Trong quyển Líluận và phê bình văn học Những vấn đề và quan niệm hiện đại, Trần Đình Sử chorằng phạm vi của tiếp nhận văn học bao gồm 3 phương diện như sau: Thứ nhất,nghiên cứu tác phẩm
Trang 1Sự ra đời của lí thuyết tiếp nhận giúp người đọc dễ dàng thụ cảm tác phẩm văn họchơn Tuy nhiên ngày nay việc tiếp nhận văn học diễn ra theo nhiều hướng và việcnghiên cứu đi từ nhiều góc độ khác nhau.Trong đó, tiếp nhận văn học từ góc độ mĩhọc được đánh giá là độc đáo và có ưu thế vượt trội so với một số cách tiếp nhận vănhọc phổ biến hiện nay.
Trang 2I.KHÁI QUÁT NÉT CƠ BẢN VỀ LÍ THUYẾT
1 Tiếp nhận vănhọc
a Khái niệm
Tiếp nhận văn học bao hàm các khái niệm cảm thụ, đồng cảm, thưởng thức, lígiải, xem xét tác phẩm văn học, giữa sáng tác văn học và tiếp nhận văn học khôngtách rời nhau Công việc sáng tác của nhà văn chỉ là hoàn thànhtác phẩm Chỉ khi nàotác phẩm được người đọc tiếp nhận thì mới hoàn tất Bởi hoạt động văn học là mộtquá trình, phải trải qua nhiều giai đoạn; do đó, đồng thời với sự xuất hiện của ý thứcvăn học là ý thức về tiếpnhận
b Lịch sử phát triển của lý luận tiếp nhận văn học
- Lí luận tiếp nhận văn học truyền thống: cho rằng tiếp nhận là sự gặp gỡ giữa hai
tâm hồn đồng điệu “hai thế giới nội tâm”, “hai khói óc lớn, hai tư tưởng lớn”, giữachủ thể cá nhân tác giả với người đọc, “của ý thức (vô thức) tác giả với ý thức (vôthức) người đọc” Chẳng hạn như quan niệm tiếp nhận “tri âm” và “kí thác” củaĐổng Trọng Thư (Thế kỉ I - TCN) Quan niệm tri âm cho rằng: Nhiệm vụ của việctiếp nhận là cảm và hiểu cuộc sống được gợi lên trong tác phẩm như chính tác giảnhư câu chuyện Bá Nha - Tử Kỳ, Trần Phồn và Tử Trì hay Nguyễn Khuyến - Dương
Khuê Trong bài thơ Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến viết: Câu thơ nghĩ đắn đo không viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa Giường kia treo cũng hững hờ Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn Nghĩa là “người tiếp nhận có thế giới nội tâm trùng với thế
giới nội tâm của nhà văn” (Emil Eneken) Nhưng quan niệm này khó mà thực hiệnđược, bởi sự gặp gỡ tri âm để hiểu mình, hiểu tác phẩm của mình rất khó
- Trên tinh thần kế thừa lí luận tiếp nhận truyền thống, lí luận tiếp nhận hiện đại cho
rằng tiếp nhận là sự giao lưu, đối thoại giữa tác giả - chủ thể sáng tác và độc giả - chủthể tiếp nhận thông qua tác phẩm văn học Đồng thời, sự gặp gỡ này chịu sự quy địnhbởi văn hóa lịch sử: “Trong tiếp nhận người đọc có thể tiếp xúc với tác giả, trở về vớitâm ảnh của tác giả, nhưng cũng có thể cách xa, rất xa (so với tác giả)”
=> Tóm lại, lí luận tiếp nhận hiện đại không hề phủ nhận lí luận tiếp nhận truyềnthống mà chỉ bổ sung bình diện văn hóa, xã hội, lịch sử Nghĩa là tiếp nhận tác phẩmtrong tính quy luật lịch sử của văn hóa nghệ thuật
Trang 3c.Phạm vi của lý luận tiếp nhận văn học
Thông thường các nhà lí luận xem phạm vi nghiên cứu tiếp nhận văn học bao gồmtoàn bộ quá trình biến văn bản nghệ thuật thành tác phẩm nghệ thuật Trong quyển Líluận và phê bình văn học (Những vấn đề và quan niệm hiện đại), Trần Đình Sử chorằng phạm vi của tiếp nhận văn học bao gồm 3 phương diện như sau: Thứ nhất,nghiên cứu tác phẩm văn học như là một sản phẩm nghệ thuật được sáng tác để tiếpnhận, thưởng thức, tác phẩm như một văn bản, một thông báo nghệ thuật, như một
mã hiệu đặc thù, một cấu trúc cảm thụ hướng tới trí tưởng tượng của người đọc Thứhai: về sự đọc, cắt nghĩa tác phẩm, các quy luật của giao tiếp và tiếp nhận, tâm lí họctiếp nhận văn học, giải thích học, sự đồng sáng tạo của người đọc Thứ ba: các quyluật và các vấn đề lịch sử - xã hội của tiếp nhận: cách đọc phân tâm học, huyền thoạinhư một phương tiện của giao tiếp đại chúng Như vậy, tiếp nhận văn học bao gồmmột phạm vi rất rộng lớn, có mối liên hệ lẫn nhau, đòi hỏi phải có sự nhìn nhận toàndiện mới có thể góp phần xây dựng khoa học về văn học một cách hoàn chỉnh
2 Mĩ học
- Mĩ học là khoa học về bản chất của ý thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ của conngười, nhằm khám phá, phát minh những giá trị trên cơ sở quy luật của cái đẹp, trong
đó nghệ thuật là giá trị cao nhất
- Như vậy, mĩ học nghiên cứu ý thức thẩm mĩ của con người, các phạm trù mĩ học vànghiên cứu nghệ thuật như là một lĩnh vực thẩm mĩ- sáng tạo ra những giá trị theoquy luật của cáiđẹp
3 Mĩ học tiếp nhận
a Các góc độ tiếp nhận văn học
Có nhiều cách, nhiều hướng tiếp nhận văn học: từ góc độ thi pháp, đặc trưng
thể loại, từ góc nhìn văn hóa, xã hội… Chẳng hạn, như: Trần Đình Sử (Thi pháp truyện Kiều, Thi pháp thơ Tố Hữu), Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa), Lã Nhâm Thìn (Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại), Nguyễn Văn Long (Phân tích tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại), Nguyễn Trọng Khánh (Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường từ góc độ ngôn ngữ), Nguyễn Lai (Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học)… Việc tiếp nhận văn học theo nhiều hướng khác nhau, vì “hiện tượng
Trang 4văn học là một hiện tượng đa trị, đa sắc, cho nên việc nghiên cứu nó đòi hỏi kết hợp nhiều phương pháp thì mới có thể nắm bắt được ý nghĩa rộng lớn và đích thực của nó”.
b Ưu thế của tiếp nhận văn học từ góc độ mĩ học
Nghệ thuật là nơi hội tụ của mĩ học - cái đẹp, trong đó nó thể hiện tập trungnhất trong văn học Trần Mạnh Tiến cho rằng: “Thơ là cái mĩ thuật huyền diệu thuầntúy có giá trị hơn cả các mĩ thuật khác không ai bán mà cũng chẳng ai mua Thơ ở
đây được xem như sự kết tinh của cái đẹp sâu xa hoàn mĩ và vô giá, và: “Đến với tác phẩm văn học, độc giả chân chính muốn đi tìm cái đẹp, một cách đẹp, một nụ cười hiền hậu tươi tắn, một cách thế cao thượng, anh hùng… một cuộc sống như mình ao ước Độc giả khát vọng tìm ở văn học một hỗ trợ cho việc điều chỉnh những tỉ lệ chưa cân đối trong con người, những thiếu hụt, những cái chưa có… làm phong phú con người mình hơn, hài hòa, hoàn thiện… làm cho hiện thực nhập vào lí tưởng”.
Tức là, người tiếp nhận thưởng ngoạn tác phẩm văn học để đi tìm trong thơ văn Cáiđẹp, Cái cao cả, Cái bi và cả Cái hài Họ tìm thấy cái thẩm mĩ để hoàn thiện cảm xúcthẩm mĩ, lí tưởng và quan niệm thẩm mĩ của mình Bởi văn học có tác dụng làm nhânđạo hóa con người, hướng bạn đọc đến Chân - Thiện - Mĩ Vì thế, việc tiếp nhận vănhọc từ góc độ mĩ học có lẽ là một hướng nghiên cứu cần thiết, độc đáo và đầy triểnvọng Từ quan điểm trên, chúng ta có thể nhận ra rằng: tiếp nhận văn học đi từ mĩhọc nghĩa là thiên về hướng tiếp nhận tác phẩm từ nghệ thuật, dùng mĩ học - cái đẹp
để giải mã văn học, “phục dựng” mối quan hệ giữa văn học với triết học, văn hóa, xãhội, đạo đức Như vậy, ưu thế của cách tiếp nhận văn học từ góc độ mĩ học so với cáccách tiếp nhận khác là: “Nó vừa nhấn mạnh chức năng xã hội của văn học lại vừa chú
ý việc xác định đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm” Nghĩa là xem xét tác phẩm vănhọc trên hai bình diện: xã hội và văn học, vừa nhấn mạnh chức năng xã hội của vănhọc vừa phát hiện và khẳng định giá trị nghệ thuật của tác phẩm về mặt văn học.Thiết nghĩ, việc tiếp nhận này đã phát huy vai trò của văn học đối với việc phát triểnnhân cách và hoàn thiện con người - con người xã hội, bởi “văn học là nhân học”(Gorki) Hướng tiếp nhận này sẽ đưa văn học gần với đời sống hơn, tinh giảm đi kiếnthức hàn lâm bác học mà chú ý vào việc giáo dục con người Đặc biệt trong thời đạihội nhập, giao lưu kinh tế thì có lẽ việc tiếp nhận văn học từ góc độ này càng quan
Trang 5trọng và có ý nghĩa hơn Nhiệm vụ của mĩ học là “xác định bản chất, quy luật củanghệ thuật, xác định bản chất và các chức năng của cái thẩm mĩ làm cơ sở cho cảmhứng sáng tác và hưởng thức nghệ thuật” Việc tiếp nhận văn học từ góc độ mĩ họcdựa trên cơ sở những phạm trù mĩ học cơ bản như: Cái đẹp, Cái cao cả, Cái bi, Cáihài Trong đó chủ yếu là Cái đẹp, bởi nó là phạm trù trung tâm, cơ bản nhất và quantrọng nhất của mĩ học Hệ thống những phạm trù này có một chức năng “giá trị học”
- nhân tố xác định đặc tính thẩm mĩ của một đối tượng thẩm mĩ và có thể áp dụngrộng rãi vào thực tiễn lao động sáng tạo và nghiên cứu nghệ thuật Các phạm trù mĩhọc có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận văn học và nghiên cứu nghệ thuật Bởichúng như là phương tiện, công cụ để chúng ta nhận thức và đánh giá thực tiễn thẩm
mĩ Trong việc tiếp nhận văn học, nó giúp chúng ta đánh giá, xác định và phân loạihiện tượng văn học Từ việc xác định hiện tượng văn học bằng phạm trù mĩ học,người tiếp nhận sẽ rút ra được những đặc điểm nghệ thuật, đặc thù lịch sử của hiệntượng văn học đó Như vậy, tiếp nhận văn học từ góc độ mĩ học bằng các phạm trù
mĩ học có thể giúp chúng ta dễ đi vào khám phá và khẳng định giá trị nghệ thuật củatác phẩm, đồng thời nhấn mạnh chức năng giáo dục thẩm mĩ, bồi dưỡng nhân cáchcho con người Có thể đây là một cách tiếp nhận có nhiều triển vọng trong việc giảngdạy tác phẩm và nghiên cứu văn chương
II BIỂU HIỆN CỦA MĨ HỌC TIẾP NHẬN TRONG VĂN HỌC
Trước đây, lý luận văn học khi đi vào luận giải bản chất của văn học chỉ tậptrung nghiên cứu quá trình sáng tác của nhà văn và tác phẩm; văn học sử khi đi vào
lý giải quy luật phát triển của văn học cũng chỉ mô tả sự ra đời và phát triển của cácthể loại, thể loại gắn với tên tuổi và tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ Như vậy, lýluận văn học và văn học sử có một “chỗ trống” “Chỗ trống” đó là người đọc- ngườitiếp nhận văn học Mỹ học tiếp nhận ra đời với lý thuyết tiếp nhận văn học đã gópphần lấp “chỗ trống “ ấy Những người đề xướng lý thuyết tiếp nhận văn học đã nêulên tinh thần : “Vì một văn học sử của độc giả”( Harald Weinrich (Đức) viết năm1967) Trường đại học tổng hợp Konstanz của Cộng hòa liên bang Đức trở thành “cáinôi” của mỹ học tiếp nhận với tên tuổi của Hans Robert Jauss, Wolfrang Isser,Manfrend Fuhrmann, Wolfrang Preisenden làm thành trường phái Konstanz Năm
1958, trong một cuốn sách giáo khoa, Robert Escarpit đã chia văn học ra làm ba bộ
Trang 6phận : sản xuất, truyền bá và tiêu thụ văn học H Jauss thì cho rằng khoa học văn học
từ trước đến nay chỉ nghiên cứu các sự kiện thuộc về khâu sản xuất văn học mà chưachú trọng đến khâu tiếp nhận văn học của độc giả Từ đó, ông nêu ra quan niệm vềtác phẩm văn học :
Tác phẩm văn học = văn học + sự tiếp nhận của công chúng độc giả Với những
khái niệm, những thuật ngữ mới mẻ và cơ bản như “tầm đón nhận”, “khoảng cáchthẩm mỹ “, H Jauss và cả trường phái Konstanz đã tạo lập được một định thức biểuthị sự hoàn tất quá trình sáng tạo của nhà văn, nhà thơ từ sáng tác đến tiếp nhận Tácphẩm văn chương ra đời từ trong lòng nhà văn và nó lại “sống”, lại tồn tại trong lòngngười đọc - người tiếp nhận thuộc nhiều thế hệ qua nhiều biến thiên lịch sử nên mỹhọc tiếp nhận đã luận giải được quy luật tồn tại - quy luật sống còn của tác phẩm vănchương Nhưng khi quá đề cao vai trò của người tiếp nhận, mỹ học tiếp nhận đã rơivào biểu hiện thấy “ngọn “ mà không thấy “gốc”, xem tác phẩm văn chương như làmột sản phẩm tự nhiên mà người đọc- người tiếp nhận muốn hiểu thế nào tùy ý Mỹhọc tiếp nhận là sự bổ sung cho mỹ học sáng tạo, là “thước đo” kết quả của mỹ họcsáng tạo và gắn liền với mỹ học sáng tạo Nếu tách mỹ học tiếp nhận ra khỏi mốiquan hệ với mỹ học sáng tạo thì chỉ thấy được sự vận hành của nó chứ không thấyđược sự sinh thành của nó Có đặt mỹ học tiếp nhận trong mối quan hệ khăng khítvới mỹ học sáng tạo thì mới thấy được “vòng đời” của một tác phẩm văn chương: từtác giả đến tác phẩm, từ tác phẩm đến người tiếp nhận, từ người tiếp nhận trở về vớitác giả.( Hình 1)
Tác phẩm
Tác giả Người tiếp nhận
Hình 1: Mối quan hệ tác giả, tác phẩm và người tiếp nhận
Từ người tiếp nhận trở lại với tác giả bằng việc ca ngợi, đề cao hay phê phántác phẩm Do chủ thể tiếp nhận thuộc các giai tầng xã hội khác nhau ở mỗi thời đạikhác nhau nên thị hiếu thẩm mỹ và trình độ tiếp nhận hay “tầm đón nhận” cũng khácnhau Chính vì thế mà giá trị nội tại của tác phẩm càng trở nên phong phú, đa dạngtrong lòng người tiếp nhận Tác phẩm văn chương còn là công cụ giao tiếp, hội tụ các
Trang 7mối giao cảm của nhà văn, nhà thơ với người đọc- người tiếp nhận Cái đích cuốicùng mà nhà văn nào trong quá trình sáng tác cũng mong đạt được đó là có nhiềungười đọc tác phẩm của họ và thẩm định được giá trị tác phẩm mà họ đã “mang nặng
đẻ đau” Tác phẩm chân chính của một nhà văn không chỉ là kết quả của sự dày côngsáng tạo nghệ thuật mà còn chứa đựng nhu cầu khát vọng, những điều cần nói vànhững điều chưa nói , những câu hỏi và những câu trả lời, lời ca ngợi cái thiện vàlời nguyền rủa cái ác Tác phẩm văn chương là “bức ảnh chủ quan của thế giớikhách quan” Nhưng khi tác phẩm rời khỏi nhà văn, nhà thơ để đến với công chúngthì trong công chúng độc giả ấy, mỗi người sẽ tiếp nhận tác phẩm theo một cách khácnhau Từ đây, tác phẩm thực sự có một “đời sống” riêng Nó vận hành trong sự vậnhành của thời gian và không gian Tác phẩm bao giờ cũng mang dấu ấn cá tính sángtạo của nhà văn Tác phẩm chỉ là một, nhưng người đọc- người tiếp nhận lại có hàngngàn, hàng vạn, có khi có tới hàng triệu (nếu như đó là tác phẩm bất hủ) ở khắp nơi
Vì vậy, ý nghĩa khách quan của hình tượng trong tác phẩm sẽ “sinh sôi nảy nở “trong sự tiếp nhận của từng người đọc Tiếp nhận văn học hoàn toàn không đồng nhấtvới sự khai thác những khía cạnh nào đó của tác phẩm từ góc độ của một chuyênngành Tiếp nhận văn học là sự thưởng thức, sự cảm thụ, sự chiếm lĩnh toàn vẹn mộthay nhiều tác phẩm văn chương bằng trái tim, bằng khoái cảm thẩm mỹ Nếu nhưnhà văn là chủ thể sáng tạo thì người đọc là chủ thể tiếp nhận Tác phẩm văn chương
- sản phẩm của chủ thể sáng tạo trở thành đối tượng thưởng thức- cảm thụ của chủthể tiếp nhận Sự tiếp nhận khác nhau của mỗi chủ thể tiếp nhận về một tác phẩm làmột thực tế đã diễn ra trong tiến trình phát triển của lịch sử văn chương các nước trênthế giới Nên từ đó, mới có hiện tượng “ Họ đã làm chết đi những người đang sống
và làm sống lại những kẻ đã chết” (Vinhi) khi đánh giá, phê bình văn học
Trong nền văn học đương đại Việt Nam, cũng đã từng nảy sinh những cuộctranh luận về chủ đề của một tác phẩm như cuộc tranh luận về kịch bản chèo “MỵChâu- Trọng Thủy” của Song Bân trên tập san “Nghiên cứu văn học“ hay cuộc tranhluận về bài thơ “Thề non nước “của Tản Đà trên tạp chí “Văn học “ Sở dĩ có nhữngcuộc tranh luận ấy là bởi mỗi người tiếp nhận một cách Mỹ học tiếp nhận với lýthuyết tiếp nhận văn học đã luận giải khá sâu sắc nguyên nhân tạo nên sự tiếp nhậnkhác nhau là từ chủ tiếp nhận rất đa dạng Tuy vậy, khi nói tới chủ thể tiếp nhận cũng
Trang 8cần phải xem xét những động cơ tiếp nhận, những yêu cầu tiếp nhận văn học khácnhau ở từng chủ thể tiếp nhận khác nhau Có người tiếp nhận văn học để giải trí, cóngười tiếp nhận văn học bằng những rung cảm- khoái cảm thẩm mỹ để làm giảm nỗiđau tinh thần, có người tiếp nhận văn học để phê bình, có người tiếp nhận văn học đểdạy và cũng có người tiếp nhận văn học để học Những sắc thái khác nhau trong tiếpnhận văn học không chỉ bắt nguồn từ sự khác nhau của từng cá nhân chủ thể tiếpnhận mà còn có cơ sở từ đặc trưng của đối tượng tiếp nhận là tác phẩm văn chương.Tác phẩm văn chương là một hệ thống ký hiệu thẩm mỹ Một trong những đặc trưngnổi bật nhất của hệ thống ký hiệu thẩm mỹ này là tính đa trị, đa nghĩa của ngôn ngữnghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật mà nhà văn, nhà thơ đã sángtạo Điều này cũng làm nên sự khác biệt giữa tiếp nhận văn học với tiếp nhận cáckhái niệm, các thuật ngữ, các định lý, định luật, định đề của khoa học tự nhiên vàkhoa học kỹ thuật Các khái niệm, định lý, định luật, định đề có tính đơn nghĩa, đơntrị nên mọi người tiếp nhận đều có sự tiếp nhận giống nhau Có thể mượn các kháiniệm “cái được biểu đạt” và “cái biểu đạt” của F.D Xốtxuya để định danh cho nộidung và nghệ thuật, ta sẽ có “cái được biểu đạt” là nội dung, còn “cái biểu đạt” lànghệ thuật của tác phẩm “Cái được biểu đạt” - nội dung- ý nghĩa của tác phẩmlại tồntại ở dạng tiềm ẩn được “mã hóa” bằng nghệ thuật- bằng “cái biểu đạt” mà “cái biểuđạt” theo cách nói của F.D Xốtxuya lại rất “tùy tiện” Nên việc tiếp nhận các kháiniệm, thuật ngữ, định lý,định luật, định đề của khoa học tự nhiên và khoa học kỹthuật chỉ như là một sự lĩnh hội, một sự tiếp thụ bằng ghi nhớ máy móc, còn tiếpnhận văn học lại là sự cảm nhận, sự “nắm bắt” cái hồn, cái “thần” của tác phẩm bằngnhững rung cảm, khoái cảm thẩm mỹ của người tiếp nhận để “giải mã” tác phẩm là
sự khám phá nhằm tìm ra “cái được biểu đạt” tiềm ẩn trong một hệ thống ký hiệuthẩm mỹ Vì thế, tiếp nhận văn học không đơn thuần là một hoạt động nhận thức mà
nó còn là một sự sáng tạo bằng khám phá, phát hiện về những giá trị trường tồn củatác phẩm văn chương Một điều rất đặc biệt là đối với những kiệt tác, dù ra đời cáchđây hàng nghìn, hàng vạn năm, nó vẫn thắng lực cản của thời gian bởi những khíacạnh luôn luôn mới mẻ đối với người đọc thuộc nhiều thế hệ trong nhiều thời đại vàtrải qua nhiều biến thiên lịch sử Đây cũng là cái cớ rất chính xác để giáo sưWolfrang Iser gọi người đọc là “đồng tác giả” với nhà văn Gọi là “đồng tác giả” hay
Trang 9là “đồng sáng tạo” nhưng không thể đồng nhất sự sáng tạo của nhà văn với sự sángtạo của người tiếp nhận văn học Đây là hai dạng sáng tạo khác nhau Nhà văn sángtạo trong việc “mã hóa” nội dung - ý nghĩa của tác phẩm bằng một hệ thống ký hiệuthẩm mỹ với ngôn ngữ nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật và kếtcấu nghệ thuật Còn người tiếp nhận lại sáng tạo trong việc “giải mã” hệ thống kýhiệu thẩm mỹ bằng sự khám phá, phát hiện cái hay, cái đẹp và ý nghĩa đích thực củatác phẩm.
Mỹ học tiếp nhận đã khám phá ra hai quy luật: Quy luật tiếp nhận không đồngđều về một tác phẩm do tầm đón nhận khác nhau của người đọc Quy luật tồn tại củanhững kiệt tác do những khoảng cách thẩm mỹ
Tiếp nhận văn học diễn ra như là một hoạt động cảm thụ và trí tuệ để “chiếm lĩnh”chỉnh thể tác phẩm trong tính toàn vẹn của nó Nhưng chỉnh thể không phải là cáichung chung, trừu tượng Chỉnh thể được tạo nên bởi hệ thống Hệ thống được tạonên bởi các yếu tố Nên việc tiếp nhận văn học không thể bỏ qua mối quan hệ giữacác yếu tố với chỉnh thể tác phẩm Tác phẩm văn học luôn có sự qui tụ nhiều mốiquan hệ (quan hệ giữa chủ thể sáng tạo với chủ thể tiếp nhận, cái riêng và cái chung;cái cụ thể với cái khái quát, cảm xúc với lý trí, thực tại với ước mơ,…) Cái hay, cáiđẹp của chỉnh thể tác phẩm văn chương được tạo nên bằng cái hay, cái đẹp củanhững yếu tố trong tác phẩm Có khi một từ, một chữ cũng làm nên vẻ đẹp của mộtbài thơ: “Hướng về anh một phương” (“Sóng” của Xuân Quỳnh) Tuy số từ “một”không được tạo dựng bằng phép “thôi- xao”, nên không phải là “nhãn tự”- điểm sángthẩm mỹ hay từ “đắc địa”, nhưng nó lại gợi được sự khám phá, sự phát hiện chongười tiếp nhận: số từ “một” như cái đinh “đóng” vào câu thơ, như cái neo để neochặt chiếc “thuyền” chở đầy tình yêu và nỗi nhớ trên bến bờ của sự thủy chung Một câu thơ của Hoàng Cầm cũng đem đến cho người đọc một sự tiếp nhận đầysáng tạo:
“Sông Đuống trôi đi”
(“Bên kia sông Đuống”của Hoàng Cầm)
Câu thơ chỉ vẻn vẹn có bốn tiếng, rất ngắn; nhưng nó lại diễn tả được mộtdòng sông rất dài Đó là dòng sông chảy dài trong niềm hoài niệm của nhà thơ khihướng lòng mình về quê hương Nếu nhà thơ viết: “Sông Đuống đổ vào sông Hồng
Trang 10rồi chảy ra cửa Ba Lạt” chẳng hạn thì câu thơ dài mà dòng sông lại rất ngắn bởi sôngĐuống có điểm hợp lưu Còn “ Sông Đuống trôi đi” thì dài lắm bởi không có điểm
“gặp” của dòng sông “trôi đi” Mặt khác, câu thơ còn làm hiện lên hình ảnh của dòngsông Đuống êm đềm phẳng lặng chảy theo nhịp tháng ngày trong quá khứ thanhbình của quê hương
Chẳng hạn, như câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền trong bài Đây thôn Vĩ
Dạ của Hàn Mặc Tử dưới góc độ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ sẽ đi sâu vào giải
mã từ ngữ, tại sao nhà thơ không sử dụng từ “che nghiêng” mà là “che ngang”? Hơnnữa họ sẽ đi vào khám phá “mặt chữ điền” ở đây là của ai? (Người thôn Vĩ hay ngườitrở về thôn Vĩ, thậm chí là gương mặt của cô gái thôn Vĩ hoặc là chàng thi sĩ họHàn) Với cách tiếp cận này có lẽ không phát hiện được giá trị cũng như vẻ đẹp củacon người xứ Huế Như vậy, trở lại với câu thơ của Hàn Mặc Tử, chúng ta có thểtiếp cận theo hướng đặc trưng thể loại, thi pháp của nhà thơ Theo Nguyễn Đăng
Mạnh, câu thơ đó được viết theo hướng cách điệu hóa: Cái tôi độc đáo và cái đẹp của câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” - là ở nghệ thuật cách điệu hóa- không nên tìm ở đây hình ảnh tả thực Cách điệu từ đường nét “lá trúcche ngang” đến
hình ảnh “mặt chữ điền” Và dưới góc nhìn mĩ học - cái đẹp, người đọc sẽ phát hiện
ra vẻ đẹp duyên dáng, kín đáo, phúc hậu của con người trong sự hòa hợp với thiênnhiên
Điểm đặc sắc nhất trong thơ Nôm được cho là của Hồ Xuân Hương là hiện tượngmột số văn bản thơ có “nghĩa thanh” và “nghĩa tục” cùng tồn tại Đặc điểm trên làmcho các văn bản này có những tác động thẩm mỹ đặc thù Xét về mặt ngữ nghĩa, đây
là những từ, ngữ đa nghĩa, có khả năng tham gia vào hai trường từ vựng khác nhau:trường từ vựng về hình ảnh thiên nhiên và trường từ vựng về hình ảnh thân thể
Trang 11Hiền nhân quân tử ai là chẳng, Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo?
Kinh nghiệm thẩm mỹ về thể loại và đề tài tạo nên sự chờ đợi nơi người đọc một vănbản thơ miêu tả hình ảnh cái đèo trong tự nhiên Nhưng hai câu thực này không chỉmiêu tả cái đèo, vì có một vài từ ngữ có “tính tương hợp chủ đề” với cả hai hình ảnh:hình ảnh cái đèo của thiên nhiên và hình ảnh thân thể của người phụ nữ Trong câuthực thứ hai, cách kết hợp “lún phún rêu” là cách kết hợp khác biệt Từ “lún phún” làmột từ láy, đóng vai trò như tính từ tạo hình độc đáo, và cũng có thể tham gia vào cảtrường từ vựng về hình ảnh thiên nhiên lẫn trường từ vựng về hình ảnh thân thể: “từgợi tả trạng thái râu, cỏ mọc thưa ngắn và không đều”… Vì vậy, cả ngữ đoạn “lúnphún rêu”, gợi cho người đọc liên hệ trở lại với ngữ đoạn “cửa son” để hình dungmột trường nghĩa khác Trong ngữ đoạn “cửa son”, từ “cửa” có nghĩa là “lối thông tựnhiên với bên ngoài” Từ này có thể kết hợp với các danh từ chỉ thiên nhiên để tạothành: cửa hang, cửa rừng; nhưng cũng có thể kết hợp với danh từ “mình” để tạothành ngữ đoạn chỉ hình ảnh thân thể của người phụ nữ Hình ảnh một phần thân thểtrở nên rõ hơn trong liên tưởng của người đọc Như vậy, hai câu thực đã dần tạo ra sựthay đổi chủ đề trong chân trời chờ đợi ban đầu của người đọc Nếu có một ý liêntưởng với câu mở đầu, người đọc sẽ bất ngờ nhận ra hình ảnh cái đèo trong câu thơ
mở đầu giờ đây đã trở thành hình ảnh thân thể người phụ nữ Nhưng điểm đặc sắc ởđây là vẻ đẹp thẩm mỹ của hình ảnh thơ tồn tại trên ranh giới giữa hình ảnh thiênnhiên và hình ảnh con người, làm cho cả hình ảnh thân thể con người hiện lên cũnghồn nhiên, thanh thoát
Tuy nhiên, hai câu tiếp theo không có ý thơ “luận” như chờ đợi, thay vào đó lànhững hình ảnh động Trong câu thơ thứ 6, ngữ đoạn “lá liễu” chỉ hình ảnh thiênnhiên, nhưng đồng thời cũng gợi liên tưởng đến một hình ảnh đặc biệt, vốn gần gũivới hình ảnh ẩn dụ chiếc lá trong câu tục ngữ dân gian: “đầu trổ xuống, cuống trổlên” Sự liên tưởng này ngay lập tức cấp cho các ngữ đoạn “đầm đìa”, “giọt sương”một giá trị mới về nghĩa Trạng thái đầm đìa của những giọt sương ở đây liên kết vớihai câu thực bên trên, với ngữ đoạn “cành thông” và động từ “thốc”: mặt này thì gợinên một cảnh tượng thiên nhiên sống động đến từng chi tiết, mặt kia thì gợi tả những