ bản về quyền bầu cử, ứng cử; đăng ký bỏ phiếu; quyền và nghĩa vụ của ứng cử viên và các đảng phái chính trị; vận động bầu cử; cách thức tổ chức bầu cử; hệ thống các tổ chức phụ trách bầu cử; kiểm tra và giám sát bầu cử; vai trò của truyền thông bầu cử; quyền của các nhóm yếu thế (phụ nữ, dân tộc thiểu số…) tham gia vào quá trình bầu cử; trách nhiệm của nhà nước bảo đảm bầu cử tự do và công bằng

- Cuốn sách "Challenging the Norms and Standards of Election

Administration" (2007) [181], "Thách thức đối với các quy tắc và tiêu chuẩn trong quản lý bầu cử", của các tác giả Jarrett Blanc, Steven Clift, Jeremy Grace, Lisa

Handley, Marcin Walecki tiến hành nghiên cứu dưới sự tài trợ của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã phân tích những tác động của các yếu tố: bỏ phiếu điện tử; hệ thống internet; hoạt động bầu cử của cử tri ở nước ngoài; phân chia khu vực bầu cử và tài chính đến những chuẩn mực, quy định chung đối với việc quản lý bầu cử

- Ấn phẩm "USA Elections in Brief" (2012), "Tóm lược bầu cử ở Hoa Kỳ" [23], của Chương trình thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; "American Life

and Institutions" (1996), "Cuộc sống và các thể chế ở Hoa Kỳ" [24], của Doughlas

K Stevenson (Bản dịch tiếng Việt năm 2008) đã giới thiệu về các loại hình bầu cử, điều kiện ứng cử viên, vai trò của các đảng phái chính trị và rào cản đối với đảng phái thứ ba, hoạt động đề cử và bầu cử sơ bộ, vận động bầu cử, tài trợ tranh cử, thủ tục bầu cử, quản lý bầu cử, hành vi của cử tri, xu hướng vận động cải cách bầu cử…

Dưới góc độ chính trị học, trong tác phẩm "Factors in a two party and

multiparty system" (1972) [190], "Các nhân tố trong hệ thống hai đảng và hệ thống

đa đảng", Maurice Duverger đã tập trung nghiên cứu hệ thống bầu cử ở nhiều nước

trên thế giới và chỉ ra mối quan hệ giữa hệ thống bầu cử và các đảng phái Trong

cuốn "Parliament and Democracy in The Twenty-first Centery" (2006) [179], "Nghị

viện và Dân chủ trong thế kỷ 21", David Beetham đã phân tích vai trò của nghị viện

– sản phẩm của bầu cử trong việc thực thi dân chủ Trong các tác phẩm "Nations

and Governments: Comparative politics in regional perspective" Sixth Edition

Trang 21

(2011) [196], "Quốc gia và Chính phủ: Chính trị so sánh từ góc nhìn khu vực", của Thomas M Magstadt; "Comparative politics – political economy, polictical culture,

and political interdependence" (2005) [192], "Chính trị so sánh – kinh tế, văn hóa

và sự phụ thuộc lẫn nhau", của Monte Palmer đã chỉ ra sự khác nhau về hệ thống

bầu cử ở mỗi nước và cho rằng việc áp dụng hệ thống bầu cử tùy thuộc vào các yếu

tố lịch sử, chính trị, văn hóa của nước đó

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

- Bài viết "Reconceptualising Electoral Reform" (2011) [191], "Định nghĩa

lại về cải cách bầu cử" của các tác giả Monique Leyenaar và Reuven Y Hazan đã

phân tích quan niệm về cải cách bầu cử Theo các tác giả, các quan niệm cho rằng cải cách bầu cử là sự "thay thế ở quy mô lớn các công thức bầu cử của hệ thống bầu cử" (thay đổi công thức tính phiếu, chuyển đổi hệ thống bỏ phiếu) hay phải cố gắng

để đo lường mức độ thay đổi (20% ngưỡng bầu cử, phạm vi đơn vị bầu cử) là không thích hợp Cũng không thể phân chia cải cách thành "cải cách lớn", "cải cách nhỏ",

"cải cách kỹ thuật" để nghiên cứu vì không có cơ sở Các tác giả đã đề xuất quan niệm về cải cách bầu cử một cách rộng rãi hơn, đó là bất kỳ sự thay đổi nào của pháp luật về tiến trình bầu cử

- Bài viết "Catalysts and barriers: Explaining electoral reform in Western

Europe" (2016) [188], "Giải thích các điều kiện thúc đẩy và rào cản cải cách bầu

cử ở Tây Âu", của Lidia Nunez và Kristof T.E Jacobs được viết trên cơ sở khảo cứu

thực nghiệm 23 cuộc cải cách ở 16 nước Tây Âu từ năm 1975 đến 2005 Các tác giả cho rằng cải cách bầu cử có thể bị cản trở bởi 3 yếu tố: (i) Thủ tục, do các quy định liên quan đến bầu cử ở trong Hiến pháp nên việc thay đổi đòi hỏi một thủ tục phức tạp, không dễ đạt được; (ii) Cản trở của cơ quan tư pháp thông qua tòa án hiến pháp

để giải thích về tính hợp hiến của hệ thống bầu cử hiện hành; và (iii) Quyền lợi của đảng chính trị chiếm đa số đang được hưởng lợi từ hệ thống bầu cử Theo chiều ngược lại, cải cách bầu cử được thúc đẩy bởi 3 yếu tố khác: (i) Liên minh chính trị tạo sức ép để thỏa thuận chia sẻ lợi ích; (ii) Khủng hoảng hệ thống quản trị của một quốc gia; và (iii) Thái độ bất mãn của cử tri trước hệ thống bầu cử hiện hành

Trang 22

- Cuốn sách "Electoral Management Bodies as Institutions of Governance" (2000) [194], "Cơ quan quản lý bầu cử với tính chất là các thiết chế quản trị", của

GS Rafael López-Pintor nghiên cứu về tổ chức và hoạt động các cơ quan quản lý bầu cử ở nhiều quốc gia trên thế giới Cuốn sách đã tập trung phân tích đặc điểm các mô hình cơ quan quản lý bầu cử và thực tiễn vận hành ở nhiều quốc gia Từ việc khảo cứu thực tế, tác giả đã chỉ ra xu hướng cải cách bầu cử là chuyển đổi các cơ quan quản lý bầu cử sang mô hình độc lập, chuyên trách và thường xuyên, đặc biệt

là ở các quốc gia có nền dân chủ mới nổi hoặc chuyển đổi chế độ chính trị Vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan này cần phải được quy định trong hiến pháp thay vì các văn bản luật Các tiêu chuẩn thành viên và cơ chế bổ nhiệm là yếu

tố hàng đầu để các cơ quan quản lý bầu cử thực sự độc lập, khách quan và dễ được các bên tham gia tranh cử cũng như dân chúng chấp nhận

- Cuốn sách "Electoral System Design: The New International IDEA

Handbook" (2005) [176], "Thiết kế hệ thống bầu cử: Cẩm nang mới của International IDEA", của tập thể tác giả Andrew Reynolds, Ben Reilly và Andrew

Ellis cùng các cộng sự đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của hệ thống bầu cử, phân tích các đặc điểm và hệ quả của từng hệ thống, nêu ra các tiêu chuẩn thiết kế và các yếu tố cần cân nhắc khi lựa chọn hệ thống bầu cử Tập thể tác giả cho rằng, bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi nước là yếu tố quan trọng để áp dụng một hệ thống bỏ phiếu phù hợp với những thay đổi thích hợp Việc thiết kế và áp dụng một

hệ thống bỏ phiếu cần tuân theo các tiêu chuẩn, hướng tới một số mục tiêu được xác định trước, không chỉ đáp ứng các yêu cầu hiện tại mà còn có khả năng cải tiến, đổi mới để phù hợp với những thay đổi trong tương lai Công trình nghiên cứu đã khái quát các mô hình hệ thống bỏ phiếu cơ bản và các biến thể Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ các nước sử dụng từng loại hệ thống bỏ phiếu, sự chuyển đổi mô hình hệ thống bỏ phiếu phù hợp với sự thay đổi về điều kiện chính trị - xã hội

- Cuốn sách "Electoral Management Design: The New International IDEA

Handbook" (2006) [177], "Thiết kế hệ thống cơ quan quản lý bầu cử: Cẩm nang mới của International IDEA", của tập thể tác giả Alan Wall, Andrew Ellis, Ayman

Ayoub, Carl W Dundas, Joram Rukambe và Sara Staino được nghiên cứu và xuất

Trang 23

bản dưới sự hỗ trợ của International IDEA Công trình khảo sát mô hình tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý bầu cử trên thế giới, phân tích quyền hạn, nhiệm vụ và thực tiễn hoạt động và rút ra các kinh nghiệm tham khảo Việc thiết kế mô hình hệ thống các cơ quan quản lý bầu cử cần bảo đảm để hoạt động của hệ thống mang tính độc lập, công bằng, trung thực, minh bạch, hiệu quả và chuyên nghiệp Muốn đạt được điều đó, các cơ quan quản lý bầu cử phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động như: độc lập, công bằng, trung thực, minh bạch, hiệu quả, chuyên nghiệp và tinh thần phục vụ Theo tập thể tác giả, có ba mô hình: (i) Mô hình độc lập; (ii) Mô hình thuộc chính phủ; và (iii) Mô hình hỗn hợp

- Cuốn sách "Electoral Justice: The International IDEA Handbook" (2010) [182], "Tư pháp Bầu cử: Sổ tay IDEA quốc tế", của tác giả Jesus Orozoco-

Henriquez được nghiên cứu và xuất bản dưới sự hỗ trợ của International IDEA là một nghiên cứu chuyên sâu về giải quyết tranh chấp bầu cử (quy trình bầu cử, quyền bầu cử, ứng cử và kết quả bầu cử) bằng thủ tục tư pháp Đồng thời mở rộng, phân tích cơ chế giải quyết tránh chấp bầu cử bằng con đường hành chính Nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp ở nhiều nước, tác giả cho rằng thành lập cơ quan giải quyết bầu cử độc lập là xu hướng chung Để bảo đảm vị thế độc lập cho cơ quan này, thì vị trí, chức năng, nhiệm vụ phải được quy định bởi hiến pháp và luật;

tổ chức và hoạt động của nó cần tuân thủ các nguyên tắc và được bảo đảm bởi các điều kiện thuận lợi, nhất là về tổ chức và tài chính

Có thể thấy các công trình nghiên cứu ở nước ngoài khá đa dạng và luôn đặt trong bối cảnh Hệ thống chính trị (HTCT) đa đảng Do vậy, quá trình nghiên cứu cần có một cách nhìn đa chiều trong việc đánh giá các kết quả đạt được

1.3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

và những vấn đề tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.3.1 Các kết quả đạt được trong các công trình nghiên cứu liên quan đến

đề tài Luận án

Khảo cứu các công trình nghiên cứu ở trong và nước ngoài cho thấy những kết quả nổi bật sau:

Trang 24

1.3.1.1 Về lý luận chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội và đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Mặc dù chưa trực tiếp nghiên cứu về chế độ bầu cử ĐBQH và đổi mới chế

độ bầu cử ĐBQH, nhưng kết quả thể hiện trong các công trình, bài viết nghiên cứu

về chế độ bầu cử có giá trị tham khảo, nâng cao nhận thức trong việc nghiên cứu những vấn đề lý luận của Luận án:

- Nhận thức, lý luận về chủ quyền nhân dân - nền tảng của chế độ bầu cử - ngày càng rõ hơn cả về nội dung và phương thức thực hiện Quyền lực nhân dân được khẳng định là quyền lực tối cao và là quyền lực gốc, quyền lực nhà nước và quyền lực chính trị là các quyền lực phái sinh GS.TS Trần Ngọc Đường nhấn mạnh, nếu còn mơ hồ hay phân vân về chủ thể quyền lực nhà nước thì không thể tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước một cách thông suốt và hiệu quả [51, tr.175];

- Khẳng định quan điểm đảng chính trị có được quyền lực chính đáng thông qua con đường bầu cử dân chủ và tiến bộ "Đảng nắm quyền lực phải được lòng dân, phải được đa số trong xã hội ủng hộ thông qua các cuộc bầu cử" [117, tr.75] Chế độ bầu cử không những là công cụ bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, mà nó còn bảo đảm sự lãnh đạo đó hợp pháp nhất [97, tr.162] Đó cũng là

cơ chế hữu hiệu bảo đảm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân [106, tr.155];

- Khái niệm "chế độ bầu cử" và những nội dung cấu thành của chế độ bầu cử được phân tích, làm sáng tỏ từ các góc độ khác nhau, nhất là về đặc trưng, ưu điểm, hạn chế của các hệ thống bỏ phiếu và mô hình cơ quan quản lý bầu cử [176] [177] [194] Các tiêu chuẩn cơ bản về bầu cử tự do và công bằng được thừa nhận, khẳng định là những giá trị mang tính phổ quát của nền dân chủ, không phân biệt chế độ chính trị Chế độ bầu cử dân chủ thể hiện: (i) Cơ quan lập pháp và các vị trí đứng đầu chính quyền được bầu ra qua phổ thông đầu phiếu; (ii) Cạnh tranh giữa các ứng

cử viên; (iii) Bầu cử định kỳ; (iv) Tranh cử công bằng; (v) Công dân có quyền bầu

cử và ứng cử; và (vi) Công chúng có quyền được thông tin và tiếp cận thông tin về bầu cử [117, tr.77-78];

Trang 25

- Bầu cử không chỉ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước Vai trò của bầu cử được phân tích sâu sắc từ các phương diện: (i) Xác định tính chính đáng, hợp pháp của quyền lực nhà nước; (ii) Phương thức để nhân dân ủy quyền, lựa chọn người cầm quyền; (iii) Kiểm soát quyền lực nhà nước; (iv) Tạo diễn đàn cạnh tranh của các xu hướng chính trị; (v) Xây dựng sự đồng thuận xã hội, giải quyết xung đột bằng phương pháp hòa bình [97, tr.29-42] [105, tr.22-39] [128, tr.280-284];

- "Cải cách bầu cử" – khái niệm gần với "đổi mới chế độ bầu cử" – được tiếp cận theo nghĩa rộng, đó là sự thay đổi của hệ thống bầu cử [186] [187] [188] Tuy nhiên, không phải mọi thay đổi đều được xem là cải cách bầu cử Chỉ những thay đổi đem đến sự cải thiện về tính công bằng, toàn diện, minh bạch, liêm chính và chính xác trong tổ chức và quản lý bầu cử [177, p.295] [183, pp.11-12] mới được xem là cải cách bầu cử; Những cuộc cải cách bầu cử tạo ra sự thay đổi lớn trong hệ thống bầu cử diễn ra trong bối cảnh: (i) Quá trình chuyển đổi nền dân chủ; (ii) Khủng hoảng về quản trị trong nền dân chủ [176, p.20], được thúc đẩy hoặc bị cản trở bởi các yếu tố khác nhau [188]

1.3.1.2 Về quá trình hình thành, phát triển và thực trạng chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Từ mục đích nghiên cứu để cải tiến, hoàn thiện chế độ bầu cử, các học giả đã phân tích khái quát các đặc điểm của chế độ bầu cử qua các giai đoạn là những tư liệu thực tiễn có giá trị tham khảo, giúp Luận án đi sâu phân tích, chứng minh, làm sâu sắc thêm thực trạng chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta hiện nay:

- Quá trình hình thành, phát triển của chế độ bầu cử mà trọng tâm là chế độ bầu cử ĐBQH đã được các tác giả phân chia gắn với sự ra đời của các bản Hiến pháp, chỉ ra những đặc điểm nổi bật của chế độ bầu cử trong mỗi giai đoạn [97, tr.74-84] [166, tr.299-307]

- Nội dung pháp luật thực định về bầu cử nói chung và bầu cử ĐBQH nói riêng được phân tích trong các bài viết, các công trình nghiên cứu, nhất là trong các giáo trình giảng dạy về luật hiến pháp Tuy còn có sự khác nhau nhất định, nhưng

Trang 26

việc phân tích các quy định pháp luật thực định đã khá cụ thể và chi tiết [78, 415] [139, tr.327-350] Kế quả nghiên cứu cũng cho thấy hệ thống pháp luật bầu cử chưa đầy đủ, đồng bộ Nguyên tắc bầu cử tự do không được ghi nhận [97, tr.78-79]; quy định về căn cứ để phân bổ và giới thiệu ứng cử viên không rõ ràng; tiêu chuẩn ĐBQH không mang tính định lượng; quy định về bầu cử thêm thiếu tính khả thi [121] [122]…

tr.375 Những hạn chế của các cuộc bầu cử ĐBQH trên thực tế và hệ quả của nó đã

được chỉ ra và phân tích từ các khía cạnh: Quy trình hiệp thương chưa thực sự phát huy dân chủ, nặng về hợp thức hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo [74] [78, tr.418] [114, tr34] [117, tr.316-317] Cơ chế "Đảng cử, dân bầu" có những ưu điểm song trên thực tế dễ nảy sinh tình trạng gò ép, áp đặt, thiếu dân chủ [116, tr.331], "làm cho cử tri và người được bầu dựa dẫm, ỷ lại vào Đảng, không gắn bó mật thiết và chịu trách nhiệm trước người đã bầu ra mình" [51, tr.310] Số lượng người tự ứng cử trúng cử ĐBQH chiếm tỷ

lệ thấp [29] [117, tr.30] Vận động bầu cử hình thức, bầu cử thiếu tính cạnh tranh nên hạn chế khả năng lựa chọn của cử tri [48] [78, tr.419] [97, tr.106-111] [126] Tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý bầu cử chưa bảo đảm tính khách quan, chuyên nghiệp

1.3.1.3 Về các giải pháp đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Các công trình, bài viết đã đưa ra những giải pháp có tính gợi mở, giúp Luận

án hình thành các quan điểm, giải pháp tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta:

- Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH trong điều kiện chính trị nhất nguyên, một đảng cầm quyền lãnh đạo Do vậy, cần khắc phục tình trạng cơ quan, tổ chức Đảng làm thay, can thiệp vào các công việc cụ thể trong tổ chức bầu cử ĐBQH, nhất là trong hiệp thương bầu cử [82, tr.167-177] [97, tr.160-165]

- Nâng cao tính cạnh tranh trong bầu cử nói chung và bầu cử ĐBQH nói riêng Giải pháp đơn giản nhất được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất đó là tăng số dư

Trang 27

những người ứng cử so với số đại biểu được bầu, đa dạng hóa các hình thức vận

động bầu cử, khắc phục tình trạng "quân xanh, quân đỏ" trong bầu cử;

- Thiết kế các đơn vị bầu cử một đại diện, áp dụng hệ thống bỏ phiếu hai vòng được nhiều học giả kiến nghị Cả nước sẽ chia thành 500 đơn vị bầu cử dân số tương đương nhau để bầu 500 đại biểu [59, tr.148] [97, tr.170] [105, tr.162] Một phương án khác là cả nước có 300 đơn vị bầu cử cho địa phương và 179 đơn vị cho các ngành, lĩnh vực, có 21 đại biểu đương nhiên không qua bầu cử [127, tr.84-86]

Để bảo đảm tính đại diện cho các tỉnh, thành phố thì nên tổ chức Quốc hội theo mô hình hai viện [25, tr.321-322] [59, tr.149] [125];

- Đổi mới công tác quản lý bầu cử để bảo đảm tính khách quan trong tổ chức các cuộc bầu cử Cải tiến quy trình để hiệp thương, bảo đảm sự bình đẳng giữa người những người ứng cử [122, tr.34] [126, tr.176], không hạn chế quyền tự ứng

cử của các đảng viên [82, tr.173]…;

Một số giải pháp mang tính kỹ thuật cũng được đề xuất, kiến nghị như áp dụng công nghệ vào quản lý bầu cử; xóa bỏ thi đua, khen thưởng trong bầu cử; tập huấn nâng cao chất lượng công tác tổ chức bầu cử…

1.3.2 Những vấn đề đặt ra được tiếp tục nghiên cứu trong Luận án

1.3.2.1 Những vấn đề lý luận về chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội và đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Các công trình nghiên cứu trong nước chưa đưa ra được khái niệm về chế độ bầu cử ĐBQH, đổi mới chế độ bầu cử hay đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH Chưa có

sự phân biệt giữa đổi mới, cải tiến, hoàn thiện chế độ bầu cử Các học giả nước ngoài có quan niệm khác nhau về cải cách bầu cử Luận án đặt ra nhiệm vụ tiếp tục giải quyết những vấn đề lý luận sau:

- Một là, tiếp cận nghiên cứu chế độ bầu cử ĐBQH từ góc độ quyền lực nhân

dân; xây dựng khái niệm và làm rõ các nội dung của chế độ bầu cử ĐBQH; chỉ ra đặc điểm của chế độ bầu cử ĐBQH được quy định bởi đặc điểm của HTCT;

- Hai là, nghiên cứu xây dựng khái niệm đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH, làm

Trang 28

rõ các đặc điểm đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH; phân tích nội dung đổi mới, chỉ ra phương thức đổi mới và nhận diện các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta hiện nay;

- Ba là, nghiên cứu thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở các nước trên

thế giới, chỉ ra nội dung và xu hướng đổi mới, rút ra các kinh nghiệm tham khảo cho quá trình đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta

1.3.2.2 Những vấn đề về quá trình hình thành, phát triển và thực trạng chế

độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Hầu hết các công trình, bài viết mới chỉ nghiên cứu sự hình thành, phát triển của chế độ bầu cử ĐBQH trên cơ sở phân tích các nguyên tắc bầu cử và một số nội dung cơ bản của Hiến pháp, pháp luật thực định ở mỗi giai đoạn, chỉ ra những hạn chế, bất cập Thực trạng pháp luật và thực tiễn bầu cử ĐBQH theo quy định của Hiến pháp 2013, Luật bầu cử năm 2015 và chủ trương tổ chức đồng thời bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND các cấp là vấn đề chưa được đề cập đến Từ các nhiệm vụ đặt ra, Luận án tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Một là, phân tích quá trình hình thành, phát triển chế độ bầu cử ĐBQH theo

các nội dung cơ bản, chỉ ra những đặc trưng của chế độ bầu cử ở từng giai đoạn lịch

sử để đánh giá được những ưu điểm, hạn chế và sự tác động, chi phối có tính biện chứng của bối cảnh đến chế độ bầu cử;

- Hai là, nghiên cứu thực trạng chế độ bầu cử trong sự vận động, phát triển

từ năm 1986 đến nay gắn với việc thực hiện các chủ trương của Đảng trong điều kiện tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước để thấy được quá trình đổi mới, cách thức đổi mới, những kết quả đạt được, những ưu điểm để tiếp tục kế thừa;

- Ba là, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế, bất cập của chế độ bầu cử ĐBQH

hiện hành trên cơ sở phân tích các quy định mới của Hiến pháp 2013, Luật bầu cử năm 2015 và thực tiễn tổ chức đồng thời hai cuộc bầu cử trong cùng một ngày Nhận diện các vấn đề đặt ra đối với chế độ bầu cử ĐBQH trước bối cảnh mới của đất nước, phúc đáp yêu cầu, đòi hỏi của quá trình dân chủ hóa, xây dựng nhà nước

Trang 29

pháp quyền XHCN, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, đổi mới chế

độ bầu cử theo Hiến pháp 2013

1.3.2.3 Những vấn đề về phương hướng, giải pháp đổi mới chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Luận án kế thừa và phát triển, làm rõ các phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử, đồng thời đặt ra nhiệm vụ làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Một là, phân tích chỉ rõ những tiền đề làm nền tảng cho việc tiếp tục đổi

mới chế độ bầu cử ĐBQH; xác định các phương hướng đổi mới phù hợp với đặc điểm của bối cảnh chính trị - xã hội, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay;

- Hai là, nghiên cứu, đề xuất giải pháp đổi mới nhận thức về bầu cử, đổi mới

chế độ bầu cử ĐBQH trên cơ sở thừa nhận các nguyên tắc, tiêu chuẩn và giá trị bầu

cử tiến bộ; gắn đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH với việc nhận thức về quyền con người, về cơ chế dân chủ trực tiếp;

- Ba là, tiếp tục đề xuất giải pháp đổi mới hệ thống pháp luật về bầu cử

ĐBQH đầy đủ, đồng bộ phù hợp với nội dung và tinh thần mới của Hiến pháp 2013

để bảo đảm thực chất quyền bầu cử và ứng cử của công dân, quản lý bầu cử công khai, minh bạch làm nền tảng cho việc tổ chức các cuộc bầu cử ĐBQH tự do, công bằng trong xã hội dân chủ và pháp quyền;

- Bốn là, nghiên cứu kiến nghị giải pháp đổi mới các mối quan hệ trong bầu

cử ĐBQH, trọng tâm là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, thiết lập mối quan hệ về lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý bầu cử phù hợp với tiến trình đổi mới HTCT; cải tiến cách thức triển khai, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức bầu cử ĐBQH

1.3.3 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài Luận án

1.3.3.1 Các lý thuyết được sử dụng nghiên cứu

Học thuyết Mác – Lênin về dân chủ của số đông, mang tính giai cấp, thông qua các thành tố cấu thành của HTCT; quyền bầu cử gắn liền với quyền bãi nhiệm; đại biểu gắn bó với cử tri Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ -

Trang 30

"dân là chủ và dân làm chủ"; ĐBQH là "công bộc" của nhân dân, do nhân dân bầu ra, kiểm soát, giám sát và bãi nhiệm; dân chủ gắn với chuyên chính để dân chủ không trở nên cực đoan, tự do vô chính phủ Các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; về xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng và phát huy dân chủ XHCN

Luận án cũng được nghiên cứu dựa trên những nhân tố hợp lý trong các lý thuyết về dân chủ được thừa nhận rộng rãi Lý thuyết về chủ quyền nhân dân của J.J Rousseau (1712 - 1778), chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước có được là do nhân dân ủy quyền một cách tự nguyện Lý thuyết về dân chủ đại diện của Montesquieu (1689-1755), John Stuart Mill (1806 –1873) và James Madison Jr (1751-1836), nhà nước được hình thành thông qua bầu cử phổ thông, người dân có quyền kiểm soát nhà nước và thay đổi người cầm quyền Các lý thuyết

về nhà nước pháp quyền, về tôn trọng, bảo đảm quyền con người

1.3.3.2 Câu hỏi, giả thuyết và dự kiến kết quả nghiên cứu

(i) Về cơ sở lý luận đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH:

Câu hỏi nghiên cứu:

Chế độ bầu cử vận hành trên những nguyên lý nào? Chế độ bầu cử ĐBQH là

gì và mang những đặc trưng nào trong HTCT nhất nguyên? Thế nào là đổi mới chế

độ bầu cử ĐBQH? Những yếu tố nào tác động, ảnh hưởng đến quá trình đổi mới? Đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH hiện nay ở nước ta có vai trò gì? Thực tiễn đổi mới bầu cử trên thế giới cho thấy những kinh nghiệm gì?

Giả thuyết nghiên cứu:

Chế độ bầu cử ra đời và vận hành dựa trên nguyên lý chủ quyền thuộc về nhân dân và thiết lập nền dân chủ đại diện Khái niệm chế độ bầu cử, chế độ bầu cử ĐBQH nói riêng có nội dung rộng, gồm nhiều vấn đề Chế độ chính trị nhất nguyên, một đảng cầm quyền lãnh đạo đã quy định những đặc trưng riêng của chế độ bầu cử

ở nước ta Đổi mới là một quá trình, mang tính tổng thể, toàn diện và lâu dài Đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH là sự thay đổi các yếu tố cấu thành, thực hiện theo mức

Trang 31

độ từ thấp đến cao, từ từng nội dung đến thay đổi toàn diện Đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH có vai trò quan trọng trong bối cảnh hiện nay ở nước ta Quá trình dân chủ hóa và quốc tế hóa đã tạo ra trào lưu đổi mới chế độ bầu cử bảo đảm các tiêu chuẩn bầu cử tự do và công bằng

Dự kiến kết quả nghiên cứu:

Chỉ ra được những nguyên lý căn bản của chế độ bầu cử Xây dựng được khái niệm về chế độ bầu cử, phân tích các yếu tố cấu thành và chỉ ra được những đặc trưng có tính chi phối đến quá trình đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH trong HTCT nhất nguyên ở nước ta Đưa ra được khái niệm và phân tích đặc điểm của đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH, xem đổi mới là một quá trình, phân biệt với cải cách, cải tiến, hoàn thiện chế độ bầu cử ĐBQH để tạo sự thống nhất về nhận thức Phân tích và làm sáng tỏ nội dung và phương thức thực hiện, các yếu tố tác động và nêu bật được vai trò của đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH trong bối cảnh mở rộng dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, tôn trọng và bảo đảm các quyền con người Nhận diện được

xu hướng chủ đạo đổi mới chế độ bầu cử ở các nước trong những thập niên vừa qua

(ii) Về cơ sở thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH

Câu hỏi nghiên cứu:

Chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta đã được hình thành, phát triển như thế nào? Thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH từ năm 1986 đến nay đạt được những kết quả gì? Hạn chế, bất cập và những vấn đề gì đặt ra cần tiếp tục đổi mới trong bối cảnh hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu:

Chế độ bầu cử ĐBQH hình thành, phát triển và chịu sự chi phối, quyết định bởi đặc điểm bối cảnh lịch sử, trở thành công cụ để xây dựng bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chiến lược cách mạng Ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chế độ bầu cử ĐBQH có những bước đổi mới, hoàn thiện nhưng chưa tương xứng với yêu cầu đề ra Chế độ bầu cử hiện hành còn nhiều hạn chế, bất cập trước yêu cầu dân chủ hóa, xây dựng nhà nước pháp

Trang 32

quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân theo tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp 2013

Dự kiến kết quả nghiên cứu:

Khái quát được quá trình hình thành và phát triển của chế độ bầu cử ĐBQH

ở từng giai đoạn Chỉ ra được những hạn chế, bất cập và lý giải các nguyên nhân của những hạn chế, bất cập của chế độ bầu cử ĐBQH trong giai đoạn xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền (trước năm 1986) Phân tích được các chủ trương, giải pháp và kết quả đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử ĐBQH từ năm 1986, rút ra những ưu điểm để kế thừa Làm sáng tỏ được các hạn chế, bật cập, nêu bật các vấn

đề đặt ra để tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH trong điều kiện hiện nay

(iii) Về phương hướng, giải pháp đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH

Câu hỏi nghiên cứu:

Đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta dựa trên những tiền đề khách quan nào? Trước những hạn chế, bất cập hiện nay, chế độ bầu cử ĐBQH cần đổi mới theo hướng nào và cần những giải pháp gì?

Giả thuyết nghiên cứu:

Thành tựu đạt được sau ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước

đã tạo ra những tiền đề khách quan để tiếp tục đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH Quá trình đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH phải bảo đảm các phương hướng đặt ra, có bước

đi phù hợp với bối cảnh chính trị - xã hội của đất nước Cần có một hệ thống các giải pháp có tính toàn diện, đồng bộ và có tính khả thi từ đổi mới về nhận thức, sửa đổi hệ thống pháp luật, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đến đổi mới cách thức, kỹ thuật tổ chức bầu cử trên thực tế

Dự kiến kết quả nghiên cứu:

Làm nổi bật những tiền đề về lý luận, chính trị, xã hội, pháp lý để tạo nhận thức thống nhất về sự tất yếu phải đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH Các phương hướng đổi mới phù hợp với bối cảnh chính trị - xã hội, đáp ứng tiến trình dân chủ hóa, xây dựng nhà nước pháp quyền Hệ thống các giải pháp mang tính đồng bộ,

Trang 33

nhấn mạnh giải pháp xây dựng một khuôn khổ pháp lý đầy đủ về bầu cử ĐBQH, đề cao nguyên tắc pháp quyền trong tổ chức các cuộc bầu cử ĐBQH trên cơ sở tuân thủ các tiêu chuẩn bầu cử tự do và công bằng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc khảo cứu, đánh giá tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đến

đề tài Luận án cho thấy:

1 Các công trình chuyên sâu, có tính hệ thống ở trong nước còn ít và mới chỉ nghiên cứu về chế độ bầu cử nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu về chế độ bầu cử ĐBQH và đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH Các bài viết nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học phân tích một số hạn chế và kiến nghị ở những khía cạnh riêng lẻ Đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH vẫn là vấn đề mới Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu đề cập đến thực tiễn quá trình cải cách bầu cử trên thế giới nhưng do

sự khác nhau về chế độ chính trị nên chỉ có giá trị tham khảo về mặt kỹ thuật bầu cử

2 Nghiên cứu về đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH hiện nay cần mang tính hệ thống và có tính chuyên sâu, đặt trong bối cảnh HTCT nhất nguyên một Đảng lãnh đạo Đồng thời phải có cách tiếp cận mới từ góc nhìn quyền bầu cử là quyền dân chủ trực tiếp, thuộc nhóm quyền chính trị của quyền con người Đổi mới chế độ bầu

cử ĐBQH phải gắn với việc thực hiện các chủ trương, quan điểm mới của Đảng về kiểm soát quyền lực nhà nước, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ và có trách nhiệm của ĐBQH đối với cử tri, nhất là cử tri ở đơn vị bầu cử…

3 Luận án có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề mới đặt ra, luận giải sâu sắc hơn những vấn đề có liên quan đến chế độ bầu cử ĐBQH, xây dựng cơ sở lý luận về đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH Về thực tiễn, Luận án sẽ phân tích quá trình hình thành, phát triển của chế độ bầu cử ĐBQH theo các giai đoạn, gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể Tập trung nghiên cứu, phân tích chế độ bầu cử ĐBQH và quá trình đổi mới chế độ bầu cử ĐBQH trong hơn 30 năm qua, chỉ ra những bất cập, hạn chế

Trang 34

của chế độ bầu cử hiện hành trước những yêu cầu, đòi hỏi của đời sống chính trị -

xã hội đất nước Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp có tính khả thi, áp dụng theo

lộ trình và có bước đi cụ thể đáp ứng yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp 2013, xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng và phát huy dân chủ XHCN, phù hợp với HTCT nhất nguyên do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền lãnh đạo

Trang 35

2.1.1.1 Chủ quyền nhân dân – nguồn gốc của dân chủ đại diện và bầu cử

Quyền lực - cụ thể là quyền lực nhà nước - là chủ đề trung tâm của các học thuyết chính trị - pháp lý Ở từng giai đoạn lịch sử, các nhà tư tưởng đưa ra các cách

lý giải khác nhau về nguồn gốc của quyền lực nhà nước

Những nhà tư tưởng theo thuyết thần quyền cho rằng quyền lực nhà nước thuộc về các đấng siêu nhiên (thượng đế, chúa trời, các vị thần) Hoàng đế hay nhà vua do thượng đế, chúa trời tạo ra và trao quyền cai trị dân chúng, đó là sự hóa thân của thánh thần trên trần thế Người dân mang thân phận tôi tớ, không có quyền, chỉ

có nghĩa vụ thuần phục và chấp nhận sự cai trị mang tính thiên định Các học thuyết thần quyền là nền tảng tư tưởng để thiết lập và duy trì địa vị thống trị xã hội của giới tăng lữ, giai cấp chủ nô, phong kiến

Chống lại tư tưởng thần quyền, những quan niệm chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân và nguồn gốc của chính quyền đã sớm xuất hiện Nhưng phải đến thế kỷ XVII và XVIII, tư tưởng chủ quyền nhân dân mới được luận giải một cách sâu sắc bởi John Locker (1632-1704) và nhất là Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778)

J.J Rousseau dựa trên thuyết quyền tự nhiên và khế ước xã hội để lý giải về

xã hội, chủ quyền nhân dân và sự ra đời của nhà nước Ông cho rằng, cộng đồng xã hội ra đời trên cơ sở sự liên kết tự nguyện của các cá nhân thông qua "Khế ước xã hội" là một tập thể chính trị có quyền hành tối cao được điều khiển bằng ý chí chung và vì lợi ích chung Trong xã hội dân sự, con người mất đi các quyền tự do bản năng hạn hẹp nhưng được hưởng các quyền tự do dân sự rộng rãi [75, tr.74]

Trang 36

Rousseau quan niệm chủ quyền tối cao hay quyền lực tối cao là tổng thể chủ quyền của từng cá nhân trong xã hội kết hợp lại Chủ quyền tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên hợp lại để tạo ra [75, tr.71], ai ai cũng như vậy cả, không ngoại trừ một người nào [75, tr.67] nên mỗi công dân sở hữu một phần ngang bằng nhau về chủ quyền Quyền lực tối cao chỉ có thể là của toàn thể dân chúng chứ không phải là của một bộ phận, nhóm người nào trong xã hội Do vậy, chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân Nhà nước ra đời là kết quả thỏa thuận tự nguyện giữa các thành viên bình đẳng với nhau thông qua khế ước xã hội mà không phải là sự thỏa thuận giữa các thành viên với nhà nước

Chủ quyền nhân dân, nội dung cốt lõi trong tư tưởng của J.J Rousseau, trở thành nguyên tắc nền tảng để tổ chức nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước trong xã hội dân chủ: (i) Chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân - chủ quyền nhân

dân; (ii) Chủ quyền tối cao là sự thực hiện ý chí chung nên không thể tự nó từ bỏ

được [75, tr.79], không thể chuyển nhượng và không bị hạn chế bởi bất kỳ đạo luật nào Do vậy, nhân dân trao quyền, ủy quyền nhưng không mất quyền; (iii) Chủ quyền tối cao là không thể phân chia Vậy nên, quyền lực nhà nước thống nhất và thống nhất ở nhân dân; (iv) Quyền lực nhà nước có được tính chính đáng là nhờ sự thỏa thuận tự nguyện của nhân dân mà không phải dùng sức mạnh để cưỡng ép, chiếm đoạt Nhà nước chỉ mang tính hợp pháp khi có sự đồng thuận của người dân; (v) Bản chất của quyền lực nhà nước là vì nhân dân, như ông viết: Quyền lực tối cao không có và không thể có lợi ích nào trái ngược với các thành viên Và chỉ có như thế thì quyền lực tối cao mới tồn tại được [75, tr.71]; (vi) Kiểm soát quyền lực nhà nước là tất yếu vì chính phủ (nhà nước) có xu hướng lạm quyền, làm trái với quyền lực tối cao, thậm chí có khả năng cướp quyền

Nguyên tắc chủ quyền nhân dân đến nay đã được khẳng định mạnh mẽ trong lời nói đầu hoặc trong những điều đầu tiên của hiến pháp các nước trên thế giới, được ghi nhận trong các điều ước quốc tế như là sự thừa nhận chung của nhân loại

về nền tảng cho quyền chính trị cơ bản của con người

Nhân dân thực hiện chủ quyền của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 37

Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủ nguyên thủy và sơ khai nhất và lý tưởng Về

lý thuyết, đây là hình thức dân chủ lý tưởng và tuyệt vời nhất nhưng không mang tính khả thi trong thực tế do các quốc gia đã trở nên rộng lớn và có đông dân cư Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân thực hiện chủ quyền thông qua những người được bầu trở nên phù hợp hơn Dân chủ đại diện được chấp nhận rộng rãi từ thế kỷ XVIII-XIX với các tư tưởng của Montesquieu (1689-1755), John Stuart Mill (1806 –1873) và James Madison Jr (1751-1836) John Stuart Mill khẳng định "loại hình chính thể hoàn hảo lý tưởng phải là chính thể mang tính đại diện" [76, tr.128]

Bầu cử là phương thức để hình thành nên nền dân chủ đại diện Lý luận về bầu cử hiện đại được hình thành trên cơ sở thừa nhận các học thuyết về chủ quyền nhân dân, cơ chế dân chủ đại diện và quyền con người:

- Bầu cử phải mang tính phổ thông vì chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân,

là sở hữu chung của tất cả các cá nhân trong xã hội Bầu cử để chọn người đại diện,

ủy thác quyền lực tối cao phải do tất cả các cá nhân thực hiện Tính chính đáng của quyền lực nhà nước phụ thuộc vào mức độ tham gia bầu cử của người dân Nguyên

lý "đa số" là nguyên lý nền tảng của bầu cử

- Bầu cử mang tính phổ thông thì quyền bầu cử phải có tính phổ quát John Stuart Mill đưa ra quan điểm "không người nào bị truất quyền trừ phi do tự ý bỏ cuộc" và "bầu cử sẽ không thể trở nên tốt đẹp và lâu bền nếu bất cứ con người hay giai cấp nào bị loại trừ một cách cưỡng bức, quyền bầu cử phải mở rộng cho tất cả mọi người đủ độ tuổi nhất định và mong muốn có quyền đó" [76, tr.253-254]

- Bầu cử phải mang tính bình đẳng vì theo Rousseau mỗi cá nhân sở hữu một phần bằng nhau dù rất nhỏ bé trong chủ quyền tối cao Sự bình đẳng này là tuyệt đối

và do khế ước quy định Nguyên tắc bình đẳng được áp dụng triệt để trong mọi quy trình của quá trình bầu cử

- Quyền bầu cử thuộc nhóm quyền chính trị của quyền con người [182, p.12] Quyền bầu cử được pháp luật quốc tế và quốc gia ghi nhận là quyền chính trị cơ bản nhất Các quốc gia có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền bầu cử Việc hạn chế các quyền bầu cử phải dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền con người

Trang 38

- Bầu cử là phương thức để hình thành nên nền dân chủ đại diện nhưng bản chất của bầu cử là hình thức dân chủ trực tiếp Nhà nước có trách nhiệm tổ chức và bảo đảm các điều kiện để nhân dân thực hiện quyền bầu cử một cách thực chất Kết quả bầu cử thể hiện trực tiếp, trung thực ý chí của nhân dân phải được tôn trọng

Các cuộc bầu cử đã trở thành cơ chế vận hành thường xuyên của các nền dân chủ đại diện Bầu cử là con đường cơ bản nhất để nhân dân ủy thác quyền lực, thành lập nên bộ máy nhà nước Chính vì vậy, pháp luật về bầu cử có vai trò rất quan trọng, như Montesquieu khẳng định: luật về cách bầu cử là một luật cơ bản trong nền dân chủ [95, tr.51]

2.1.1.2 Khái niệm chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Chế độ bầu cử là một khái niệm rộng hơn so với chế độ bầu cử ĐBQH Trong các công trình nghiên cứu, khái niệm “chế độ bầu cử” được tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa hẹp, chế độ bầu cử là "phương pháp phân ghế đại biểu giữa các ứng cử viên dựa trên kết quả biểu quyết của cử tri hay những cá nhân có thẩm quyền" [1, tr.16], là cách thức "chuyển hóa" những lá phiếu của cử tri thành các

"ghế" trong cơ quan đại diện [176, p.5] [189, pp.191-193] Theo cách hiểu này, khái niệm chế độ bầu cử cơ bản đồng nhất với khái niệm hệ thống bỏ phiếu

Chế độ bầu cử theo nghĩa rộng được nhiều tác giả lựa chọn khi nghiên cứu

Tuy nhiên, nội dung đề cập đến trong khái niệm chế độ bầu cử còn có sự khác nhau

Loại quan điểm thứ nhất, từ góc độ chính trị - xã hội, xem chế độ bầu cử là tổng thể

các mối quan hệ phát sinh trong quá trình bầu cử [30, tr.100], những quan hệ này

hợp thành trình tự bầu cử [1, tr.15] Loại quan điểm thứ hai, từ góc độ pháp lý, chế

độ bầu cử là tổng thể các nguyên tắc, các quy định pháp luật về bầu cử [78, tr.341]

[82, tr.36] [97, tr.21] Loại quan điểm thứ ba, kết hợp cả hai quan điểm nêu trên

Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội viết:

"Chế độ bầu cử là tổng thể các nguyên tắc, các quy định pháp luật về bầu cử, cùng các mối quan hệ xã hội được hình thành trong tất cả các quá trình tiến hành bầu cử từ lúc người công dân được ghi tên trong danh sách cử tri cho đến

Trang 39

lúc bỏ lá phiếu vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử" [139, tr.328] Các nguyên tắc và quy định pháp luật về bầu cử (thể chế về bầu cử) là yếu tố cấu thành cơ bản của chế độ bầu cử và là biểu hiện pháp lý của chế độ bầu cử Pháp luật quy định về nguyên tắc bầu cử; quyền bầu cử và ứng cử; quyền hạn, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia quá trình bầu cử; các tổ chức phụ trách bầu cử; cách thức phân chia đơn vị bầu cử; trình tự, thủ tục tiến hành bầu cử; phương pháp xác định kết quả bầu cử; giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử

Quá trình bầu cử còn được điều chỉnh bởi các quy định nội bộ của các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và các chủ thể khác tham gia quá trình bầu

cử Trong đó, quy định nội bộ của các đảng chính trị về quy trình đề xuất, tiến cử, bầu cử sơ bộ để tuyển chọn ứng cử viên ra tranh cử là một phần không thể thiếu trong chế độ bầu cử Đồng thời, các quan hệ phát sinh trong bầu cử còn chịu sự điều chỉnh, tác động của các phong tục, tập quán, thói quen Tuy nhiên, các quy định nội bộ, phong tục, tập quán, thói quen này không trái với quy định pháp luật và phải được pháp luật thừa nhận Sự phân định về phạm vi, mức độ điều chỉnh của pháp luật và các quy định khác tùy thuộc vào đặc điểm của chế độ bầu cử ở mỗi quốc gia Các tác giả cuốn sách "Quốc hội và các thành viên" viết:

Ở Mỹ, “Các thủ tục đề cử, được nêu trong các luật bang và được quyết định bởi các tập quán đảng, giúp định hình một nhóm các ứng cử viên tiềm tàng… Tại hầu hết các bang, bầu cử sơ bộ trực tiếp là một cơ chế chính thức để đề

cử các ứng cử viên vào Quốc hội” [112, tr.108-109]

Các mối quan hệ hình thành trong quá trình tổ chức bầu cử là biểu hiện về mặt “vật chất” nội dung thực tế của chế độ bầu cử ĐBQH, phản ánh bản chất của chế độ bầu cử Các mối quan hệ này phát sinh giữa các chủ thể là nhà nước, các tổ chức phụ trách bầu cử, đảng chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, truyền thông, người dân… trong tổ chức, quản lý, tiến hành bầu cử, thực hiện quyền bầu cử và ứng cử Nội dung các quan hệ trong tiến trình tổ chức bầu cử rất phong phú, đa dạng Những ưu việt của một chế độ bầu cử phải được thể hiện qua các quan hệ được hình thành trong thực tiễn bầu cử

Trang 40

Kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu đã có về chế độ bầu cử, Luận án tiếp cận khái niệm chế độ bầu cử ĐBQH ở nước ta theo nghĩa rộng, từ phương diện

chính trị - pháp lý Theo đó, có thể hiểu "Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước

ta là tổng thể các quy định pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội, cùng các mối quan hệ xã hội hình thành trong thực tế quá trình tổ chức bầu cử để cử tri lựa chọn bầu những đại biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình tham gia Quốc hội

- cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

Ở mỗi quốc gia, bầu cử không chỉ áp dụng đối với bầu cử ĐBQH mà còn bầu

cử ra cơ quan lập pháp ở địa phương, các chức vụ trong cơ quan hành pháp (tổng thống, thống đốc, thị trưởng), thậm chí bầu cử các chức danh tư pháp (thẩm phán)

Ở nước ta, bầu cử áp dụng đối với việc bầu ra các ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp

ở địa phương Do vậy, chế độ bầu cử ở nước ta hiện nay có thể phân định thành chế độ bầu cử ĐBQH và chế độ bầu cử đại biểu HĐND

2.1.2 Những nội dung cơ bản của chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội

Nội dung của chế độ bầu cử được phân chia theo các cách khác nhau Trong Luận án này, chế độ bầu cử ĐBQH được nghiên cứu theo 6 nội dung cơ bản: (i) Nguyên tắc bầu cử; (ii) Quyền bầu cử và ứng cử; (iii) Hệ thống bỏ phiếu; (iv) Quy trình, thủ tục bầu cử; (v) Thiết chế quản lý bầu cử; và (vi) Giải quyết khiếu tố bầu cử

2.1.2.1 Các nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội

Nguyên tắc bầu cử là những quan điểm cơ bản, có tính nền tảng của chế độ bầu cử, được thể hiện qua các quy định của pháp luật về bầu cử, có tính bắt buộc phải tuân thủ trong suốt quá trình tổ chức bầu cử Các nguyên tắc bầu cử bao gồm:

- Nguyên tắc bầu cử phổ thông: Nguyên tắc này bảo đảm quyền bầu cử rộng

rãi của người dân Nội dung cốt lõi của nguyên tắc là mọi công dân đến tuổi trưởng thành không có bất kỳ sự phân biệt nào đều có quyền bầu cử và ứng cử để được bầu vào các cơ quan nhà nước Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm về mặt pháp lý và tạo các điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử của mình Nguyên tắc bầu cử phổ thông còn thể hiện ở nguyên lý đa số trong bầu cử như bảo

Ngày đăng: 07/06/2020, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w