Mục đích nghiên cứu của đề tài Xác định NLTH SGK cần có và biện pháp sử dụng CH, BT để rèn các năng lực đó qua dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT” cho HS, góp phần đổ
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay.
1.2 Do vai trò của tự học và sử dụng SGK để tự học trong giai đoạn hiện nay 1.3 Do thực trạng việc sử dụng CH, BT để rèn năng lực tự học SGK ở nhà trường THPT hiện nay.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xác định NLTH SGK cần có và biện pháp sử dụng CH, BT để rèn các năng lực
đó qua dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT” cho HS, góp phần
đổi mới PPDH sinh học hiện nay
3 Giả thuyết khoa học
Nếu có biện pháp sử dụng hợp lí CH, BT để hướng dẫn HS tự học SGK quadạy học phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT sẽ chẳng những giúp HSnắm vững kiến thức mà còn hình thành được phương pháp tự học
4 Khách thể nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 10- THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp sử dụng CH, BT để rèn luyện năng lực tự học SGK cho HStrong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT”
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn năng lực tự học của HS
5.2 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng CH, BT trong việc rènnăng lực tự học SGK cho HS
5.3 Xác định thực trạng về năng lực tự học SGK ở HS THPT, về sử dụng CH, BTtrong việc rèn năng lực tự học SGK của HS hiện nay
5.4 Xác định năng lực tự học SGK cần có ở HS THPT và các tiêu chí đánh giá 5.5 Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần Sinh học vi sinh vật để xác địnhnội dung rèn năng lực tự học cho HS
5.6 Sử dụng CH, BT để rèn luyện năng lực tự học SGK cho HS qua dạy họcphần “Sinh học Vi sinh vật”- Sinh học 10- THPT
5.7 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả của các biện pháp sử dụng
CH, BT đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 26.2 Phương pháp điều tra quan sát sư phạm
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp hướng dẫn HS tự học và tìnhhình sử dụng CH, BT trong DH sinh học của GV THPT
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp học tập môn sinh học của HSTHPT
- Trực tiếp dự giờ, thăm lớp, kiểm tra kết quả tự học SGK của HS
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Mục đích thực nghiệm: Xác định tính khả thi và kiểm tra hiệu quả của các
biện pháp sử dụng CH, BT để rèn luyện năng lực tự học SGK cho HS qua dạy họcphần “ Sinh học Vi sinh vật ”- Sinh học 10- THPT
6.4 Phương pháp xử lí số liệu:
* Phân tích, đánh giá định lượng các bài kiểm tra
Chúng tôi đã sử dụng thống kê toán học để xử lí số liệu kết quả chấm các bàikiểm tra nhằm giúp cho việc đánh giá hiệu quả dạy học của các phương pháp, biệnpháp mà luận văn đã đề xuất đảm bảo tính khách quan và chính xác
* Phân tích, đánh giá định tính
Phân tích chất lượng bài kiểm tra của HS để thấy rõ:
+ Về hứng thú và mức độ tích cực học tập
+ Về tính tự lực trong hoạt động học tập của HS
+ Về khả năng lưu giữ thông tin (độ bền kiến thức) của HS
7 Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá thêm cơ sở lí luận về việc sử dụng CH, BT trong hướng dẫn HS
Trang 3- Xác định được các biện pháp sử dụng CH, BT để rèn năng lực tự học SGKcho HS lớp 10 THPT qua dạy phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh 10.
- Thiết kế được một số giáo án có sử dụng CH, BT theo hướng rèn luyện nănglực tự học SGK trong DH phần “Sinh học vi sinh vật”- Sinh học 10
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
1.1.2 Trong nước
Trong nghị quyết của bộ chính trị về CCGD (11/1/1979) đã viết “Cần coi trọngviệc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học cho HS, hướng dẫn HSbiết cách nghiên cứu SGK, thảo luận chuyên đề, ghi chép tư liệu, tập làm thựcnghiệm khoa học ”
GS Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm “Học và dạy cách học” đã đề cập đếnvai trò của người học, người dạy và mô hình tự học Từ 1977- 1987, dưới sự chủ trìcủa ông, tập thể các nhà KH đã nghiên cứu và triển khai chương trình “Tự học cóhướng dẫn kết hợp với thực tập dài hạn ở trường phổ thông”
Ngoài ra còn nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả cũng nghiên cứu
về xây dựng và sử dụng CH, BT để dạy các phần khác nhau của Sinh học phổ thông:
+ GS TS Đinh Quang Báo: “Dạy dọc sinh học ở trường phổ thông theo hướnghoạt động hoá người học” (Kỉ yếu hội thảo KH đổi mới PPDH theo hướng hoạt độnghoá người học, Hà Nội, 1995), Tổng kết kinh nghiệm sử dụng SGK, Hà Nội, 1997.Dạy sinh viên đọc sách - phương pháp dạy tự học chủ yếu (Tài liệu dành cho họcviên sau đại học)
+ PGS TS Lê Đình Trung: chuyên đề: “Câu hỏi, bài tập trong dạy học sinhhọc” (Tài liệu dành cho học viên sau đại học)
+ Luận văn thạc sĩ của Bùi Thuý Phượng (2001): “Sử dụng CH, BT để tổ chức
HS tự lực nghiên cứu SGK trong giảng dạy Sinh thái học 11- THPT”…
Trong tất cả các kết quả nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định: cầnphải đưa ra được các biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó CH, BT làphương tiện quan trọng để người dạy tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu SGK của
HS Đồng thời đưa ra các nguyên tắc, qui trình xây dựng và biện pháp sử dụng CH,
BT trong DHSH nói chung, trong DH di truyền, sinh thái học và sinh học tế bào nói
Trang 4riêng Các thành công này của các tác giả sẽ được chúng tôi nghiên cứu, kế thừatrong luận văn này
Tuy nhiên, trong các biện pháp hướng dẫn, phương pháp, phương tiện thì sửdụng CH, BT để rèn luyện NLTH SGK cho HS chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt
là trong DHSH thì còn rất hạn chế Do đó, việc đi sâu nghiên cứu lí luận để đề ra cácbiện pháp sử dụng CH, BT nhằm rèn luyện cho HS tự học SGK ở từng môn học làhết sức cần thiết, đặc biệt là trong DH sinh học phần Sinh học vi sinh vật – Sinh học
10 trong chương trình THPT mới hiện nay
1.2 Cơ sở lí luận.
1.2.1 Khái niệm về năng lực tự học.
1.2.1.1 Khái niệm tự học
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tự học:
+ Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn thì: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp….), và có khi cả cơbắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnhmột lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
+ Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người họctiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và SGK đãđược qui định ”
+ Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công tác họctập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chấtlượng đào tạo”
Tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong GD nhà trường và trong cả cuộc sốngngười học Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độclập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt đời
1.2.1.2 Khái niệm về năng lực tự học.
* Năng lực tự học:
Kết quả tự học cao hay thấp là phụ thuộc NLTH của mỗi cá nhân Mỗi người
có một cách học khác nhau Cách học ở đây là cách tác động của người học đến đốitượng học
Trang 5Theo Nguyễn Kỳ, trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người bịkhuyết tật, tâm thần – đều tiềm ẩn một năng lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quígiá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới,
tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là NLTH sáng tạo
Tóm lại: NLTH được hiểu là khả năng HS tự khám phá được kiến thức, kĩnăng theo mục đích nhất định dưới sự hướng dẫn của GV
Đối tượng nhận thức của HS khi làm việc với SGK là các nguồn tri thức đượcdiễn đạt bằng các hình thái ngôn ngữ khác nhau như kênh chữ, kênh hình, sơ đồ, đồthị, bảng biểu Do đó, khi làm việc với SGK, HS cần có các kĩ năng cơ bản mớichiếm lĩnh được kiến thức đồng thời có được phương pháp hoạt động sáng tạo trongnhận thức
Tóm lại: NLTH SGK là năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức từ SGK
1.2.1.3 Các mức độ của năng lực tự học
- Tự học có hướng dẫn
Là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứngdưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV
- Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)
Là hình thức tự học, tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện
kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV
1.2.1.4 Vai trò của năng lực tự học
Trang 6+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chínhmình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp họcdưới sự hướng dẫn của GV – xã hội hoá lớp học.
1.2.2 Vai trò của CH, BT trong dạy học.
1.2.2.1 Khái niệm CH, BT
* Khái niệm câu hỏi.
Hỏi: Là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời về một vấn đề nào đó
* Câu hỏi định hướng nghiên cứu SGK và tài liệu:
Là hệ thống CH được xây dựng dựa trên nền tảng nội dung kiến thức giáo khoatừng bài học trong một thời gian nhất định nhằm định hướng quá trình nghiên cứuSGK của HS theo ý đồ, kinh nghiệm của GV, giúp người học có phương pháp nghiêncứu cụ thể SGK mất ít thời gian nhưng lại có hiệu quả cao Các CH này được xâydựng theo hệ thống logic, qua việc thực hiện các CH này HS sẽ tự lĩnh hội được kiếnthức, tăng cường tính tự học, tự nghiên cứu cho người học
* Khái niệm bài tập.
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2000) thì BT là bài ra cho HSlàm để vận dụng những điều đã học được
1.2.2.2 Vai trò của CH, BT trong dạy học.
CH, BT vừa là nội dung, vừa là phương tiện, phương pháp, biện pháp tổ chứcquá trình DH, giúp kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của mục tiêu và điều chỉnh quátrình tiến tới mục tiêu DH
1.2.2.3 Tiêu chuẩn của CH, BT để hướng dẫn HS tự học SGK.
Để hướng dẫn HS rèn luyện NLTH SGK thì các CH, BT cần được thiết kế chotất cả các khâu trong quá trình DH Trong giới hạn của luận văn sẽ chỉ tập trung chủyếu vào các CH, BT sử dụng trong khâu nghiên cứu tài liệu mới Các CH, BT sửdụng trong khâu này được lựa chọn theo những tiêu chuẩn sau:
+ Mỗi CH, BT phải định hướng rõ vấn đề cần nghiên cứu mà nội dung tri thức
có ở SGK
+ Mỗi CH, BT phải chứa đựng cách thức tổ chức các hoạt động tự lực của HSkhi làm việc với SGK, để khi HS trả lời CH, BT sẽ hình thành và phát triển cácNLTH SGK
+ Mỗi CH, BT phải hàm chứa một lượng kiến thức và phải được sắp xếp có hệthống để khi tổ chức HS trả lời CH hoặc giải BT sẽ lĩnh hội được kiến thức mới có hệthống theo mục tiêu bài học
Trang 71.2.2.4 Qui trình sử dụng CH, BT trong dạy học để rèn luyện NLTH SGK cho HS:
Qui trình sử dụng CH, BT nêu trên có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:
1.2.3.1 Năng lực thu nhận thông tin từ SGK
Năng lực thu nhận thông tin từ SGK là khả năng HS biết định hướng và chọnlọc ra được những thông tin chính, bản chất từ nội dung kiến thức trình bày trongSGK để giải quyết mục tiêu học tập
Nếu biết ghi nhớ những điểm quan trọng trong tài liệu thì kiến thức thu nhậnmới có giá trị Muốn làm được điều đó, HS phải có cách thu nhận thông tin đọc đượcbằng các cách khác nhau: đánh dấu vào những chỗ quan trọng trong sách, trích ghi,ghi tóm tắt, lập dàn ý, đề cương… Khi hình thành và phát triển năng lực thu nhậnthông tin qua SGK, HS sẽ xác định đúng được mục tiêu và có cách thu nhận thông tinđọc được dưới nhiều hình thức khác nhau
1.2.3.2 Năng lực xử lí thông tin từ SGK.
Năng lực xử lí thông tin qua kênh hình, kênh chữ từ SGK là khả năng sử dụng
các thông tin thu nhận được vào việc giải quyết các mục tiêu học tập Khi nghiên cứu,
HS cần phối hợp thu nhận thông tin từ 3 kênh: chữ, số, và hình và phân loại chúng
Đó là sự phân tích thông tin để xác định được các ý chính, phụ, ý trọng tâm, loại bỏcác ý rườm rà ít có giá trị thông tin, xác định mối liên hệ giữa các ý để khu biệt các
GV giao CH, BT cho HS, từng HS tự nghiên cứu SGK ở nhà để hoàn thành CH,
BT và đề xuất thắc mắc dưới dạng các CH.
GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm hoặc thảo luận trên toàn lớp để thống nhất
phương án trả lời CH, BT, giải quyết thắc mắc cá nhân và chỉ ra các vấn đề
chưa giải quyết được cần có sự hỗ trợ của GV
GV hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết các vấn đề còn tranh luận bằng cách ra
thêm các CH định hướng hoặc các tài liệu bổ sung cho HS nghiên cứu GV
hướng dẫn HS rút ra kết luận, chính xác hoá kiến thức.
Vận dụng kiến thức mới
Trang 8nhóm ý rồi tổng hợp và khái quát chúng thành các khái niệm, qui luật hay học thuyết,hoặc nội dung cơ bản của phần tài liệu và ghi nhớ chúng trên nền thông hiểu.
1.2.3.3 Năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK.
Năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK là khả năng diễn đạt đúng nội dungtheo đúng chủ đề bằng sơ đồ, hình vẽ, lời mô tả…
Có thể trình bày nội dung đọc được bằng nhiều hình thức khác nhau như: bằngvăn nói, văn viết, lập bảng, biểu so sánh và sơ đồ hoá… nhưng cốt yếu phải là ngônngữ chính của HS, diễn đạt theo cách hiểu của HS chứ không phải là chép lại SGK.Khi hình thành và phát triển năng lực diễn đạt kết quả thu được từ SGK sẽ cótác dụng rèn luyện và phát triển các kĩ năng tư duy, đặc biệt là kĩ năng tự học: biếtthu thập, xử lí thông tin, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá lập bảng biểu, vẽ đồthị, làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm, làm báo cáo, kĩ năng ngôn ngữ ở mức
độ cao, giúp HS lưu giữ thông tin một cách vững chắc, tạo thuận lợi cho việc trìnhbày bằng lời trong thảo luận hay khi ôn tập để kiểm tra, thi cử
1.2.3.4 Năng lực vận dụng kiến thức
Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng sử dụng các kiến thức thu nhận và xử líđược để nhận thức, cải tạo thực tiễn
Năng lực vận dụng kiến thức được thể hiện ở việc HS sử dụng những kiến thức
đã lĩnh hội được vào việc giải thích các hiện tượng có trong thực tiễn hoặc giải quyếtmột nhiệm vụ cụ thể nào đó như giải các BT…
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài.
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng
+ Sử dụng phiếu điều tra: Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với
50 GV sinh học đã và đang trực tiếp giảng dạy sinh học THPT thuộc 20 trường THPTcủa tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2007- 2008
Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với đối tượng là HS khối 10của 3 trường ở tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2007- 2008 là Khoa văn hoá cơ sở của trườngTrung cấp kĩ thuật Vĩnh Phúc, THPT Trần Phú, THPT Bán công Nguyễn Thái Học
+ Dự giờ dạy: Chúng tôi đã tham dự giờ của GV dạy sinh học ở 3 trường thực
nghiệm nói trên
Kết quả điều tra được tóm tắt như sau:
Trang 91.3.2 Việc dạy của GV:
Bảng 1: Kết quả điều tra về việc sử dụng các phương pháp hướng dẫn HS tự học
và tình hình sử dụng CH, BT trong dạy học sinh học của GV THPT:
Số
TT
Mức độ sử dụngCác nội dung điều tra
Thường xuyên Không
thườngxuyên
Không sửdụng
1
Khi soạn bài, các thầy cô đã chú ý đến mục
tiêu rèn kĩ năng tự học SGK cho HS ở mức
độ nào?
2
Khi xây dựng các CH, BT để hướng dẫn HS
tự học SGK thì thầy cô xây dựng loại CH,
BT sau đây ở mức độ nào?
3 Trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, các
thầy cô sử dụng CH, BT nhằm mục đích sau
5 Khi HS gặp khó khăn trong việc trả lời CH,
BT thì các thầy cô hướng dẫn bằng các cách
sau ở mức độ nào?
+ Đưa ra các CH phụ để gợi ý ra từng vấn 39 78 11 22 0 0
Trang 10đề nhỏ.
+ Chỉ giải thích một chút và để HS tiếp tục
suy nghĩ
+ Dừng lại và trả lời toàn bộ đáp án 5 10 35 70 10 20
Qua kết quả bảng 1 cho thấy:
+ Đa số các GV đã nhận thức được việc phải đổi mới phương pháp và đang cónhững chuyển biến mới trong cách dạy, hướng tới việc rèn luyện cho HS phươngpháp học, đặc biệt là tự học
+ Khả năng thiết kế và sử dụng các CH, BT của GV vẫn chưa hiệu quả, cònmang tính hình thức, không chú ý tới rèn luyện, kĩ năng tư duy logic, bồi dưỡngNLTH cho HS
+ Khi giảng dạy trên lớp, các CH, BT để hướng dẫn học sinh tự học được GV
sử dụng thì chủ yếu là định hướng HS tự đọc SGK, còn việc tổ chức HS thảo luậnnhóm, để HS tự lực nghiên cứu đơn vị kiến thức trên lớp và tự đặt câu hỏi phát hiệnkiến thức thì còn chưa thường xuyên
Thông qua việc trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm với GV chúng tôi nhận thấy
đa số GV đều đánh giá cao vai trò của CH, BT trong các khâu của quá trình DH, đã
sử dụng CH, BT để tổ chức hoạt động học tập của HS trên lớp, xác định được loại
CH có tác dụng kích thích tư duy của HS Song các GV còn gặp khó khăn trong việcthiết kế các CH, BT, đặc biệt là loại CH, BT phát triển tư duy, bồi dưỡng NLTH cho
HS Họ cũng ngại thay đổi, còn lúng túng khi sử dụng CH, BT vào các khâu của quátrình DH nên các phương pháp tích cực được dùng còn hạn chế hoặc mang tính hìnhthức, ít hiệu quả, tốn nhiều thời gian Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là các GV cầnnắm vững cơ sở lí luận, các nguyên tắc và qui trình xây dựng, sử dụng các CH, BT đểrèn luyện NLTH SGK cho HS
Trang 111.3.3 Việc học của HS
Bảng 2: Kết quả điều tra về phương pháp tự học SGK môn Sinh học
của HS THPTS
Khôngthườngxuyên
Rất hiếmkhi
Chưa baogiờ
+ Nghiên cứu bài mới theo
nhắc nhở của thầy cô
việc sau ở mức độ nào?:
+ Tập trung để tìm lời giải
442 42,7 330 31,9 109 10,5 155 14,9
+ Viết sơ lược những ý cần
trả lời và tham khảo ý cuả
Trang 12+ Không hiểu CH hoặc BT
+ Hiểu nhưng không làm
được
395 38,1 281 27,1 206 19,9 154 14,9
+ Làm được nhưng không
diễn đạt được theo ý hiểu
của mình
495 47,8 286 27,6 129 12,5 126 12,1
Từ bảng trên cho thấy:
+ Số lượng các em đọc trước bài mới trong SGK, gạch dưới các ý quan trọng
và ghi lại các thắc mắc không nhiều
+ Các em chỉ nghiên cứu bài mới khi GV yêu cầu và theo sự hướng dẫn của
GV chứ chưa tự mình đặt CH, tìm đọc thêm thông tin ngoài SGK để bổ sung… theonhu cầu, hứng thú của mình
+ Khi các thầy cô ra CH, BT để tìm hiểu kiến thức mới thì phần lớn các emvẫn còn thụ động chờ câu trả lời của các bạn tích cực hơn họăc là chờ câu trả lời của
GV Như vậy, các CH, BT mà GV sử dụng chưa thực sự kích thích hứng thú học tập
và khả năng tìm tòi sáng tạo của HS
+ Đối với các CH, BT mà GV đưa ra, năng lực diễn đạt của các em chưa cóhoặc còn rất thấp, chưa mô tả, hệ thống hoá, phân tích, khái quát…được các kiếnthức trong SGK theo yêu cầu nội dung CH, BT mà GV đưa ra
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC SGK CHO HS TRONG DẠY HỌC PHẦN
“SINH HỌC VI SINH VẬT” – SINH HỌC 10 THPT.
2.1 Phân tích cấu trúc, nội dung phần Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 theo định hướng sử dụng CH, BT để rèn luyện HS tự học.
Phần III Sinh học vi sinh vật gồm 3 chương với 19 bài (sách nâng cao), 12 bài
(sách cơ bản).: Chương 1: Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở VSV, Chương 2:
Sinh trưởng và sinh sản của VSV, Chương 3: Virut và bệnh truyền nhiễm Cuối phần
III có bài ôn tập về các kiến thức VSV Cuối mỗi chương đều có các bài thực hànhnhằm minh hoạ, củng cố hay phát triển nhận thức của HS
Thực chất Sinh học VSV cũng là Sinh học tế bào vì VSV tồn tại chủ yếu ởdạng đơn bào nhưng đồng thời chúng cũng là những cơ thể SGK Sinh học 10 đã đềcập đến cấp độ cơ thể nguyên thuỷ là cơ thể đơn bào, vì vậy cần giới thiệu chúng nhưnhững cơ thể nhưng khác với phần sinh học cơ thể ở lớp 11 là nghiên cứu cấp cơ thểtrên đối tượng là những sinh vật có cơ thể đơn bào