thuyet trinh quy dau tu
Trang 1Chương 1 : Lược sử hình thành quỹ đầu tư 1.1/ Lược sử hình thành quỹ đầu tư trên thế giới
Tư tưởng tập trung các khoản tiền nhỏ thành một nguồn lớn hơn để đầu tư xuất hiện tại châu Âu vào
khoảng giữa thế kỷ 19, khởi thủy ở Hà Lan, đến nửa cuối thế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh Mặc dù
có gốc gác từ châu Âu, nhưng Hoa Kỳ mới là nơi các quỹ đầu tư phát triển mạnh mẽ nhất
Năm 1893, các khoản quyên góp và ủng hộ tài chính xây dựng và phát triển Đại học Harvard tại Hoa
Kỳ được ghi nhận như sự xuất hiện một quỹ đầu tư Vào ngày 21/3/1994, quỹ tương hỗ đầu tiên chính thức được thành lập bởi ba nhà kinh doanh chứng khoán tại Boston (Hoa Kỳ) có tên gọi Quỹ Tín thác các nhà đầu tư Massachusetts (Massachusetts Investors Trust-MIT) Có lẽ, chính những người sáng lập cũng không thể dự báo trước tương lai phát triển phổ biến của loại hình này
Sau một năm thành lập, Massachusetts Investors Trust với 50.000 đô-la Mỹ ban đầu đã sở hữu khối tài sản trị giá 392.000 USD và thu hút gần 200 nhà đầu tư MIT tập trung và các cổ phiếu lớn, tăng trưởng nhanh và có trả cổ tức Danh mục đầu tư của Quỹ gồm các loại cổ phiếu của General Electric Co., Standard Oil Of Indiana (ngày nay là một phần của BP PLC) và American Telephone & Telegraph Co (AT&T Inc.) Không giống nhiều quỹ đầu tư hoạt động trong thời kỳ này, MIT tránh sử dụng các đòn bẩy tài chính để huy động nguồn đầu tư Khi thị trường chứng khoán Hoa Kỳ chạm đáy vào năm 1932, nhiều quỹ đầu tư đã gục ngã nhưng MIT vẫn trụ vững và tồn tại cho đến hôm nay, với tên gọi được biết đến rộng rãi MFS Investment Management
Khủng hoảng 1929 làm chậm quá trình tăng trưởng các quỹ đầu tư tương hỗ tại Hoa Kỳ Luật chứng khoán năm 1933 và Luật Giao dịch chứng khoán năm 1934 được ban hành nhằm khôi phục thị trường Theo hai đạo luật này, các quỹ đầu tư phải đăng ký hoạt động với Ủy ban SEC (Securities & Exchance Comission) và cung cấp bản báo bạch tới các nhà đầu tư tiềm năng Tới năm 1940, SEC tiếp tục ban hành Luật Công ty đầu tư với các chỉ dẫn pháp lý bắt buộc các quỹ đầu tư phải tuân theo, được áp dụng tới tận ngày nay
Niềm tin được phục hồi trên thị trường chứng khoán và các quỹ tương hỗ bắt đầu nở rộ Tới cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Hoa Kỳ có khoảng 270 quỹ với giá trị tài sản nắm giữ ước khoảng 48 tỷ
đô-la Mỹ
Năm 1976, John C Bogle mở quỹ đầu tư chỉ số thị trường đầu tiên, có tên First Index Investment Trust Vào tháng 11 năm 2000, đây là quỹ tương hỗ có giá trị lớn nhất trong lịch sử với 100 tỷ đô-la Mỹ tài sản Quỹ này ngày nay có tên gọi Vanguard 500 Index
Hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Mỹ
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Mỹ có một lịch sử khá lâu đời và đã nhanh chóng phát huy được những đặc tính ưu việt của mình nhờ được sự hỗ trợ đáng kể của một nền kinh tế phát triển khá ổn định và một thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Anh
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Anh có thể tồn tại dưới hai dạng kết thúc đóng và kết thúc mở tương ứng với hai loại hình quỹ đặc trưng của Anh là Quỹ tín thác đầu tư và Quỹ tín thác đơn vị
Ở Anh, các công ty quản lý quỹ hay Quỹ đầu tư cũng không đảm nhận việc mua bán chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu trực tiếp tới công chúng, chức năng này thường do một công ty chứng khoán thực hiện
Trang 2Các Quỹ đầu tư ở Nhật mang một số đặc điểm nổi bật sau Các quỹ chỉ tồn tại theo mô hình tín thác chứ không theo mô hình công ty
Hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Nhật Bản
Quỹ đầu tư lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật vào năm 1941 Trải qua nhiều khó khăn nhưng kể từ năm
1996 trở lại đây, các Quỹ đầu tư đã thực sự bước vào giai đoạn phát triển ổn định và đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển của thị trường chứng khoán và nền kinh tế nói chung
Quỹ đầu tư chứng khoán tại Hàn Quốc
Quỹ đầu tư chứng khoán Hàn Quốc được hình thành từ năm 1969 với mô hình tương tự như mô hình Quỹ đầu tư dạng tín thác ở Anh Chính phủ Hàn Quốc quyết định chọn mô hình này là nhằm hỗ trợ cho chính phủ trong các chính sách phát triển kinh tế Bởi vì Quỹ đầu tư mô hình tín thác là yếu tố cần thiết trong việc huy động được một lượng vốn khổng lồ cho tiến trình phát triển kinh tế trong ngắn hạn và đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư chứng khoán gián tiếp Hiện nay, Hàn Quốc đã cho phép tồn tại cả hai mô hình tín thác và công ty
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Thái Lan
Chỉ sau khi thị trường chứng khoán Thái Lan ra đời được một năm (năm 1974), chính phủ Thái Lan
đã rất chú trọng đến việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh chứng khoán và tăng cường khả năng huy động vốn bằng cách thiết lập Quỹ đầu tư chứng khoán dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn Nhờ đó giúp giới đầu tư Thái Lan vốn rất bỡ ngỡ với thị trường chứng khoán có thể có được một phương thức đầu tư mới đơn giản và an toàn hơn nhờ tính đầu tư chuyên nghiệp của quỹ Tuy nhiên phải đến hai năm sau, hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán Thái Lan mới chính thức đi vào hoạt động Trải qua nhiều thăng trầm, đến những năm 90, kể từ khi Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán mới ra đời vào năm 1992 thì hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Thái Lan mới phát triển rực rỡ Sự thành công này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phân phối và dịch vụ của các Quỹ đầu tư Các quỹ đã xây dựng được các kênh phân phối rất mạnh thông qua việc liên kết với các ngân hàng thương mại lớn Góp thêm vào sự phát triển của các quỹ còn phải kể đến các văn bản luật và quy chế của uỷ ban chứng khoán hoạt động khá hiệu quả do được soạn thảo bởi những người có kinh nghiệm Bên cạnh đó, Thái Lan cũng khuyến khích việc liên doanh với nước ngoài để thành lập Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ nhằm tranh thủ vốn và kỹ năng của đối tác nước ngoài Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng là cùng với sự hoạt động của các tổ chức tín thác đầu tư, Thái Lan cũng đã có một sự quan tâm đúng mức đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán
1.2/ Lược sử hình thành quỹ đầu tư tại VN
Những quỹ đầu tư đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu những năm 1990 Trong nửa đầu những thập kỷ 90, có tám quỹ đầu tư tiến hành hoạt động tại Việt Nam với tổng lượng vốn huy động khoảng 700 triệu USD Những khó khăn trong nỗ lực tìm kiếm cơ hội bỏ vốn cùng tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệ năm 1997 đã khiến các quỹ nản lòng và lần lượt rút lui Thời điểm sau năm 1997 chỉ còn lại hai quỹ đầu tư là Vietnam Enterprise Investment Fund (VIEL) do công ty Dragon Capital quản
lý và Vietnam Frontier Fund (VFF) thuộc tập đoàn Finasa Bản thân VFF, với qui mô 50 triệu USD, rốt cuộc cũng ra khỏi Việt Nam sau 10 năm hoạt động Chỉ khi thị trường chứng khoán có những dấu hiệu tăng trưởng tích cực, quỹ này mới trở lại với qui mô khiêm tốn hơn- 15 triệu USD, năm 2005
Trang 3Giai đoạn từ 2002 đến 2005, hoạt động của các quỹ đầu tư tương đối trầm lặng Mặc dù vậy vẫn xuất hiện thêm nhiều quỹ mới thuộc các công ty Mekong Capital, VinaCapital, IDG, VietFund hay PXP Asset Management
Cùng với những biến đổi tích cực và mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, từ giữa năm 2006, hệ thống tài chính Việt Nam ghi nhận giai đoạn bùng nổ các quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ Trong hai năm 2006-2007, khoảng 20 quỹ đầu tư được mở mới UBCKNN cũng cấp giấy phép hoạt động cho 17 công ty quản lý quỹ Trong số này, nổi bật có Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư BIDV-Vietnam Partners với quỹ VIF có qui mô vốn tối đa 1.600 tỷ đồng và một loạt công ty thành lập vào nửa cuối năm
2007 với qui mô vốn lớn: Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FPT (vốn điều lệ lớn nhất thị trường- 110
tỷ đồng), Công ty TNHH Quản lý quỹ SSI (vốn điều lệ 30 tỷ đồng), Công ty TNHH Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Đông Á (vốn điều lệ- 30 tỷ đồng) Còn phải kể tới hoạt động của các công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam như Nomura Internetional (Hongkong), Blackhorse Asset Management Pte Ltd (Singapore) hay Mirae Asset Maps Investment Management Co., Ltd (Hàn Quốc)
Chương 2: Thực trạng hoạt động của quỹ đầu tư tại Việt Nam
2.1 Tổng quan về các quỹ đầu tư tại Việt Nam
Trong năm 2009, với 46 công ty quản lý quỹ được thành lập, hoạt động ngành quản lý quỹ tại Việt Nam dần khẳng định vị trí của mình trên thị trường chứng khoán Tính đến cuối năm 2009, các công ty quản lý quỹ đã huy động vốn để đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và hoạt động quản lý ủy thác đầu tư lên đến gần 72 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 4 tỷ USD), chiếm gần 10% giá trị vốn hóa thị trường, trong
đó chủ yếu nhận ủy thác thông qua các hoạt động quản lý danh mục đầu tư chiếm tới 87% tổng số vốn huy động thông qua các công ty quản lý quỹ
Phần lớn tiền của các quỹ đầu tư vào cổ phiếu niêm yết với giá trị 7.500 tỷ đồng, chiếm 54% giá trị tài sản ròng của các quỹ, 2.700 tỷ đồng tương đuơng 20% vào chứng khoán chưa niêm yết, phần còn lại vào các tài sản khác Nguyên nhân có sự tăng mạnh giá trị chứng khoán niêm yết là do TTCK quý 4/2009 sôi động, giá chứng khoán tăng nâng giá trị tài sản đầu tư các quỹ vào chứng khoán niêm yết và các quỹ
có xu hướng gia tăng đầu tư vào chứng khoán niêm yết
Về huy động vốn, tính đến đầu năm 2008, tổng quy mô các quỹ ở mức 12.600 tỷ đồng và duy trì đến
quý 3/2009, nhưng đến cuối năm 2009 chỉ còn 12.350 tỷ đồng do có 1 quỹ giải thể (Indochina capital)
Về tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ cũng từng bước được cải thiện Cuối năm
2008, giá trị tài sản ròng của các quỹ là gần 10.500 tỷ đồng, thì đến cuối năm 2009 tăng lên gần 13.500 tỷ đồng, gần 23% so với năm 2008 Hầu hết các quỹ đều đạt tỷ lệ tăng trưởng dương Với chiến lược đầu tư dài hạn và đầu tư vào sản phẩm chất lượng cao, các công ty quản lý quỹ đã tạo ra được giá trị gia tăng đáng kể cho các nhà đầu tư là tổ chức và cá nhân
Xét về chỉ tiêu lợi nhuận (tổng thu nhập/NAV) năm 2009 khoảng 29%, tỷ lệ này là khá khả quan, các
quỹ đã có dấu hiệu thoát khỏi khủng hoảng (cuối năm 2008, tỷ lệ lợi nhuận âm 40%)
Xét chỉ tiêu chi phí, tỷ lệ chi phí/quy mô vốn bình quân năm 2009 đạt khoảng 3.5%, tỷ lệ này được
đánh giá là thấp so với chi phí quản lý quỹ của ngành quản lý quỹ các nước
Trang 4Xét chỉ tiêu về thu nhập, tỷ lệ thu nhập ròng /NAV bình quân là 5.1%, tỷ lệ này đạt dương được đánh
giá là khả quan trong tình hình TTCK có nhiều biến động, giá chứng khoán giảm sâu như cuối năm 2008 đầu năm 2009
Nhìn chung, tính đến năm 2009, hoạt động của hầu hết các quỹ đầu tư có kết quả khả quan, tỷ lệ tăng
trưởng NAV lớn, đạt trên 20% Đây thực sự là nỗ lực của ngành quản lý quỹ nói chung và các công ty quản lý quỹ nói riêng
Năm 2009, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định trong phát triển kinh tế như: ngăn chặn
đà suy giảm kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng hợp lý trong bối cảnh các nước trong khu vực đều gặp khó khăn, kinh tế vĩ mô tương đối ổn định
Nhưng bên cạnh những điểm đạt được, kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều điểm chưa đạt được như: hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do thị trường co lại, tỷ giá hối đoái điều chỉnh chưa kịp thời, hoạt động của các tập đoàn Nhà nước chưa thực sự hiệu quả đã ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn bộ nền kinh tế
Tuy nhiên, để đạt được thành công trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu và là một trong số ít các nước trên thế giới có tốc độ tăng trưởng dương ở mức cao trong năm 2009, cần phải ghi nhận Chính phủ Việt Nam đã rất cố gắng và bản lĩnh trong hoạt động điều hành chính sách
vĩ mô của mình
Được đánh giá là nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ hai trên thế giới, sau Trung Quốc, Việt Nam thực sự không phụ sự tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế và trong nước Với những cải cách về chính sách triệt để, quá trình cổ phần hoá được đẩy mạnh cùng với sự ra đời của thị trường chứng khoán và sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế tư nhân, các Quỹ đầu tư thực sự ăn nên làm ra tại Việt Nam
2.1.1 Nhóm Quỹ đầu tư chứng khoán
Theo khảo sát của tập đoàn đầu tư và tư vấn tài chính LCF Rothschild trong năm 2009, các quỹ đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam có mức tăng trưởng NAV (Net Asset Value - Chỉ số giá trị tài sản thuần) xấp xỉ 40%, thấp hơn mức tăng 48,4% của VN-Index
Ông Dominic Scriven - Tổng giám đốc Dragon Capital - cho biết: “Tăng trưởng của các quỹ năm
2009 không theo kịp đà tăng của chỉ số VN-Index do các nhà quản lý quỹ đã quá thận trọng, ít đầu tư vào
cổ phiếu rủi ro cao, thay vào đó là mua trái phiếu hoặc giữ tiền mặt” Ngoài ra, theo ông, các quỹ có quy
mô lớn cũng tăng trưởng chậm hơn quỹ nhỏ, vì thiếu linh động hơn trong điều hành và thích ứng với thị trường
Hiện có khoảng 20 quỹ đang tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán VN, trong đó có các quỹ lớn thuộc các công ty quản lý VinaCapital và Dragon Capital như Vietnam Opportunity Fund (VOF), Vietnam Infrastructure Ltd (VNI), Vietnam Growth Fund (VGF), Vietnam Enterprise Investment Ltd (VEIL) và Vietnam Dragon Fund (VDF) Giá trị NAV trung bình của 20 quỹ này tính đến ngày 21/1/2010
là 147 triệu USD, trong đó lớn nhất là VOF với giá trị lên đến 771 triệu USD, 3 quỹ do Dragon Capital quản lý có tổng NAV là 889 triệu USD
Tuy nhiên, mức tăng trưởng cao lại thuộc về các quỹ có quy mô trung bình Đơn cử là 3 quỹ do PXP Vietnam Asset Management (PXP) quản lý gồm VLF - Vietnam Lotus Fund, VEEF - Vietnam Emerging Equity Fund và PXP Vietnam Fund có mức tăng trưởng NAV đứng đầu bảng xếp hạng các quỹ
Trang 5đầu tư có hoạt động tốt nhất tại Việt Nam do LCF Rothschild khảo sát Trong đó, cao nhất là quỹ VEEF, tính đến ngày 9/11/2009 có mức tăng NAV là 98,3%
Một trong những nguyên nhân thành công của PXP chính là “tập trung” vào thị trường chứng khoán Cú lội ngược dòng của TTCKVN năm 2009 hầu như hoàn toàn bù đắp “mất mát” của PXP trong năm 2008 Trong khi đó, những “gạo cội” như VinaCapital và Dragon Capital lại theo chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư chứ không chỉ tập trung vào chứng khoán Đơn cử, VinaCapital chỉ dành 22% danh mục đầu tư cho chứng khoán Đồng thời, cú ngã đau 2008 khiến họ thận trọng hơn trong việc giải ngân, thậm chí “án binh bất động” ngay cả lúc VN-Index giảm mạnh và chạm đáy vào tháng 2/2009, để rồi sau
đó tiếc nuối khi VN-Index tăng mạnh trong nửa cuối năm 2009
Các quỹ đầu tư vào cổ phiếu niêm yết, các công ty cổ phần
Tăng trưởng năm
2009 (%)
Vietnam Equity Holding (VEH)
Saigon Asset Management (SAM) 10,1
Blackhorse Enhanced Vietnam Inc
BIDV-Vietnam Partners' Vietnam Investment Fund
BVIM Investment Management
DWS Vietnam Fund
Deutsche Bank DWS Vietnam Fund
Vietnam Enterprise Investments Ltd (VEIL)
Dragon Capital
31,9
Golden Bridge Financial Group's Vina Blue Ocean
JF Vietnam Opportunities Fund
JF Vietnam Opportunities 4,3
JF Vietnam Opportunities Fund
Trang 6Worldwide Vietnam Fund
China and Vietnam Fund
KITMC RSP Balanced Fund
KITMC Vietnam Growth Fund I and II
KITMC Worldwide Vietnam Fund I and II
Vietnam Oilfield Fund
Vietnam Azalea Fund
Mekong Capital MekongEnterprise Fund
Mirae Asset’s Mirae Asset Securities JSC Mirae Asset Maps Investment Management
Maxford Investment management Ltd’s Vietnam
Orient Management Company’s Orient Fund 1
(OF1)
Cty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Phương Đông
Prudential Balanced Fund
Prudential Fund Management 6,7 Prudential Vietnam Securities Investment Fund
Vietnam Lotus Fund
PXP Vietnam Asset Management
39,3
Vietnam Emerging Equity Fund
Saigon Securities Investment Fund A1 (SFA1)
Thanh Viet Fund Management Saigon Securities Investment Fund A2 (SFA2)
Viet Capital Fund Management’s Viet Capital Fund
Viet Fund 1 (VF1)
Viet Fund Management
50,9 Viet Fund 2 (VF2)
Vietcombank Partners Fund 1 (VPF1)
Vietcombank Fund Management
2.1.2 Nhóm Quỹ đầu tư bất động sản
Nhóm quỹ đầu tư vào bất động sản trong năm 2009 cũng gặt hái ít nhiều thành công, nhưng chỉ tập trung ở một vài quỹ có chiến lược thích hợp với tình hình thị trường BĐS không mấy khởi sắc năm
Trang 7qua Đó là chiến lược nhắm đến các dự án “đất sạch”, đặc biệt là các dự án chung cư, phân khúc có nhu cầu luôn ổn định bất chấp thị trường BĐS đang vào “mùa” nào Được LCF Rothschild xếp đầu bảng là tân binh VPH (Vietnam Property Holding) của Saigon Asset Management (SAM), hoạt động chính thức vào năm 2008, với mức tăng trưởng là 12,9% Quỹ bất động sản VPF của Dragon Capital đứng thứ hai với mức tăng trưởng NAV là 9,5% Trong khi đó, quỹ VNL của VinaCapital chỉ ở mức tăng trưởng âm 14,4% khi đầu tư tập trung vào phân khúc cao cấp gồm các dự án cao ốc văn phòng và khách sạn, hướng đầu tư không phù hợp với bối cảnh khủng hoảng kinh tế đang trong thời điểm “tạo dấu ấn” năm 2009 Tuy nhiên, trong tình hình thị trường tài chính có nhiều bất ổn thì tiềm năng tăng trưởng của nhóm quỹ đầu tư BĐS là rất lớn trong năm 2010
Các quỹ đầu tư vào bất động sản ở VN
2009 (%)
Bao Tin Real Estate Fund Bao Tin Capital
Indochina Land Holdings Indochina Capital
Vietnam Real-Estate Development Fund Korea Investment Trust Management
Vietnam Infrastructure Limited (VNI)
2.2 Tác động của Quỹ đầu tư đến nền kinh tế Việt Nam
2.2.1 Thành tựu:
2.2.1.1 Đối với vốn đầu tư xã hội
Để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn Quỹ đầu tư tạo ra hàng loạt các kênh huy động vố n phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư Các nguồn vốn
nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông qua Quỹ đầu tư sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước
Không những thế, các Quỹ đầu tư còn khuyến khích được dòng chảy vốn nước ngoài. Đối với luồng vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế của họ về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin về chứng khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp, Quỹ đầu tư góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức mạnh trong nước ở các liên doanh
2.2.1.2 Đối với công ty cổ phần :
Trang 8Việc tiếp cận các nguồn vốn tiết kiệm nhỏ từ các cá nhân qua hệ thống ngân hàng luôn phải đối phó với những thủ tục rườm rà (đảm bảo khoản vay với các chứng từ tài chính và tài sản …) Thông qua Quỹ đầu tư, việc huy động vốn chỉ đơn thuần là phát hành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể
Nhận được các thông tin tư vấn quản lý, marketing và tài chính : Quỹ đầu tư cung cấp các thông
tin tài chính, tư vấn về kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp khác Lợi ích này của Quỹ đầu tư được đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi
Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn: Lợi ích này thu được do sự kết hợp các công cụ huy động vốn của Quỹ Đó là các loại chứng khoán do Quỹ phát hành, cùng với hoạt động của thị trường chứng khoán cho phép trao đổi, mua bán các loại chứng khoán đó Sự kết hợp này khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính vô cùng cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp
2.2.1.3 Đối với nhà đầu tư và thị trường chứng khoán
Trước hết và quan trọng hơn cả là khả năng đầu tư đa dạng Một cá nhân bình thường với số vốn hạn chế khó có thể đa dạng hoá một cách tối ưu danh mục đầu tư của mình Nhưng bằng phương thức kết hợp vốn cùng với nhiều người khác trong các quỹ đầu tư, cá nhân đó có điều kiện chia phần lợi trong một tập hợp các chứng khoán được đa dạng tối đa
Lợi ích khác do các quỹ đầu tư mang lại là trình độ quản lý chuyên nghiệp Nhiều nhà đầu tư nhỏ khó đạt hiệu năng quản lý các hoạt động đầu tư của mình một cách khôn ngoan nhất, họ cũng không
có khả năng hoặc thấy không còn có lợi nếu phải trả các khoản phí cần thiết để “mua” sự quản lý chuyên nghiệp riêng cho mình Bằng cách chung vốn tập thể vào các quỹ đầu tư, những cá nhân này có thể yên tâm sẽ được các nhà điều hành chuyên nghiệp quản lý số tiền đầu tư của mình với một chi phí thấp hơn so với việc họ phải tự lo liệu
Một lợi ích nổi bật nữa của quỹ đầu tư là các cổ phần góp vốn vào quỹ này có tính thanh khoản Điều này có nghĩa là nếu nhà đầu tư muốn rút lui khỏi tổ chức đầu tư này, họ có thể bán lại phần tài sản của họ với một giá phải chăng để chuyển thành tiền mặt trong một thời gian ngắn Do các chứng khoán
mà các quỹ đầu tư mua bán thường thuộc những loại đầu tư có điều kiện bán nhanh nhất, nên những người mua cổ phần quỹ đầu tư không phải lo bị chôn vốn Họ có thể thực hiện thanh lý việc nắm giữ cổ phần của họ vào bất cứ ngày nào có giao dịch, ở mức giá được công bố hiện hành và nhận tiền sau một khoảng thời gian qui định, thường là một tuần Việc tính toán giá cổ phần của quỹ đầu tư rất đơn giản, vì tổng tài sản của quỹ đầu tư hầu hết là các chứng khoán có độ linh hoạt cao, giá của nó được cập nhật vào sau mỗi phiên giao dịch và dựa vào thị trường chứng khoán
Bên cạnh đó, sự tham gia của các Quỹ đầu tư và Công ty quản lý quỹ, với vai trò là tổ chức đầu
tư chuyên nghiệp đã góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của thị trường chứng khoán, đặc biệt đối với các thị trường còn non trẻ như thị trường chứng khoán Việt Nam
Công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán cũng đã là cầu nối giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp, cung cấp vốn đầu tư tập trung vào các doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thông qua việc đóng góp các kinh nghiệm tài chính và quản trị hiện đại vào các doanh nghiệp được đầu tư, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế Việt Nam nói chung cũng như thị trường chứng khoán nói riêng
2.2.2 Tồn tại, yếu kém:
Trang 92.2.2.3 Góc độ Cơ quan quản lý Nhà nước
Đầu tiên, các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của các quỹ cũng khá khắt khe
như không cho phép đầu cơ trong giai đoạn thị trường đi xuống, không repo hay sử dụng các đòn bẩy tài chính như đối với nhà đầu tư cá nhân.,
Thứ hai, thuế hiện nay là vấn đề mấu chốt nhất gây nên tính kém hấp dẫn, đặc biệt với đối
tượng NĐT cá nhân, bởi có một sự khác biệt rất lớn trong thuế suất áp dụng khi họ tự thực hiện đầu tư so với khi họ đầu tư qua quỹ đầu tư nội địa Ngoài ra, phương pháp tính thuế và thuế suất áp dụng cũng rất khác nhau giữa quỹ đầu tư nội địa và quỹ đầu tư ofshore, tạo thế kém hấp dẫn của quỹ nội địa
Thứ ba, theo Luisa Gibbs, một luật sư người Úc làm việc tại Văn phòng Phillips Fox Hà Nội trong 02 năm qua, nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến các quy tắc, luật lệ hỗ trợ và bảo vệ thị trường
hơn lợi nhuận Những mối quan tâm chủ yếu là nhà đầu tư nước ngoài là có một khuôn khổ quản trị công
ty hiệu quả, mở rộng các lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư, khuyến khích các công ty
ở Việt Nam lên niêm yết trên thị trường và tạo sự bình đẳng về nghĩa vụ công bố thông tin giữa các công
ty niêm yết và công ty chưa niêm yết
Thứ tư, hạn chế trong quy định về đấu giá cổ phần của cơ quan quản lý nhà nước Theo Nghị
định 187/2004/NĐ-CP và Thông tư 126, tất cả các cuộc bán cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước có vốn trên 10 tỷ đồng phải thực hiện đấu giá qua Trung tâm giao dịch chứng khoán Phương thức đấu giá
này có ưu điểm làm cho quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước minh bạch hơn, tiền thu về bán cổ phần cho nhà nước sẽ lớn hơn, nhất là đối tượng cổ phần hoá là các doanh nghiệp có tiềm năng thu hút người đầu tư Tuy nhiên, phương thức này tỏ ra không thích hợp với các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả và làm tốn kém thêm chi phí, thay vì các công ty này chỉ cần thương lượng bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược là các Quỹ đầu tư Các tổ chức đầu tư lớn như Quỹ đầu tư muốn mua cổ phần của các doanh nghiệp trên sẽ phải tham gia một cách bình đẳng vào các cuộc đấu giá cổ phần Việc nhà đầu tư chiến lược là các Quỹ đầu tư phải tham gia đấu giá bình đẳng như các nhà đầu tư khác đang là rào cản đối với họ, bởi đối tượng này muốn được mua một tỷ lệ cổ phần đủ lớn bằng cách thương thảo theo những yêu cầu riêng biệt hoặc thỏa thuận pháp lý Điều này phù hợp với những công ty hoạt động kém hiệu quả và cần được tái cơ cấu lại
2.2.2.2 Góc độ quỹ đầu tư
Một trong những khó khăn cho hoạt động của các quỹ liên quan đến cơ chế của bản thân các quỹ Không linh hoạt như nhà đầu tư cá nhân, các quỹ đầu tư phải tuân thủ các kế hoạch, chiến lược được
đề ra từ trước, tất nhiên nguyên tắc an toàn, ít rủi ro được quan tâm hàng đầu, gây trở ngại trong việc chớp cơ hội hay chuyển hướng đầu tư khi thời cơ đến
Thứ hai, việc quản lý của Công ty quản lý quỹ Được kỳ vọng nhiều nhưng một số Quỹ đầu tư đã
có lúc họat động không hiệu quả và thua lỗ Một số Qũy đã sai lầm trong chiến luợc đầu tư của mình khi đầu tư vào một doanh nghiệp họat động kém hiệu quả Rủi ro này phát sinh từ việc quản lý của Công ty quản lý quỹ làm cho quỹ không đạt được mục tiêu đã đề ra Điều này dẫn đến thiệt hại cả về vật chất và tinh thần cho nhà đầu tư, làm giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với lọai hình doanh nghiệp mới này tại Việt Nam
Thứ ba, xung đột về mặt lợi ích Trong quá trình hoạt động của mình, Công ty quản lý quỹ có thể
gặp phải những xung đột lợi ích giữa các quỹ mà công ty quản lý hoặc giữa Quỹ với các sản phẩm tài chính khác của công ty Các xung đột này có thể dẫn đến sự đối xử có lợi hay bất lợi đối với mỗi quỹ
Trang 10Thứ tư, rủi ro về định mức tín nhiệm Các Quỹ đầu tư thường sẽ đầu tư một phần tài sản của quỹ,
mặc dù không lớn vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu công ty Việc đầu tư này sẽ hàm chứa rủi ro là tổ chức phát hành này có thể sẽ không có khả năng hoàn trả tiền gốc hoặc lãi cho nhà đầu tư
2.2.2.3 Góc độ doanh nghiệp
Khó khăn đầu tiên mà các Quỹ đầu tư đang gặp phải là những rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam do thiếu thông tin hoặc không thẩm định được thông tin về doanh nghiệp Khó khăn lớn nhất của nhà đầu tư
là tìm hiểu thông tin tài chính của doanh nghiệp Việt Nam.
Điều quan trọng nhất đối với nhà đầu tư là muốn hiểu được hoạt động của doanh nghiệp một cách chân thực và chính xác qua bản báo cáo tài chính, nhưng phần lớn doanh nghiệp ở Việt Nam đều coi việc báo cáo tài chính chỉ để đối phó với cơ quan thuế, chứ không phải là dành cho cổ đông cũng như các nhà đầu tư tiềm năng Doanh nghiệp Việt Nam hiên nay thường lập 2 loại sổ sách kế toán, một dành cho mình
và một dành cho việc báo cáo thuế Trong khi đó, hệ thống kiểm toán còn nhiều bất cập, có những quy định không tuân theo chuẩn mực quốc tế Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá chủ yếu là tính theo giá trị sổ sách chứ không sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền, nên để đánh giá giá trị thực của một doanh nghiệp là rất khó Hệ thống thông tin của doanh nghiệp còn yếu, không cung cấp đầy đủ cho nhà đầu tư về tình hình hoạt động cũng như những dự báo trong tương lai Hoạt động thâu tóm giữa các doanh nghiệp gần đây mới được công bố công khai Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam đều ngại công khai tình hình hoạt động kinh doanh Hội đồng quản trị chưa phải là tổ chức quy
tụ những cổ đông lớn và không hoạt động độc lập, bởi tại nhiều doanh nghiệp, Giám đốc lại kiêm luôn chức Chủ tịch Hội đồng quản trị
Thứ hai, hàng hoá trên thị trường hiện nay tuy đa dạng nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu về cả
số lượng lẫn chất luợng Đặc trưng các công ty cổ phần Việt Nam hầu hết xuất phát từ cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước, quyền lực chi phối vẫn thuộc về cổ đông nhà nước Chính vì sợ bị mất quyền lợi, sợ phải đối mặt với việc minh bạch hóa thông tin khiến việc xem xét niêm yết bị hạn chế Đây chính là nguyên nhân khiến cho các Quỹ đầu tư gặp nhiều khó khăn trong giải ngân nguồn vốn đầu tư Khi mà quy
mô thị trường không được nâng lên, không hội tụ được những doanh nghiệp lớn lên niêm yết thì thị trường chứng khoán Việt Nam khó có khả năng thu hút nhà đầu tư tài chính nước ngòai lớn như các Quỹ đầu tư nước ngòai
Thứ ba, các quỹ đầu tư gặp phải khó khăn khi lựa chọn công ty để giải ngân Xu thế chung của
các quỹ đầu tư khi đầu tư vào doanh nghiệp cổ phần là đầu tư toàn diện, nghĩa là không chỉ góp tiền, mà quỹ còn giúp doanh nghiệp về nhân lực, kinh nghiệm quản lý, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thị trường tiêu thụ… Việc được tiếp nhận nguồn vốn đầu tư này có thể coi như một may mắn cho sự phát triển của doanh nghiệp cổ phần, bởi họ có cơ hội để lớn mạnh vững chắc Để tiếp cận được nguồn vốn đầu tư mang tính chất toàn diện này, trước hết, doanh nghiệp phải biết những tiêu chuẩn cần thiết mà các Quỹ đầu tư đưa ra Hiện nay ở Việt Nam rất ít các công ty phù hợp với tiêu chí để Quỹ bỏ vốn đầu tư, vì hầu hết các công ty cổ phần có quy mô nhỏ, chưa đáp ứng được yêu cầu minh bạch tài chính hoặc những yêu cầu khác của Quỹ
Ngoài một số quỹ đang đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp niêm yết trên sàn, hiện có một số Quỹ đầu tư chuyên đi tìm kiếm những doanh nghiệp đang ở giai đoạn phát triển tiềm năng để đầu tư Vơi tầm nhìn chiến lược rộng, các Quỹ đầu tư sẽ phân loại những doanh nghiệp nào
họ có thể phát triển về bề rộng và doanh nghiệp nào có thể phát triển về bề sâu