1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương PP NCKH theo mo hinh VN

16 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 186,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Các đặc điểm về nhân khẩu học giới tính, trình độ giáo dục, chức nghiệp, dân tộc, khu vực, miền, loại hình kinh tế và ngành kinh tế tác động như thế nào đến suất sinh lợi giáo dục Việt

Trang 1

1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu

Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực như: tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, vốn con người, vốn tài chính… Tuy nhiên, trong các nguồn lực đó thì vốn con người là quan trọng nhất, có vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia Một nước, dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào đến đâu, máy móc thiết bị hiện đại đến nước nào, nhưng nếu không có người đủ khả năng, trình độ để vận hành thì tất cả cũng khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn Mặt khác, muốn có một nguồn vốn con người dồi dào, ắt hệ thống giáo dục của quốc gia đó phải “mạnh” Theo Bắc Sơn (2013), nguồn kinh phí chính cho giáo dục và đào tạo vẫn là ngân sách nhà nước Nhà nước đã có sự ưu tiên đầu tư cao cho giáo dục và đào tạo trong suốt 10 năm qua, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đến sự nghiệp phát triển giáo dục Tỷ trọng ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo năm 2001 bằng 15,5% tổng chi ngân sách nhà nước (tương ứng 4,1% GDP), năm 2006 là 18,4% (tương ứng 5,6% GDP) Ở giai đoạn tiếp theo 2007 – 2008, chính phủ đã giành 20% chi ngân sách cho giáo dục đào tạo, đạt tỷ lệ như Quốc hội phê duyệt cho năm 2010 Nhiều đề án, chương trình quy mô lớn được huy động đa dạng và tối đa nguồn lực cho phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông Ngân sách nhà nước cũng đã bước đầu tập trung cho các cấp học phổ cập, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn

và phát triển đội ngũ nhà giáo

Nước ta là một trong những nước có truyền thống hiếu học Tất cả mọi người hơn ai hết cũng đều biết rằng khi học vấn càng cao, cơ hội kiếm việc làm càng dễ, thu nhập cũng sẽ cao hơn so với những người học vấn thấp Tuy nhiên, không phải vì vậy

mà ai cũng sẵn sàng đầu tư cho việc học, vẫn có những người bỏ học ngang chừng, hay chỉ cần tấm bằng phổ thông để làm công nhân, không phải ai cũng sẵn sàng học lên đại học Vậy nguyên nhân do đâu?

Có thể có nhiều lý do được đưa ra, nhưng phổ biến nhất vẫn là vấn đề về chi phí Giáo dục cần một chi phí khá lớn so với ngân quỹ có hạn của các cá nhân, hộ gia đình Như vậy, họ chỉ sẵn sàng đầu tư cho giáo dục lớn khi họ nhận thấy lợi ích thu được từ

Trang 2

hoàn thành các khóa đào tạo) Hiện nay cũng đã có một số đề tài nghiên cứu vấn đề khi gia tăng thêm một năm đi học thì thu nhập sẽ tăng thêm bao nhiêu phần trăm, một trong những mục đích là để làm bằng chứng khuyến khích người dân đi học Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào chỉ ra xu hướng của lợi ích đầu tư cho giáo dục

theo thời gian Chính vì vậy, tác giả đã chọn lựa chọn đề tài “Đo lường và so sánh

suất sinh lợi giáo dục của Việt Nam qua hai năm 2008 và 2010” làm luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Thu nhập của người lao động sẽ tăng thêm bao nhiêu phần trăm khi tăng thêm một năm đi học?

- Có sự khác biệt hay không suất sinh lợi giáo dục Việt Nam qua các năm? Nếu có thì khác biệt như thế nào?

- Các đặc điểm về nhân khẩu học (giới tính, trình độ giáo dục, chức nghiệp, dân tộc, khu vực), miền, loại hình kinh tế và ngành kinh tế tác động như thế nào đến suất sinh lợi giáo dục Việt Nam?

- Những gợi ý chính sách nào về giáo dục để làm tăng thu nhập cho người lao động?

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đo lường suất sinh lợi giáo dục Việt Nam 2 năm 2008 và 2010

- So sánh suất sinh lợi giáo dục Việt Nam giữa 2 năm 2008 và 2010

- Đánh giá sự tác động của các yếu tố thuộc về nhân khẩu học (giới tính, trình độ giáo dục, chức nghiệp, dân tộc, khu vực), miền, loại hình kinh tế và ngành kinh tế tới suất sinh lợi của giáo dục

- Đưa ra các gợi ý chính sách về giáo dục cho Việt Nam

Trang 3

4 Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

4.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết

4.1.1 Lý thuyết về vốn con người

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vốn con người, theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) vốn con người là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội Còn theo Mincer (1974) thì vốn con người cũng giống như vốn hữu hình, để có được nguồn vốn này thì con người phải đầu tư và tích lũy thông qua giáo dục, rèn luyện trong công việc, và nó thuộc riêng về mỗi người, nó đem lại khoản thu nhập cho người sở hữu nó Như vậy, tóm lại theo tác giả thì vốn con người có thể được hiểu đó là những hiểu biết và kinh nghiệp được tích lũy trong giáo dục và quá trình lao động mà có

Vốn con người có được thông qua ba yếu tố chính: Thứ nhất là năng lực ban đầu; thứ hai những năng lực và kiến thức chuyên môn được hình thành và tích lũy thông qua quá trình đào tạo chính quy; và thứ ba các kỹ năng, khả năng chuyên môn, những kinh nghiệm được tích lũy trong lao động

Lý thuyết vốn con người là nền tảng, là cơ sở để có thể phát triển nhiều lý thuyết kinh tế Vốn con người được Mincer (1989) chứng minh về sự đóng góp thông qua những nội dung “Vốn con người đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: 1) nó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu

tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; 2) nó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế”

4.1.2 Giáo dục và thu nhập – Mô hình đi học

Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có phẩm chất

và năng lực như yêu cầu đề ra (Hoàng Phê và ctg., 1988, trang 415)

Giáo dục mang lại lợi ích cho cả người đi học và toàn thể xã hội Người đi học thì có khả năng được trả thù lao cao hơn để xứng đáng với chi phí giáo dục, xã hội sẽ phát triển hơn nếu trình độ giáo dục tăng cao Tuy nhiên, ta thấy số năm đi học lại khác

Trang 4

nhau ở mỗi cá nhân khác nhau Vậy, đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng có cá nhân quyết định theo học lên các bậc cao hơn, có cá nhân quyết định dừng lại ở một mức nào đó? Trong nghiên cứu của mình Borjas (2005) ông đã trình bày về “Đường tiền lương học vấn” như hình 1.1

Hình 1.1 Thu nhập và số năm đi học

cho thấy tiền lương các doanh nghiệp sẵn sàng trả tương ứng với mức trình độ học vấn của người lao động, thông qua đó thể hiện mối quan hệ giữa số năm đi học và tiền lương Đường này có ba đặc điểm: Thứ nhất dốc lên do “lương đền bù” cho học vấn; thứ hai Độ dốc thể hiện mức tăng thu nhập khi người lao động có thêm một năm học vấn; thứ ba đường cong lồi cho thấy mức gia tăng biên của tiền lương giảm dần khi tăng thêm số năm đi học

Như vậy, người lao động sẽ quyết định chọn trình độ học vấn tối ưu khi “Đường tiền lương học vấn” đạt cực đại

4.1.3 Hàm thu nhập Mincer

* Sự hiệu quả của đầu tư trong mô hình đi học

Trang 5

Mincer (1974) đã đưa ra mô hình chứng minh mối quan hệ giữa thu nhập và số năm đi học như sau:

LnYs = lnY0 + r.S (1) Trong đó:

r: tỷ suất chiết khấu

S: số năm đi học

Phương trình (1) đã chỉ ra cho ta thấy, logarithm của thu nhập là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học S, và hệ số của S biểu thị mức độ gia tăng thu nhập là suất chiết khấu r cũng chính là tỷ suất thu hồi nội bộ

* Hàm ước lượng logarithm thu nhập

Cũng trong cùng nghiên cứu Mincer (1974) đã xây dựng hàm ước lượng logarithm thu nhập của người lao động có dạng:

LnYt = a0 + a1.S + a2.t +a3.t2 + biến khác (2) Trong đó:

t: Số năm biểu thị kinh nghiệm tiềm năng, với giả định kinh nghiệm là liên tục và bắt đầu ngay khi không còn đi học, được tính bằng tuổi hiện tại quan sát trừ đi tuổi lúc không còn đi học: t = A – S – b Với A là tuổi hiện tại và b là tuổi bắt đầu đi học

thu nhập khi tăng thêm một năm đi học)

Trang 6

a2: giải thích phần trăm tăng thêm của thu nhập khi kinh nghiệm tiềm năng tăng thêm một năm

Các biến khác có thể bao gồm các yếu tố của cá nhân, việc làm, địa bàn làm việc, khu vực kinh tế, ngành nghề lao động…

4.2 Các nghiên cứu trước

Trong quá trình tìm hiểu các nghiên cứu trước về suất sinh lợi giáo dục, tác giả nhận thấy hầu hết các nghiên cứu (trên thế giới và ở Việt Nam) đều dùng hàm thu nhập của Mincer để ước lượng Đây là phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu, trong đó

sử dụn hàm Logarithm tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc, biến độc lập bao gồm số năm đi học, kinh nghiệm và kinh nghiệm bình phương

4.2.1 Trên thế giới

Theo nghiên cứu về suất sinh lợi giáo dục của các nước trên thế giới của Psacharopoulos (1994) cho kết quả như bảng sau:

Bảng 1.1 Suất sinh lợi giáo dục của các nước trên thế giới năm 1994

* Những nước không thuộc OECD

Nguồn: George Psacharopoulos, “Returns to Investment in Education: Global

Update” World Development, 22(9), 1994.

thông qua bảng trên ta thấy thu nhập của người lao động thế giới sẽ tăng 10,1% nếu tăng thêm một năm đi học, và suất sinh lợi giáo dục cũng khác nhau theo các khu vực

Trang 7

Khu vực có suất sinh lợi cao nhất thuộc về khu vực Châu Mỹ Latin/Vùng Caribbe, khu vực có suất sinh lợi thấp nhất thuộc về Châu Phi cận saharan, các chỉ số lần lượt là 12,4% và 3,4% Khu vực Châu Á (gồm những nước không thuộc khối OECD) hệ số này là 9,6%

Thời gian gần đây hơn, trong nghiên cứu của Bojas (2005) dựa trên hàm thu nhập của Mincer, tác giả đã ước lượng suất sinh lợi giáo dục của Hòa Kỳ là khoảng 9% vào những năm 90

4.2.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành (2006), dựa trên bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 2002 và phương phương pháp khác biệt trong khác biệt, cho thấy suất sinh lợi giáo dục của Việt Nam sau khi có sự thống nhất 12 năm đi học phổ thông đối với cả nước là 11,43%

Tới năm 2008, tác giả Vũ Trọng Anh cũng thực hiện một nghiên cứu về Suất sinh lợi giáo dục của Việt Nam Vũ Trọng Anh đã dựa vào hàm thu nhập Mincer và bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam 2004 để thực hiện ước lượng này Kết quả hồi quy mô hình cho thấy khi tăng thêm một năm đi học thì đem lại mức gia tăng thu nhập của người Việt Nam là 7,4% Đồng thời, Vũ Trọng Anh cũng chỉ ra rằng ngoài số năm đi học thì những yếu tố khác như: giới tính, bậc học, nghề nghiệp…cũng

có ảnh hưởng tới sự gia tăng thu nhập của người lao động

Tăng Thị Bích Hiền (2011) khi nghiên cứu về “Giáo dục và nền tảng gia đình, những yếu tố ảnh hưởng lương Việt Nam” cho biết khi cha hoặc mẹ có nhiều hơn một năm tới trường thì tiền lương của con cái sẽ tăng 2,91% Đối với cá nhân người lao động khi tăng thêm một cấp độ trong năm cấp độ học vấn thì thu nhập sẽ tăng 7,74% lên 18,4%

Gần đây nhất, Lê Hoàng Nam (2012) đã tiến hành nghiên cứu “Ước lượng suất sinh lợi của giáo dục ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long” dựa trên hàm thu nhập của Mincer và bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam 2010 cho thấy: Khi người lao động có số năm đi học tăng lên một năm thì thu nhập của họ tăng lên 1,25% Ngoài số năm đi học, tác giả cũng chỉ ra những yếu tố khác như: khu vực thành thị hay

Trang 8

nông thôn; khu vực kinh tế; giới tính; bằng cấp cũng có ảnh hưởng tới thu nhập của người lao động

5 Phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu

Đề tài sử dụng các phương pháp sau trong quá trình nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích thống kê: Nhằm đánh giá, phân tích sơ bộ về thực trạng

đi học, việc làm, bằng cấp… ở Việt Nam năm 2008 và năm 2010

- Phương pháp định lượng Nghiên cứu sử dụng phần mềm kinh tế lượng SPSS

20 để phân tích mô hình hồi quy Dựa vào hàm thu nhập của Mincer để ước lượng suất sinh lợi giáo dục ở Việt Nam năm 2008 và năm 2010 (Hồi quy hàm thu nhập Mincer)

- Dữ liệu được lưu giữ trong phần mềm Stata sẽ được trích xuất và chuyển thành định dạng của phần mềm Excel để tính toán

6 Mô hình nghiên cứu

Xuất phát từ mô hình nghiên cứu gốc của Becker và Mincer (1974):

LnYs = LnY0 + r.S + ui (3)

Mô hình Mincer mở rộng với biến kinh nghiệm làm việc (t) như sau:

LnYt = a0 + a1.S + a2.kn +a3.kn2 + ui (4) Nhưng do thu nhập không tăng tuyến tính với kinh nghiệm mà nó sẽ đạt cực đại

ở một điểm nào đó của đường thu nhập, vì vậy đường thu nhập sẽ lõm theo biến kinh nghiệm, a2 > 0 và a3 < 0 (Mincer, 1974)

Như vậy, để ước lượng được suất sinh lợi giáo dục thì mô hình được kiến nghị sử dụng hồi quy như sau:

Y = f(Số năm đi học; kinh nghiệm làm việc; khu vực; giới tính; loại hình kinh tế; cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức; dân tộc kinh; trình độ học vấn)

Mô hình được cụ thể hóa như sau:

Mô hình 1 (Mô hình hồi quy giới hạn):

Trang 9

Ln(Y2008, 2010) = β0 + β1 S + β2 kn + β3 kn2 + ui (5)

Mô hình 2 ( Mô hình hồi quy mở rộng)

Ln(Y2008, 2010) = β0 + β1 S + β2 kn + β3 kn2 + β4 TrinhdoGD + β5 Gioitinh + β6

Các biến được giải thích và kỳ vọng dấu như sau:

Thu nhập hàng

Thu nhập trung

Kinh nghiệm

Tuổi – (số năm

Kinh nghiệm

làm việc bình

phương

kn2

Kinh nghiệm làm việc bình phương

phương

i = 0

+

Không có bằng cấp = 1; Các cấp còn lại = 0

i = 1 Cap1

Bao gồm 7 cấp học: Không có bằng cấp, Cấp

1, Cấp 2, Cấp

3, Sơ cấp – Trung cấp, Cao đẳng – Đại

Cấp 1 = 1; các cấp còn lại = 0

cấp còn lại = 0

cấp còn lại = 0

Trang 10

Trình độ giáo

dục

học, Sau đại học

i = 4 Sotrungcap

Sơ cấp – Trung cấp = 1; các cấp còn lại = 0

i = 5 CDDH

Cao đẳng – Đại học = 1; các cấp còn lại = 0

i = 6 SDH

Sau đại học = 1; các cấp còn lại = 0

Sử dụng biến giả trong hồi quy để đánh giá sự khác biệt trong thu nhập theo giới tính

+

Nam = 0

Nữ = 1

Loại hình

kinh tế

(Loaihinhkt)

Nhanuoc

Biến giả, dùng

để chỉ các khu vực làm việc

Bao gồm: Khu vực nhà nước, Khu vực vốn đầu tư nước ngoài, khu vực tập thể, khu vực tư nhân, khu vực kinh doanh theo hộ

+

Nhanuoc = 1; các khu vực còn lại = 0 Vondautunn

Vondautunn = 1; các khu vực còn lại = 0 Tapthe

Tapthe = 1; các khu vực còn lại

= 0

các khu vực còn lại = 0

Trang 11

KDtheoho = 1; Các khu vực còn lại = 0

Biến giả để biểu thị nơi người dân đang sống

Nông thôn = 0

Biến giả để biểu thị người lao động làm trong khu vực nhà nước

+

Cán bộ, công chức, viên chức

= 1; Trường hợp khác = 0

Biến giả cho dân tộc kinh và các dân tộc khác

+/-Kinh và Hoa = 1;

Các dân tộc khác = 0

Biến giả cho miền Bắc, Trung và Nam

- Miền Bắc = 1; Các miền khác

= 0

- Miền Trung = 1; Các miền khác = 0

- Miền Nam = 1; Các miền khác = 0

ngành kinh tế bao gồm Nông – Lâm nghiệp;

nghiệp = 1; các ngành còn lại = 0

Trang 12

Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ

- Công nghiệp – Xây dựng = 1; Các ngành còn lại = 0

- Dịch vụ = 1; Các ngành còn lại = 0

7 Phạm vi nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

7.1 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu suất sinh lợi giáo dục Việt Nam trong giai đoạn: năm 2008 và năm 2010

7.2 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu được lấy từ bộ số liệu Khảo sát mức sống

hộ gia đình Việt Nam năm 2008 và năm 2010 của Tổng cục Thống kê

8 Ý nghĩa và hạn chế của nghiên cứu

8.1 Ý nghĩa của nghiên cứu

- Đề tài “Đo lường và so sánh suất sinh lợi giáo dục của Việt Nam qua hai năm 2008

và 2010” sẽ khắc phục được hạn chế mà nghiên cứu của Nguyễn Trọng Anh (2008) mắc phải (không có sự so sánh suất sinh lợi giáo dục Việt Nam giữa các năm) Mặt khác, khi ước lượng tác giả sử dụng thu nhập theo tháng thay vì theo năm như các nghiên cứu trước

- Việc nghiên cứu sẽ giúp chúng ta thấy khi tăng thêm một năm đi học thì thu nhập của người lao động sẽ tăng bao nhiều phần trăm

- Nghiên cứu sẽ cho thấy sự tác động của bối cảnh kinh tế tới suất sinh lợi của giáo dục Việt Nam

- Là một trong những bằng chứng để khuyến khích tinh thần hiếu học của người dân

Ngày đăng: 23/05/2020, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w