1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG QUY TẮC ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

40 423 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 263 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư 1.1 Mục đích Giúp cho các luật sư hiểu được một cách tổng quát, vị trí, vai trò của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật

Trang 1

LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM

HỘI ĐỒNG LUẬT SƯ TOÀN QUỐC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ VIỆT NAM

(Ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20 tháng 7 năm 2011 của

Hội đồng luật sư toàn quốc)

*****

LỜI NÓI ĐẦU

Nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của luật sư

nhằm mục đích: Góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh

thổ; Góp phần phát triển kinh tế, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,

công bằng, văn minh

Tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp là nền tảng cơ bản của nghề luật sư Luật

sư phải có bổn phận: Tự mình nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn; Nêu gương

trong việc tôn trọng, chấp hành pháp luật; Tự giác tuân thủ các quy tắc đạo đức và

ứng xử nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề, trong lối sống và giao tiếp xã hội

Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư quy định những chuẩn mực về đạo

đức và ứng xử nghề nghiệp, là thước đo phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề

nghiệp của luật sư Mỗi luật sư phải lấy Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp này

làm khuôn mẫu cho sự tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn uy tín nghề nghiệp, thanh danh

của luật sư, xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội

1 Tổng quan về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư

1.1 Mục đích

Giúp cho các luật sư hiểu được một cách tổng quát, vị trí, vai trò của Quy tắc

đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư (gọi tắt là Quy tắc); Nâng cao ý thức

tự giác của luật sư trong việc chấp hành các nghĩa vụ đạo đức và ứng xử

nghề nghiệp trong hành nghề và trong giao tiếp xã hội; Giữ gìn và phát huy

những giá trị đạo đức truyền thống của nghề luật sư, góp phần xây dựng và

củng cố sự tin cậy trong xã hội đối với nghề luật sư ở Việt Nam.

1.2 Yêu cầu

- Nắm được khái niệm chung về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật

sư, phân biệt nghĩa vụ đạo đức với nghĩa vụ pháp lý của luật sư trong hành

nghề;

- Nắm được những quan điểm tư tưởng và yêu cầu của việc xây dựng bộ Quy

tắc;

- Nắm vững những nội dung cơ bản của bộ Quy tắc cũng như những tiêu chuẩn

đạo đức trong quan hệ của luật sư với các chủ thể khác trong hành nghề

- Có sự chuyển hóa trong nhận thức và thực tiễn tuân thủ các quy định về đạo

đức và ứng xử nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề của luật sư

Trang 2

1.3 Khái niệm Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư:

Cho đến nay, về mặt khoa học pháp lý, chưa có một định nghĩa chính thức mang tính chất kinh điển về khái niệm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư Trong nhiều bài viết, tham luận về vấn đề đạo đức nghề nghiệp luật sư, mỗi tác giả cũng đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này bằng cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau.

Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư đã được Hội đồng luật sư toàn quốc thông qua cũng không đưa ra một định nghĩa về quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung của Quy tắc, có thể đưa

ra một định nghĩa chung về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư như sau: “Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư là những quy tắc

xử sự được thể hiện dưới hình thức văn bản chứa đựng những quy phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp do Hội đồng luật sư toàn quốc ban hành để điều chỉnh hành vi của các thành viên Liên đoàn luật sư Việt Nam trong quan hệ với các chủ thể có liên quan khi hoạt động nghề nghiệp và trong giao tiếp xã hội”.

Trong đời sống thường nhật, luật sư tham gia vào các quan hệ xã hội, các quan hệ nghề nghiệp, trong đó có các quan hệ tố tụng trong các vụ án hình

sự, dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hành chính… Trong các quan hệ tố tụng nêu trên lại diễn ra nhiều loại quan hệ giữa các chủ thể khác như: Quan hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng qua các giai đoạn tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quan hệ với khách hàng, với những người tham gia tố tụng khác, quan hệ với đồng nghiệp, v.v Với tư cách một chủ thể tham gia trong các quan hệ tố tụng, luật sư có những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định theo quy định của pháp luật Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý luật sư phải tuân thủ và nếu vi phạm sẽ phải chịu các hình thức xử lý theo các chế tài đã được luật hóa.

Tuy nhiên, trong các quan hệ nêu trên, vẫn còn có những trường hợp, tình huống nảy sinh trong thực tiễn giao tiếp không nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật mà thuộc phạm trù đạo đức và ứng xử nghề nghiệp phải được điều chỉnh bằng các quy định đạo đức tương ứng Đó là các quy định về căn

cứ, chuẩn mực đã được xác định trong bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Các quy định này cũng hàm chứa các nghĩa vụ đạo đức mang tính chất cấm đoán hay bắt buộc luật sư phải tuân thủ hoặc các quy phạm mang tính chất khuyến khích luật sư áp dụng trong quá trình hành nghề cũng như trong lối sống, giao tiếp khi tham gia các quan hệ xã hội khác.

1.4 Vị trí, vai trò của Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư:

Nghề luật sư là một nghề có truyền thống cao quý, gắn liền với số phận pháp

lý của con người, tài sản, quan hệ giao dịch, Thông qua hoạt động của mình, luật sư thực hiện chức năng cao cả đối với xã hội: Bảo vệ công lý, bảo

vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trang 3

Cũng như sông có nguồn, cây có gốc, nhà có nền, đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa là nguồn, là gốc, là nền tảng cơ bản của nghề luật sư Không có đạo đức nghề nghiệp, luật sư không thể hành nghề và nghề luật sư không thể tồn tại, phát triển Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và tự chịu trách nhiệm

cá nhân về uy tín nghề nghiệp của mình, với mục tiêu phụng sự công lý, tôn trọng và dựa trên pháp luật thì trước hết phải xuất phát từ một nền tảng đạo đức Nếu không xuất phát từ nền tảng này thì luật sư khó có thể có ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật khi hành nghề.

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư là các chuẩn mực đạo đức của giới luật

sư, tạo cơ sở để luật sư tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong sinh hoạt

và hành nghề, là thước đo giúp luật sư giữ gìn phẩm chất, uy tín của mỗi cá nhân Từ đó khiêm tốn học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng hành nghề, góp phần nâng cao uy tín nghề nghiệp của luật sư trong xã hội Đây cũng chính là một văn bản mang tính quy phạm nội bộ thể hiện rõ nét nhất cơ chế quản lý theo phương thức “Tự quản kết hợp với quản lý nhà nước” của Liên đoàn luật sư Việt Nam.

1.5 Quan điểm tư tưởng và yêu cầu của việc xây dựng bộ Quy tắc.

Việc xây dựng bộ Quy tắc phải thể hiện quan điểm tư tưởng và các yêu cầu sau:

(i) Trong thời đại hòa nhập với khu vực và thế giới, bộ Quy tắc phải phù hợp với

thông lệ quốc tế về nghề luật sư;

(ii) Phạm trù đạo đức nghề nghiệp luật sư rất rộng, để tạo cơ sở cho việc quản lý

và tự giác thực hiện của từng luật sư, bộ quy tắc phải cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức và hành vi ứng xử nghề nghiệp luật sư;

(iii) Nội dung bộ Quy tắc phải phù hợp với trình độ phát triển của nghề luật sư

Việt Nam, trên nền tảng thể chế chính trị - xã hội, hệ thống pháp luật, đạo đức

và văn hóa của đất nước Việt nam;

(iv) Phát huy truyền thống tốt đẹp về đạo đức con người của dân tộc Việt Nam (v) Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện bộ Quy tắc là một công việc

thường xuyên, lâu dài trong quá trình phát triển của nghề luật sư Việt Nam

1.6 Xác định phạm vi và các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp.

Khái niệm đạo đức thông thường được thể hiện trong mối quan hệ giữa người với người Đạo đức nghề nghiệp luật sư chính là tổng hợp các mối quan hệ giữa luật sư với các chủ thể có liên quan trong hoạt động nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội khác khi luật sư tham gia trong sinh hoạt xã hội Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư bao gồm các quy phạm mang tính chất tùy nghi để luật sư có thể lựa chọn trong ứng xử hoặc mang tính chất cấm đoán, bắt buộc luật sư phải nghiêm chỉnh thi hành.

Quy tắc có những quy tắc chung mang tính chất là những nghĩa vụ đạo đức

cơ bản của luật sư và các quy tắc cụ thể điều chỉnh hành vi của luật sư khi tham gia các nhóm quan hệ xã hội trong hành nghề gồm: Quan hệ với khách hang, quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác Việc điều chỉnh về mặt đạo đức các nhóm quan

Trang 4

hệ này chính là những yếu tố cấu thành nội dung cơ bản của Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

Dựa trên cơ sở đặc thù nghề nghiệp luật sư, bộ Quy tắc đã xác định các tiêu chuẩn sau:

* Các tiêu chuẩn chung về mặt đạo đức nghề nghiệp luật sư:

Các tiêu chuẩn này liên quan đến chức năng xã hội của luật sư, với sứ mệnh cao cả là bảo vệ công lý, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tuân thủ và trung thành với Hiến pháp, pháp luật, độc lập, ngay thẳng, tôn trọng sự thật và góp phần vào việc phát triển hệ thống pháp luật, tích cực tham gia các hoạt động công ích.

* Các tiêu chuẩn đạo đức trong quan hệ với khách hàng :

Đây là các tiêu chuẩn quan trọng nhất trong Bộ quy tắc Bởi vì mối quan hệ với khách hàng chính là “lửa thử vàng” đối với cá nhân luật sư Uy tín, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp luật sư, sự tiêu cực/hay không tiêu cực của luật

sư đều xuất phát từ nền tảng quan hệ này và tác dụng của nó có ý nghĩa chi phối các hành vi ứng xử khác trong “tổng hòa các quan hệ xã hội” của luật

Các tiêu chuẩn này liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của luật sư đối với khách hàng Bao gồm: Việc tận tâm thực hiện hết khả năng và trách nhiệm với khách hàng trong khuôn khổ pháp luật cho phép và phạm trù đạo đức nghề nghiệp; Tuân thủ bí mật quốc gia và bí mật của khách hàng; Ngăn ngừa các thủ đoạn hành nghề không lương thiện, tự giác thực hiện các nghĩa vụ trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích, việc nhận thù lao, v.v

* Các tiêu chuẩn đạo đức trong mối quan hệ với đồng nghiệp luật sư:

Pháp luật về luật sư có rất ít quy phạm điều chỉnh mối quan hệ này Bởi vì quan hệ đồng nghiệp, về thực chất là những quan hệ đạo đức, trong đó chủ yếu là thái độ ứng xử với nhau trong giới luật sư Tiêu chuẩn này đòi hỏi mỗi luật sư phải coi uy tín của đồng nghiệp và uy tín của giới là uy tín của chính mình Điều mình không muốn thì không được làm với đồng nghiệp.

* Các tiêu chuẩn đạo đức trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và

các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội…

Thực ra, điều chỉnh mối quan hệ này, pháp luật đã có các quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với chủ thể - luật sư, với tư cách “Người tham gia tố tụng” hoặc tư cách chủ thể khác tương ứng Các tiêu chuẩn đạo đức trong phạm vi quan hệ này có ý nghĩa bổ trợ cho thái độ ứng xử của cá nhân luật sư.

* Các tiêu chuẩn về kỷ luật nghề nghiệp luật sư: Các tiêu chuẩn này chính là

những điều cấm (không được làm) đối với luật sư khi hành nghề Luật sư sẽ phải chịu các chế tài kỷ luật đối với các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp luật sư Áp dụng các biện pháp chế tài này đòi hỏi phải quy phạm hóa các tiêu chuẩn kỷ luật – thuộc chức năng tự quản nghề nghiệp của Liên đoàn theo Điều lệ, làm căn cứ cho việc xử lý kỷ luật đối với từng cá nhân luật sư.

Trang 5

2 Mối quan hệ giữa quy phạm pháp luật và quy phạm đạo đức trong việc điều

chỉnh hành vi ứng xử của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp.

Quy phạm pháp luật khi điều chỉnh hành vi làm phát sinh các quyền và nghĩa

vụ pháp lý; quy phạm đạo đức khi điều chỉnh hành vi làm phát sinh các quyền

và nghĩa vụ đạo đức của luật sư.

Hai loại quy phạm có quan hệ bổ sung cho nhau, tạo cơ sở để luật sư thực hiện hành vi bảo đảm các yêu cầu theo quy định của pháp luật về đạo đức nghề nghiệp.

3 Phân biệt đạo đức nghề nghiệp và ứng xử nghề nghiệp luật sư.

Về phạm vi: Khái niệm ứng xử nghề nghiệp rộng hơn khái niệm đạo đức nghề

nghiệp bởi khi nói đến đạo đức là nói đến quan hệ ứng xử giữa luật sư với chủ thể khác.

Về sự điều chỉnh hành vi: Đạo đức nghề nghiệp điều chỉnh hành vi ứng xử

của luật sư bằng cách đặt ra các chuẩn mực ứng xử mang tính nghĩa vụ đạo đức buộc luật sư phải thực hiện và được bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế về mặt đạo đức Ứng xử nghề nghiệp đặt ra các tình huống để luật sư lựa chọn thái độ ứng xử cho phù hợp và không có chế tài cưỡng chế.

4 Anh/Chị nhận xét gì về ý kiến cho rằng " Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề

nghiệp luật sư" có ý nghĩa như là một Bộ luật về đạo đức nghề nghiệp luật sư?

Nhận định này xuất phát từ tầm quan trọng của Bộ Quy tắc khi điều chỉnh hành vi đạo đức và ứng xử của luật sư Đây là cơ sở pháp lý thống nhất làm căn cứ để đánh giá các hành vi vi phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư.

Nội dung bộ Quy tắc bao gồm những quy phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, đặt ra các chuẩn mực đạo đức và ứng xử trong hoạt động nghề nghiệp luật sư, nên nói nó có giá trị "như một bộ luật về đạo đức".

So sánh như vậy cũng là một biểu hiện của nhận thức về giá trị của bộ quy tắc, giúp các luật sư tự giác tuân thủ khi hành nghề.

5 " Luật sư là một bác sĩ chữa những căn bệnh pháp lý cho thân chủ" , hãy bình

luận ý kiến này.

So sánh nghề bác sĩ về nghề luật sư để thấy được sự tương đồng trong hoạt động nghề nghiệp Bác sĩ là người tư vấn và điều trị bệnh cho người bệnh Thân chủ đang bị chịu sự chế tài của pháp luật cũng như một người đang bị căn bệnh pháp lý, cần sự trợ giúp của luật sư.

Các ý kiến tư vấn của luật sư có ý nghĩa như là những phương thuốc điều trị

về mặt tinh thần, nhận thức giúp thân chủ hiểu được tình trạng của mình, làm chủ được các tình huống xảy ra với mình để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

So sánh như vậy để giúp luật sư thấy được đặc tính đạo đức nghề nghiệp của mình mà giữ gìn thanh danh, uy tín trước khách hàng.

Trang 6

6 Nêu những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo tính tối cao của pháp luật, trong

đó pháp luật là ý chí chung của nhân dân Tính tối cáo của pháp luật thể hiện trên hai phương diện:

Thứ nhất: Đảm bảo sự thống trị của pháp luật trong các lĩnh vực của đời

sống xã hội Là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn thiện, trong đó đề cao vai trò của Hiến pháp và các đạo luật.

Thứ hai: Tính bắt buộc của pháp luật đối với bản thân nhà nước, các tổ chức

xã hội và mọi công dân Pháp luật là tiêu chuẩn, là căn cứ cho mọi hoạt động của nhà nước và xã hội Nhà nước trong thiết chế của nhà nước pháp quyền

là nhà nước tuân thủ pháp luật, mặc dù nhà nước là người ban hành ra pháp luật đó - Nhà nước pháp quyền là nhà nước thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do, dân chủ của công dân Nhà nước pháp quyền không chỉ công nhận và tuyên bố các quyền tự do của công dân mà còn phải bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi chúng bị xâm hại Tự do của một người là được những gì mà pháp luật không cấm trong khuôn khổ pháp luật, không xâm phạm đến tự do của người khác, pháp luật chỉ cấm những gì có hại cho

xã hội.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo trách nhiệm lẫn nhau giữa nhà nước và công dân; quyền của công dân là trách nhiệm của nhà nước và ngược lại quyền của nhà nước là trách nhiệm của công dân Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình còn công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của mình.

Nhà Nước pháp quyền là nhà nước phải có hình thức tổ chức quyền lực nhà nước thích hợp và có cơ chế hữu hiệu giám sát sự tuân thủ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, chống chuyên quyền, lạm quyền

Xét trong cả chiều dài lịch sử cả sự phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền cho thấy những đặc trưng của nhà nước pháp quyền thể hiện những tư tưởng, quan niệm tiến bộ trong quá trình tìm tòi hình thức tổ chức, hoạt động của quyền lực công cộng trong một "xã hội công dân" thay thế "xã hội thần dân".

7 Những điểm giống nhau và khác nhau giữa Quy tắc đạo đức và ứng xử

nghề nghiệp luật tư và các quy phạm pháp luật của Luật dân sự.

7.1 Giống nhau:

Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư và quy phạm pháp luật của Luật sư đều là quy tắc xử xự (quy phạm xã hội) để điều chỉnh hành vi con người.

Nhiều quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp luật sư được nhà nước thừa nhận trở thành quy phạm pháp luật, ví dụ như:

+ Khoản 3 Điều 5 Luật luật sự;

+ Điểm a Khoản 1 Điểm 9 Luật luật sư;

Trang 7

+ Điểm c Khoản 1 Điều 9 Luật luật sư.

Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư và quy phạm pháp luật trong Luật luật sư đều được hình thành trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan tới luật sư và hành nghề luật sư.

7.2 Khác nhau

Quy tắc đạo và ứng xử nghề nghiệp luật sư không chỉ là những quy phạm xã hội mang tính đạo đức mà bao hàm cả những ứng xử là những quy phạm xã hội (thuần túy) để bảo vệ danh dự, uy tín cho nghề luật sư, do đó Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư là những quy phạm xã hội rộng lớn so với quy phạm pháp luật Nhiều quy tắc đạo đức được ghi bằng hình thức văn bản, nhưng nhiều cách ứng xử không được thể hiện bằng hình thức văn bản;

Ví dụ: Luật sư không được nói tục, nói bậy chỗ đông người khi đang tranh tụng hay tư vấn pháp lý cho khách hàng, đó là ứng xử nghề nghiệp luật sư Những ứng xử như vậy không được ghi bằng hình thức văn bản.

Quy phạm pháp luật trong Luật luật sư và các văn bản hướng dẫn Luật luật

sư bao giờ cũng được thể hiện bằng hình thức văn bản;

Một số quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư đã được thể chế hóa thành quy phạm pháp luật Không phải toàn bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư được thể chế hóa thành quy phạm pháp luật;

Quy phạm pháp luật bao giờ cũng bao hàm ý nghĩa cưỡng chế có những chế tài tương ứng kèm theo.

Quy phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư ý nghĩa giáo dục thuyết phục là cơ bản.

CHƯƠNG I - QUY TẮC CHUNG

1 Những vấn đề trong quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.

1.1 Mục đích

Xác định vị trí vai trò của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp, đồng thời nêu cao ý thức trách nhiệm của luật sư trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng để tạo lập được niềm tin của khách hàng, cộng đồng, xã hội và của nhà nước

1.2 Yêu cầu

- Nắm vững 5 Quy tắc chung để hiểu rõ được bản chất nghề nghiệp luật sư, giá

trị xã hội nghề nghiệp luật sư và những yêu cầu cơ bản khi hành nghề;

- Hiểu được Quy tắc chung là kim chỉ nam xuyên suốt trong các quan hệ tác

nghiệp của luật sư như : quan hệ với khách hàng, với các cơ quan tiến hành

tố tụng, các cơ quan nhà nước khác, quan hệ với đồng nghiệp và quan hệ xã hội khác khi luật sư tham gia;

- Hiểu được Quy tắc chung có ý nghĩa là sự thể hiện chức năng xã hội của luật

sư góp phần vào việc bảo vệ công lý, xây dựng nhà nước pháp quyền, đóng góp vào lợi ích chung của cộng đồng và xã hội, đảm bảo một trật tự, an ninh,

ổn định xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội;

Trang 8

1.3 Phân tích các quy tắc cụ thể từ 1 đến 5.

1.4 Quy tắc chung được quy định ở Chương I có điểm khác biệt với quy tắc

được quy định ở các chương tiếp theo ở một số nội dung sau:

Quy tắc chung được quy định ở Chương I có thể được hiểu là những nguyên tắc cơ bản của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Đã là những nguyên tắc nên có nghĩa bao trùm, là những sợi chỉ đỏ xuyên suốt chỉ đạo các quy tắc còn lại trong các chương trình tiếp theo;

Các quy tắc trong các chương khác sẽ không lặp lại những nội dung quy định trong quy tác chung yêu cầu các quy tắc đó không được trái hay phủ nhận những quy tắc chung đã được quy định ở Chương I;

Quy tắc chung được quy định ở Chương I và các quy tắc khác trong các chương tiếp theo sẽ tạo thành một thể thống nhất các quy tắc đạo đưc và ứng

xử điều chỉnh hành vi của luật sư trong các quan hệ hành nghề Tạo sự thống nhất và nhất quán trong cách xử sự mang tính đạo đức của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp.

Quy tắc 1 Bảo vệ công lý và nhà nước pháp quyền

Luật sư có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc Bằng hoạt động nghề nghiệp của mình,luật sư góp phần bảo vệ công lý và xây dựng nhà nước pháp quyền theo Hiến pháp vàpháp luật Việt Nam

Đây không chỉ là nghĩa vụ công dân nói chung mà còn là nghĩa vụ đạo đức cơ bản của luật sư Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào luật sư cũng phải trung thành với

tổ quốc, có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ tổ quốc.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng là hoạt động góp phần vào bảo vệ công lý và xây dựng nhà nước pháp quyền

-2 Nêu khái niệm về công lý.

Công lý là một khái niệm chính trị, pháp lý và đạo đức Công lý gắn liền quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của công dân Cơ sở của công lý phải được đặt trên quyền cơ bản của con người (quyền sống, quyền học tập, quyền mưu cầu hạnh phúc, …)

Mỗi con người đều có quyền bất khả xâm phạm trên nền tảng công lý và không thể bị phủ quyết cho dù vì quyền lợi của xã hội Những quyền hạn bảo đảm bởi công lý không bị gia giảm vì lý do chính trị.

Công lý được đặt trên nền tảng pháp lý của nhà nước Công lý và chân lý là hai khái niệm khác nhau nhưng có điểm chung là hai điều không thể bị nhân nhượng Công lý phải được đặt trên cơ sở công bằng, đó là một quan niệm chính trị, pháp lý, đạo đức

Tóm lại, công lý là lẽ phù hợp với đạo lý bảo đảm quyền cơ bản của con người và lợi ích chung của xã hội Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng là bảo vệ công lý.

Trang 9

-Quy tắc 2 Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan

Luật sư phải độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, không vì lợi ích vậtchất, tinh thần hoặc bất kỳ áp lực nào khác để làm trái pháp luật và đạo đức nghềnghiệp

Trong hoạt động nghề nghiệp, luật sư phải độc lập trong tư duy, suy nghĩ và hành động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, không bị chi phối bởi bất cứ một áp lực hoặc lợi ích vật chất và tinh thần nào để làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp luật sư Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan thể hiện bản chất nghề nghiệp luật sư, là điều kiện để tạo lập niềm tin với khách hàng, với cơ quan nhà nước và với cộng đồng

xã hộ Nếu không tuân thủ Quy tắc này sẽ dẫn tới hậu quả là làm mất uy tín, danh dự của luật sư, làm mất niềm tin của khách hàng và xã hội đối với luật sư và hành nghề luật sư.

Quy tắc 3 Bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng

Luật sư có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng, tậntâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, các kỹ năngnghề nghiệp cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng theo quyđịnh của pháp luật, Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư

Đây chính là nghĩa vụ đạo đức của luật sư trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý xuất phát từ sự tin cậy của khách hàng đối với luật sư.

Chất lượng dịch vụ pháp lý được đo bằng hàm lượng chất xám của luật sư đầu tư vào

vụ việc, sự tận tụy trong suốt quá trình thực hiện công việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Khái niệm “tốt nhất” được hiểu trong phạm vi trình độ, khả năng chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp luật sư, không phải là nghĩa vụ bảo đảm kết quả vụ việc theo yêu cầu của khách hàng.

Luật sư sẽ áp dụng các kiến thức, kỹ năng liên quan theo cách thức phù hợp với từng loại công việc mà luật sư thực hiện nhân danh khách hàng hoặc khi tham gia tố tụng hay tham gia tư vấn pháp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng bao gồm một số nội dung sau:

a Nắm bắt, hiểu biết chính xác, đầy đủ các vấn đề, hiểu rõ ràng mục tiêu của

khách hàng, xem xét các giải pháp có thể đạt được, tư vấn cho khách hàng các hoạt động phù hợp.

Trang 10

b Thực hiện các công việc cung cấp dịch vụ pháp lý một cách chu toàn, mẫn

cán, đúng thời hạn và tiết kiệm chi phí.

c Áp dụng kiến thức chuyên môn kỹ năng nghề nghiệp, khả năng phát hiện vấn

đề, đánh giá sự việc và sự trân trọng khi thực hiện các công việc của khách hàng.

d Nhận ra điểm hạn chế về khả năng của mình khi giải quyết một vấn đề nào đó

và thực hiện bước đi phù hợp để đảm bảo khách hàng được phục vụ một cách thích đáng.

e Quản lý hoạt động của mình một cách hiệu quả;

f Luật sư không thực hiện một vụ việc mà không thực hiện sự cảm nhận thấy

mình có đủ khả năng để thực hiện hoặc thực hiện nhưng bị trễ, có rủi ro hoặc tốn kém cho khách hàng của mình.

Luật sư phải nhận biết lĩnh vực mà mình thiếu khả năng chuyên môn và có thể làm hại cho khách hàng nếu như mình nhận vụ việc nào đó Nếu như được mời để thực hiện bất kỳ công việc như vậy, luật sư nên:

+ Từ chối;

+ Giới thiệu cho luật sư có khả năng đảm nhận công việc đó

+ Được sự chấp thuận của khách hàng cho luật sư có thời gian để nghiên cứu

và thực hiện các yêu cầu của khách hàng để làm tốt các yêu cầu của khách hàng.

Luật sư nên nỗ lực hết mình để cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng đúng thời gian, tận tâm, mẫn cán và dịch vụ có hiệu quả.

-Quy tắc 4 Thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí

Trợ giúp pháp lý miễn phí là lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư Luật

sư có nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượngkhác theo quy định của pháp luật, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam bằng sự tậntâm, vô tư và trách nhiệm nghề nghiệp như các vụ việc có nhận thù lao

Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi luật sư phải có trách nhiệm trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn như người nghèo, gia đình chính sách, trẻ

em mồ côi không nơi nương tựa, người già, phụ nữ có hoàn cảnh… Chất lượng trợ giúp pháp lý miễn phí sẽ không được khác gì so với chất lượng cung cấp dịch vụ pháp

lý cho khách hàng đã trả thù lao;

Hàng năm, mỗi luật sư bằng khả năng, tâm huyết trách nhiệm nghề nghiệp cần có các hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí Thể hiện trách nhiệm nghề nghiệp với cộng đồng xã hội;

Hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư thể hiện được vai trò xã hội của mỗi một luật sư và giới luật sư với cộng đồng xã hội, thể hiện trách nhiệm xã hội của giới luật sư trong việc quan tâm tới những vấn đề xã hội Biết chia sẻ, biết đùm bọc, thương yêu đoàn kết, kế thừa phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc bằng tấm lòng và khả năng vốn có của mình.

Trang 11

-4 Anh (chị) có ý kiến gì khi một luật sư từ chối trợ giúp pháp lý miễn phí cho

những đối tượng chính sách mà không có lý do chính đáng?

Trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư là một hoạt động mang tính xã hội và giá trị xã hội của nghề luật sư;

Trong hoạt động hành nghề, luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho khách hàng thông qua các giao dịch dân sự có thù lao Nghề luật sư cần phải có thù lao để tái sản xuất sức lao động và đảm bảo vững chắc cho hành nghề Hoạt động trợ giúp pháp lý miễm phí của luật sư cũng luôn được song hành tồn tại với mỗi luật sư và nghề luật sư Đó chính là giá trị xã hội hết sức lớn lao của luật sư;

Tìm về cội nguồn thì nghề luật sư bắt đầu được hình thành từ chính hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí Khi những người am tường pháp luật đi cứu giúp cho những người đang bị oan trái với pháp luật với tinh thần thượng tôn pháp luật của người "hiệp sỹ" bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật không tính tới thù lao Tinh thần giúp người đang gặp hoạn nạn, khó khăn với những hành động cao thượng đó đã tồn tại từ mấy nghìn năm về trước trong những nhà nước chủ nô của chế độ chiếm hữu nô lệ, sau này phát triển trong nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản sau này.

Việc một luật sư từ chối trợ giúp pháp lý miễn phí cho những đối tượng chính sách mà không có lý do chính đáng là đi ngược lại bản chất tốt đẹp của nghề luật sư với những giá trị cao quý của nghề luật sư là tinh thần hiệp sỹ, vì sự thượng tôn của pháp luật Vì vây, luật sư đó đã không những đi ngược lại với những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư mà Liên đoàn Luậ sư Việt Nam đã công bố và ban hành mà còn đi ngược lại với bản chất tốt đẹp của nghề luật sư.

Luật sư cần phải được học tập, giáo dục về Quy tắc đạo đức về ứng xử nghề nghiệp luật sư và cần phải nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình đối với xã hội xuất phát từ bản chất nghề nghiệp;

Đoàn luật sư và tổ chức xã hội - nghề nghiệp về luật sư sẽ giám sát và giúp

đỡ cho luật sư trong việc trọn bổn phận của luật sư khi trợ giúp pháp lý miễn phí cho những gia đình và đối tượng chính sách.

-

-Quy tắc 5 Xứng đáng với sự tin cậy của xã hội

Luật sư có nghĩa vụ phát huy truyền thống tốt đẹp của nghề luật sư, thường xuyên họctập nâng cao trình độ chuyên môn, giữ gìn phẩm chất và uy tín nghề nghiệp; thái độứng xử đúng mực, có văn hóa trong hành nghề và lối sống để luôn tạo được và xứngđáng với sự tin cậy, tôn trọng của xã hội đối với luật sư và nghề luật sư

Tạo lập niềm tin của xã hội và cộng đồng với luật sư và nghề luật sư vừa là trách nhiệm vừa là quyền lợi của mỗi luật sư và đội ngũ luật sư;

Trang 12

Sự tin cậy của xã hội và cộng đồng vào giới luật sư phải được bắt đầu từ vụ việc cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư cho khách hàng, các hoạt động trợ giúp pháp lý và hoạt động xã hội khác của luật sư;

Sự tin cậy của xã hội và cộng đồng vào giới luật sư phải được xây đắp bằng cả quá trình theo thời gian, theo công việc, theo sự đóng góp xây dựng của cả đội ngũ luật sư.

Mỗi luật sư luôn ý thức trách nhiệm bản thân trong việc học tập, tu dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, giữ gìn phẩm chất uy tín nghề nghiệp để xứng đáng với sự tin cậy của xã hội.

Giới luật sư Việt Nam cần phải đoàn kết, chung tay góp sức xây dựng ngôi nhà chung

là Liên đoàn Luật sư Việt Nam để khẳng định vị trí vai trò và vị thế của luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đối với nhà nước, xã hội và cả cộng đồng.

CHƯƠNG II - QUAN HỆ VỚI KHÁCH HÀNG

1 Bổn phận và trách nhiệm của luật sư với khách hàng.

1.1 Mục đích.

Giúp luật sư hiểu được bản chất mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng, thấy được bổn phận trách nhiệm của luật sư trong hành nghề cung cấp dịch

vụ pháp lý cho khách hàng để từ đó củng cố lòng tin của khách hàng vào luật

sư, góp phần xây dựng hình ảnh cao đẹp của người luật sư trong xã hội.

1.2 Yêu cầu

- Nắm được các quy định cụ thể về những nghĩa vụ đạo đức và ứng xử của luật

sư trong quan hệ với khách hàng;

- Có khả năng giải quyết các tình huống cụ thể phát sinh trong hoạt động cung

cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo quy định của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư;

- Phát hiện những tình huống mới trong thực tiễn hành nghề khi quan hệ với

khách hàng mà chưa được quy định trong Quy tắc, chủ động sáng tạo trong việc chọn thái độ ứng xử và đề xuất kiến nghị với Liên đoàn để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

1.3 Bản chất mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng.

Trong tổng thể các mối quan hệ giữa luật sư với các chủ thể khác nhau trong hành nghề luật sư, quan hệ luật sư – khách hàng là mối quan hệ nền tảng làm phát sinh các quan hệ khác.

Về pháp lý, quan hệ luật sư – khách hàng là một loại quan hệ dân sự, cụ thể

là quan hệ hợp đồng dịch vụ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Trong quan hệ này, các quyền và nghĩa vụ của luật sư với khách hàng được thiết lập trên cơ sở tự nguyện của hai bên Tuy nhiên, vì là loại quan hệ dịch vụ pháp

lý nên còn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật về luật sư.

Danh dự, uy tín, trạng thái tích cực hay tiêu cực trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư gắn liền với quá trình thực hiện mối quan hệ này Do vậy, tính

Trang 13

chất đạo đức trong hành vi ứng xử của luật sư có thể nói là bản chất của mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng, là một trong những yếu tố (như kỹ năng hành nghề) góp phần quyết định sự thành công trong nghề nghiệp của luật sư.

1.3 Các quy tắc cụ thể (từ Quy tắc 6 đến Quy tắc 14)

-2 Tại sao nói “quan hệ luật sư - khách hàng là nền tảng phát sinh các quan

hệ khác của luật sư”?

Khách hàng là đối tượng cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư Hành nghề luật

sư là hướng tới khách hàng Điểm khởi đầu của quá trình hành nghề luật sư bằng việc luật sư tiếp xúc với khách hàng, lắng nghe yêu cầu, nguyện vọng của họ để quyết định chấp nhận hay không chấp nhận cung cấp dịch vụ Khi luật sư chấp nhận yêu cầu của khách hàng và tiến hành cung cấp dịch vụ pháp lý cho họ thì làm phát sinh quan hệ luật sư - khách hàng.

Tùy theo yêu cầu dịch vụ của khách hàng mà luật sư phải tham gia các quan

hệ với chủ thể khác để giải quyết những công việc có liên quan đến yêu cầu của khách hàng.

Các quan hệ khác mà luật sư tham gia phải chịu sự chi phối theo yêu cầu của hợp pháp của khách hàng, buộc luật sư không được làm những điều bất lợi cho khách hàng của mình.

Kết thúc quan hệ luật sư - khách hàng cũng là căn cứ làm chấm dứt các quan

hệ khác trong hành nghề của luật sư.

-Quy tắc 6 Nhận vụ việc của khách hàng

6.1 Luật sư không phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, quốc

tịch, tuổi tác, khuyết tật, tình trạng tài sản khi tiếp nhận vụ việc của kháchhàng;

6.2 Luật sư tôn trọng sự lựa chọn luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ việc theo

khả năng chuyên môn, điều kiện của mình và thực hiện vụ việc trong phạm viyêu cầu hợp pháp của khách hàng;

6.3 Luật sư có nghĩa vụ giải thích cho khách hàng biết về quyền, nghĩa vụ và trách

nhiệm của họ trong quan hệ với luật sư; về tính hợp pháp trong yêu cầu củakhách hàng; những khó khăn, thuận lợi trong việc thực hiện dịch vụ; quyềnkhiếu nại và thủ tục giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với luật sư;

6.4 Khi nhận vụ việc của khách hàng, luật sư, tổ chức hành nghề luật sư phải xác

định rõ các quyền, nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng dịch vụ pháp lý

Nhận vụ việc của khách hàng là điều kiện làm phát sinh mối quan hệ luật sư – khách hàng, giúp luật sư tạo ấn tượng tốt đẹp ban đầu với khách hàng.

Quy tắc này quy định nghĩa vụ và thái độ ứng xử về mặt đạo đức của luật sư khi nhận vụ việc của khách hàng, trong đó nghĩa vụ 6.4 cũng đồng thời là nghĩa vụ pháp

lý được quy định trong Luật luật sư.

Trang 14

Cần phân tích sâu quy định 6.2 để luật sư thấy được bổn phận của mình trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý tốt nhất cho khách hàng.

-3 Anh (chị) có ý kiến gì về trường hợp một luật sư không am hiểu sâu sắc về

vấn đề sở hữu trí tuệ nhưng vẫn cố tình tiếp nhận yêu cầu của khách hàng trong một vụ án tranh chấp về sở hữu trí tuệ ? Hậu quả của việc này thế nào?

- Quy tắc đạo đức nghề nghiệp quy định: Luật sư chỉ nhận những việc theo điều

kiện và khả năng của mình Trong trường hợp này là khả năng hiểu biết sâu sắc về pháp luật sở hữu trí tuệ, kỹ năng hành nghề của luật sư trong việc tư vấn giải quyết các tranh chấp vê sở hữu trí tuệ Ngoài ra còn các điều kiện khác ….

- Trong trường hợp này, luật sư đã vi phạm quy định của Quy tắc đạo đức và

ứng xử nghề nghiệp luật sư (Quy tắc 6.2.)

- Hậu quả là: Luật sư đã cung cấp một dịch vụ pháp lý kém chất lượng cho

khách hàng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

-Quy tắc 7 Thù lao

Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư phải tư vấn cho khách hàng những quy định củapháp luật về căn cứ tính thù lao, phương thức thanh toán thù lao; Thông báo rõ ràngmức thù lao, chi phí cho khách hàng và mức thù lao, chi phí này phải được ghi tronghợp đồng dịch vụ pháp lý

Cần phân tích sâu ý nghĩa đạo đức của luật sư trong việc đưa ra mức thù lao để thỏa thuận với khách hàng theo quy định của pháp luật

+ Lấy thù lao không căn cứ vào quy định của Luật luật sư.

+ Hậu quả của việc đưa ra mức thù lao quá cao khi tiếp nhận vụ việc của khách

hàng.

-4 Anh/Chị có đồng ý với nhận định sau: “Thù lao là một vấn đề thể hiện đạo

đức nghề nghiệp luật sư trong quan hệ luật sư – khách hàng” không? Vì sao?

Đồng ý, vì:

+ Quan hệ luật sư- khách hàng là loại quan hệ dân sự, chịu sự điều chỉnh của

luật sư dân sự Vấn đề thù lao là một yếu tố trong hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa luật sư với khách hàng Thù lao được xác định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giữa hai bên.

+ Song, quan hệ luật sư - khách hàng cũng còn là một loại quan hệ đào đức, thể

hiện đạo đức nghề nghiệp của luật sư Vấn đề thù lao cũng thể hiện khía cạnh đạo đức nghề nghiệp của luật sư Người luật sư có đạo đức sẽ không bao giờ đưa ra mức thù lao quá đáng với công sức mình bỏ ra, mặc dù vì mặt dân sự, khách hàng có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận mức thù lao quá đáng

Trang 15

đó Khi khách hàng không chấp nhận và rút yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý trong trường hợp luật sư đưa ra mức thù lao không hợp lý có nghĩa là hình ảnh người luật sư trong lòng họ đã bị phai nhạt, điều này làm ảnh hưởng tới thanh danh, uy tín và đạo đức nghề nghiệp của luật sư.

-Quy tắc 8 Thực hiện vụ việc của khách hàng

8.1 Luật sư chủ động, tích cực giải quyết vụ việc của khách hàng và thông báo

tiến trình giải quyết vụ việc để khách hàng biết;

8.2 Trong khi thực hiện cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, luật sư không

để tiền bạc hoặc lợi ích vật chất khác chi phối đạo đức và ứng xử nghề nghiệplàm sai lệch mục đích của nghề luật sư;

8.3 Luật sư không từ chối vụ việc đã nhận, trừ trường hợp bất khả kháng, hoặc

pháp luật hay Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư cho phép hoặcđược khách hàng đồng ý;

8.4 Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư ký nhận và có trách nhiệm bảo quản, giữ

gìn tài liệu, hồ sơ mà khách hàng giao cho mình; hoàn trả tài liệu, hồ sơ khikhách hàng yêu cầu hoặc khi đã giải quyết xong vụ việc và có thỏa thuận vềviệc trả lại, trừ trường hợp khách hàng chưa thanh toán hết thù lao, chi phí vàviệc giữ lại tài liệu, hồ sơ phù hợp với hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết

Quy tắc này quy định bổn phận của luật sư trong quá trình thực hiện vụ việc của khách hàng.

Tập trung phân tích nghĩa vụ 8.3, giải thích rõ các trường hợp “bất khả kháng”, các quy định của pháp luật và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư để giúp luật sư nắm vững quy định này.

Quy tắc 9 Từ chối nhận và thực hiện vụ việc của khách hàng

9.1 Luật sư từ chối nhận vụ việc của khách hàng trong các trường hợp sau:

9.1.1 Luật sư không đủ khả năng chuyên môn hoặc điều kiện thực tế để thực hiện

vụ việc;

9.1.2 Khách hàng thông qua người khác yêu cầu luật sư mà người này có biểu hiện

lợi dụng tư cách đại diện cho khách hàng để mưu cầu lợi ích cá nhân làm ảnhhưởng đến uy tín của luật sư và quyền lợi hợp pháp của khách hàng;

9.1.3 Khách hàng yêu cầu dịch vụ pháp lý của luật sư với ý định lợi dụng dịch vụ đó

cho mục đích khác hoặc khách hàng không tự nguyện mà bị phụ thuộc theoyêu cầu không chính đáng của người khác;

9.1.4 Có căn cứ rõ ràng xác định khách hàng đã cung cấp chứng cứ giả hoặc yêu

cầu của khách hàng không có cơ sở, trái đạo đức, trái pháp luật;

9.1.5 Có sự xung đột về lợi ích theo Quy tắc 11.1 mà không giải quyết được nếu

tiếp nhận vụ việc đó;

9.1.6 Khách hàng có thái độ không tôn trọng luật sư và nghề luật sư và không thay

đổi thái độ này

Trang 16

9.2 Luật sư từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc trong các trường hợp sau:

9.2.1 Khách hàng đưa ra yêu cầu mới mà yêu cầu này không thuộc phạm vi hành

nghề luật sư hoặc trái đạo đức, trái pháp luật;

9.2.2 Khách hàng không chấp nhận ý kiến tư vấn giải quyết vụ việc đúng pháp luật,

phù hợp với đạo đức do luật sư đưa ra, mặc dù luật sư đã cố gắng phân tíchthuyết phục;

9.2.3 Khách hàng vi phạm cam kết theo hợp đồng dịch vụ pháp lý mà các bên

không thể thỏa thuận được hoặc quan hệ giữa luật sư với khách hàng bị tổnhại không phải do lỗi của luật sư;

9.2.4 Có sự đe dọa hoặc áp lực về vật chất hoặc tinh thần từ khách hàng hoặc người

khác buộc luật sư phải làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp mà luật sưkhông thể đối phó;

9.2.5 Khách hàng sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư để thực hiện hành vi trái pháp

luật;

9.2.6 Có căn cứ xác định khách hàng đã lừa dối luật sư;

9.2.7 Phát hiện vụ việc thuộc trường hợp quy định tại Quy tắc 9.1;

9.2.8 Các trường hợp phải từ chối do quy định của pháp luật hoặc trường hợp bất

khả kháng khác

Quy tắc này quy định quyền từ chối của luật sư trong hai giai đoạn : Nhận vụ việc và

từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng.

Quy tắc 9.1 quy định cụ thể 06 trường hợp luật sư được quyền từ chối nhận vụ việc của khách hàng Cần phân tích sâu các quy định tại Quy tắc 9.1.2; 9.1.3 và 9.1.6 để làm rõ ý nghĩa đạo đức nghề nghiệp luật sư trong mối quan hệ với khách hàng khi luật sư tiếp nhận hay không tiếp nhận vụ việc của khách hàng.

Khi quyết định từ chối tiếp nhận vụ việc, luật sư cần giải thích rõ lý do cho khách hàng biết Giải thích ý nghĩa đạo đức nghề nghiệp trong trường hợp này.

Quy tắc 9.2 quy định 08 trường hợp luật sư có quyền từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc

đã nhận của khách hàng Tập trung phân tích sâu các quy định tại Quy tắc 9.2.1; 9.2.5 kèm theo lấy ví dụ cụ thể để chứng minh.

Giải thích rõ quy định tại Quy tắc 9.2.7 để giúp luật sư hiểu được các trường hợp từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc khi phát hiện ra các trường hợp buộc luật sư phải từ chối được quy định trong Quy tắc 9.1.

Quy tắc 10 Đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý

10.1 Khi đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý theo Quy tắc 9.2, luật sư,

tổ chức hành nghề luật sư thông báo bằng văn bản cho khách hàng trong thờihạn hợp lý để khách hàng có điều kiện tìm luật sư khác, đồng thời giải quyếtnhanh chóng các vấn đề liên quan đến việc chấm dứt Hợp đồng dịch vụ pháp

lý đã ký kết;

10.2 Khi đơn phương chấm dứt thực hiện dịch vụ pháp lý, luật sư, tổ chức hành

nghề luật sư có thái độ tôn trọng, xử sự ôn hòa, không dùng lời lẽ có tính chất

Trang 17

xúc phạm đối với khách hàng, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín củanghề luật sư, danh dự và uy tín của khách hàng.

Quy tắc này quy định về nghĩa vụ của luật sư khi quyết định chấm dứt thực hiện dịch

vụ pháp lý đã cung cấp cho khách hàng.

Tập trung phân tích sâu Quy tắc 10.2 để làm rõ ý nghĩa đạo đức nghề nghiệp của luật

sư trong quan hệ với khách hàng khi buộc phải chấm dứt việc thực hiện dịch vụ.

Quy tắc 11 Giải quyết xung đột về lợi ích

11.1 Xung đột về lợi ích trong hành nghề luật sư là sự đối lập về quyền lợi vật chất

hay tinh thần đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra giữa hai hay nhiều khách hàngcủa luật sư; giữa luật sư, nhân viên, vợ, chồng, con, cha mẹ, anh em của luật

sư với khách hàng trong cùng một vụ việc hoặc trong những vụ việc khác cóliên quan đến vụ việc đó;

11.2 Ứng xử của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư trong trường hợp có xung đột

về lợi ích:

11.2.1 Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư không nhận vụ việc của khách hàng mới có

sự đối lập về quyền lợi với khách hàng mà luật sư đảm nhận theo Hợp đồngdịch vụ pháp lý đang còn hiệu lực thực hiện trong cùng một vụ án hoặc vụviệc khác theo quy định của pháp luật;

11.2.2 Không nhận vụ việc của khách hàng nếu biết vợ, chồng, con, cha mẹ, anh em

của luật sư đang cung cấp dịch vụ pháp lý cho người mà luật sư biết rõ là cóquyền lợi đối lập với khách hàng đó;

11.2.3 Luật sư trong một tổ chức hành nghề không đồng thời nhận vụ việc của các

khách hàng có quyền lợi đối lập nhau;

11.2.4 Từ chối trong các trường hợp khác có xung đột về lợi ích nếu có quy định của

pháp luật

Phân tích sâu định nghĩa “Xung đột về lợi ích” trong Quy tắc 11.1 :

+ Giải thích “sự đối lập về quyền lợi vật chất hay tinh thần”;

+ Giải thích về sự đối lập “đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra”.

+ Giải thích về chủ thể của các lợi ích bị xung đột;

+ Cho ví dụ về “những vụ việc khác có liên quan đến vụ việc đó”

Quy tắc 11.2 quy định thái độ ứng xử của luật sư trong 04 trường hợp cụ thể về xung đột lợi ích.

Quy tắc 11.2.4 là một quy định mở Có thể gợi ý cho học viên đưa ra các trường hợp khác có xung đột về lợi ích do pháp luật đã quy định hoặc chưa quy định để làm rõ thêm.

Quy tắc 12 Giữ bí mật thông tin

Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý

và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theoquy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan

Trang 18

và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được

và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

Giải thích khái niệm “Bí mật thông tin”:

+ Là những bí mật nghề nghiệp có liên quan đến vụ việc luật sư đảm nhận; + Bao gồm các bí mật điều tra, bí mật về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản,

tình hình tài chính, bí quyết kinh doanh, bí mật về đời tư hoặc những thông tin khác của khách hàng được xác định là bí mật.

Quy tắc này quy định bổn phận và trách nhiệm đạo đức (cũng đồng thời là trách nhiệm pháp lý) của luật sư.

Học viên có thể sẽ đưa ra câu hỏi về trách nhiệm của luật sư khi được biết thông tin khách hàng đã phạm một tội khác hay chuẩn bị phạm một tội mới Trong trường hợp này thì thái độ ứng xử của luật sư như thế nào.

Làm rõ vấn đề này cần so sánh với trách nhiệm của luật sư trong việc thực hiện nghĩa vụ của công dân về tố giác tội phạm trên cơ sở phạm trù đạo đức nghề nghiệp luật sư để giúp luật sư chọn lựa thái độ ứng xử cho phù hợp.

Quy tắc 13 Tiếp nhận khiếu nại của khách hàng

13.1 Khi tiếp nhận yêu cầu khiếu nại của khách hàng, luật sư, tổ chức hành nghề

luật sư có thái độ ôn hòa, nhã nhặn, chủ động thương lượng, hòa giải vớikhách hàng; nếu không có kết quả thì hướng dẫn khách hàng thủ tục khiếu nạitiếp theo để quyền lợi của khách hàng được giải quyết theo quy định của phápluật, bảo vệ uy tín của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư

13.2 Việc trả lời khiếu nại của khách hàng được thực hiện bằng văn bản

Phân tích ý nghĩa đạo đức luật sư trong trường hợp bị khách hàng khiếu nại để làm

rõ thái độ ứng xử của luật sư.

+ Tìm hiểu yêu cầu và những căn cứ khiếu nại của khách hàng;

+ Xác định vị thế bình đẳng giữa luật sư và người khiếu nại xuất phát từ quan

hệ hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý, không phải là một quan hệ hành chính Thái độ ứng xử có đạo đức của luật sư biểu lộ sự tôn trọng của luật sư đối với quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

Quy tắc 14 Những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng

14.1 Chủ động xúi giục, kích động khách hàng kiện tụng hoặc thực hiện những

hành vi khác trái pháp luật;

14.2 Sử dụng tiền bạc, tài sản của khách hàng trong khi hành nghề vào mục đích

riêng của cá nhân luật sư;

14.3 Gợi ý hoặc đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản của khách hàng cho

luật sư hoặc cho những người thân thích, ruột thịt của luật sư;

14.4 Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích vật chất nào khác từ người thứ ba để thực hiện

hoặc không thực hiện vụ việc gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng;

14.5 Đòi hỏi từ khách hàng hoặc người có quyền, lợi ích liên quan với khách hàng

bất kỳ khoản tiền chi thêm hoặc tặng vật nào ngoài khoản thù lao và các chi

Trang 19

phí kèm theo đã thỏa thuận, trừ trường hợp khách hàng tự nguyện thưởng choluật sư khi kết thúc dịch vụ;

14.6 Tạo ra các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, bất lợi cho khách hàng

để lôi kéo, đe dọa, làm áp lực nhằm tăng mức thù lao đã thỏa thuận hoặc mưucầu lợi ích bất chính khác từ khách hàng;

14.7 Sử dụng thông tin biết được từ vụ việc mà luật sư đảm nhận để mưu cầu lợi

ích cá nhân;

14.8 Thuê người môi giới khách hàng để giành vụ việc cho mình;

14.9 Thông tin trực tiếp cho khách hàng hoặc dùng lời lẽ ám chỉ để khách hàng biết

về mối quan hệ cá nhân của mình với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiếnhành tố tụng hoặc công chức nhà nước có thẩm quyền khác, nhằm mục đíchgây niềm tin với khách hàng về hiệu quả công việc như là một tiêu chí đểkhuyến khích khách hàng lựa chọn luật sư;

14.10 Cố ý làm cho khách hàng nhầm lẫn về khả năng và trình độ chuyên môn của

mình; đưa ra những lời hứa hẹn tốt đẹp để lừa dối khách hàng;

14.11 Cam kết bảo đảm kết quả vụ việc nhằm mục đích lôi kéo khách hàng hoặc để

tính thù lao theo kết quả cam kết;

14.12 Lợi dụng nghề nghiệp để quan hệ tình cảm nam nữ bất chính với khách hàng

làm ảnh hưởng tới danh dự luật sư và nghề luật sư;

14.13 Đòi hỏi tiền bạc hoặc lợi ích vật chất khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các

khách hàng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật;

14.14 Từ chối vụ việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của

các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật,Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư, trường hợp bất khả khánghoặc theo yêu cầu của khách hàng Trong trường hợp có căn cứ từ chối, luật

sư phải có văn bản thông báo cho tổ chức trợ giúp pháp lý, các cơ quan tiếnhành tố tụng và khách hàng biết

Quy tắc này chính là các quy phạm cấm đoán có ý nghĩa bắt buộc đối với luật sư;

Là những nghĩa vụ đạo đức của luật sư trong quan hệ với khách hàng Nội dung những điều cấm này được Quy tắc quy định rõ, tuy nhiên cần tập trung phân tích sâu tất cả 14 điều cấm đối với luật sư để học viên nắm được để thực hiện trong thực tiễn hành nghề.

CHƯƠNG III - QUAN HỆ VỚI ĐỒNG NGHIỆP

1 Giữ gìn, vun đắp quan hệ đồng nghiệp vì sự nghiệp phát triển của giới luật

sư Việt Nam.

1.1 Mục đích.

Giúp cho luật sư hiểu được vị trí, tầm quan trọng của mối quan hệ đồng nghiệp trong hệ thống tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư; thấy được Liên đoàn luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp thống nhất trong toàn quốc của các luật sư Việt Nam, là ngôi nhà chung của toàn thể các Đoàn luật

Trang 20

sư, các luật sư thành viên Từ nhận thức đó, các luật sư có trách nhiệm củng

cố, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong giới, cùng nhau góp phần xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam, Liên đoàn luật sư Việt Nam ngày càng lớn mạnh, xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội

1.2 Yêu cầu

- Nhận thức được Đạo đức luật sư là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp

các qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực luật sư, nhờ nó người luật sư tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp trong quan hệ với khách hàng, với

cơ quan tiến hành tố tụng và với đồng nghiệp.

- Nắm vững các quy tắc được qui định tại Chương III Quy tắc đạo đức nghề

nghiệp, về quan hệ với đồng nghiệp của Liên đoàn luật sư Việt Nam.

- Tự giác chấp hành và vận dụng một cách sáng tạo các quy tắc của Chương III

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư trong quan hệ với đồng nghiệp trong quá trình hành nghề cũng như trong cuộc sống hàng ngày.

- Giữ gìn, vun đắp quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp vì sự nghiệp chung của giới

luật sư Việt Nam.

1.3 Phân tích các quy tắc từ 15 đến 22

Quy tắc 15 Bảo vệ danh dự, uy tín của giới luật sư

Luật sư có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ danh dự, uy tín của giới luật sư như bảo vệ danh

dự, uy tín của cá nhân mình; giữ gìn sự đoàn kết nội bộ, góp phần xây dựng đội ngũluật sư trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tôn trọng và tin cậy của xã hội

Đạo đức luật sư trong quan hệ với đồng nghiệp là phép đối nhân, xử thế giữa luật sư với luật sư mà ở đó, mỗi luật sư phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ uy tín danh dự của nhau Luật sư phải biết coi trọng uy tín và danh dự của đồng nghiệp như của chính mình, chỉ có như vậy, người luật sư và nghề luật sư mới thật sự được xã hội yêu quí

và được tôn vinh.

Luật sư có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ danh dự, uy tín của giới luật sư như bảo bảo vệ danh dự, uy tín của cá nhân mình.

Danh dự và uy tín là điều cần có đối với tất cả mọi người, riêng đối với luật sư, việc bảo vệ danh dự, uy tín càng có ý nghĩa quan trọng.

Luật sư phải có nghiã vụ bảo vệ uy tín, danh dự của giới luật sư.

Giữ gìn đoàn kết nội bộ, góp phần xây dựng đội ngũ luật sư trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tôn trọng và tin cậy của xã hội.

Vấn đề đoàn kết nội bộ có ý nghĩa quan trọng đối với người luật sư trong quan hệ với đồng nghiệp.

Giải thích mối quan hệ biện chứng giữa đoàn kết nội bộ với xây dựng đội ngũ luật sư trong sạch và sự tôn vinh của xã hội.

Quy tắc 16 Tôn trọng và hợp tác với đồng nghiệp

Ngày đăng: 19/05/2020, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w