1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình pháp luật asean

208 815 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển cả về phạm vi, mức độ và hiệu quả của các hoạt động hợp tác nội khối và ngoại khối đã làm cho các khuôn khổ hợp tác hiện có của ASEAN trở nên “chật hẹp”, cơ chế hợp tác “lỏ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH

PHÁP LUẬT ASEAN

Hà Nội – 2019

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU

Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967, sau hơn 50 năm, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cùng với khu vực Đông Nam Á, đã vượt qua những thăng trầm của lịch sử, đưa Đông Nam Á từ một khu vực vốn nghi kỵ và phân cực, trở thành một Đông Nam Á liên kết và cùng phấn đấu vì các mục tiêu chung là hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển Từ một tổ chức bị coi là một liên minh chính trị lỏng lẻo, đến nay ASEAN được đánh giá là tổ chức khu vực thành công thứ hai thế giới, sau Liên minh châu Âu Nền tảng vững chắc nhất và cũng là thành tựu then chốt nhất mà ASEAN đạt được là tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và an ninh bền vững; tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập, duy trì và thúc đẩy các khuôn khổ hợp tác vì mục tiêu tăng trưởng, hội nhập, liên kết, gắn bó, đùm bọc và chia sẻ Mặc dù vậy, ASEAN cũng như mọi tổ chức quốc tế khác cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức cả về chủ quan lẫn khách quan như chênh lệch về trình độ phát triển, hạn chế trong hiệu quả thực

hải, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia…

Ngày 28 tháng 7 năm 1995 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong quan

hệ giữa Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á, đó là Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN Trong hơn 20 năm qua, dù là thành viên đến sau với trình độ phát triển còn có hạn, nhưng Việt Nam đã nỗ lực hết sức mình, tham gia với tinh thần chủ động, tích cực và có trách nhiệm, góp phần duy trì và thúc đẩy một trật tự ở Ðông - Nam Á dựa trên các quy tắc của khu vực và phù hợp luật pháp quốc tế Tham gia ASEAN, mỗi nước thành viên ASEAN cũng như Việt Nam, ở những mức độ khác nhau đều đạt được những lợi ích quan trọng

Nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu, giảng dạy trong trường đại học cũng như nhu cầu tìm hiểu những kiến thức cơ bản về các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cụ thể là ASEAN, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tổ chức biên soạn cuốn “Giáo trình Pháp luật ASEAN” Cuốn sách tập trung giới thiệu những kiến thức cơ bản nhất về ASEAN, từ sự ra đời, quá trình hình thành phát triển, thành viên nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức cho đến những nội dung pháp lý hợp tác chuyên ngành của tổ chức này trong từng lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh, văn hóa – xã hội cũng như quá trình gia nhập và thực hiện nghĩa vụ thành viên của Việt Nam Chúng tôi hy vọng cuốn Giáo trình này sẽ đáp ứng

Trang 3

được nhu cầu giảng dạy, học tập của giảng viên, sinh viên, nhu cầu nghiên cứu của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, chuyên gia pháp lý cũng như nhu cầu tìm hiểu kiến thức luật quốc tế của các độc giả quan tâm

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp, độc giả để chỉnh lý, hoàn thiện hơn cho những lần tái bản sau

Xin trân trọng giới thiệu!

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

vệ và thúc đẩy quyền của lao động di cư

người

và trẻ em ASEAN

có hiệu lực chung cho AFTA

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ ASEAN VÀ PHÁP LUẬT ASEAN 1

I KHÁI QUÁT VỀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á 1

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC

KINH TẾ ASEAN

28

II PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG

Trang 7

3 Xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan 48

III PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI DỊCH

VỤ

51

CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC CHÍNH TRỊ - AN NINH ASEAN

79

Trang 8

3 Vai trò của ARF 81

CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC VĂN HÓA – XÃ HỘI ASEAN

124

Trang 9

IV THU HẸP KHOẢNG CÁCH PHÁT TRIỂN 118

I.KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC NGOẠI KHỐI ASEAN 125

CHƯƠNG 6: CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA ASEAN 148

I KHÁI QUÁT VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA ASEAN

2 Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư năm 2010 về giải quyết tranh chấp theo quy định của Hiến chương ASEAN

154

III CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG MẠI CỦA ASEAN

157

Trang 10

1 Phạm vi áp dụng Nghị định thư Viêng Chăn năm 2004 157

1 Khái quát về quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN trước khi ASEAN thành lập

168

2 Quan hệ Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn từ năm 1967 đến năm

1995 – từ căng thẳng đối đầu tiến tới hoà bình, hữu nghị, hợp tác

170

II THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN ASEAN CỦA VIỆT NAM 181

1 Sự tham gia và đóng góp của Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác của ASEAN

181

2 Những thách thức trong việc thực hiện nghĩa vụ thành viên ASEAN của Việt Nam

188

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ASEAN VÀ PHÁP LUẬT ASEAN

I KHÁI QUÁT VỀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

1958, ngay sau khi Malaysia được trao trả độc lập Nhưng lời kêu gọi này không được hưởng ứng do chính sách đối ngoại của các quốc gia không gặp nhau Trước thời điểm ASEAN được thành lập, tại Đông Nam Á đã xuất hiện một số tổ chức quốc tế như Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) thành lập năm 1961 với thành viên là Thái Lan, Malaysia, Philippines và MAPHILINDO với thành viên là Malaysia, Philippines và Indonesia thành lập vào năm 1963 Vì nhiều lí do khác nhau nên những tổ chức này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.1

ASEAN ra đời vào ngày 08/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Bangkok được thông qua tại Hội nghị bộ trưởng ngoại giao 5 quốc gia là Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore và Philippines Có thể nói, đây là sự kiện tất yếu trong bối cảnh lịch sử của khu vực lúc đó cũng như bối cảnh của từng quốc gia ASEAN 5 Nhằm trực tiếp đảm bảo an ninh và các lợi ích chính trị cho các quốc gia ASEAN khi đó, trong các yếu tố

về chính trị, kinh tế, địa lí, văn hoá-xã hội tác động đến sự ra đời của ASEAN thì yếu

Do vị trí địa-chính trị quan trọng của khu vực Đông Nam Á nên hai siêu cường Liên Xô (cũ) và Mỹ đều muốn tranh thủ các quốc gia ASEAN, khiến cho khu vực này trở nên hết sức nhạy cảm, trở thành “bàn cờ chính trị” để các quốc gia lớn thi thố quyền lực và ảnh hưởng của mình Do đó, hoà bình, an ninh của các quốc gia Đông

Trang 12

Nam Á rất dễ bị tác động.2

Các quốc gia Đông Nam Á khi đó đã bị phân thành hai nhóm đối lập, chịu ảnh hưởng khác nhau của các cường quốc (các quốc gia Đông Dương và các quốc gia thân phương Tây) Đặc biệt, các quốc gia ASEAN 5 lo ngại về việc bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đang bị sa lầy tại Việt Nam

Một mặt, Liên Xô (cũ) và Trung Quốc có vai trò ngày càng tăng trong khu vực thông qua việc ủng hộ, giúp đỡ cho một số đảng cộng sản ở châu Á, đặc biệt là sự trợ giúp trực tiếp của Trung Quốc cho các đảng cộng sản ở Đông Nam Á Mặt khác, do sự kết thúc ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân cũ, vai trò và uy tín của Mỹ, Anh trong khu vực bị suy giảm khiến các quốc gia Đông Nam Á thân Mỹ, Anh không tìm thấy chỗ dựa tin tưởng về an ninh, tạo ra “khoảng trống quyền lực” của các quốc gia phương Tây trong khu vực (Pháp rút khỏi Đông Dương năm 1954, Hà Lan trao trả độc lập cho Indonesia, Anh trao trả độc lập cho Malaysia năm 1953 nhưng vẫn chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho Malaysia tới năm 1970 theo Hiệp định phòng thủ chung Anh - Malaysia Anh tuyên bố rút quân khỏi các căn cứ phía Đông kênh đào Xuyê năm 1967,

Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam) Do vậy, dù các quốc gia ASEAN vẫn coi Mỹ và các quốc gia phương Tây là chỗ dựa về an ninh, kinh tế song tình hình cho thấy nếu chỉ nghiêng về một phía là không có lợi nên cách tốt nhất là “đứng cách đều”, lựa chọn giải pháp sống “hoà thuận tối đa” với tất cả quốc gia Để có thể thực thi được chính sách “cân bằng lợi ích”, giảm sự chi phối của các quốc gia lớn, cách duy nhất là các quốc gia Đông Nam Á cần phải liên kết với nhau và dựa vào nhau trong một tổ chức khu vực và đây cũng chính là nhân tố cơ bản quyết định tới sự hình thành

xu hướng trung lập trong chính sách của ASEAN sau này

Ngoài ra, hoạt động kém hiệu quả của các tổ chức tiền thân của ASEAN như ASA và MAPHILINDO cũng dẫn đến việc cần phải thay thế bằng hình thức hợp tác khác có hiệu quả hơn

- Chính trị trong nước

Vào thời điểm này, tất cả các quốc gia ASEAN đều gặp phải nhiều vấn đề chính trị khó khăn ở trong nước:

+ Bên cạnh phong trào dân chủ của giai cấp tư sản dân tộc và các lực lượng tiến

bộ khác, chính quyền của các quốc gia này còn phải đối phó với phong trào li khai của các tôn giáo như phong trào Moro ở Philipines, phong trào Papua tự do, phong trào đòi độc lập của Cộng hoà Malucu ở Indonesia

2 Xem: Vũ Dương Ninh (2009), ASEAN thập niên đầu thế kỷ XXI, Tập Chuyên đề I: Nghiên cứu quốc tế – Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr 58 – 73

Trang 13

+ Đặc biệt, giữa những năm 60 của thế kỉ XX, ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á nổi lên phong trào đấu tranh vũ trang mạnh mẽ của các đảng cộng sản chịu ảnh hưởng của Trung Quốc

Tóm lại, dù giữa các quốc gia vẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn nhưng trong bối cảnh quốc tế và trong nước như vậy, nhất là khi cuộc chiến tranh ở Đông Dương đang vào giai đoạn quyết liệt thì cả năm quốc gia là thành viên sáng lập ASEAN đều đứng trước nhu cầu phải liên kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị để củng cố hoà bình và đảm bảo an ninh toàn khu vực cũng như của mỗi quốc gia

b Tiền đề kinh tế, văn hoá-xã hội

Bên cạnh yếu tố về chính trị là nguyên nhân có tính quyết định, các yếu tố về kinh tế, văn hoá-xã hội cũng là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra đời của ASEAN

- Kinh tế

Thứ nhất, sự phục hồi và phát triển nền kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới

lần thứ II, cùng với việc áp dụng thành tựu khoa học công nghệ mới đã tạo cơ sở vật chất chủ yếu để hình thành xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Song song với toàn cầu hoá là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của xu thế khu vực hoá Kết quả của xu thế này là nhiều tổ chức hợp tác kinh tế khu vực đã được thành lập như: Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Cộng đồng Caribe Trào lưu khu vực hoá này đã tác động mạnh mẽ tới ý tưởng xây dựng tổ chức quốc tế hợp tác khu vực ở Đông Nam Á

Thứ hai, nền kinh tế khu vực Đông Á được phục hồi, đặc biệt là kinh tế Nhật

Bản do tác động của ngoại lực và nội lực Các nguồn vốn đầu tư dưới dạng viện trợ kinh tế, kĩ thuật bắt đầu được đổ vào châu Á Tháng 5/1950, Anh đưa ra kế hoạch

“Colombo” để tạo liên kết kinh tế giữa các quốc gia ở phía Nam và Đông Nam Á bao

gồm các quốc gia trong Khối liên hiệp Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Bắc Mỹ

Thứ ba, vai trò của các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Ngân hàng phát

triển châu Á (ADB) đối với sự phát triển kinh tế ở các quốc gia châu Á ngày càng tăng Năm 1947, Liên hợp quốc thành lập Uỷ ban kinh tế châu Á và Viễn Đông (Economic Commission for Asia and Far Est - ECAFE) nhằm thúc đẩy nền sản xuất ở các nước châu Á Năm 1966, ADB được thành lập gồm 31 quốc gia, trong đó có 19 quốc gia châu Á để cung cấp nguồn vốn cho sự phục hồi và phát triển kinh tế ở châu

Á

Thứ tư, sau khi giành được độc lập, năm quốc gia sáng lập ASEAN đều gặp

phải vấn đề khó khăn chung về kinh tế như sự lạc hậu của các cơ cấu kinh tế, tình trạng độc canh và xuất khẩu nguyên liệu thô Vì vậy, để phát triển, các quốc gia phải

Trang 14

hợp tác và trước hết là hợp tác trong khu vực

- Văn hoá-xã hội

Các quốc gia ASEAN đều nằm trong một tổng thể địa lí chung - khu vực Đông Nam Á, được bao bọc bởi Thái Bình Dương ở phía Đông và Ấn Độ Dương ở phía Tây Vì vậy, tổng thể địa lí này có vị trí chiến lược quan trọng trên tuyến đường biển chạy từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương

Các quốc gia ASEAN đều có nhiều nét tương đồng về đời sống văn hoá-xã hội như tổ chức đời sống dân cư được dựa trên cộng đồng làng xã và “nền văn minh lúa nước” Trừ Thái Lan, các quốc gia ASEAN đều bị phương Tây đô hộ nên vừa có ý thức về nền độc lập dân tộc, vừa có nhu cầu đảm bảo an ninh chung của khu vực và hợp tác để phát triển

1.1.2 Ý nghĩa của sự hình thành ASEAN

ASEAN ra đời đánh dấu sự trưởng thành về chính trị của các quốc gia Đông Nam Á Những quốc gia này đã thể hiện quyết tâm tự gánh vác trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước cũng như khu vực, đặc biệt trong vấn đề an ninh mà không dựa vào ngoại lực bên ngoài

Đối với các quốc gia Đông Nam Á, sự ra đời của ASEAN là thắng lợi của tinh thần hoà giải, hoà hợp giữa các quốc gia trong khu vực

Theo Ngoại trưởng Thái Lan Thanat Khôman: “Lần đầu tiên, các quốc gia Đông Nam Á đi tới một điểm cơ bản của việc loại trừ thói quen xấu là đi riêng rẽ với nhau, theo những hướng khác nhau, đôi khi đối lập nhau, khiến họ quay lưng lại với nhau” Ngoại trưởng Indonesia Adam Malic khẳng định: “Đã có sự đoàn kết khu vực, bất kể những khác biệt nảy sinh từ lợi ích dân tộc”

Sự hình thành ASEAN đã đặt nền móng cho sự hợp tác và phát triển trong mọi lĩnh vực của các quốc Đông Nam Á trong những năm sau này

1.2 Các giai đoạn phát triển của ASEAN

1.2.1 Giai đoạn từ khi thành lập đến trước Hội nghị Bali năm 1976 (giai đoạn hình thành và định hướng phát triển)

Đây là giai đoạn phát triển đầu tiên của ASEAN Ở giai đoạn này, cơ cấu tổ chức của ASEAN còn chưa hoàn chỉnh, thậm chí Ban thư kí - cơ quan thường trực mà bất kì tổ chức quốc tế nào cũng có còn chưa được thành lập Đây là một trong những lí

do mà thời kì này, ASEAN bị giới quan sát quốc tế chỉ coi là “liên minh chính trị lỏng lẻo”

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên trong giai đoạn này, ASEAN hầu như chưa có hoạt động nào đáng kể, trừ một số hoạt động đáng lưu ý

Trang 15

sau:

- Thông qua Tuyên bố ZOPFAN (A Zone of Peace, Freedom and Neutrality) về khu vực hoà bình, tự do, trung lập tại Kuala Lumpur ngày 17/11/1971, mở ra thời kì mới cho sự phát triển của ASEAN, thể hiện mong muốn xây dựng Đông Nam Á thành khu vực trung lập, hoà bình, ổn định mà không có bất kì hình thức can thiệp nào từ phía bên ngoài

- Thực hiện một số hoạt động ngoại giao, kinh tế đơn lẻ: Đồng loạt công nhận quan hệ ngoại giao với Việt Nam và Bangladesh, cùng thoả thuận ý kiến trước khi biểu quyết những vấn đề cụ thể ở Liên hợp quốc hoặc cùng phối hợp lên tiếng phản đối một cách có kết quả chống lại việc cao su tổng hợp của Nhật Bản cạnh tranh với cao su tự nhiên vốn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nhiều quốc gia trong khối

Tóm lại, trong giai đoạn đầu sau khi thành lập, các hoạt động của ASEAN mới chỉ dừng lại ở mức độ tạo ra nền tảng hợp tác lâu dài và khởi động các hoạt động hợp tác bằng một số hoạt động chung (chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề chính trị trong

và ngoài nước) nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau

1.2.2 Giai đoạn từ Hội nghị Bali năm 1976 đến trước Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư năm 1992 (giai đoạn củng cố cơ cấu tổ chức và tiến lên hợp tác toàn diện nội

khối và bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối)

Trong giai đoạn này, ASEAN đạt được một số kết quả đáng chú ý:

- Xác lập các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và hợp tác của ASEAN

- Thông qua các văn kiện pháp lí quan trọng làm nền tảng cho sự hợp tác và phát triển của ASEAN như Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước Bali năm 1976), Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN năm 1976, Hiệp định thành lập Ban thư kí ASEAN năm 1976, Tuyên bố Manila năm 1987, Hiệp ước khuyến khích và bảo

hộ đầu tư và Nghị định thư về mở rộng danh mục thuế ưu đãi theo thoả thuận ưu đãi buôn bán ASEAN năm 1987

- Mở rộng lĩnh vực hợp tác nội khối đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại, đầu

tư Điển hình là 3 kế hoạch lớn đã được thông qua và đưa vào triển khai: Dự án công nghiệp ASEAN - AIPs năm 1976, Kế hoạch bổ sung công nghiệp - AIC năm 1981, các liên doanh công nghiệp ASEAN - AIJV năm 1983; kí Thoả thuận thương mại ưu đãi PTA cho cả khối; chủ trương thiết lập AFTA

- Bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối (thiết lập cơ chế đối thoại với các quốc gia công nghiệp phát triển) Trong những năm đầu của giai đoạn này, ASEAN liên tục thiết lập và đối thoại đầy đủ với các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Canada, New Zealand, EEC và các tổ chức của Liên hợp quốc (thông qua Chương trình phát triển

Trang 16

của Liên hợp quốc - UNDP) Các hoạt động hợp tác được triển khai qua 3 kênh: Hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng, các cuộc họp giữa ASEAN với các bên đối thoại, Uỷ ban ASEAN ở thủ đô quốc gia đối thoại

- Củng cố cơ cấu tổ chức: Hình thành cơ chế Hội nghị liên bộ trưởng, thành lập Ban thư kí và kết nạp Brunei (năm 1984)

1.2.3 Giai đoạn từ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư năm 1992 đến trước hội nghị thượng định lần thứ chín năm 2003 (giai đoạn trở thành ASEAN 10 và hợp tác toàn diện mà trọng tâm là hợp tác kinh tế)

Đây là giai đoạn mà ASEAN đạt được nhiều thành tựu to lớn, tiến hành hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá

và tăng cường hoà bình, ổn định ở khu vực Những thành tựu của ASEAN thể hiện thông qua một số hoạt động chủ yếu sau:

- Kết nạp 4 thành viên mới gồm: Việt Nam (năm 1995), Lào, Myanmar (năm 1997), Campuchia (năm 1999), nâng ASEAN từ ASEAN 6 trở thành ASEAN 10

- Xây dựng khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)

- Thành lập diễn đàn khu vực ASEAN - ARF năm 1994

- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức

- Thông qua các văn kiện pháp lí quốc tế quan trọng như: Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN năm 1992, Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) năm 1992, Tuyên bố về Biển Đông năm 1992, Hiệp định khung về hợp tác công nghiệp (AICO), Tầm nhìn ASEAN 2020 năm 1997, Tuyên bố Hà Nội năm 1998, Chương trình hành động Hà Nội năm 1998, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông năm 2002

- Tổ chức Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) lần đầu tiên tại Kuala Lumpur vào năm 2005, với sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand

1.2.4 Giai đoạn từ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 9 năm 2003 đến trước thời

điểm thành lập Cộng đồng ASEAN năm 2015 (giai đoạn xây dựng Cộng đồng ASEAN)

- Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 9 (tháng 10 năm 2003), các thành viên ASEAN

đã thông qua Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II), tái khẳng định những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, tăng cường đoàn kết tiến tới việc hình thành Cộng đồng ASEAN vững mạnh, liên kết chặt chẽ, tự cường và năng động, hành động hiệu quả như đã nêu trong văn kiện Tầm nhìn ASEAN năm 2020 và Chương trình hành động Hà Nội năm 1998 Cộng đồng ASEAN (AC) được xây dựng trên ba trụ cột là: Cộng đồng chính trị-an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn

Trang 17

hoá-xã hội Các quốc gia thành viên hiện đang nỗ lực đạt những mục tiêu trong Tầm nhìn ASEAN 2020 vào năm 2015 (tiến trình rút ngắn 5 năm so với dự định)

Có thể nói rằng quyết định thành lập Cộng đồng ASEAN (AC) là kết quả của

sự tác động, đan xen giữa các yếu tố: những thành tựu đạt được của ASEAN; biến chuyển của tình hình quốc tế, khu vực và nhu cầu nâng cấp cơ chế hợp tác hiện tại còn nhiều hạn chế của ASEAN

Cho đến trước năm 2003, ASEAN đã đạt được những thành tựu hợp tác tương đối toàn diện trên tất cả các mặt chính trị-an ninh, kinh tế, văn hoá-xã hội, nhất là thành tựu hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế như Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), Thương mại dịch vụ (AFAS) Sự phát triển

cả về phạm vi, mức độ và hiệu quả của các hoạt động hợp tác nội khối và ngoại khối

đã làm cho các khuôn khổ hợp tác hiện có của ASEAN trở nên “chật hẹp”, cơ chế hợp tác “lỏng lẻo” theo “phương thức ASEAN”đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế.3 Cùng với

đó, sự chênh lệch về khoảng cách phát triển và xu hướng “li tâm” giữa các quốc gia ASEAN càng làm cho các quan hệ hợp tác nội khối và ngoại khối của ASEAN kém hiệu quả hơn, điều này đặt ASEAN trước nhu cầu nâng cấp cơ chế hợp tác hiện có để thúc đẩy hiệu quả các hoạt động hợp tác trong và ngoài khối, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia thành viên đồng thời xây dựng và tạo lập ý thức, “bản sắc chung” của cả khu vực Về mặt khách quan, chủ nghĩa khu vực hoá với sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức quốc tế khu vực trên thế giới mà điển hình là Liên minh châu Âu; sự phát triển của các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và xu hướng hình thành liên kết kinh tế Đông Á rộng lớn; chủ nghĩa khủng bố, phong trào li khai, xung đột sắc tộc, tôn giáo cực đoan; những hiểm họa, thiên tai mang tính toàn cầu và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác càng làm cho ASEAN cần phải có cơ chế hợp tác hiệu quả hơn để có đủ khả năng đối phó với các thách thức đó và giữ vững vai trò, vị thế của mình trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và trên trường quốc tế nói chung

Nhằm hiện thực hoá mục tiêu thành lập AC, Chương trình hành động Viêng Chăn (VAP) đã được các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua tại Hội nghị cấp cao lần thứ

10 năm 2004 VAP thực chất là bản kế hoạch xây dựng Cộng đồng ASEAN, cụ thể hoá những nội dung đã ghi nhận trong Tuyên bố Bali II, trong đó quy định mục tiêu và các chương trình xây dựng cho từng cộng đồng Tiếp đó, các bản kế hoạch tổng thể

3 “Phương thức ASEAN” (ASEAN Way) là phương thức hoạt động dựa trên tham khảo và đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đặc trưng của phương thức này là thông qua các cuộc thảo luận kín hơn là thông qua “mặc cả” thẳng thắn trên bàn hội nghị, theo truyền thống từng bước xây dựng lòng tin của văn hoá khu vực Đông Nam Á Phương thức này được xem như là “công thức có lợi cho tất cả các bên” (winning formula) nhưng cũng làm hạn chế tối đa mức độ thể chể hoá chặt chẽ và tính ràng buộc pháp lí của cơ chế hợp

Trang 18

xây dựng từng cộng đồng trong Cộng đồng ASEAN, bao gồm Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (2007), Kế hoạch tổng thể xây dựng APSC và Kế hoạch tổng thế xây dựng ASCC cùng được kí kết trong năm 2009 xác định rõ định dạng cũng như cơ chế, các biện pháp và hoạt động cụ thể xây dựng APSC, AEC và ASCC đến năm 2015 Đây chính là cơ sở pháp lí để ASEAN triển khai xây dựng mỗi cộng đồng, qua đó hiện thực hoá mục tiêu về một Cộng đồng ASEAN

- Một trong những bước phát triển quan trọng của ASEAN là thông qua Hiến chương ASEAN (Hiến chương được kí ngày 20/11/2007 và có hiệu lực ngày 15/12/2008), chính thức trao tư cách pháp nhân cho tổ chức ASEAN, tạo nền tảng pháp lí và thể chế để ASEAN xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN

1.2.4 Giai đoạn từ thời điểm xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN năm

2015 đến nay

Ngày 22/11/2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Kuala Lumpur

2015 về “Thành lập Cộng đồng ASEAN” với sự chứng kiến của các nhà lãnh đạo các nước đối tác, đối thoại của ASEAN và Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki Moon Sự hình thành Cộng đồng ASEAN 2015 với 3 trụ cột Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa - xã hội là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình liên kết, phản ánh sự lớn mạnh của ASEAN sau 48 năm hình thành và phát triển với vị thế ngày càng cao ở cả khu vực và thế giới

Theo các văn bản pháp lí của ASEAN, Cộng đồng ASEAN có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, Cộng đồng ASEAN không thay thế ASEAN mà chỉ là sự liên kết của

ASEAN ở cấp độ cao hơn và sâu rộng hơn Cộng đồng ASEAN không phải là tổ chức quốc tế mới của các quốc gia Đông Nam Á được thành lập để thay thế cho ASEAN Cộng đồng ASEAN tiếp tục kế thừa và nâng cấp các liên kết hiện có của ASEAN lên cấp độ cao hơn và phạm vi rộng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác và phát triển của ASEAN cũng như của các quốc gia thành viên trong giai đoạn mới

Thứ hai, Cộng đồng ASEAN được xây dựng trên nền tảng thể chế pháp lí có tính ràng buộc cao đối với các quốc gia thành viên Cộng đồng ASEAN không đơn thuần là “tập hợp những người có những điểm giống nhau làm thành một khối như một

xã hội”,4 ràng buộc với nhau một cách “ngẫu nhiên” và “tự nguyện” như cách hiểu

thông thường về ngữ nghĩa của từ “cộng đồng” Dưới góc độ pháp lí quốc tế, Cộng đồng ASEAN là sự liên kết pháp lí do các quốc gia thành viên ASEAN thiết lập (xuất phát từ các đặc thù của ASEAN và phù hợp với nhu cầu phát triển trong tình hình mới) với nội dung, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động cụ thể trên cơ sở hệ thống các

4Xem: Nguyễn Như Ý (1999) (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hoá-thông tin, Hà Nội, tr 1796

Trang 19

nguyên tắc và quy phạm pháp luật

Thứ ba, Cộng đồng ASEAN được hình thành trên cơ sở ba trụ cột: Cộng đồng

chính trị-an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hoá-xã hội Mỗi cộng đồng có

cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ khác nhau Song giữa những cộng đồng này có mối quan

hệ khăng khít và chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau nhằm cùng hướng tới mục tiêu chung mà ASEAN theo đuổi

Với nỗ lực không ngừng nghỉ, Tầm nhìn ASEAN 2025 “Cùng vững vàng tiến bước” được chính thức thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 27 tại Kuala Lumpur, ngày 22-11-2015 Tiếp nối Tầm nhìn ASEAN 2020 (1997), Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (2003) và Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2009-2015 (2009), Tầm nhìn và các Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa – xã hội kèm theo đề ra những mục tiêu, phương hướng lớn cùng

kế hoạch, biện pháp triển khai cụ thể nhằm hiện thực hoá mục tiêu liên kết và hội nhập sâu rộng hơn, xây dựng một Cộng đồng ASEAN “hoạt động chặt chẽ dựa trên luật lệ, thực sự hướng về người dân và lấy người dân làm trung tâm” vào năm 2025 Đến nay, ASEAN vẫn đang tích cực triển khai nhằm hiện thực hóa các chương trình, kế hoạch trong các bản Kế hoạch tổng thể này

Có thể thấy rằng quá trình hình thành ASEAN trong hơn 50 năm qua là thắng lợi lớn của tư tưởng hoà bình, tự cường dân tộc kết hợp với tự cường khu vực, của những tư tưởng hợp tác và phát triển ASEAN có vị thế quốc tế như ngày nay bởi đã hoạch định đường lối xây dựng và phát triển phù hợp với xu thế của thời đại Bốn màu xanh da trời, đỏ, trắng, vàng trên lá cờ của ASEAN cũng như biểu tượng của ASEAN không chỉ thể hiện cho bốn màu sắc chủ đạo trên quốc kì của các quốc gia thành viên

mà còn tượng trưng cho một ASEAN ổn định, hoà bình, thống nhất và năng động Màu xanh da trời biểu hiện cho hoà bình và ổn định Màu đỏ thể hiện dũng khí và sự năng động Màu trắng cho thấy sự thuần khiết và màu vàng là biểu trưng cho sự thịnh vượng Bó lúa tượng trưng cho ước mơ của các thành viên sáng lập ASEAN về một ASEAN bao gồm tất cả quốc gia ở Đông Nam Á quây quần trong tình hữu nghị và đoàn kết Vòng tròn là biểu tượng cho sự thống nhất của ASEAN

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thắng lợi của ASEAN là việc tổ chức này luôn bám sát tôn chỉ, mục đích và nguyên tắc của mình, trong đó nguyên tắc quan trọng nhất là tôn trọng nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của các quốc gia thành viên, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên dưới bất kì hình thức nào

Trang 20

2 Mục đích và nguyên tắc hoạt động

2.1 Mục đích

Điều 1 Hiến chương ASEAN đã xác định mục đích của ASEAN như sau:

2.1.1 Về an ninh-chính trị

- Duy trì, thúc đẩy hoà bình, an ninh và ổn định, tăng cường hơn nữa các giá trị

hướng tới hoà bình trong khu vực;

- Nâng cao khả năng tự cường khu vực thông qua đẩy mạnh hợp tác an chính trị, kinh tế và văn hoá-xã hội;

ninh Duy trì Đông Nam Á là khu vực không có vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt khác;

- Đối phó hữu hiệu với tất cả các mối đe dọa, các loại tội phạm xuyên quốc gia

và thách thức xuyên biên giới, phù hợp với nguyên tắc an ninh toàn diện;

- Tăng cường hợp tác trong việc xây dựng cho người dân ASEAN môi trường

an toàn, an ninh và không có ma túy;

- Duy trì vai trò trung tâm và chủ động của ASEAN như một động lực chủ chốt trong quan hệ và hợp tác với các đối tác bên ngoài trong cấu trúc khu vực mở, minh bạch và thu nạp

2.1.2 Về kinh tế

Xây dựng thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất với sự ổn định, thịnh vượng, khả năng cạnh tranh và liên kết kinh tế cao, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, bao gồm sự chu chuyển tự do hàng hoá, dịch vụ và dòng đầu tư; di chuyển thuận lợi của các doanh nhân, người có chuyên môn cao, người có tài năng và lực lượng lao động; sự chu chuyển tự do hơn các dòng vốn

2.1.3 Về văn hoá-xã hội

- Đảm bảo rằng nhân dân và các quốc gia thành viên ASEAN được sống hoà bình với toàn thế giới, trong môi trường công bằng, dân chủ và hoà hợp;

- Giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN thông qua hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau;

- Tăng cường dân chủ, thúc đẩy quản trị tốt và pháp quyền; thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, các quyền tự do cơ bản với sự tôn trọng thích đáng quyền và trách nhiệm của các quốc gia thành viên ASEAN;

- Thúc đẩy phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường khu vực, tính bền vững của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn di sản văn hoá và chất lượng cuộc sống cao của người dân khu vực;

Trang 21

- Phát triển nguồn nhân lực thông qua hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo lâu dài, trong khoa học và công nghệ để tăng cường quyền năng cho người dân ASEAN và thúc đẩy Cộng đồng ASEAN;

- Nâng cao phúc lợi và đời sống của người dân ASEAN thông qua việc tạo điều kiện để họ tiếp cận bình đẳng các cơ hội về phát triển con người, phúc lợi và công bằng xã hội;

- Thúc đẩy hình thành ASEAN hướng về nhân dân, trong đó khuyến khích mọi thành phần xã hội tham gia và hưởng lợi từ tiến trình liên kết, xây dựng Cộng đồng ASEAN;

- Đề cao bản sắc ASEAN thông qua việc nâng cao hơn nữa nhận thức về sự đa dạng văn hoá và các di sản của khu vực

Những mục đích nêu trên của ASEAN nhằm hình thành liên minh chính trị, kinh tế và văn hoá với tính chất của tổ chức quốc tế khu vực, tạo dựng sự hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia để đưa Đông Nam Á trở thành khu vực hoà bình, phát triển

và là đối tác quan trọng trong tương quan lực lượng trên trường quốc tế

Từ việc phân tích các mục đích nêu trên có thể nhận thấy:

Thứ nhất, ASEAN là tổ chức liên chính phủ khu vực được thành lập để liên kết

các quốc gia thành viên trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá nhằm thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của các quốc gia cũng như gia tăng những giá trị văn hoá, xã hội

Các quốc gia Đông Nam Á đều là các quốc gia giàu truyền thống văn hoá, dân tộc nên vấn đề giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu Đây là một trong những đòi hỏi mà các quốc gia Đông Nam Á, trong những dự án về việc thành lập ASEAN đã đưa ra trước Hội nghị thành lập ASEAN

Thứ hai, ASEAN phải là tổ chức hợp tác nhằm “thúc đẩy hoà bình và an ninh

khu vực”, chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm và duy trì an ninh khu vực không

có sự can thiệp bên ngoài, giải quyết hoà bình các tranh chấp, bất đồng giữa các quốc gia thành viên

Thứ ba, ASEAN đã thực hiện các mục đích này một cách linh hoạt, theo từng

giai đoạn phát triển của quan hệ hợp tác ASEAN Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, mục tiêu hợp tác về kinh tế hoặc chính trị sẽ được nhấn mạnh Tuy nhiên, với tính chất là

tổ chức quốc tế chung,5 các lĩnh vực hợp tác của ASEAN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cùng hướng tới mục tiêu đưa Đông Nam Á trở thành khu vực hoà bình và phát triển

Trang 22

2.2 Nguyên tắc hoạt động

Trong quan hệ quốc tế, hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế như nguyên tắc bình đẳng chủ quyền, nguyên tắc không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, nguyên tắc giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác… chính là các quy phạm Juscogens mà mọi

chủ thể luật quốc tế đều phải tuân thủ Là tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể của

luật quốc tế, ASEAN không chỉ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế mà pháp luật ASEAN nói chung và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của ASEAN nói riêng

cũng phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Trước khi Hiến chương ASEAN ra đời, trong Tuyên bố Bangkok và một số văn kiện khác của ASEAN như Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á năm 1976, Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung năm 1992… ngoài việc ghi nhận một

số nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các văn kiện này còn quy định những nguyên tắc điều phối hoạt động của ASEAN trong các lĩnh vực hợp tác như nguyên tắc đồng thuận, nguyên tắc cùng có lợi, nguyên tắc - X… Theo Điều 2 Hiến chương ASEAN,

để có thể đạt được các mục đích của ASEAN, các quốc gia thành viên tiếp tục tuân thủ các nguyên tắc đã được ghi nhận trong những văn kiện của ASEAN trước Hiến chương Bên cạnh đó, Hiến chương còn ghi nhận hệ thống nguyên tắc là cơ sở cho hoạt động hợp tác giữa các quốc gia thành viên ASEAN trong lĩnh vực hợp tác về an ninh-chính trị, kinh tế-thương mại và văn hoá-xã hội nói riêng cũng như của các thành viên nói chung Hệ thống nguyên tắc tại khoản 2 Điều 2 Hiến chương gồm 14 nguyên tắc trong đó có thể chia thành 2 nhóm:

Thứ nhất, nhóm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Cụ thể:

- Nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của các quốc gia thành viên;

- Nguyên tắc không xâm lược, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hay các hành động khác dưới bất kì hình thức nào trái với pháp luật quốc tế;

- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình;

- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên ASEAN;

- Nguyên tắc tôn trọng quyền của các quốc gia thành viên được quyết định vận mệnh của mình mà không có sự can thiệp, lật đổ và áp đặt từ bên ngoài

Thứ hai, nhóm các nguyên tắc đặc thù điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia

thành viên ASEAN Cụ thể:

- Nguyên tắc cùng cam kết và chia sẻ trách nhiệm tập thể trong việc thúc đẩy

Trang 23

hoà bình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực;

- Nguyên tắc tăng cường tham vấn về các vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng

đến lợi ích chung của ASEAN;

- Nguyên tắc tuân thủ pháp quyền, quản trị tốt các nguyên tắc của nền dân chủ

và chính quyền hợp hiến;

- Nguyên tắc tôn trọng các quyền tự do cơ bản, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, công bằng xã hội;

- Nguyên tắc đề cao Hiến chương Liên hợp quốc và pháp luật quốc tế bao gồm

cả luật nhân đạo quốc tế mà các quốc gia thành viên đã tham gia;

- Nguyên tắc tôn trọng sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo của người dân ASEAN đồng thời nhấn mạnh những giá trị chung trên tinh thần thống nhất trong

đa dạng;

- Nguyên tắc giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong các quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội với bên ngoài đồng thời vẫn duy trì tính chủ động, hướng ra bên ngoài, thu nạp và không phân biệt đối xử;

- Nguyên tắc tuân thủ các nguyên tắc thương mại đa biên và các cơ chế dựa trên luật lệ của ASEAN

Ngoài việc hoàn toàn phù hợp với hệ thống nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, những nguyên tắc nói trên của ASEAN không chỉ thể hiện tính đặc thù của ASEAN

mà còn bao trùm lên mọi hoạt động của ASEAN trong các lĩnh vực hợp tác (an chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội) và phạm vi hợp tác (nội khối, ngoại khối)

ninh-3 Thành viên

Theo điểm 4 Tuyên bố Bangkok năm 1967: “Hiệp hội này mở rộng cho tất cả các quốc gia khu vực Đông Nam Á tán thành tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích nói trên tham gia” Như vậy, các quốc gia sáng lập ASEAN (ASEAN 5) đã không đặt ra những

yêu cầu về chính trị, mặc dù vào thời điểm thành lập ASEAN, trong khu vực còn tồn tại hai khối: các quốc gia phát triển theo xu hướng tư bản chủ nghĩa và các quốc gia theo xu hướng xã hội chủ nghĩa Khi đưa ra điều kiện trên, ASEAN 5 cũng đã khẳng định quan điểm của các quốc gia này là ASEAN không phải là tổ chức chính trị hoặc quân sự của các quốc gia theo xu hướng thân phương Tây và đối đầu với các quốc gia

có chế độ chính trị khác trong khu vực như Việt Nam, Lào Các quốc gia muốn trở thành thành viên của tổ chức này phải tán thành các tôn chỉ, mục đích và nguyên tắc của ASEAN Như vậy, ngoài việc là “quốc gia khu vực Đông Nam Á” và “tán thành các tôn chỉ, mục đích và các nguyên tắc của ASEAN” - những điều kiện hoàn toàn có tính chất khách quan thì sự khác biệt về chế độ kinh tế, chính trị và xã hội không phải

Trang 24

là rào cản các quốc gia ở Đông Nam Á trở thành thành viên của ASEAN

Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên trong đó gồm 5 quốc gia là thành viên sáng lập (Vương quốc Thái Lan, Cộng hoà Singapore, Liên bang Malaysia, Cộng hoà Indonesia, Cộng hoà Philippines) và 5 quốc gia là thành viên gia nhập (Vương quốc Brunei, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Liên bang Myanmar, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia) Không phụ thuộc vào tư cách thành viên (sáng lập hoặc gia nhập), các thành viên ASEAN đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

Hiến chương ASEAN ra đời không chỉ kế thừa Tuyên bố Bangkok mà còn cụ thể hoá các điều kiện để trở thành thành viên của Tổ chức, cụ thể:

- Có vị trí nằm trong khu vực địa lí Đông Nam Á

- Được tất cả các quốc gia thành viên ASEAN công nhận

- Chấp nhận sự ràng buộc và tuân thủ Hiến chương ASEAN

- Có khả năng và sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ thành viên

Tiêu chí thứ nhất khẳng định tính chất khu vực của ASEAN mặc dù so với một

số tổ chức quốc tế khu vực khác như Liên minh châu Âu, Tổ chức thống nhất châu

Mỹ, Liên minh châu Phi, Liên đoàn các quốc gia Ả Rập phạm vi khu vực của ASEAN hẹp hơn nhiều Tính chất khu vực của ASEAN chỉ thuần tuý dựa trên yếu tố

về địa lí

Trên cơ sở chủ quyền, gia nhập tổ chức quốc tế là quyền của các quốc gia nhưng tuân thủ quy tắc, luật lệ của tổ chức là nghĩa vụ mà mọi thành viên của tổ chức phải chấp hành Vì vậy, những tiêu chí này hoàn toàn có tính khách quan và việc đòi hỏi phải đáp ứng chúng là tất yếu Ngoài ra, ứng cử viên để trở thành thành viên của ASEAN còn phụ thuộc vào sự chấp nhận của các thành viên khác của ASEAN Tuy là điều kiện mang tính chất chủ quan nhưng quá trình phát triển của ASEAN trong nhiều năm qua cho thấy hầu như không có quốc gia thành viên nào của ASEAN sử dụng tiêu chí này để cản trở nguyện vọng gia nhập ASEAN.6

Hiến chương ASEAN chỉ quy định thẩm quyền quyết định việc kết nạp thành viên mới thuộc về Cấp cao ASEAN trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng điều phối ASEAN Riêng về thủ tục xin gia nhập và kết nạp sẽ do Hội đồng điều phối ASEAN quy định Hiến chương không có quy định về rút khỏi Tổ chức và cũng không quy định cụ thể về chế tài đối với thành viên vi phạm Đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng Hiến chương, theo khoản 4 Điều 20, Cấp cao ASEAN có thẩm quyền quyết định

6 Điều kiện này là biểu hiện của nguyên tắc đồng thuận (nhất trí) của ASEAN Sự khác biệt của nguyên tắc này của ASEAN (so với một số tổ chức quốc tế khác) là đồng thuận 100% (nhất trí tuyệt đối)

Trang 25

4 Cơ cấu tổ chức

ASEAN là tổ chức quốc tế có sự cải tổ thường xuyên cơ cấu tổ chức của mình trong quá trình tồn tại và phát triển Chính sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của ASEAN cũng thể hiện tiến trình, mức độ và phạm vi hợp tác trong từng giai đoạn phát triển cũng như tính mềm dẻo, linh hoạt của ASEAN Từ khi ra đời đến nay, cơ cấu tổ chức của ASEAN được thay đổi, hoàn thiện dần qua từng giai đoạn Cơ cấu tổ chức hiện này của ASEAN được quy định tại Hiến chương ASEAN, bao gồm

4.1 Hội nghị cấp cao - ASEAN Summit

Hội nghị cấp cao ASEAN (hay còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh) bao gồm các nguyên thủ quốc gia hoặc những người đứng đầu chính phủ của các quốc gia thành viên Hội nghị cấp cao tiến hành họp 2 lần một năm và do quốc gia thành viên giữ chức Chủ tịch ASEAN chủ trì và tổ chức, ngoài ra Hội nghị cấp cao sẽ được nhóm họp bất thường khi cần thiết

Với vị trí là cơ quan có thẩm quyền cao nhất và cũng là cơ quan hoạch định chính sách của ASEAN, Hội nghị cấp cao có những chức năng, nhiệm vụ như sau:

- Xem xét, đưa ra chỉ đạo về đường lối chính sách và quyết định các vấn đề then chốt liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu của ASEAN, các vấn đề quan trọng mà các quốc gia thành viên quan tâm và tất cả vấn đề mà Hội đồng điều phối ASEAN, các hội đồng Cộng đồng ASEAN và các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng đệ trình lên;

HỘI NGHỊ CẤP CAO

Hội đồng điều phối

Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng (14 cơ quan)

Hội đồng Cộng đồng kinh tế

Hội đồng Cộng đồng văn hoá-xã hội

Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng (17 cơ quan)

Hội đồng

Cộng đồng an ninh-chính trị

Các cơ quan chuyên ngành

cấp bộ trưởng (6 cơ quan)

Các cơ quan giúp việc trực thuộc

Các cơ quan giúp

việc trực thuộc Các cơ quan giúp việc trực thuộc

Uỷ ban thường trực

Uỷ ban thường trực

Trang 26

- Chỉ đạo các bộ trưởng liên quan thuộc các hội đồng tiến hành các hội nghị liên

bộ trưởng đặc biệt và giải quyết các vấn đề quan trọng của ASEAN có liên quan đến các hội đồng Cộng đồng (tuy nhiên, quy định về thủ tục tiến hành các hội nghị này sẽ

do Hội đồng điều phối ASEAN thông qua);

- Thực thi những biện pháp thích hợp để xử lí các tình huống khẩn cấp tác động tới ASEAN;

- Quyết định các vấn đề liên quan đến cơ chế ra quyết định (quy định tại Chương VII Hiến chương) và cơ chế giải quyết tranh chấp (được quy định tại Chương VIII của Hiến chương);

- Cho phép thành lập và giải tán các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng và thể chế khác của ASEAN;

- Bổ nhiệm Tổng thư kí ASEAN

4.2.Hội đồng điều phối - Coordinating Council

Hội đồng điều phối ASEAN bao gồm các ngoại trưởng của các quốc gia thành viên ASEAN, họp ít nhất 2 lần một năm Hội đồng điều phối ASEAN sẽ được các quan chức cao cấp liên quan hỗ trợ

Hội đồng điều phối có chức năng và thẩm quyền:

- Chuẩn bị các phiên họp cho Hội nghị cấp cao;

- Điều phối việc triển khai các thoả thuận và quyết định của Hội nghị cấp cao;

- Phối hợp với các hội đồng Cộng đồng ASEAN nhằm tăng cường tính đồng bộ

về chính sách, hiệu quả và hợp tác giữa các cơ quan này;

- Tổng hợp báo cáo của các hội đồng Cộng đồng ASEAN để trình lên Hội nghị cấp cao;

- Xem xét báo cáo hàng năm của Tổng thư kí về các hoạt động của ASEAN;

- Xem xét báo cáo của Tổng thư kí về chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Ban thư kí ASEAN và các cơ quan liên quan khác;

- Thông qua việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các phó tổng thư kí theo khuyến nghị của Tổng thư kí;

- Thực thi các nhiệm vụ khác được nêu trong Hiến chương hoặc những chức năng khác do Hội nghị cấp cao chỉ thị

4.3 Các hội đồng Cộng đồng - Community Council

Các hội đồng cộng đồng bao gồm Hội đồng cộng đồng chính trị-an ninh, Hội đồng cộng đồng kinh tế, Hội đồng cộng đồng văn hoá-xã hội ASEAN Mỗi quốc gia thành viên sẽ chỉ định một đại diện của quốc gia tham dự cuộc họp của Hội đồng Cộng

Trang 27

đồng ASEAN, trực thuộc mỗi Hội đồng Cộng đồng sẽ có các Cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng

Các hội đồng Cộng đồng có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện các quyết định của ASEAN liên quan đến cộng đồng mình, điều phối các hoạt động của cộng đồng, đồng thời báo cáo lên Hội nghị cấp cao ASEAN về những hoạt động thuộc phạm vi của cộng đồng mình phụ trách

Mỗi hội đồng cộng đồng họp ít nhất 2 lần 1 năm và do bộ trưởng có liên quan của quốc gia thành viên giữ cương vị Chủ tịch ASEAN chủ trì Mỗi hội đồng cộng đồng ASEAN sẽ được hỗ trợ bởi các quan chức cao cấp có liên quan

4.4 Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng - Sectoral Ministerial Bodies

Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng ASEAN là các thiết chế trực thuộc các hội đồng cộng đồng (Hội đồng cộng đồng chính trị-an ninh có 6 cơ quan, Hội đồng cộng đồng kinh tế có 14 cơ quan, Hội đồng cộng đồng văn hoá-xã hội có 17 cơ quan trực thuộc) Cơ quan này có chức năng, quyền hạn:

- Thực hiện các thoả thuận và quyết định của Hội nghị cấp cao trong lĩnh vực của mình;

- Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực mà mình phụ trách để hỗ trợ tiến trình liên kết và xây dựng Cộng đồng ASEAN;

- Đệ trình các báo cáo và khuyến nghị lên các hội đồng cộng đồng liên quan Mỗi cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng trong phạm vi chức năng của mình có thể giao cho các quan chức cao cấp và các cơ quan trực thuộc thực hiện các chức năng,

nhiệm vụ được nêu trong Phụ lục 1 của Hiến chương

4.5 Tổng thư kí và Ban thư kí

Tổng thư kí ASEAN do Hội nghị cấp cao bổ nhiệm với nhiệm kì 5 năm và không được tái bổ nhiệm Tổng thư kí được lựa chọn trong số công dân của các quốc gia thành viên ASEAN luân phiên theo thứ tự tên nước bằng chữ cái tiếng Anh, có tính đến sự liêm khiết, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn và sự cân bằng về giới

Tổng thư kí là quan chức hành chính cao cấp nhất của ASEAN, tiến hành các chức năng và nhiệm vụ của mình theo các quy định của Hiến chương, các văn kiện, nghị định thư liên quan và tập quán đã có của ASEAN Tổng thư kí có các chức năng, nhiệm vụ:

- Tạo điều kiện và giám sát tiến độ triển khai các thoả thuận và quyết định của ASEAN, đệ trình báo cáo hàng năm về các hoạt động của ASEAN lên Hội nghị cấp cao ASEAN;

- Tham gia các cuộc họp của Hội nghị cấp cao, các hội đồng Cộng đồng, Hội

Trang 28

đồng điều phối, các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng và các cuộc họp khác có liên quan của ASEAN;

- Thể hiện quan điểm của ASEAN và tham gia vào các cuộc họp với các đối tác bên ngoài phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Tổng thư kí;

- Khuyến nghị việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các phó tổng thư kí lên Hội đồng điều phối ASEAN phê duyệt

Tổng thư kí được hỗ trợ bởi bốn phó tổng thư kí với hàm thứ trưởng Các phó tổng thư kí sẽ chịu trách nhiệm trước Tổng thư kí trong việc thực thi chức trách của mình Bốn phó tổng thư kí sẽ không cùng quốc tịch với Tổng thư kí và đến từ 4 quốc gia thành viên ASEAN khác nhau, bao gồm:

- Hai phó tổng thư kí có nhiệm kì 3 năm, không được tái bổ nhiệm và được lựa chọn trong số công dân của các quốc gia thành viên ASEAN trên cơ sở luân phiên, có tính đến sự liêm khiết, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm và bình đẳng giới;

- Hai phó tổng thư kí có nhiệm kì 3 năm, có thể được gia hạn một nhiệm kì Hai phó tổng thư kí này sẽ được tuyển chọn công khai, dựa trên năng lực

Ban thư kí ASEAN bao gồm Tổng thư kí và các nhân viên khác, tuỳ theo yêu cầu đặt ra Tổng thư kí và các nhân viên Ban thư kí thực thi nhiệm vụ vì lợi ích của ASEAN mà không nhân danh bất kì chính phủ nào Theo đó, Ban thư kí sẽ:

- Giữ vững các chuẩn mực cao nhất về sự liêm khiết, hiệu quả và năng lực trong khi thi hành nhiệm vụ;

- Không tìm kiếm hoặc nhận sự chỉ đạo từ bất kì chính phủ hoặc đối tượng nào ngoài ASEAN

- Không tham gia vào bất kì hành động nào có thể ảnh hưởng đến vị trí của mình là các quan chức của Ban thư kí ASEAN và chỉ chịu trách nhiệm với ASEAN

- Các quốc gia thành viên ASEAN cam kết tôn trọng tính chất đặc thù trong chức năng của Tổng thư kí, các nhân viên Ban thư kí và không tìm cách gây ảnh hưởng đến họ trong quá trình họ thực thi nhiệm vụ

Mỗi quốc gia thành viên ASEAN thành lập Ban thư kí ASEAN quốc gia với nhiệm vụ:

- Đóng vai trò là đầu mối quốc gia trong các hoạt động liên quan đến ASEAN;

- Là nơi lưu trữ thông tin về tất cả vấn đề liên quan đến ASEAN ở cấp độ quốc gia;

- Điều phối việc triển khai các quyết định của ASEAN ở cấp độ quốc gia;

- Điều phối và hỗ trợ công tác chuẩn bị của quốc gia cho các cuộc họp ASEAN;

Trang 29

- Thúc đẩy xây dựng bản sắc và nhận thức về ASEAN ở cấp độ quốc gia;

- Đóng góp vào việc xây dựng Cộng đồng ASEAN

4.6 Uỷ ban đại diện thường trực bên cạnh ASEAN

Mỗi quốc gia thành viên ASEAN bổ nhiệm một đại diện thường trực có hàm đại sứ bên cạnh ASEAN đặt tại Jakarta Uỷ ban đại diện thường trực bao gồm đại sứ của các quốc gia có chức năng, nhiệm vụ:

- Hỗ trợ công việc cho các hội đồng cộng đồng và các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng;

- Phối hợp với Ban thư kí ASEAN quốc gia và các cơ quan chuyên ngành cấp

bộ trưởng khác của ASEAN;

- Liên hệ với Tổng thư kí và Ban thư kí ASEAN về tất cả vấn đề liên quan đến công việc của mình;

- Hỗ trợ hợp tác giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài;

- Thực thi các nhiệm vụ khác do Hội đồng điều phối ASEAN quyết định

4.7 Uỷ ban ASEAN ở quốc gia thứ ba và các tổ chức quốc tế

Uỷ ban ASEAN ở các quốc gia thứ 3 có thể được thành lập tại các quốc gia ngoài khối ASEAN, bao gồm người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của các quốc gia thành viên ASEAN tại quốc gia đó Các uỷ ban tương tự có thể được lập ra bên cạnh các tổ chức quốc tế Ví dụ, tại khu vực Bắc Mỹ hiện nay có 4 Ủy ban ASEAN gồm: Ủy ban ASEAN tại thành phố Mexico (Mexico) gồm đại sứ của 5 quốc gia là Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Phipippines, Malaysia; Ủy ban ASEAN tại thành phố Ottawa (Canada) gồm đại sứ của 7 quốc gia là Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Phipippines, Malaysia, Brunei, Myanmar; Ủy ban ASEAN tại Washington (Mỹ)

và Ủy ban ASEAN tại Liên hợp quốc gồm đại sứ của tất cả 10 QGTV.7 Các uỷ ban này sẽ thúc đẩy lợi ích và bản sắc ASEAN tại quốc gia chủ nhà và các tổ chức quốc tế

Thủ tục hoạt động của các uỷ ban này sẽ do Hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN quy định cụ thể

Ngoài các cơ quan trên, Hiến chương còn quy định sẽ thành lập Cơ quan nhân quyền hoạt động theo Quy chế do Hội nghị bộ trưởng ngoại giao quyết định để thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, phù hợp với mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương

7 Xem danh sách Uỷ ban ASEAN ở bên thứ ba tại nguồn:

Trang 30

http://asean.org/asean/asean-structure/actc/list-of-II KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT ASEAN

1 Khái niệm pháp luật ASEAN

1.1 Định nghĩa pháp luật ASEAN

Pháp luật ASEAN không đồng nhất với pháp luật của từng quốc gia thành viên, nói cách khác, pháp luật ASEAN không phải là kết quả của phép cộng từ pháp luật của

10 quốc gia thành viên mặc dù không thể phủ nhận các nguyên tắc, quy phạm pháp luật của ASEAN được hình thành trên cơ sở của sự dung hoà về ý chí, lợi ích của các thành viên Mặt khác, thuật ngữ “pháp luật ASEAN” không được hiểu với nghĩa là pháp luật chỉ do ASEAN ban hành, có hiệu lực trực tiếp tại các quốc gia thành viên Các nguyên tắc và quy phạm pháp luật của ASEAN được ghi nhận tại các văn bản có giá trị pháp lí bắt buộc của ASEAN, như hiến chương, tuyên bố, hiệp định, nghị định thư, thoả thuận (ngoài các văn bản trên, một số các văn bản khác mặc dù không có giá trị pháp lí bắt buộc như khuyến nghị của các nhóm đặc trách cao cấp, thông cáo báo chí của các thiết chế cộng đồng cũng có giá trị tham khảo cao trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật ASEAN).8 Bên cạnh đó, nhiều nguyên tắc, quy phạm pháp luật được ghi nhận trong các điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ hợp tác ngoại khối của ASEAN được hình thành từ chính sự thoả thuận giữa ASEAN với các đối tác tương ứng như: Hiệp định về đầu tư ASEAN - Hàn Quốc năm 2009, Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp ASEAN - Trung Quốc năm 2004, Hiệp định về đầu tư ASEAN - Trung Quốc năm 2009, Hiệp định về đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) năm 2008…

Cũng cần lưu ý phân biệt “Pháp luật ASEAN” với “Pháp luật cộng đồng ASEAN” Mặc dù có cùng bản chất và cách thức hình thành, nhưng “Pháp luật Cộng đồng ASEAN” chỉ là một bộ phận của pháp luật ASEAN Như đã phân tích ở trên, Cộng đồng ASEAN không phải là một tổ chức quốc tế mà chỉ là một cấp độ liên kết cao hơn của ASEAN Nói cách khác, thuật ngữ “Cộng đồng ASEAN” để chỉ một giai đoạn phát triển của ASEAN hiện nay với cấp độ liên kết cao hơn so với các giai đoạn trước đó của tổ chức này Do đó, “Pháp luật Cộng đồng ASEAN” chỉ bao gồm những văn kiện được xây dựng từ khi ý tưởng thành một Cộng đồng ASEAN được các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua nhằm hiện thực hóa ý tưởng này và những văn kiện được xây dựng từ khi Cộng đồng ASEAN chính thức được hình thành Những văn kiện này, cùng với những văn kiện đã được hình thành từ trước đó tạo thành hệ thống pháp luật ASEAN

Với tư cách là tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất khu vực, pháp luật ASEAN cũng phản ánh những đặc thù về kinh tế, chính trị, văn hoá của các quốc gia

8 Dưới góc độ nghiên cứu, những văn bản này thường được gọi bằng thuật ngữ “luật mềm” (Soft law)

Trang 31

thành viên và phù hợp với quan hệ hợp tác khu vực Chính vì vậy, pháp luật ASEAN được xây dựng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của ASEAN Cho đến nay, sau hơn 50 năm tồn tại, ASEAN đã có những bước tiến đáng kể về cơ cấu tổ chức cũng như phạm vi và lĩnh vực hợp tác Nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác phát triển, các quốc gia thành viên ASEAN cũng thoả thuận xây dựng hệ thống nguyên tắc, quy phạm của pháp luật ASEAN theo hướng ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn Sự hoàn thiện của pháp luật ASEAN không chỉ thể hiện ở sự gia tăng số lượng các văn bản pháp lí được kí kết, đối tác kí kết mà còn ở cả nội dung, phạm vi điều chỉnh của các văn bản

kí kết theo hướng ngày càng đa dạng Sự ra đời của Hiến chương ASEAN năm 2007 (có hiệu lực từ ngày 15/12/2008) là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện ASEAN nói chung và pháp luật ASEAN nói riêng Hiến chương ASEAN cũng đã có

quy định về thẩm quyền của ASEAN trong việc “kí kết điều ước quốc tế với các nước hoặc các tổ chức và thể chế tiểu khu vực, khu vực và quốc tế” Sau khi Hiến chương

có hiệu lực, một số điều ước quốc tế mới cũng tiếp tục được kí kết như Hiệp định về quyền ưu đãi và miễn trừ của ASEAN, Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiến chương ASEAN năm 2010… Để điều chỉnh các hoạt động hợp tác ngoại khối, ASEAN cũng sử dụng những điều ước quốc tế ký kết với các đối tác bên ngoài như Hiệp định Khu vực thương mại tự do ASEAN – Australia - New Zealand (AANZFTA) năm 2009, Hiệp định về đối tác kinh tế toàn diện ASEAN và Nhật Bản (AJCEP) năm 2008 Với tính chất là công cụ pháp lí điều chỉnh các hoạt động hợp tác của ASEAN, pháp luật ASEAN có vai trò quan trọng góp phần đảm bảo hoà bình, ổn định và phát triển của mỗi thành viên nói riêng và của toàn khu vực nói chung

Như vậy, có thể hiểu pháp luật ASEAN là tổng thể nguyên tắc và quy phạm pháp luật do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ nội khối giữa các quốc gia thành viên ASEAN và quan hệ ngoại khối giữa ASEAN với bên thứ ba,

phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị-an ninh và văn hoá-xã hội

1.2 Phân loại pháp luật ASEAN

Với định nghĩa trên đây, có thể phân loại pháp luật ASEAN theo các tiêu chí sau đây:

Thứ nhất, căn cứ vào sự hình thành, pháp luật ASEAN bao gồm: Một là,

nguyên tắc, quy phạm pháp luật do các quốc gia thành viên ASEAN thỏa thuận xây

dựng nên; hai là, nguyên tắc, quy phạm pháp luật do các đối tác của ASEAN và ASEAN thoả thuận xây dựng và ba là, nguyên tắc, quy phạm do các thiết chế của

ASEAN ban hành

Thứ hai, căn cứ vào đối tượng điều chỉnh, pháp luật ASEAN bao gồm: các

nguyên tắc quy phạm điều chỉnh quan hệ kinh tế; các nguyên tắc quy phạm điều chỉnh

Trang 32

quan hệ chính trị - an ninh và các nguyên tắc quy phạm điều chỉnh quan hệ văn hóa -

xã hội

Thứ ba, căn cứ vào phạm vi điều chỉnh, pháp luật ASEAN được phân chia

thành hai nhóm, một là các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh quan hệ hợp tác nội khối của ASEAN và hai là, các nguyên tắc quy phạm điều chỉnh quan hệ hợp tác ngoại

khối của ASEAN

1.3 Đặc điểm của pháp luật ASEAN

Thứ nhất, quan hệ do pháp luật ASEAN điều chỉnh

+ Pháp luật ASEAN về nguyên tắc chỉ điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các nước thành viên ASEAN với nhau mà không điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia

thành viên cũng như quan hệ giữa ASEAN với các thực thể bên ngoài Hiệp hội Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu các đối tác bên ngoài, bao gồm cả các quốc gia và

tổ chức quốc tế, tham gia các văn kiện pháp lý của ASEAN trên cơ sở sự cho phép của các văn kiện này thì Pháp luật ASEAN sẽ điều chỉnh cả đối với các thực thể bên ngoài

Ví dụ, nhiều quốc gia không phải là thành viên của ASEAN như Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc đều là thành viên của Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (TAC)

+ Quan hệ pháp luật ASEAN phát sinh trong tất cả các lĩnh vực hợp tác, bao gồm kinh tế, chính trị – an ninh và văn hóa - xã hội

Thứ hai, sự hình thành pháp luật ASEAN

Pháp luật ASEAN hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các quốc gia thành viên theo cơ chế tham vấn và đồng thuận (Điều 20 Hiến chương ASEAN)

Ưu điểm của cơ chế này là đảm bảo cho tất cả các quốc gia trong ASEAN có quyền bình đẳng với nhau trong quyết định các vấn đề của ASEAN, đảm bảo cho ASEAN có thể tồn tại và phát triển theo định hướng “thống nhất trong đa dạng” trong suốt những năm qua Tuy nhiên, nguyên tắc này nhiều khi lại làm chậm tiến trình hợp tác của ASEAN Do sự đa dạng về thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế và nhiều nét khác biệt về văn hoá-xã hội giữa các quốc gia thành viên nên quá trình thương lượng để có sự đồng thuận của tất cả quốc gia thành viên thường kéo dài rất lâu, thậm chí quyết định hoặc văn bản quy phạm pháp luật không được thông qua khi thiếu sự đồng thuận của chỉ một quốc gia thành viên

Thứ ba, thực thi pháp luật ASEAN

Phụ thuộc vào nội dung hợp tác và phạm vi hợp tác, thực thi pháp luật ASEAN

là nghĩa vụ của các bên có liên quan, được thực hiện thông qua hoạt động của các quốc gia thành viên, các thiết chế cộng đồng và đối tác của ASEAN

Trang 33

Thực thi pháp luật ASEAN của các quốc gia ASEAN được thực hiện theo hai cấp độ, cấp độ quốc gia và cấp độ Hiệp hội

Ở cấp độ quốc gia, mỗi QGTV sẽ tự xây dựng cho mình cơ chế quốc gia để

thực hiện các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể đó Chẳng hạn, để thực thi các quy định về Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), các nước thành viên sẽ ban hành hệ thống các văn bản pháp luật quốc gia theo nhiều hình thức khác nhau, từ luật cho đến các văn bản dưới luật để cụ thể hóa những quy định của ASEAN vào pháp luật nước mình, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện những nghĩa vụ có liên quan Thực chất đây chính là quá trình nội luật hóa các cam kết quốc tế vào pháp luật quốc gia trên cơ sở rà soát, đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật liên quan đến việc thực hiện cam kết quốc tế để ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung những nội dung pháp luật trong nước không tương thích với cam kết quốc tế Đồng thời, mỗi quốc gia sẽ chỉ định một Cơ quan AFTA quốc gia với vai trò là cơ quan đầu mối của quốc gia để phối hợp thực hiện những nội dung pháp lý của Khu vực thương mại tự do ASEAN Cụ thể như tại Việt Nam, để thực hiện những quy định về cắt giảm thuế quan theo Hiệp định

về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định trong đó quy định Danh mục hàng hóa và thuế suất của Việt Nam trong mỗi giai đoạn như Nghị định số 82/CP ngày 13/12/1996 về việc ban hành Danh mục hàng hoá của Việt Nam để thực hiện cho năm 1997, Nghị định số 15/1998/NĐ-

CP ngày 12/3/1998 của Chính phủ về ban hành Danh mục hàng hoá của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN cho năm 1998; Nghị định số 78/2003/NĐ-CP ngày 01/7/2003 của Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hoá và thuế suất của Việt Nam để thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT của các nước ASEAN cho các năm 2003 – 2006… cùng với đó là một loạt các thông tư, quyết định hướng dẫn thực hiện các quy định của CEPT chủ yếu do Bộ Tài chính ban hành như như Thông

tư số 14/2006/TT-BTC ngày 28/02/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN; Quyết định số 09/2006/QĐ-BTC ngày 28/02/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành Danh mục hàng hóa và mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung… Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Công Thương là cơ quan giúp việc của Bộ trưởng và

là đầu mối phụ trách, điều phối các hoạt động của Cộng đồng kinh tế ASEAN, trong

đó có AFTA theo Quyết định số 142/QĐ-TTG ngày 31/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế làm việc và phối hợp giữa các cơ quan tham gia hợp tác ASEAN của Việt Nam

Trang 34

Ở cấp độ Hiệp hội, việc thực thi pháp luật được thực hiện thông qua các hoạt

động chức năng theo nhiệm vụ của các thiết chế ASEAN, cụ thể:

- Hội nghị cấp cao sẽ thực thi những biện pháp thích hợp để xử lí các tình huống khẩn cấp tác động tới ASEAN;

- Hội đồng điều phối thực thi các hoạt động được nêu trong Hiến chương hoặc những hoạt động khác do Hội nghị cấp cao chỉ thị

- Các hội đồng Cộng đồng đảm bảo việc triển khai các quyết định có liên quan của Hội nghị cấp cao

- Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng thực hiện các thoả thuận và quyết định của Hội nghị cấp cao trong lĩnh vực của mình

- Uỷ ban thường trực ASEAN thực thi các nhiệm vụ do Hội đồng điều phối ASEAN quyết định

Thứ tư, giám sát thực thi pháp luật

Theo quy định tại Hiến chương ASEAN và các Hiệp định chuyên ngành ký kết giữa các quốc gia thành viên, thẩm quyền giám sát, đảm bảo thực thi pháp luật ASEAN được quy định cho tất cả các thiết chế của Hiệp hội và những cơ quan chuyên ngành được thành lập riêng theo từng Hiệp định Nói cách khác, có thể phân chia cơ

quan có thẩm quyền đảm bảo thực thi pháp luật ASEAN thành hai nhóm, thứ nhất là những thiết chế của Hiệp hội với thẩm quyền giám sát chung và thứ hai là những cơ

quan được hình thành theo quy định của từng điều ước cụ thể và chỉ chịu trách nhiệm giám sát trong lĩnh vực thuộc điều ước đó

Ở nhóm thứ nhất, tất cả những cơ quan chính, từ Cấp cao ASEAN, Hội đồng điều phối, Hội đồng cộng đồng cho đến cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trường và Tổng thư ký ASEAN đều có thẩm quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật Cụ thể, Cấp cao ASEAN giám sát đối với việc thực hiện những quy định liên quan đến lợi ích của quốc gia thành viên hoặc mục tiêu của ASEAN hoặc những vấn đề quan trọng do các thiết chế khác của ASEAN đệ trình thông qua các kỳ họp chính thức được tổ chức 2 năm một lần và/hoặc cuộc họp bất thường/đặc biệt do quốc gia thành viên giữ chức Chủ tịch ASEAN chủ trìKhoản 2 Điều 7 Hiến chương ASEAN (Khoản 2 Điều 7 Hiến chương); Hội đồng điều phối giám sát việc tuân thủ các quy định, luật lệ của ASEAN

thông qua việc “xem xét báo cáo hàng năm của Tổng thư ký về các hoạt động của ASEAN” tại các cuộc họp được tổ chức ít nhất hai lần trong năm gồm Bộ trưởng Bộ

Ngoại giao các nước thành viên (Điểm e Khoản 2 Điều 8); Hội đồng Cộng đồng và cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng, phạm vi đảm bảo thực thi pháp luật được giới hạn trong những lĩnh vực thuộc nội dung hợp tác của Cộng đồng đó trên cơ sở giám sát và xem xét những báo cáo về tình hình thực hiện các thỏa thuận trong Cộng đồng của

Trang 35

mình do những cơ quan được thành lập theo từng thỏa thuận đệ trình lên; Tổng thư ký

ASEAN có thẩm quyền “theo dõi tiến độ thực hiện các thỏa thuận và quyết định của ASEAN, và đệ trình báo cáo hàng năm về các hoạt động của ASEAN lên Cấp cao ASEAN” (Khoản 2 Điều 11)

Nhóm thứ hai là những cơ quan được thành lập theo các Hiệp định chuyên ngành Thông thường, mỗi Hiệp định sẽ quy định một cơ chế đảm bảo thực thi riêng, trong đó, sẽ có một cơ quan được thành lập chịu trách nhiệm trực tiếp giám sát việc thực hiện đó Chẳng hạn, trong lĩnh vực kinh tế, theo quy định tại Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) 2009, Hội nghị quan chức kinh tế cấp cao (SEOM), với sự hỗ trợ của Uỷ ban điều phối việc thực thi ATIGA (CCA) sẽ đảm bảo thực thi hiệu quả Hiệp định này, đồng thời, Ban thư ký ASEAN sẽ hỗ trợ Hội đồng AEM và Hội đồng AFTA (một đại diện cấp Bộ trưởng được mỗi Quốc gia Thành viên đề cử và Tổng thư ký ASEAN) trong việc giám sát, hợp tác và rà soát việc thực hiện Hiệp định này cũng như cung cấp những hỗ trợ với tất cả các vấn đề liên quan và giám sát và thường xuyên báo cáo lên hội đồng AFTA về tiến trình thực hiện Hiệp định này (Điều

90 ATIGA)

Sự dàn trải nhưng lại thiếu chi tiết, thiếu cụ thể khi không quy định thẩm quyền

xử lý của các thiết chế trên trong trường hợp quốc gia thành viên có hành vi vi phạm

đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực thi pháp luật của các thành viên.9

2 Nguồn của pháp luật ASEAN

Từ những đặc điểm của pháp luật ASEAN và bản thân ASEAN, có thể thấy nguồn luật của ASEAN khá đa dạng Trên cơ sở khoa học luật tổ chức quốc tế và thực tiễn tồn tại của ASEAN, có thể phân chia nguồn của pháp luật ASEAN thành các nhóm sau đây:

- Nhóm 1: Điều ước quốc tế

Đây là văn kiện chứa đựng các thỏa thuận pháp lý được ký kết trước hết giữa các quốc gia thành viên ASEAN nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia trong các lĩnh vực hợp tác cũng như thiết lập khuôn khổ thể chế cho các hoạt động của ASEAN như Hiến chương ASEAN,Hiệp định khung về dịch vụ, Hiệp ước Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN… Các điều ước này là nguồn luật điều chỉnh quan hệ “nội bộ” của ASEAN

Bên cạnh đó, với tư cách là một chủ thể luật quốc tế, ASEAN cũng có tư cách độc lập tham gia vào các quan hệ quốc tế, trong đó, có quyền ký kết điều ước quốc tế với các thực thể hợp tác bên ngoài như như Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện

9 Xem: Phạm Hồng Hạnh (2016), Cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật của Liên minh châu Âu và một số kinh

Trang 36

ASEAN-Nhật Bản, Thỏa thuận khung về hợp tác thương mại và đầu tư ASEAN - Hoa

Kỳ… Đây là các điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ ngoại khối của ASEAN, trong

đó thiết lập các khuôn khổ hợp tác và xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế của ASEAN và các đối tác bên ngoài

- Nhóm 2: Các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của ASEAN thông qua Những văn bản này có bản chất giống như luật mềm, mặc dù không có giá trị pháp lý ràng buộc nhưng lại có ý nghĩa rất lớn đối với ASEAN trong việc định hình hoặc cụ thể hóa các nội dung hợp tác Đó là Khuyến nghị của các nhóm đặc trách cao cấp, Tuyên bố, Chương trình, Kế hoạch hành động, đặc biệt là các Tuyên bố chung sau các hội nghị của ASEAN trong các lĩnh vực hợp tác chính thức Những văn kiện này là

sự giải thích, làm sáng tỏ các nội dung pháp lý quy định trong các điều ước quốc tế ký kết trong khuôn khổ của ASEAN, đồng thời trong một số trường hợp là cơ sở hình thành nên các điều ước quốc tế giữa các nước thành viên ASEAN

Ngoài ra, với tư cách chủ thể luật quốc tế, bản thân mỗi quốc gia thành viên cũng như chính ASEAN còn phải tuân thủ các tập quán quốc tế chung - một trong các loại nguồn cơ bản của luật quốc tế

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khái quát sự hình thành và phát triển của ASEAN

2 Trên cơ sở mục đích hoạt động của ASEAN, hãy phân tích các đặc điểm của ASEAN

3 Trình bày các nguyên tắc hoạt động của ASEAN

4 Phân tích khái niệm pháp luật ASEAN

ĐỊNH HƯỚNG THẢO LUẬN

2 Bình luận về cơ cấu tổ chức của ASEAN

3 Bình luận về các nguyên tắc hoạt động của ASEAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO NGƯỜI HỌC

2 Tuyên bố về khu vực hoà bình, tự do và trung lập 1971 - ZOPFAN (Tuyên bố Kuala Lumpur)

3 Tuyên bố hoà hợp ASEAN 1976 (Tuyên bố Bali)

4 Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á 1976 (Hiệp ước Bali)

5 Nghị định thư sửa đổi Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á

1987

6 Hiệp ước về Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân 1995

Trang 37

7 Nghị định thư thứ hai sửa đổi Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam

Á 1998

8 Tuyên bố Singapore 1992

9 Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN 1992

10 Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN 2007, Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN 2007, Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN 2007

11 Kế hoạch tổng thể Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015, Kế hoạch tổng thể Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN 2015, Kế hoạch tổng thể Cộng đồng văn hóa –

xã hội ASEAN 2015

12 Website:

https://asean.org/

https://asean.thuvienphapluat.vn/?aspxerrorpath=/CMSTemplates/BlankAspx/Default.aspx

http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/ca_tbd/nr040819160321

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN

I KHÁI QUÁT

1 Khái quát quá trình hợp tác kinh tế của ASEAN

Mặc dù được thành lập từ năm 1967 nhưng do những lý do chính trị của khu vực cũng như nội bộ từng nước thành viên10 nên trong mười năm đầu tiên, gần như ASEAN chưa tiến hành bất kì hoạt động hợp tác kinh tế đáng kể nào ở cấp độ tổ chức

mà chỉ dừng lại ở một vài hoạt động hợp tác kinh tế đơn lẻ giữa một số nước thành viên với nhau

Sau Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất năm 1976, một số hoạt động hợp tác kinh tế chung giữa các nước thành viên đã được tiến hành, trong đó, đáng kể nhất là

Dự án công nghiệp ASEAN –AIPs 1976, Kế hoạch bổ sung công nghiệp – AIC 1981, các Liên doanh công nghiệp ASEAN – AIJV 1983 và việc ký kết Thỏa thuận ưu đãi thương mại thuế quan (PTA) 1977

Tuy nhiên, hợp tác kinh tế của ASEAN chỉ thực sự khởi sắc từ Hội nghị cấp cao lần thứ tư được tổ chức năm 1992 tại Singapore Nhiều văn kiện quan trọng trong lĩnh vực kinh tế đã được ký kết làm cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác kinh tế của Hiệp hội như Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN, Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN AIA (1998), Hiệp định khung về Hợp tác dịch vụ (1996), Hiệp định cơ bản về kế hoạch hợp tác công nghiệp ASEAN AICO (1996), Hiệp định khung ASEAN

về sở hữu trí tuệ, Nghị định thư về giải quyết tranh chấp kinh tế của ASEAN DSM (1996) Từ lĩnh vực trọng tâm ban đầu là hàng hóa, nội dung hợp tác kinh tế của ASEAN đã được mở rộng sang hầu hết những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế từ tài chính - ngân hàng, thương mại dịch vụ, hàng hóa, đầu tư cho tới khoa học – công nghệ, giao thông, thông tin liên lạc, sở hữu trí tuệ đồng thời, phản ánh những đặc thù trong cơ cấu kinh tế của các thành viên với hợp tác nông – lâm nghiệp, thủy sản, khai khoáng, hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng, thu hẹp khoảng cách phát triển

Trên cơ sở những thành tựu hợp tác kinh tế đã đạt được, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9 (Bali, Indonesia, tháng 10/2003) các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), một trong ba trụ cột để hình thành Cộng đồng ASEAN Theo đó, AEC là hình thức liên kết kinh tế tiếp nối cao hơn các

10 Xem: Morada, N M (2008), “ASEAN at 40: Prospects for community buidling in Southeast Asia”,

Asia-Pacific Review, Volume 15, No.1, p 1-37

Trang 39

chương trình hợp tác hiện có của ASEAN: “Cộng đồng kinh tế ASEAN thực hiện mục tiêu cuối cùng là hội nhập kinh tế như Tầm nhìn 2020 đã vạch ra, nhằm tạo ra một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng và cạnh tranh cao với sự tự do lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, vốn được di chuyển tự do hơn, phát triển kinh tế bình đẳng, giảm đói nghèo và khác biệt về kinh tế xã hội vào năm 2020”11 và “Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ biến ASEAN thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, biến sự đa dạng của khu vực thành những cơ hội phát triển kinh doanh, đưa ASEAN trở thành mắt xích năng động và mạnh mẽ hơn trong nền cung ứng toàn cầu”.12

Với những nỗ lực và quyết tâm chính trị to lớn của ASEAN cũng như các quốc gia thành viên (QGTV), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã được hình thành vào năm 2015, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong chương trình hội nhập kinh tế khu vực ASEAN, tạo ra một thị trường khổng lồ trị giá 2,6 nghìn tỷ USD và hơn 622 triệu người.13 Ra đời trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa đã và đang trở thành một xu thế tất yếu, liên kết kinh tế giữa các thành viên ASEAN có nguy cơ bị rạn nứt do sự bùng nổ của những hiệp định thương mại tự do cũng như phải đối mặt với sức ép cạnh tranh ganh gắt từ những nền kinh tế lớn trong khu vực, AEC được mong đợi sẽ tăng cường hơn nữa mức độ liên kết kinh tế của ASEAN, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên và góp phần hiện thực hóa mục tiêu về một Cộng đồng ASEAN đoàn kết, gắn bó

2 Cơ sở cho hoạt động hợp tác kinh tế của ASEAN

Ngược lại, xu hướng bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế

Cùng với xu thế toàn cầu hòa là xu thế khu vực hóa ngày càng trở nên phổ biến với sự ra đời của các liên kết kinh tế khu vực như Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực thương mại tự do châu Mỹ -Latin (MERCOSUR), Liên minh châu

Trang 40

Âu (EU)… nhằm tận dụng những lợi thế mà thương mại quốc tế mang lại Những yếu

tố này đã tác động đến ASEAN trên nhiều phương diện

Thứ nhất, thành công của các liên kết kinh tế khu vực đã minh chứng cho việc

thúc đẩy các hoạt động kinh tế giữa các nước thành viên, qua đó, tác động tích cực đến

sự phát triển kinh tế của từng thành viên trong đó Hơn nữa, đặc biệt, đối với những tổ chức quốc tế khu vực như Liên minh châu Âu, thành công trong hội nhập kinh tế vừa

là động lực, vừa là cơ sở để các thành viên tiếp tục mở rộng liên kết sang lĩnh vực chính trị - an ninh

Thứ hai, thành công của các liên kết kinh tế khu vực đi trước chính là những

kinh nghiệm để ASEAN tiến hành quá trình hội nhập kinh tế của mình Nhưng ngược lại, các liên kết kinh tế khu vực cũng tạo ra những sức ép không nhỏ đối với ASEAN.14 Bản chất của các liên kết kinh tế khu vực là hạn chế tiến tới xóa bỏ rào cản giữa các thành viên trong liên kết đó trong khi vẫn duy trì các rào cản thương mại với những thành viên bên ngoài, để qua đó, đạt được mục tiêu thúc đẩy thương mại nội khối giữa các thành viên Do đó, một liên kết khu vực ở cấp độ càng cao, tức là sự gắn kết giữa các nền kinh tế trong đó càng chặt chẽ, thương mại nội khối giữa các thành viên càng chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ trọng thương mại của cả khối liên kết đó Ngược lại, tỷ trọng thương mại ngoại khối, tức là thương mại với các nền kinh tế bên ngoài sẽ thấp Hệ quả là các nền kinh tế đơn lẻ bên ngoài phải đối mặt với sức ép cạnh tranh rất lớn khi muốn tiến hành những hoạt động kinh tế- thương mại với những thành viên trong liên kết khu vực Đối với ASEAN, sức ép này lại càng lớn khi đa phần các nước ASEAN đều không phải là những nền kinh tế lớn.15

Thứ ba, xu thế tự do hóa thương mại mạnh mẽ tại chính khu vực châu Á – Thái

Bình Dương trong khuôn khổ APEC với sự góp mặt của các nền kinh tế hàng đầu thế giới và khu vực như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc … cùng với ý tưởng

về việc thành lập một cộng đồng kinh tế Đông Á đã đặt ASEAN đứng trước hai lựa chọn hoặc là bị hoà tan trong APEC hay là một liên kết kinh tế Đông Á trong tương lai; hoặc là trở thành hạt nhân trong tiến trình hợp tác kinh tế Đông Á và không bị nhấn chìm trong APEC

Không chỉ sức ép từ các liên kết kinh tế khu vực, các nền kinh tế ASEAN còn phải đối mặt với sức ép từ chính các nền kinh tế trong khu vực Những thay đổi về chính sách mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các

14 Xem: Siow Yue Chia (2013), The ASEAN Economic Community: Progress,Challenges, and Prospects, Asian

Development Bank Institute, ADBI Working Paper Series, No.440, October 2013

15 Xem: Anuar Ariffior (2007) , MBA “The free trade doctrine, regionalism, the ASEAN Free trade area and

their effects on trade and trade policy”, Murdoch University, Western Australia,, p.219

Ngày đăng: 05/05/2020, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w