1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chất dân gian của Truyện Kiều

10 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 399,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện Kiều là tác phẩm lớn của văn học dân tộc, một truyện thơ cổ điển kết hợp nhuần nhuyễn của tính dân gian và tính bác học. Chất dân gian của Truyện Kiều thể hiện trong cách nói, cách cảm, cách nghĩ của người tường thuật và các nhân vật, trong thi pháp cũng như trong nội dung tư tưởng – tình cảm của tác phẩm.

Trang 1

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 12 (37) - Tháng 2/2016

Chất dân gian của Truyện Kiều

The folk quality of Kieu Tale

TS Nguyễn Thị Kim Ngân, Trường Đại học Sài Gịn

Ph.D Nguyen Thi Kim Ngan, Sai Gon University

Tĩm tắt

Truyện Kiều là tác phẩm lớn của văn học dân tộc, một truyện thơ cổ điển kết hợp nhuần nhuyễn của tính dân gian và tính bác học Chất dân gian của Truyện Kiều thể hiện trong cách nĩi, cách cảm, cách nghĩ của người tường thuật và các nhân vật, trong thi pháp cũng như trong nội dung tư tưởng – tình cảm của tác phẩm Sự tổng hợp hồn chỉnh của chất bác học và chất dân gian gĩp phần làm cho Truyện Kiều trường tồn và được phổ biến rộng rãi

Từ khĩa: chất dân gian, Truyện Kiều, Nguyễn Du, chất bác học…

Abstract

Kieu Tale is a masterpiece of traditional literary It is a tale of classical poetry that marries the folk poetry with the savant The folk substances of Kieu Tale can be found in the manners how the narrators and the literary characters tell and perceive in term of poetics and thoughts and feeling as well The perfect aggregation of the savant and folk quality makes the Kieu Tale everlasting and widespread

Keywords: folk substance, Kieu Tale, Nguyen Du, the savant…

Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác

phẩm lớn của văn học dân tộc Một trong

những đặc điểm quan trọng của Truyện

Kiều là sự kết hợp nhuần nhuyễn tính dân

gian và tính bác học Đặc điểm này đã tạo

nên giá trị và tính phổ biến của tác phẩm,

làm cho Truyện Kiều được lưu truyền rộng

rãi trong nhân dân từ đời này sang đời khác

Chất dân gian trong Truyện Kiều bộc lộ qua

cách nĩi, cách cảm và cách nghĩ của

Nguyễn Du, của người tường thuật cũng

như của các nhân vật trong tác phẩm Tìm

hiểu chất dân gian của Truyện Kiều sẽ giúp

chúng ta hiểu thêm vì sao tác phẩm của

Nguyễn Du trường tồn qua thời gian, gần

gũi với cơng chúng và được yêu mến rộng rãi

Kết thúc Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

Lời quê chắp nhặt dơng dài Mua vui cũng được một vài trống canh

“Lời quê”ở đây cĩ thể hiểu là cách nĩi khiêm tốn của Nguyễn Du, nhưng đồng thời cũng cĩ thể hiểu là ơng nĩi thực khi khơng làm thơ bằng chữ Hán mà bằng chữ Nơm, khi khơng sử dụng những thể thơ tứ tuyệt hay thất ngơn với niêm luật chặt chẽ

mà dùng thể thơ lục bát mà chắc chắn cho đến lúc đĩ vẫn cịn được xem là tiếng nĩi của người dân quê Việc chọn thể thơ lục

bát để kể lại Kim Vân Kiều truyện đã đưa

Trang 2

tác phẩm của Nguyễn Du vào hàng các

truyện Nôm và vì vậy ngay từ đầu nó đã

mang chất dân gian rất rõ

Vì sao một ông quan, một nhà Nho

dòng dõi, tác giả của Nam trung tạp ngâm,

Bắc hành tạp lục lại chọn dịch một truyện

tài tử - giai nhân như Kim Vân Kiều truyện

và chọn một thể thơ “quê” như lục bát? Có

lẽ bởi vì Nguyễn Du thuộc lớp “nhà nho tài

tử” (chữ của Trần Đình Hượu), muốn tìm

một chút phóng túng trong những câu

chuyện tài tử - giai nhân và trong một thể

thơ bình dân, thoải mái, thoát khỏi “luật

thơ nghiêm như luật hình” (Phạm Quỳnh)

để thõa mãn một phần cái chất phi chính

thống, ý thức tự do trong con người nghệ sĩ

của nhà thơ Cũng có lẽ vì những năm trẻ

tuổi Nguyễn Du đã từng sống ở Tiên Điền,

thường sang Trường Lưu chơi và hát

phường vải Những câu hát dân gian đã để

lại trong Nguyễn Du ấn tượng sâu sắc và

thị hiếu thẩm mỹ của nhà thơ đã chịu ảnh

hưởng một phần của thị hiếu dân gian Có

lẽ chính vì thế mà Nguyễn Du đã chọn “lời

quê” để kể câu chuyện về đời Kiều và nhờ

“lời quê” ấy, tác phẩm của nhà thơ đã

nhanh chóng đi vào quần chúng và bước

vào quỹ đạo của những giá trị văn hóa

truyền thống đậm đà bản sắc dân gian

Lục bát là “lời quê", nhưng “lời quê”

không chỉ thể hiện trong lối nói bằng câu

thơ lục bát Trong Truyện Kiều chúng ta

bắt gặp rất nhiều câu thơ gần với lời ăn

tiếng nói hàng ngày của người bình dân:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao

Cò kè bớt một thêm hai

Hồi lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm

Lo gì việc ấy mà lo

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu

Thậm chí có những câu không khác gì

những lời nói dân dã:

Lại còn bưng bít dấu quanh Làm chi những thói trẻ ranh nực cười Bây giờ đất thấp trời cao

Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao

Đặc biệt có những câu đúng là lời quê

vì ở đây có những chữ, những cách nói mà

có lẽ chỉ người dân quê mới biết, mới dùng, ví dụ:

Ông bà càng nói càng đau Chàng càng nghe nói càng dàu như dưa

(Bản của Đào Duy Anh chép: “càng rầu như dưa”)

Hay:

Kẻo khi sấm sét bất kỳ Con ong cái kiến kêu gì được oan Cho gươm mời đến Thúc Lang Mặt như chàm đổ mình dường giẻ (dẽ) run

Tuy nhiên nếu nói đến chất gian trong cách nói của Nguyễn Du, phải thừa nhận rằng việc sử dụng tục ngữ và thành ngữ

trong Truyện Kiều là yếu tố gây ấn tượng

hết sức mạnh mẽ Nhiều thành ngữ như “ăn xổi ở thì”, “miệng hùm nọc rắn”, “mèo mả

gà đồng” đã đi vào câu thơ của Truyện

Kiều một cách tự nhiên thoải mái:

Phải điều ăn xổi ở thì Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

Thân ta ta phải lo âu Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này

Đáng chú ý nhất là Nguyễn Du đã sử dụng tài tình cách tổ chức lời thơ dựa trên tinh thần hay kết cấu của tục ngữ, làm cho cách diễn đạt của tác giả gần với cách nghĩ của người nghe, người đọc bình dân và câu thơ cũng trở nên gần gũi quen thuộc với

họ Trong Truyện Kiều có khá nhiều câu

như vậy Có trường hợp Nguyễn Du mượn

ý của tục ngữ để nói, ví dụ như:

Trang 3

Sống làm vợ khắp người ta

Khéo thay thác xuống làm ma không chồng

Thôi con còn nói chi con

Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người

(Tục ngữ: "Sống gửi thác về”)

Hay:

Tẻ vui bởi tại lòng này

Hay là khổ tận đến ngày cam lai

(Tục ngữ: “Khổ tận cam lai”)

Nhưng nhiều trường hợp Nguyễn Du

gần như đưa nguyên câu tục ngữ vào mà lời

thơ vẫn ngọt ngào, không chút khiên cưỡng:

Hổ sinh ra phận thơ đào

Công cha nghĩa mẹ, kiếp nào trả xong

(Tục ngữ: “Công cha nghĩa mẹ”)

Vợ chàng quỉ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

(Tục ngữ: “Kẻ cắp gặp bà già”)

Sợ khi ong bướm đãi đằng

Đến điều sống đục sao bằng thác trong

(Tục ngữ: “Sống đục sao bằng thác trong”)

Chút riêng chọn đá thử vàng

Biết đâu mà gửi can trường vào đâu

(Tục ngữ: “Đá thử vàng”)

Cùng với việc sử dụng thể thơ lục bát

và lời ăn tiếng nói dân gian, Nguyễn Du đã

chọn cách tổ chức lời thơ theo thi pháp của

thơ ca trữ tình dân gian, thi pháp ca dao và

điều đó đã làm cho âm điệu và màu sắc dân

gian của Truyện Kiều càng thêm nổi bật

Người bình dân vốn quen với những câu

hát dân gian, vì vậy những câu thơ có kết

cấu nhịp điệu và hình ảnh tương tự với ca

dao dân ca dễ mang lại cảm giác gần gũi

thân thuộc Ấn tượng về chất dân gian sâu

đậm của Truyện Kiều có lẽ một phần cũng

bắt nguồn từ đây

Không có điều kiện đi sâu phân tích

sự tương đồng về thi pháp của Truyện Kiều

và ca dao, ở đây chúng tôi chỉ dừng lại nêu

lên mấy điểm sau

Thứ nhất là tính chất và cấu trúc lời thơ: Có nhiều trường hợp câu thơ Kiều giống với câu ca dao Đầu tiên là những câu giống nhau gần như hoàn toàn:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng

(Ca dao)

Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gốc chiếc, nửa soi dặm trường

(Truyện Kiều)

Hay:

Lặng nghe lời nói như ru Đêm thu dễ khiến nét thu ngại ngùng

(Ca dao)

Lặng nghe lời nói như ru Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng

(Truyện Kiều)

Về những trường hợp này các nhà nghiên cứu đã có ý kiến nhận xét: “Thực ra quả là khó mà xác định được rằng ở đây

Truyện Kiều đã chịu ảnh hưởng của thơ ca

dân gian hay là thơ ca dân gian đã chịu ảnh hưởng của Truyện Kiều” (Đinh Gia Khánh)(1)

Tiếp theo là những trường hợp giống nhau một phần:

Trăm năm đá nát vàng phai Lời nguyền với bạn nhớ hoài không quên

(Ca dao)

Thẹn mình đá nát vàng phai Trăm năm dễ chuộc một lời được sao

(Truyện Kiều)

Trăm năm nước chảy đá mòn

Xa nhau ngàn dặm dạ còn nhớ thương

(Ca dao)

Dẫu rằng sông cạn đá mòn Con tằm đến thác cũng còn vương tơ

(Truyện Kiều)

Có trường hợp câu Kiều và câu ca dao chỉ giống nhau một chữ:

Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

(Ca dao)

Trang 4

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn

Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân

(Truyện Kiều)

Dù chỉ giống nhau ở chữ “hạt mưa”

nhưng câu Kiều vẫn phảng phất hơi ca dao

do gắn với nỗi buồn về thân phận người phụ

nữ chồng chất trong biểu tượng “hạt mưa”

Trong Truyện Kiều không hiếm những câu

như vậy Chẳng hạn khi Nguyễn Du viết:

Khóc than khôn kiếp sự tình

Khéo vô duyên bấy là mình với ta

Chúng ta như nghe đâu đó âm điệu

câu ca dao:

Mình về có nhớ ta chăng

Ta như lạt buộc khăng khăng đợi mình

Nhưng có lẽ ấn tượng về âm lượng ca

dao của câu thơ Kiều hiện lên rõ nét nhất

trong cách cấu trúc câu thơ Chúng ta đều

biết lục bát là thể thơ giàu chất nhạc Nhạc

điệu của câu thơ lục bát bộc lộ trong nhịp,

trong vần, đặc biệt là trong lối tổ chức câu

thơ theo nguyên tắc đối xứng và song

hành Câu lục bát ca dao thường có hai lối

đối xứng và song hành chủ yếu Thứ nhất

là kiểu: Ong bay bướm lượn/ Trăng tắt sao

thưa/ Én liệng nhạn bay/ Gừng cay muối

mặn/ Vàng tan ngọc nát/ Sông cạn đá mòn/

Đá nát vàng phai:

Tay nâng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng có quên

Một lòng chỉ quyết lấy anh

Ong bay bướm lượn chung quanh mặc Trời

Nửa đêm trăng tắt sao thưa

Em mong thầy mẹ ngủ, em đưa anh về

Dạng thứ hai là kiểu: Tình kia chưa

trả, nghĩa này chớ quên/ Khi trăng đang tỏ,

khi hoa đang thì/ Ngày thì dãi nắng, đêm

thì dầm sương:

Nước vơi rồi lại nước đầy

Tình kia chưa trả, nghĩa này chớ quên

Một niềm vàng đá khăng khăng

Ba thu cũng đợi, chín trăng cũng chờ

Có thể nói đây là những khuôn hình phổ biến của câu lục bát dân ca, đồng thời cũng là cách cấu trúc phổ biến của câu thơ

Kiều Trong Truyện Kiều chúng ta bắt gặp dày đặc những câu theo dạng thứ nhất: Hoa

trôi bèo dạt/ Rung cải rơi kim/ Bèo nổi mây chìm/ Gió kép mây đơn/ Bướm chán ong chường/ Sớm đào tối mận/ Bể Sở sông Ngô/ Muôn oán nghìn sầu/ Gió thảm mưa sầu/ Ve ngân vượn hót

Đòi phen gió tựa hoa kề Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây Cũng như những câu theo kiểu thứ hai: Rắp mong treo ấn từ quan

Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha Nàng thì dặm khách xa xăm Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây Dập dìu lá gió cành chim Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh

Sự tương đồng về cấu trúc câu thơ làm cho nhiều câu Kiều đọc lên nghe như câu

ca dao Điều này cũng giải thích vì sao

Truyện Kiều dễ đi vào lòng quần chúng lao

động, được nhiều người thuộc

Kiểu cấu trúc lời thơ như trên, ngoài yêu cầu về tính nhạc, còn gắn với yêu cầu

về nghĩa và cái nghĩa này thường hiện ra dưới hình thức các biểu tượng:

Hoa trôi bèo dạt đã đành Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi Tái sinh chưa dứt hương thề Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai Nào người phượng chạ loan chung Nào người tiếc lục tham hồng là ai

Trong Truyện Kiều có rất nhiều câu

mang biểu tượng như vậy Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, ca dao truyển thống có khoảng trên dưới 100 biểu tượng

về thiên nhiên(2) Trong Truyện Kiều, theo

khảo sát ban đầu của chúng tôi có gần 40

Trang 5

biểu tượng như vậy Đó là các biểu tượng

như: Ong bướm, Gió trăng, Hoa trôi bèo

dạt, Đá vàng, Phong Nguyệt, Nước non,

Nguyệt hoa, Yến oanh, Vườn hồng (Chim

xanh), Trúc mai, Đào mận, Đào liễu, Hoa

bướm, Nhện tơ, Đèn trăng, Tằm tơ, Thuyền

bến, Thuyền sóng, Cá chim, Rồng phượng,

Phượng loan, Cá nước, Bèo sóng, Bèo

mây, Hoa đèn…

Vẻ chi một đóa yêu đào

Vườn hồng đâu dám ngăn rào chim xanh

(Truyện Kiều)

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

(Ca dao)

Càng trông mặt càng ngẩn ngơ

Ruột tằm đôi đoạn như tơ rối bời

(Truyện Kiều)

Ruột tằm bối rối tơ vương

Như ai để nhớ để thương trong lòng

(Ca dao)

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời

(Truyện Kiều)

Lời thề chứng có nước non

Vàng tan ngọc nát vẫn còn thương nhau

(Ca dao)

Biểu tượng là những hình tượng mang

ý nghĩa tượng trưng được cố định hóa, lặp

đi lặp lại nhiều lần, chứa đựng một nội

dung qui ước Chính nhờ có nhiều biểu

tượng trùng hợp hoặc gần gũi với ca dao

truyền thống mà câu thơ Kiều dễ đi vào

lòng người, nhanh chóng được người nghe

người đọc tiếp nhận theo kiểu nói ít hiểu

nhiều vì có cùng chung một “ngôn ngữ”,

một cách nói, cách cảm, cách nghĩ

Ở trên chúng tôi đã phân tích một số

đặc điểm thuộc về cách nói của Nguyễn

Du Những đặc điểm này thường gây ấn

tượng trực tiếp về sự gần gũi của Truyện

Kiều với văn học dân gian Tuy nhiên, sự

đồng cảm của người bình dân với Truyện

Kiều chủ yếu không nằm ở đó Cách nói là

cái để dễ tiếp cận ban đầu, nhưng cách cảm, cách nghĩ mới là cái chính Bởi vậy

khi tìm hiểu chất dân gian của Truyện

Kiều, nếu chỉ xem xét cách nói của Nguyễn

Du thể hiện trong lối sử dụng thể thơ lục bát, sử dụng thành ngữ, tục ngữ, biểu tượng, hay lối cấu tạo lời thơ thì không đủ Nhận xét về thơ ca trữ tình dân gian, nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh nói rằng trong ca dao “Âm điệu nhớ, thương, buồn, thường lặp đi lặp lại”, phản ánh tâm trạng của con người trong hoàn cảnh xã hội còn nhiều điều ngang trái, nghèo nàn và lạc hậu, bất công(3) Quả đúng như vậy, đọc ca dao chúng ta bắt gặp không biết bao nhiêu chữ buồn, chữ nhớ, chữ thương, và những câu thơ mang âm điệu ấy:

Ra về nhớ bạn khóc thầm Nằm thân áo vải ướt đầm cả năm Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai Thương cha thương mẹ có khi Thương em lúc đứng lúc đi lúc ngồi Thương thương nhớ nhớ sầu sầu Một ngày ba bận ra cầu đứng trông Anh buồn có chốn thở than

Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu

Để ai trăng tỏ hoa sầu vì ai

Đọc Truyện Kiều chúng ta như bắt gặp

cũng tâm trạng ấy Tác phẩm của Nguyễn

Du giống bản đàn mà Thúy Kiều gẩy cho Kim Trọng buổi đầu gặp gỡ:

Rằng: Hay thì thật là hay Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

Và dù Nguyễn Du có cố tình “mua vui” (Mua vui cũng được một vài trống

canh) thì đọc Truyện Kiều cũng chẳng ai vui được Âm điệu chính của Truyện Kiều

Trang 6

cũng tương tự như ca dao trữ tình, tràn đầy

nỗi nhớ, buồn, thương:

Tìm đâu cho thấy cố nhân

Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương

Chạnh lòng nhớ cảnh tha hương

Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê

Không chỉ Thúc Sinh nhớ Thúy Kiều

càng nhớ nhiều hơn Nhớ Kim Trọng, nhớ

Thúc Sinh, nhớ nhà, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ

em Trăm năm nỗi nhớ vây lấy người con

gái bán mình, lưu lạc, xa quê Và cùng với

nhớ là thương

Thương cha thương mẹ:

Xót thay huyên cỗi xuân gìà

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi

Thương nhớ người yêu:

Sông Tương một dải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

Thương mình:

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa

Thương, nhớ và buồn:

Buồn trông phong cảnh quê người

Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa

Nỗi buồn theo chân Kiều suốt chặng

đường mười lăm năm lưu lạc:

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngay ngắn đông đà sang xuân

Buồn ám ảnh Kim Trọng, Thúc Sinh,

cha mẹ Thúy Kiều và bám chặt đời Kiều:

Sầu này dằng dặc muôi đời chưa quên

Nỗi buồn xuyên suốt Truyện Kiều như

khúc “đoạn trường Tân Thanh, như tiếng

kêu não ruột Âm điệu chung của Truyện

Kiều cũng như âm điệu chung của ca dao

trữ tình truyển thống Cái điệu tình cảm

trong câu thơ Kiều”

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa…

Nghe như phảng phất âm điệu câu ca dao:

Chiều chiều én liệng nhạn bay

Ta đây nhớ bạn, bạn rày nhớ ai

Hay:

Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ

Nhưng cái điệu tình cảm NHỚ, THƯƠNG, BUỒN chỉ là một phần trong những thứ tạo nên chất dân gian trong cách cảm của Nguyễn Du Quan trọng là bên cạnh cái giọng tình cảm ấy, trong cái ruột của nó, chúng ta thấy tấm lòng của Nguyễn

Du thương xót con người, đồng cảm với thân phận người phụ nữ, thậm chí Nguyễn

Du còn như đau hơn, phẫn uất hơn ca dao chỉ nói:

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Nhưng trong Truyện Kiều, số phận người phụ nữ như cay nghiệt hơn:

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Cái câu “Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” này có ý nghĩa khái quát rất lớn

Nó nói lên rằng “bạc mệnh” không chỉ có Thúy Kiều, không chỉ có những người tài sắc mà là với “phận đàn bà” nói chung Và

đã là “lời chung” thì cũng không phải chỉ

“phận đàn bà” mà còn là của kiếp người Nguyễn Du nhiều lần than về kiếp người đau khổ:

Khéo là mặt dạn mày dày Kiếp người đã đến thế này thì thôi Thương thay cũng một kiếp người Khéo thay mang lấy sắc tài làm chi!

Xét về một phương diện nào đó, có

thể nói Truyện Kiều không phải là bức

tranh về hiện thực xã hội phong kiến thối nát, cũng không phải câu chuyện oan trái

về tài và mệnh mà chính là câu chuyện về kiếp người, những thăng trầm trong kiếp làm người Thúy Kiều chỉ là hình ảnh tượng trưng cho nỗi khổ chung của kiếp người Nỗi khổ ấy hiện diện đầy đủ nhất ở thân phận người phụ nữ và càng rõ nét hơn

Trang 7

ở người phụ nữ có tình, có sắc, có tài,

nhưng trên hết nó là nỗi khổ chung của

kiếp người và cái lớn của Nguyễn Du, cái

làm nên tính phổ biến của Truyện Kiều

chính là nêu lên được nỗi đau chung ấy

“Cái ám ảnh ông không phải là những cuộc

đời cụ thể mà là cái số kiếp chung” (Trần

Đình Hượu)(4) Người bình dân yêu mến

Truyện Kiều không chỉ vì cảm thương số

phận hồng nhan bạc mệnh của Thúy Kiều

mà cái chính là qua nỗi đau của người con

gái tài sắc, qua thân phận của người phụ nữ

họ thấy được cái tình với nỗi đau chung

của kiếp người, cái kiếp người mà họ vẫn

thường than vãn trong ca dao:

Bắc thang lên hỏi ông Trời

Cớ sao nỡ để kiếp người đắng cay(5)

Cái tình ấy lớn đến mức nhiều lúc nó

vượt lên trên cái lí thông thường, biến

thành lòng vị tha, khoan dung, có sức

thuyết phục hơn cả mọi lý lẽ Trong

Truyện Kiều, khi Sư Tam Hợp nói rằng

Thúy Kiều “Mắc điều tình ái khỏi điều tà

dâm” thì đó chính là sự phán xét không

phải dựa trên cái lý của đạo đức phong

kiến mà dựa trên cái lí của chữ tình Điểu

này lại càng rõ hơn nữa khi chúng ta nghe

Kim Trọng lý giải về chữ Trinh Đáp lại lời

từ chối của Thúy Kiều khi tái hợp, muốn

“Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ” với lí do

Thiếp từ ngộ biến đến giờ

Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa

Kim Trọng khăng khăng một mực

không bằng lòng với lí lẽ rằng:

Xưa nay trong đạo đàn bà

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường

Và vì “nàng lấy hiếu làm trinh” nên

“Bụi nào cho đục được mình ấy vay?” Nói

rằng “lấy hiếu làm trinh” và “chữ trinh kia

cũng có ba bảy đường" thì cũng có cái lí

của nó, nhưng đó có lẽ không phải là cái lí

theo cách nghĩ thông thường; nó là cái lí

của tình yêu thương, lòng vị tha Sự phán xét dựa trên lòng yêu thương, sự khoan dung ấy của Nguyễn Du cũng như của các

nhân vật của Truyện Kiều cũng là một nét

chung của văn hóa Việt “Lòng nhân ái, khoan dung, sống rộng bụng, có tình nghĩa

là truyền thống quí báu của nhân dân ta Tính nhân bản này được này sinh từ tính ôn nhu của người làm nông nghiệp lúa nước, hẳn đã được hình thành từ thời Đông Sơn” (Hà Văn Tấn)(6)

Tấm lòng thương người, sự thông cảm với nỗi đau khổ của người phụ nữ và của

kiếp người là mẫu số chung của Truyện

Kiều và ca dao, của Nguyễn Du và quần

chúng nhân dân Cái tình ấy, lòng nhân ái

ấy là cái lõi của chất dân gian trong tác phẩm Nguyễn Du

Cái lõi ấy lại được nhân lên, được tô đậm bởi sự gần gũi trong cách nghĩ, cách hành xử của các nhân vật, của người kể

chuyện trong Truyện Kiều với cách nghĩ và

lối hành xử của người dân quê Dân gian

tìm thấy trong Truyện Kiều không chỉ sự

đồng điệu trong cách nói, cách diễn tả, trong cách nhớ, cách thương mà cả trong cách coi cái gì là trọng là khinh, cái gì là hợp với đạo

lí, cái gì đáng ca ngợi cái gì không Chẳng hạn hành động Thúy Kiều bán mình chuộc cha và câu thơ của Nguyễn Du:

Để lời thệ hải minh sơn Làm con trước hãy đền ơn sinh thành

Chắc chắn rất gần gũi với suy nghĩ của quần chúng lao động thể hiện trong câu ca dao:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Tấm lòng hiếu nghĩa của Thúy Kiều

đã được một đại diện của dân gian là Vãi Giác Duyên đánh giá rất cao:

Người sao hiếu nghĩa đủ đường

Trang 8

Cái hiếu của Thúy Kiều cũng chính là

cái hiếu được đề cao trong các truyện cổ

tích, trong ca dao:

Con ơi cho trọn hiếu trung

Thảo ngay một dạ, kẻo luống công mẹ thầy

Chữ trung thì để phần cha

Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình

Trung hiếu ở đây không còn là đạo đức

phong kiến mà chính là đạo đức làm người

theo quan điểm của nhân dân lao động, là

đạo lí bình dân Bởi vậy người bình dân khi

đọc Truyện Kiều thấy trong thái độ và cách

nghĩ của Nguyễn Du trong cách hành xử

của Thúy Kiều một cái gì đó gần với mình,

dễ chia sẻ được Ngay cái cảnh Thúy Kiều

báo ân báo oán gây nhiều tranh cãi, theo

chúng tôi cũng không xa lạ với tâm lí của

người dân quê Khi Từ Hải nói:

… Ân oán hai bên

Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh

Và Kiều khẳng định “báo ân rồi sẽ trả

thù” thì hành động của Kiều cũng giống

như hành động của cô Tấm trừng phạt Cám

và mẹ ghẻ trong truyện cổ tích Ở đây cách

hành xử của Thúy Kiều và Tấm hoàn toàn

phù hợp với đạo lí dân gian, đúng như ý

kiến của Đinh Gia Khánh khi viết về cái

chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện

Tấm Cám: “Biết yêu và biết ghét, đó là hai

mặt khăng khít trong tình cảm của nhân

dân”(7)

Cái lí lẽ mà Kiều dựa vào đó để

báo oán:

Nàng rằng: Lồng lộng trời cao

Hại nhân nhân hại sự nào tại ta!

Cũng chính là lí lẽ của dân gian được

đúc kết trong tục ngữ: “Ác giả ác báo”,

“Trời quả báo, ăn cháo gãy răng”, “Ai bảo

trời không có mắt”

Trong Truyện Kiều, nếu xem xét kỹ,

chúng ta sẽ nhận thấy có khá nhiều dấu vết

của quan niệm, cách nghĩ dân gian Chẳng

hạn trong Truyện Kiều có 8 lần Nguyễn Du

gọi Từ Hải là anh hùng Hình ảnh Từ Hải phần nào phản ánh chất phi chính thống của nhà Nho tài tử Nguyễn Du, nhưng chắc cũng có một phần in dấu quan niệm anh hùng nghĩa hiệp mà Nguyễn Du chịu ảnh hưởng qua sáng tác dân gian Đọc câu thơ

trong Truyện Kiều:

Một đời được mấy anh hùng

Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi!

Hay:

Anh hùng đã tiếng gọi rằng Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha

Chúng ta thấy như phảng phất hơi ca dao:

Của đời muôn sự của chung Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

Đặc biệt trong Truyện Kiều chúng ta

bắt gặp rất nhiều chữ Trời, Phật, Đạo, Tiên gắn với hình ảnh hai nhân vật Vãi Giác Duyên và sư cô Tam Hợp Có thể nói với sự hiện diện của Giác Duyên và sư Tam Hợp, thế giới tín ngưỡng của Truyện Kiều gần với sinh hoạt tín ngưỡng dân gian hơn là tôn giáo chính thống Ở đây cũng có báo mộng, bói toán, lập đàn cúng bái, ở đây Trời, Phật, Đạo, Tiên cũng tồn tại, gần gũi với con người Nhân vật của Nguyễn Du cũng hành động như con người trong ca dao, cũng có chung một kiểu tín ngưỡng như nhau:

Phải điều cầu Phật cầu Tiên Tình kia hiếu nọ ai đền cho ai

(Truyện Kiều)

Lên chùa cầu Phật cầu Trời Xét cho mọi việc ở đời bất công

(Ca dao)

Đặc biệt cái lối nghĩ về Trời trong

Truyện Kiều rất giống lối nghĩ về Trời

thường gặp trong truyện cổ tích và ca dao Tương tự như quan niệm dân gian, trong

Truyện Kiều, Trời hiện ra như đấng tối cao

vô hình, quyết định tất cả:

…Ngẫm hay muôn sự tại Trời

…Trời còn để có hôm nay

Trang 9

…Người dầu muốn quyết Trời nào đã cho

…Biết thân chạy chẳng khỏi Trời

(Truyện Kiều)

Giống như trong ca dao:

Nhờ Trời hòa cốc phong đăng

Cấy lúa, lúa tốt, nuôi tằm, tằm tươi

Nhờ Trời mưa thuận gió hòa

Lờ rọ bán được, cảnh nhà thêm vui

Lạy Trời cho cả gió lên

Cho manh chiếu rách lên trên toàn vùng

(Ca dao)

Ai làm gì sai sẽ cảm thấy có tội với Trời:

Trăm điều ngang ngửa vì tôi

Thân sau ai chịu tội Trời ấy cho

(Truyện Kiều)

Hay gì lừa đảo kiếm lời

Một nhà ăn uống tội Trời riêng mang

(Ca dao)

Trời là chỗ để người ta than vãn, kêu

oan, oán trách khi không còn biết dựa vào

đâu để trút nỗi khổ, nỗi bất công mà mình

phải chịu:

Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên

Oan này còn một kêu trời nhưng xa

(Truyện Kiều)

Tôi làm tôi chẳng có chơi

Nghèo đâu nghèo mãi Trời ơi hỡi Trời!

Trời ơi Trời ở chẳng câu

Kẻ ăn không hết người lần không ra

(Ca dao)

Tuy nhiên tín ngưỡng “Đạo Trời”

trong Truyện Kiều (“Sư rằng: phúc họa đạo

Trời”, “Đạo Trời báo phục chỉn ghê”) cũng

giống như trong ca dao, không hoàn toàn

mù quáng và yếm thế Cái câu: “Có trời mà

cũng tại ta”trong Kiều cũng không xa vời

cách nghĩ của người nông dân:

Được thua dù có tại trời

Chớ thấy sóng cả mà rời tay co

(Ca dao)

Có thể nói trong Truyện Kiều có rất

nhiều chi tiết, nhiều câu thơ mà ở đó chúng

ta thấy cách nghĩ, quan niệm của người tường thuật và của các nhân vật về đạo lí, cách sống, tín ngưỡng, rất gần với người bình dân thể hiện qua truyện cổ tích, ca dao Điều này cũng không có gì lạ Chính Nguyễn Du trong bài thơ chữ Hán “Thanh minh ngẫu hứng” đã từng viết:

Thôn ca sơ học tang ma ngữ

Dã khốc thời văn chiến phạt thanh

(Câu ca nơi thôn dã giúp ta biết được tiếng nói của người trồng gai trồng dâu Trong tiếng khóc nơi đồng nội như nghe thấy tiếng chiến tranh)

Bên cạnh tài năng, những năm tháng sống gần gũi với thôn quê đã giúp Nguyễn

Du học được cách nói của những bài “thôn ca”, hiểu và chia sẻ với cách cảm, cách nghĩ của những người bình dân mà ông tiếp xúc cũng như với những gì đã được thể hiện qua các sáng tác dân gian Điều đó

đã làm cho Truyện Kiều trở thành một hiện

tượng đặc biệt, tổng hợp chất bác học và chất dân gian thành một truyện thơ cổ điển của văn học dân tộc Giá trị và sức sống

bền bỉ của Truyện Kiều, tính phổ biến và

bản sắc dân tộc của tác phẩm nằm trong sự tổng hợp ấy

Chú thích

1) Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diện, Lịch sử văn học Việt Nam: Văn học Dân gian, Tập I, Nxb ĐH & THCN, Hà Nội, 1972, tr.291 2) Về biểu tượng thiên nhiên trong ca dao, xin xem thêm luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Thị Ngọc Điệp “Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt",

và cuốn sách "Thiên nhiên với văn hóa vùng qua ca dao trữ tình Trung Bộ" của Nguyễn Thị Kim Ngân, NXB Thời Đại, 2012, và NXB KHXH, 2015

3) Cao Huy Đỉnh, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb.KHXH, HN, 1974, tr.179

Trang 10

4) Trần Đình Hượu, tuyển tập, tập 2, Nxb Giáo

dục, HN, 2007, tr.319

5) “Chủ thể trữ tình của ca dao, dù là chàng trai

hay cô gái, người vợ hay người mẹ, người làm

ruộng hay làm nghề sông nước …khi cảm

nghĩ về thân phận mình là thấy buồn, thấy khổ

và tiếng hát cất lên thành bài ca thở than về

mọi nông nỗi khổ đau và bất hạnh của kiếp

người , “nghe rặt một điều hắt hiu, thương

nhớ…”(Đỗ Bình Trị, Những đặc điểm thi

pháp của các thể loại văn học dân gian, Nxb

Giáo dục, HN, 1999, tr.197)

6) Hà Văn Tấn, Đến với lịch sử văn hóa Việt

Nam, Nxb Hội Nhà văn, HN, 2005, tr.159

7) Đinh Gia Khánh, Sơ bộ tìm hiểu những vấn

đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám,

Nxb.Văn học, HN, 1968, tr.96.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Du (2002), Truyện Kiều, Nxb Văn học

2 Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Biểu tượng nghệ

thuật trong ca dao truyền thống người Việt,

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn

3 Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn

học dân gian Việt Nam, Nxb KHXH, HN

4 Trần Đình Hượu (2007), Tuyển tập, tập 2,

Nxb Giáo dục, HN

5 Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên (1972),

Lịch sử văn học Việt Nam: Văn học Dân gian, Tập I, Nxb ĐH & THCN, Hà Nội

6 Đinh Gia Khánh (1968), Sơ bộ tìm hiểu

những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, Nxb Văn học, HN

7 Nguyễn Xuân Kính (2001), Kho tàng ca dao

người Việt (2 tập), Nxb Văn hóa thông tin

8 Nguyễn Thị Kim Ngân (2012), Thiên nhiên với

văn hóa vùng qua ca dao trữ tình Trung Bộ,

Nxb Thời Đại (2012); và Nxb KHXH (2015)

9 Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách

tiếp cận mới, Nxb Văn hóa thông tin, HN

10 Hà Văn Tấn (2005), Đến với lịch sử văn hóa

Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, HN

11 Đỗ Bình Trị (1999), Những đặc điểm thi

pháp của các thể loại văn học dân gian,

Nxb Giáo dục, HN

Ngày nhận bài: 07/01/2016 Biên tập xong: 15/02/2016 Duyệt đăng: 20/02/2016

Ngày đăng: 15/05/2020, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w