1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIAO TRINH CA VA BENH CA

67 298 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao Trình Cá Và Bệnh Cá
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Trường Đại Học Tây Nguyên
Chuyên ngành Chăn Nuôi Thú Y
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2008
Thành phố Buôn Ma Thuột
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận án PTS của Hà Ký, tác giả đã mô tả 120 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá trong cácthủy vực nước ngọt miền Bắc Việt Nam.Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, công tác nghiên cứu Bệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay, nuôi cá nói riêng và nuôi trồng thủy sản nói chung đang có sự chú ý vàquan tâm của các ban ngành Ở nhiều dự án, phát triển nuôi cá là một hợp phần rất quantrọng, góp phần đáng kể trong việc cải thiện đời sống người dân Trong lĩnh vực nuôi cákhông thể không quan tâm đến việc phòng trị bệnh cá, nhất là trong các ao nuôi thâm canh,mật độ quá dày, sử dụng nhiều thức ăn, phân bón

Nghiên cứu các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới đời sống, năng suất thủy vực vàphòng, trị bệnh cho cá là những vấn đề cơ bản của môn học “Cá và bệnh cá” - môn học chosinh viên ngành Thú y, trường Đại học Tây Nguyên Giáo trình này nhằm trang bị nhữnghiểu biết cơ bản về các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cá, phòng trị bệnh cá, nâng cao năngsuất cá nuôi trong các thủy vực Khi học xong người học có thể chỉ đạo, hướng dẫn kỹthuật và trực tiếp thực hiện các hoạt động nuôi cá

Đây là giáo trình được cấu tạo phù hợp với trình độ của sinh viên ngành thú y và kếhoạch, thời gian phân bố của Trường Nó dựa trên thành tựu của nhiều môn học, gần nhất

là môn Nuôi trồng thủy sản

Sau khi học, yêu cầu người học nhận thức được những vấn đề sau:

- Hiểu được những vấn đề cơ bản nhất của giáo trình, cách bố cục giữa các chương

và tính lôgich của chương trình

- Biết áp dụng những kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng bệnh lý của cáxảy ra trong các ao nuôi, biết phòng và trị bệnh cá, không ngừng nâng cao trình độ

kỹ thuật để góp phần giải quyết và nâng cao năng suất cá nuôi

Môn học này tại các trường khác bao gồm hai môn: Sinh thái học của cá và Bệnh học

cá Cả hai môn hiện nay được giảng ở nhiều trường trên thế giới Ở Việt Nam môn họcđược giảng ở Trường Đại học Thủy sản, Khoa Thủy sản trong các trường Đại học Nôngnghiệp trên cả nước, các Trường Trung cấp và cao đẳng thủy sản, các Viện Nuôi trồngthủy sản và một số ban ngành có liên quan

Tại Trường Đại học Tây Nguyên, giáo trình Cá và bệnh cá được soạn theo một kếtcấu riêng, phù hợp với yêu cầu môn học và phù hợp với sự phát triển của ngành thủy sảntrong giai đoạn hiện nay

Giáo trình chắc chắn có những thiếu sót, chúng tôi mong có sự góp ý của tất cảnhững người quan tâm đến nuôi trồng thủy sản nói chung và phòng trị bệnh cá nói riêng đểgiáo trình được ngày càng hoàn thiện

Tác giả

Trang 3

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Muốn nuôi cá đạt năng suất cao yêu cầu phải nắm được và tìm cách khắc phục các yếu

tố môi trường ảnh hưởng xấu đến đời sống cá, đảm bảo các yếu tố kỹ thuật tổng hợp nhưmôi trường nước sạch, số lượng, chất lượng con giống tốt, thức ăn đầy đủ, phòng bệnh vàđịch hại cho cá kịp thời Trong điều kiện ao nuôi do mật độ cá dày, thức ăn cho cá nhiều,phân bón dư thừa dễ gây ô nhiễm cho ao nuôi, vì vậy cá nuôi dễ bị mắc bệnh hơn cá ngoàicác thủy vực tự nhiên Trong thời gian qua bệnh cá liên tiếp xảy ra trong các ao nuôi củacác hộ gia đình gây ra những tổn thất lớn trong sản xuất nghề cá Để giúp cho người nuôi

cá tránh được những rủi ro về bệnh, cần phải trang bị kiến thức phòng và chữa bệnh cácho người nuôi Đây là các kiến thức được đúc kết từ những kinh nghiệm sản xuất và cáckết quả nghiên cứu trong một thời gian dài, hy vọng sẽ giúp cho những người quan tâm cóđược những hiểu biết cơ bản về cá và các bệnh cá đang xuất hiện trong các thuỷ vực, từ đó

có những biện pháp hữu hiệu để phòng trị

Đây là môn khoa học tổng hợp kế thừa thành tựu của nhiều môn học khác:

- Môn giải phẫu, phân loại, tổ chức mô phôi, sinh lý, sinh thái học của cá để làm cơ

sở đi sâu nghiên cứu phát hiện bệnh cá chính xác

- Môn học thủy lý, thủy hóa, vi sinh vật, đặc điểm sinh học của cá sẽ cung cấp đượcnhững kiến thức để xác định nguyên nhân gây bệnh cá

- Hiểu sâu đặc tính lý hóa học của thuốc sẽ có cơ sở sử dụng thuốc tốt hơn

- Kỹ thuật nuôi cũng là căn cứ để chữa bệnh cá có hiệu quả cao

Vì thế muốn nghiên cứu bệnh cá cũng cần phải tham khảo các môn học khác và hiểusâu về chúng

2 Lịch sử phát triển của khoa học cá và bệnh cá

Trên thế giới, nghề nuôi cá đã có từ lâu đời Khi con người biết nuôi cá đã chú ý đếnnăng suất cũng như sản lượng cá nuôi Tuy nhiên người ta chỉ chú ý đến thức ăn và chămsóc cá khi nuôi, ít người suy nghĩ đến việc phòng và trị bệnh cá Khoa học bệnh cá còn rấttrẻ, cuối thế kỷ 18 mới bắt đầu phát triển Đầu tiên các nhà khoa học chỉ phát hiện ra bệnh

cá và mô tả phân loại ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể cá, mãi cuối thế kỷ 19 vi khuẩn gâybệnh cá mới bắt đầu được nghiên cứu Thế kỷ 20 đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật lớnmạnh dần, các kết quả nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm ở cá đượccông bố ngày càng nhiều Kết quả nghiên cứu đã thu được những thành tựu đáng kể, đã tìm

ra nguyên nhân gây bệnh cho cá và có các biện pháp phòng trị hữu hiệu góp phần nâng caonăng suất cá nuôi Cuối thế kỷ 20 một số công trình nghiên cứu bệnh cá, tôm do vi rút, vikhuẩn gây ra đã được công bố

Ở Việt Nam, trước hòa bình lập lại ở miền Bắc 1954, một số nông dân đã biết nuôi

cá và phòng trị bệnh một cách đơn giản như dọn tẩy ao nuôi trước khi thả cá, vớt cá bột vềnuôi phải lọc cá dữ cá tạp

Sau 1954, đất nước bị chia làm hai miền, miền Bắc phát triển nuôi trồng thủy sản,đội ngũ cán bộ được đào tạo cả trong và ngoài nước Năm 1960, tổ nghiên cứu bệnh cá đầutiên được thành lập ở Việt Nam Công tác nghiên cứu bệnh cá phát hiện ra bệnh ký sinhtrùng mỏ neo và bệnh nấm thủy mi bắt đầu vào năm 1961 tại các ao nuôi thuộc thành phố

Hà Nội Năm 1968, công trình nghiên cứu bệnh cá đầu tiên ở nước ta được công bố với

Trang 4

luận án PTS của Hà Ký, tác giả đã mô tả 120 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá trong cácthủy vực nước ngọt miền Bắc Việt Nam.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, công tác nghiên cứu Bệnh cá dần dần tiếnvào trong Nam, Trường Đại học Thủy sản chuyển từ Hải phòng vào thành phố Nha trang

đã đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nghề cá cho các tỉnh phía Nam, trong đó

có cán bộ khoa học kỹ thuật nghiên cứu về phòng và chữa bệnh thủy sản Các cơ quanThủy sản, Viện nghiên cứu nuôi thủy sản được xây dựng và triển khai nhiều đề tài nghiêncứu bệnh thủy sản Trường Đại học Thủy sản đã có các công trình công bố về điều tra khu

hệ kỹ sinh trùng cá nước ngọt, cá biển một số tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miềnTrung Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I (Bắc Ninh) và Viện nghiên cứu nuôi trồngthủy sản II (Thành phố Hồ Chí Minh) nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng ký sinh ở cá nuôitại các thủy vực nước ngọt đồng bằng sông Cửu long Cuối thế kỷ 20, do yêu cầu của côngtác nuôi trồng thủy sản, các nghiên cứu hướng về bệnh thủy sản do vi rút, vi khuẩn gây ra,các nghiên cứu đã thu được những kết quả khả quan ban đầu, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứngđược những nhu cầu cấp bách hiện nay

3 Nhiệm vụ của môn học

-Phục vụ sản xuất nghề nuôi trồng thủy sản Trước đây với những hình thức nuôi quảngcanh, mật độ cá thưa, số lượng phân bón và thức ăn dư thừa trong các ao nuôi không nhiều,

sự ô nhiễm nước chưa đến mức độ báo động, cá ít mắc bệnh Hiện nay, với sự phát triểnnhanh chóng của khoa học kỹ thuật, việc nuôi thâm canh sẽ xuất hiện ngày càng nhiều, vấn

đề ô nhiễm môi trường thủy vực ngày càng phải quan tâm, dịch bệnh ở thủy sản sẽ ngàycàng nghiêm trọng Những hiện tượng mất mùa cá nuôi do dịch bệnh diễn ra ở khá nhiềunơi Vì vậy phòng và trị bệnh thủy sản ngày càng là công việc cấp thiết và quan trọng.-Tổng kết các công trình nghiên cứu, áp dụng vào phòng và trị bệnh cho cá để đáp ứng yêucầu ngày càng cao của sản xuất đồng thời nâng cao trình độ môn học kịp với các ngànhkhoa học khác

Trang 5

CHƯƠNG 1:

YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỜI SỐNG CÁ VÀ MỘT

SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI CÁ NUÔI

BÀI 1: MỘT SỐ YẾU TỐ VÔ SINH TRONG NƯỚC

1 Đặc điểm của hoạt động nuôi cá

1.1 Tiêu chí đối với các loài cá nuôi:

Cá chóng lớn, thịt ngon, được nhân dân ưa chuộng, giá rẻ, có sức chịu đựng vớibệnh tật

Cá sinh sản tự nhiên hoặc có thể đẻ nhân tạo được, thích nghi với điều kiện của địaphương về điều kiện khí hậu, về điều kiện môi trường nước và điều kiện kinh tế, xã hội.Thức ăn đơn giản, rẻ tiền, phù hợp địa phương

Tận dụng các mặt nước hoang hoá để nuôi cá và chuyển biến tập quán thả cá củadân sang nuôi theo quy trình kỹ thuật, áp dụng các biện pháp kỹ thuật để không ngừngnâng cao năng suất, tạo nhiều thực phẩm tươi sống cho người dân tại chỗ, tăng thu nhậpcho họ

1.2 Các công việc chủ yếu:

- Có mong muốn thành thạo nghề nuôi cá, có tính kiên trì, cẩn thận

2 Nước, các yếu tố môi trường nước, quan hệ của chúng với thủy sinh vật

Mỗi cơ thể, quần thể loài sinh vật bất kỳ, kể cả con người đều sống dựa vào môitrường đặc trưng của mình, ngoài mối tương tác đó sinh vật không thể tồn tại được Môitrường ổn định, sinh vật sống ổn định và phát triển hưng thịnh, khi môi trường suy thoáisinh vật giảm cả về số lượng lẫn chất lượng Nếu môi trường bị phá hủy thì sinh vật cũng

bị phá hủy theo Có nghĩa là sinh vật sống trong môi trường phải chịu ảnh hưởng của môitrường, khi có một yếu tố của môi trường thay đổi thì sinh vật trong môi trường sẽ chịu ảnhhưởng của sự thay đổi đó Theo bản chất của tác nhân trong môi trường có thể chia thành

Trang 6

Ảnh hưởng của con người đến sinh vật: kỹ thuật nuôi, khai thác, thuần hóa

Các tác nhân khác nhau thích nghi với môi trường khác nhau Có loài thích ứngrộng, có loài thích ứng hẹp Mỗi sinh vật có một kiểu trao đổi chất đặc trưng và xác định,không có trao đổi chất thì sinh vật không thể tồn tại Nếu như một nhân tố môi trường thayđổi phá vỡ sự cân bằng của trao đổi chất thì sinh vật đó hoặc là phải tự ghép mình vàonhững điều kiện thuận lợi nhất của môi trường hay phải thay đổi tính chất trao đổi chất.(Thí dụ: ếch nhái hình thành từ lớp cá khi khô cạn) Tuy nhiên các yếu tố môi trường ảnhhưởng đến sinh vật không giống nhau ở tất cả mọi điều kiện thay đổi, chúng ta lần lượt xétmột vài yếu tố chính Trước hết phải nói đến môi trường của thủy sinh vật, đó là nước

2.1 Nước-môi trường sống của thủy sinh vật

Trọng lượng riêng của băng nguyên chất ở O0C là 0,9168 nhẹ hơn nước ở cùngnhiệt độ (0,99987) khoảng 8,5% Điều này giải thích sự trôi của các tảng băng trên nước,thủy sinh vật có khả năng sinh sống ở tầng dưới băng vì nước có khả năng thu nhiệt và tỏanhiệt Trọng lượng riêng của nước đạt cực đại là 1 ở 3,980C, vượt quá nhiệt độ đó, nước

nở ra và tỷ trọng của nước giảm đi một cách tuyến tính với sự tăng nhiệt

Tỷ trọng của nước còn tăng gần như tuyến tính theo sự gia tăng của hàm lượng cácmuối hòa tan Độ muối của phần lớn các vực nước ngọt nằm trong khoảng 0,01-1,00g/l,thường giữa 0,1-0,5g/l Độ muối cũng làm giảm nhiệt độ của nước Càng xuống sâu áp lựccủa nước càng tăng, mỗi loài thủy sinh vật chỉ thích ứng với một áp lực nhất định Thí dụ:

cá Chép ở 100atm cá sống bình thường, 200atm cá bất động và 300 atm cá chết Áp lựccòn gây biến đổi hệ thống sol và gen, trong thí nghiệm người ta còn thấy nó có thể thay đổigiới tính

Bảng 1: Sự biến đổi của tỷ trọng (g/ml) của nước chứa muối

Nước còn là một dung môi hòa tan nhiều chất hữu cơ và vô cơ thành một môitrường dinh dưỡng cung cấp cho thủy sinh vật

Nước có độ dẫn điện và truyền âm cao Nước là một chất điện ly lớn nên cân bằng

áp suất thẩm thấu của thủy sinh vật với môi trường nước dễ dàng

Nước luôn trong trạng thái vận động theo cả chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang,mang theo thức ăn trực tiếp và gián tiếp cho thủy sinh vật, cung cấp nhu cầu ôxy, điều hòanhiệt độ, độ mặn, khí hòa tan trong nước, Ngoài ra dòng chảy còn ảnh hưởng tới di cưdinh dưỡng và di cư kiếm mồi, nhất là những loài cá sinh sản cần có dòng chảy

Trang 7

Bên cạnh những tính chất của nước có ý nghĩa rất quan trọng tới đời sống thủy sinhvật thì nền đáy cùng với nước là tác nhân xác định hay chuyển động sinh vật trong thủyvực Nếu nền đáy không ổn định gây nên sự xáo trộn thủy sinh vật đáy về dinh dưỡng, vềsinh trưởng, một số loài cá sinh sản vùi trong đáy nếu nền đáy không ổn định dễ làm trứng

bị phá hủy hoặc lơ lửng trong nước

Tính chất của nền đáy còn ảnh hưởng tới sự chuyển động của sinh vật đáy, khảnăng bám, kiếm mồi của chúng, song chất đáy không những ảnh hưởng tới sinh vật đáy màcòn ảnh hưởng tới các thủy sinh vật sống trong các tầng nước khác, thí dụ: nền đáy bị xáotrộn các loài cá ăn trôi nổi dễ bị nổi đầu do thiếu ô xy Chất đáy còn ảnh hưởng tới khảnăng cung cấp thức ăn cho các loài cá ăn thực vật cỡ lớn

Tính chất quan trọng của nền đáy là kích thước các hạt, độ đậm đặc và bền vữngtrong sự sắp xếp của chúng, khả năng giữ các chất lắng đọng, sự bào mòn bởi dòng chảy

2.2 Nhiệt độ nước

Nguồn nhiệt lớn nhất nước nhận được là từ mặt trời, sau đó là sự phân hủy các hợpchất hưũ cơ có trong nước

Trên hành tinh khoảng nhiệt tồn tại là 10000C, song sự sống chỉ có mặt từ -200 đến

1000C Đa số các loài thủy sinh vật hẹp nhiệt (0 -500C), một số vi sinh vật và tảo ở suốinước nóng có khả năng chịu được khoảng 80-880C, một vài loài côn trùng sống ở 520C

Nhiệt độ nước ổn định hơn nhiệt độ không khí và thường thấp hơn do đó thủy sinhvật hẹp nhiệt hơn sinh vật trên cạn

Nhiệt độ trong hành tinh phân bố trong các vực nước khác nhau do nguyên nhân vềyếu tố địa lý (vĩ độ), khí hậu (ngày đêm, mùa, năm)

Nhiệt độ trong thủy vực còn phân bố theo tầng do nguyên nhân sự truyền nhiệt củanước kém

Do sự xáo trộn của các khối nước mà mỗi nơi, mỗi thời điểm có sự phân bố đặctrưng, có loài ưa ấm, có loài ưa lạnh, có loài rộng nhiệt, có loài hẹp nhiệt.Ở các vùng ônđới và nhiệt đới ở lớp nước sâu nhiệt độ thấp và ổn định hơn lớp mặt., giới hạn -1,7 đến -

20C Nhiệt độ tầng mặt biến đổi theo nhiều yếu tố: nhiệt đới 26-270C, ôn đới 13-140C, ởcực 00C Ở vùng cực sự phân bố nhiệt độ theo tầng ngước với hai vùng trên

Như vậy vùng ôn đới sự giao động nhiệt ở tầng mặt lớn hơn

Trong giới hạn sinh thái của mình, ở những loài ưa lạnh các quá trình sinh lý đượcđẩy mạnh trong điều kiện nhiệt độ thấp, khi nhiệt độ nước nâng cao, các quá trình đó giảm

và đi tới đình chỉ, ở những loài ưa ấm bức tranh trên ngược lại

Riêng cá là loài biến nhiệt nên quá trình hình thành nhiệt hay tích tụ (thải nhiệt)thấp hơn so với các loài sinh vật đồng nhiệt và nhiệt độ phát triển liên quan chặt chẽ đếnmôi trường Thí dụ: cá chép 1,05kg trong một ngày đêm thải ra 10,2 kgCal/kg cơ thể dướidạng nhiệt, con sáo 0,75kg trong một ngày đêm thải ra 240 kgCal/kg cơ thể

Nhiệt độ nước cần thiết cho sự phát triển của thủy sinh vật, trao đổi chất được tăngcường khi nhiệt độ tăng song đến một nhiệt độ nào đó quá giới hạn cho phép thủy sinh vậtlại ngừng trao đổi chất và ngoài giới hạn cho phép thủy sinh vật bị chết Như vậy mỗi loài

có một giới hạn nhiệt độ nào đó (ngưỡng nhiệt độ) và có một nhiệt độ cực thuận cho thủysinh vật phát triển, quá nóng cá men bị phá hủy, quá lạnh dịch bị đông và thủy sinh vật sẽchết

Khi cá đẻ có một nhiệt độ cực thuận, ngoài giới hạn sinh thái trứng sẽ bị ung hoặc

cá nở sẽ bị dị hình Như vậy nhiệt độ ảnh hưởng đến sự chín mùi của tế bào sinh dục,

Trang 8

không những đẩy nhanh quá trình chín mùi của thủy sinh vật mà còn ảnh hưởng đến cấutrúc hiển vi và thành phần hóa học của trứng cá.

Sự thích nghi với sự biến đổi của nhiệt độ còn được thể hiện ở những dấu hiệu hìnhthái của thủy sinh vật như các dạng hình của động vật nổi trong mùa đông và mùa hè hoặc

sự di cư của thủy sinh vật

Tất nhiên sự biến đổi nhiệt độ nước còn ảnh hưởng tới các điều kiện vật lý, hóa họccủa nước mà những yếu tố này tác động trực tiếp đến đời sống sinh vật Sự thay đổi nhiệt

độ ảnh hưởng đến cường độ trao đổi chất của cá liên quan đến tác dụng độc của của cácchất lên cơ thể cá

Nói chung nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thủy sinh vật, nó có tính chấtquyết định đến đời sống của thủy sinh vật, chế độ của nước quyết định đến sự phân bố củasinh vật theo độ sâu, theo vĩ độ, theo mùa, ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản của tất cảcác loài thủy sinh vật

có bước sóng dài, tương đối ổn định với những tia có bước sóng ngắn

Bức xạ mặt trời tác động thủy vực không hòan tòan xâm nhập vào nước mà phản xạlại khí quyển một cách đáng kể Mức phản xạ (R) của ánh sáng trực tiếp không phân cựcđược biểu diễn bởi phương trình:

1 sin2(i - r) tg2(i - r)

R = - { - + -}

2 sin2(i + r) tg2(i + r)Trong đó: i là góc tia tới, r là góc khúc xạ

Hàm này chỉ ra rằng mức độ phản xạ phụ thuộc vào độ nghiêng của mặt trời so vớimặt đất Ví dụ: khi mặt trời lên cao khỏi đường chân trời 100 so với mặt đất thì lượng phản

xạ tăng từ 10 - 40%, ngược lại mặt trời lên cao 400 thì lượng phản xạ chỉ còn 8- 10%, ởvùng xích đạo tia chiếu thẳng góc đã cung cấp nguồn bức xạ lớn và tương đối ổn định, rakhỏi vùng này bức xạ thay đổi luân phiên theo vùng khí hậu, ở đỉnh cực của trái đất nănglượng trực tiếp của mặt trời giảm đến số 0 quá 1/3 thời gian trong năm Do vậy các thủyvực ở vùng cực chỉ nhận được nguồn bức xạ từ các nguồn gián tiếp Bức xạ gián tiếp từbầu trời xuống mặt nước cũng bị phản xạ lại khí quyển nhưng ở mức độ nhỏ hơn, nó phụthuộc vào điều kiện bầu trời, ví dụ trời u ám lượng áng sáng phản xạ lại khí quyển tà thủyvực giảm, giá trị trung bình mất đi do phản xạ gián tiếp khỏang 6,5%, lượng này có thểthấp đi do địa hình

Khi mặt nước bị xáo trộn sự phản xạ ánh sáng tăng lên, khi góc tia tới thấp vàokhoảng 50 thì phản xạ 20%, góc tia tới lớn hơn 50 đến 100 thì phản xạ 10% song phản xạ lạinhỏ đi khi tia tới lớn hơn 150 Sóng lớn sự phản xạ chỉ giảm đi đôi chút vì áng sáng chiếuvào gần vuông góc với thành sóng

Ánh sáng ở phần đỏ của quang phổ phản xạ lớn hơn so với các tia có tần số caonhất là ở góc chiếu thấp

Trang 9

Sự tán xạ trong nước

Sự tán xạ trong nước làm nước mất đi một năng lượng đáng kể, ở các vực nướctrong, khi ánh sáng chiếu xuống thẳng góc, tức là loại trừ ánh sáng phản xạ thì một bộ phậncủa nó bị các chất lơ lửng trong nước hấp thụ, còn bộ phận khác bị tán xạ Sự tán xạ nănglượng ánh sáng cũng có thể xem xét đơn giản như sự phản xạ tổng hợp từ cấu trúc dày đặccủa góc chiếu ngay trong thủy vực Năng lượng tán xạ thay đổi theo số lượng các phần tửcác chất hữu cơ lơ lửng và những đặc tính quang học của chúng, biến động theo độ sâu,theo mùa Thí dụ: các vật liệu Silic gây tán xạ kém hơn so với các chất lơ lửng đục Ởnhững nơi giàu chất lơ lửng gồm cả Phytoplankton, mức độ tán xạ tăng Trong nước rấtsạch, ánh sáng tán xạ xuất hiện ở dải xanh của quang phổ nhìn thấy Khi nước giàu chất lơlửng và kích thước của chúng tăng lên thì bức xạ sóng dài bị tán xạ nhiều hơn, còn ánhsáng có bước sóng ngắn lại bị hấp thụ nhiều hơn Ở nơi nước cứng, giàu CaCO3 thì ánhsáng tán xạ là ánh sáng lam, còn các vùng nước giàu chất hữu cơ thì ánh sáng tán xạ thuộcdải lam vàng lại chiếm ưu thế

Sự tán xạ ánh sáng được coi như là nguồn năng lượng bổ sung cho quá trình quanghợp của tảo và các hoạt động cần ánh sáng khác của sinh vật Số lượng ánh sáng tán xạ cóthể đạt đến 25% lượng ánh sáng được hấp thụ Một bộ phận lớn ánh sáng tán xạ cũng quaytrở lại mặt nước và có đến 80-90% tổng lượng bức xạ trở lại khí quyển

Sự truyền ánh sáng và hấp thụ ánh sáng trong nước

Tổng năng lượng bức xạ chiếu xuống nước thì 97% phản xạ lại khí quyển, phần rấtnhỏ xâm nhập vào nước và bị hấp thụ nên tán xạ giảm đi rất nhanh theo độ sâu rồi tắt hẳn

Sự hấp thụ được coi như sự giảm của năng lượng do biến đổi thành nhiệt Nói chung ở lớpnước dày 1m thì có tới 53% tổng năng lượng ánh sáng biến đổi thành nhiệt

Hệ số suy giảm chung bao gồm sự suy giảm gây ra do nước, sự hấp thụ của các phân

tử lơ lửng, đặc biệt là các phân tử mang màu Ở nơi nước sạch những phân tử lơ lửng ít ảnhhưởng lên sự hấp thụ Nơi nước xáo trộn sự hấp thụ cũng tăng rất đáng kể

Nước tự nhiên giàu chất hữu cơ, nhất là a xit humic, chúng gây ảnh hưởng lớn đến sựhấp thụ chung của nước Thường ánh sáng của phần hồng ngoại và đỏ bị hấp thụ mạnh tạonên hiệu suất nhiệt cao ở lớp nước bề mặt sâu 1m Ở nước cất tia cực tím bị hấp thụ nhiềulên đáng kể

Sự truyền và hấp thụ ánh sáng trong nước có thể tiếp cận bằng nhiều cách: đơn giản

là phương pháp của EA Birge, liên quan đến cường độ chiếu sáng trên cơ sở công thức: (I0

- Iz)/I0 x 100

trong đó I0 là cường độ ánh sáng trên mặt nước

Iz là cường độ ánh sáng ở độ sâu z mét

Màu nước và độ trong

Màu quan sát được của nước là kết quả của sự tán xạ của nước lên phía trên sau khi đã

đi qua những độ sâu khác nhau và qua sự hấp thụ có chọn lọc trên đường đi

Những tia sáng có bước sóng ngắn chiếm ưu thế khi quan sát, vì vậy ánh sáng chúng taquan sát được thường thấy là màu lam Keo CaCO3 rất phổ biến ở vực nước cứng, gây tán

xạ ánh sáng lục và lam làm cho nước có màu xanh lam đặc trưng Số lượng lớn các chất vô

cơ có ở trong nước phát ra màu nâu Màu được đo bằng các thang màu tiêu chuẩn

Độ trong của nước

Trang 10

Để xác định độ trong của nước người ta dùng đĩa Secxi do nhà khoa học Ý Secchi đềxuất Theo phương pháp này người ta quan sát bằng mắt thường tại một điểm mà ở đĩ mộtđĩa trắng mất khỏi tầm nhìn khi cho đĩa chìm xuống hay đĩa bắt đầu xuất hiện khi ta kéođĩa từ tầng sâu khơng nhìn thấy lên Tuy nhiên việc đo độ trong bằng đĩa secxi khơng cho

ta khả năng xét đến sự phân bố ánh sáng trong nước và thể hiện nĩ về mặt số lượng Độtrong Secxi chính là hàm của sự phản xạ ánh sáng từ mặt đĩa nên bị ảnh hưởng do đặc tínhhấp thụ của nước

Ảnh hưởng của ánh sáng đến cá

Đối với cá, thức ăn trong thủy vực (cụ thể là thực vật phù du) sinh sản và phát triểnđược chủ yếu do quá trình quang hợp dưới tác động của ánh sáng mặt trời Nếu khơng cĩánh sáng mặt trời những loại thức ăn cĩ diệp lục khơng thể tồn tại và sinh sản Như vậytrong quá trình tạo hợp chất hữu cơ trong thủy vực ánh sáng cĩ vai trị rất lớn Aïnh sángảnh hưởng đến tăng trưởng động vật ít hơn thực vật song người ta đã quan sát thấy cáNgạnh Canađa hoạt động tích cực vào ban đêm và sinh trưởng tốt nhất trong điều kiện tốihồn tồn, sự lột xác của cua Gecacinus xảy ra khi ánh sáng liên tục

Cơ quan cảm giác ánh sáng là mắt Aïnh sáng ảnh hưởng tới sự di động, phân bốcủa thủy sinh vật theo độ sâu, đặc biệt với thực vật quang hợp Chính vì cĩ hiện tượngquang hợp mà ơ xi trong thủy vực được cung cấp khá nhiều Sự phân chia các loại thực vậttheo tầng nước kéo theo sự phân chia tầng dinh dưỡng của động vật trong nước Ở cá ánhsáng cần thiết cho hoạt động bắt mồi, trốn tránh kẻ thù, tìm hướng chuyển động

Như trên đã nĩi cơ quan cảm giác ánh sáng của cá là mắt nên ở tầng đáy khơng cĩánh sáng chiếu mắt cá khơng phát triển Những lồi sống trong hang tối, mắt cĩ thể chuyển

từ trạng thái phát triển sang mù

Ngồi tác động lên mắt cá, ánh sáng cịn cĩ những tác động khác lên đời sống của

cá như thiếu ánh sáng thì cĩ hiện tượng thiếu sinh tố

Ánh sáng cịn cĩ tác động lên khả năng sinh sản của các lồi cá Ánh sáng đẩynhanh quá trình phát triển và ảnh hưởng đến quá trình chín sản phẩm sinh dục

Những cá thể được chiếu sáng liên tục thì sản phẩm sinh dục chín nhanh hơn những

cá khơng được chiếu sáng liên tục Aïnh sáng cịn là tín hiệu tìm mồi, hoạt động sinh sản

Di động ngày đêm của cá cũng gắn liền với điều kiện ánh sáng Aïnh sáng cĩ liênquan đến sự biến đổi màu sắc của cá, hướng vận động của cá.Phần lớn sinh vật cĩ tínhhướng quan, thấy ánh sáng là tới, vì tính hướng quan này nên trong khai thác cá người ta

đã lợi dụng để thu hoạch

Khi xét đến ánh sáng chúng ta khơng thể bỏ qua một hiện tượng của sinh vật Đĩ

là sự phát quang.Ở biển hiện tượng này thấy rõ, song ở nước ngọt hiện tượng phát quang rất ít gặp, chỉ cĩ ốc Lania và một vài vi khuẩn khác Ở độ sâu trên 40m đa số sinh vật phát quang Aïnh sáng do sinh vật phát quang là ánh sáng lạnh vì năng lượng là quang năng, đa

số các loại ánh sáng do sinh vật phát quang cĩ màu xanh lá cây Ý nghĩa sinh học của hiện tượng này vẫn chưa được giải thích chính xác Đa số phát quang để báo hiệu cho sinh vật khác giới trong thời gian phát dục hay để bắt mồi hoặc để tự vệ Một số lồi phát quang chỉ

là hiện tượng phụ trong quá trình ơ xi hĩa

2.4 Muối hịa tan trong nước

Trong tự nhiên khơng cĩ mơi trường nào khơng cĩ muối hịa tan Nước trước khiđổí vào thủy vực đã đi qua các lớp đất hịa tan một số muối trong đất Do cĩ lượng muốihịa tan này nên sự sống của sinh vật trong thủy vực được đảm bảo

Người ta chia muối hịa tan trong nước thành hai nhĩm lớn: muối dinh dưỡng vàmuối mặn Muối dinh dưỡng gồm các muối chứa nitơ, phốtpho, lưu huỳnh và một số ion

Trang 11

Ca++, Mg++ có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ thể và phát triển của thủy sinhvật Trong nước mặn ion Cl- chiếm 88,8% trong tổng số các muối hòa tan trong nước,trong nước ngọt lượng muối mặn này chỉ chiếm 6,9%o.

Độ mặn biểu thị bằng %o (phần nghìn: số gam muối trong 1 lít nước) Theo độ mặnchia nước ra 4 nhóm: nước ngọt 0,2 %o -0,5 %o; nước lợ 0,5%o - 30%o; nước mặn 30%o -40%o; nước quá mặn trên 40%o Các vùng gần biển có thể có hai khu hệ cá nước ngọt,nước biển và có cả khu hệ cá nước lợ Ngược lại vùng nước ngọt rất ít thủy sinh vật nướcngọt ra sinh sống

Những loài thủy sinh vật chịu được sự giao động nồng độ muối lớn gọi là thủy sinhvật rộng muối và ngược lại những loài chỉ chịu được sự giao động nồng độ muối nhỏ gọi làthủy sinh vật hẹp muối Nhiều loài cá nước ngọt thuộc bộ cá Chép hẹp muối, không chịuđược nồng độ muối ở biển Cá rô phi là bọn rộng muối, cúng sống được cả nước ngọt, lợ

và mặn Một số loài thủy sinh vật có từng giai đoạn sống ở các vùng mặn, ngọt khác nhau,thí dụ cá Mòi, cá Cháy sống ở biển nhưng vào cửa sông hoặc nước ngọt khi sinh sản

Các muối khoáng hòa tan trong nước được thấm qua màng mang, xoang miệng vàđường tiêu hóa vào cơ thể Song nồng độ muối khoáng hòa tan trong nước chỉ ở một giớihạn nhất định nào đó thì cơ thể thủy sinh vậtï sinh trưởng mới tốt được, nếu tăng nồng độmuối lên quá cao thì sinh trưởng của thủy sinh vật lại không tăng nữa hoặc ngừng lại, đóchính là ngưỡng muối của thủy sinh vật Muối hòa tan trong nước làm thức ăn cho các loạisinh vật làm thức ăn cho cá, tôm và các động vật là đối tượng nuôi Do đó khi nồng độmuối hòa tan trong nước tăng lên thức ăn cho cá phát triển thì khối lượng cá sẽ tăng lêntương ứng Tuy nhiên mối quan hệ này không phải lúc nào cũng tỉ lệ thuận, nó phụ thuộcvào quan hệ thức ăn trong thủy vực

Trong thực tế ở các ao nuôi người ta thường bón phân để tăng lượng muối dinhdưỡng hòa tan trong nước hoặc làm thức ăn trực tiếp cho các đối tượng nuôi Tại các hồkhông bón phân ở Đắc Lắc hàm lượng muối dinh dưỡng là 1mg/l, trong khi đó ở các aoương do được bón phân nên chỉ có nồng độ NH4+ đã đạt 0,8mg/l, PO4- - - đạt 0,8mg/l(Nguyễn Trọng Nho)

Nồng độ muối khoáng có ý nghĩa kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển và tăngtrưởng của thủy sinh vật Thí dụ: nồng độ sắt 0,1mg/l kích thích sự phát triển của cá, nồng

độ 0,2mg/l kìm hãm sự sinh trưởng

Nhiệt độ càng cao tác hại của muối càng tăng; khi cá bị độc sắt tức là toàn bộ mang

cá bị một màng sắt dày đặc bao phủ, cá hô hấp rất khó Ngày nay người ta tìm ra 100 chấthòa tan trong nước có thể gây độc cho thủy sinh vật ở các nồng độ nhất định nào đó tùytheo từng chất và từng loài thủy sinh vật Tác động độc đối với thủy sinh vật phụ thuộc vàothời gian, thời điểm, thường vào mùa hè thủy sinh vật sinh trưởng tốt là mùa các chất độc

có tác hại nhiều hơn Các ion SO4- - có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phân cắt trứng, làmmất cân bằng trao đổi chất bình thường Phênol làm tê liệt hệ thần kinh của cá và gây hiệntượng tiêu huyết

Người ta đã xây một hệ thống lọc sau các công trình công nghiệp có nước thải đểngăn chặn các chất độc làm ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến đời sống cá

2.5 Các chất khí hòa tan trong nước

Trong nước các chất khí hòa tan có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thủy sinh vật.Nguồn gốc của các chất khí hòa tan trong nước bao gồm:

-Từ không khí hòa tan vào (CO2, O2, N2), thông thường trong không khí có chất gìthì trong nước có chất ấy nhưng nồng độ khác nhau

-Sinh ra trong quá trình chuyểún hóa vật chất trong thủy vực (CO2, CH2)

Trang 12

-Sinh ra từ lớp đất sâu trong quá trình phân giải các chất khí do nhiệt độ cao và áplực lớn (CO2, NH3, H2S, HCl )

Các chất khí hòa tan trong nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt độ, hệ số hấpphụ và một số yếu tố khác Độ hòa tan được xác định theo công thức:

1000 x P x k V: thể tích khí hòa tan trong nước

V = - (k: hệ số hấp phụ)

760 P: áp suất không khí trên bề mặt tiếp xúc

Trong nước có nhiều chất khí hòa tan nhưng ảnh hưởng chính đến thủy sinh vật cómột số chất, trong giới hạn chương trình chúng ta cần xét đến các chất: O2, CO2, CH4, H2S

2.5.1 Khí O 2

Ô xy là một trong những chất có ý nghĩa sinh thái lớn đối với thủy sinh vật "Cuộcđấu tranh giành sinh tồn trong thủy quyển là cuộc đấu tranh giành ô xy" Đó là lời nói củaviện sỹ hàn lâm khoa học Liên xô V.I.Vrenatski (1960) Đúng thế, ô xy trong nước ít hơnnhiều so với trong không khí Nguồn cung cấp ô xy vào nước là do sự xâm nhập của ô xytrong khí quyển và sự quang hợp của thực vật có diệp lục dưới ánh sáng mặt trời Ngoài ra

ô xy được tăng cường do gió, do dòng chảy

Sự hao hụt ô xy trong nước do chính các động vật trong nước thực hiện qúa trình

hô hấp, do sư khuếch tán vào khí quyển và sự ô xy hóa các chất

Hệ số hấp thụ ô xy bởi nước ở 00C là 0,04898 Do vậy ở hàm lượng chuẩn của nótrong khí quyển (210ml/l) thì trong 1lít nước sẽ hòa tan được: 210 x 0,04898 = 10,29mgO2

Hàm lượng ô xy trong nước thay đổi theo sự hô hấp của động vật, sự quang hợpcủa thủy sinh vật, độ muối và nhiệt độ trong nưóc, sự xáo trộn các dòng nước Vì vậy nên

có sự phân tầng ô xy trong các thủy vực nước sâu vào ngày có ánh sáng, tầng sâu ô xy ít vàthường thiếu hơn tầng trên mặt nước, sự giảm ô xy vào các giờ không có ánh sáng mặt trời:5-7 giờ sáng và sự giàu ô xy vào các giờ: 15-15 giờ Khi đô ümuối và nhiệt độ tăng hàmlượng ô xy giảm đi rõ rệt Khi có sự xáo trộn nưóc ô xy tăng

Bảng 2: Độ hòa tan của ô xy khi thay đổi nhiệt độ và độ muối

Nhiệt độ Độ muối (%o)

Nhóm đòi hỏi nhiều ô xy: 7-11cm3/l, đại diện là cá Bống Cottus gobio

Nhóm đòi hỏi ô xy khá lớn: 5-7cm3/l, đại diện là cá Bống Gobio gobio

Nhóm đòi hỏi ô xy tương đối ít: 4cm3/l, đại diện là cá Vược Perca perca

Nhóm đòi hỏi ô xy ít: 0,5cm3/l, đại diện là cá Chép Cyprinus carpio

Trang 13

Nhu cầu ô xy của cá thay đổi theo từng giai đoạn sống và tình trạng sinh lý cơ thể,thí dụ thời kỳ phôi thai nhu cầu ô xy là lớn nhất so với các nhu cầu khác, cá vận động cầnnhiều ô xy.

Trang 14

Ở trong nước một lượng không nhiều phân tử CO2 phản ứng với nước tạo thànhH2CO3 và có sự phân ly như sau:

Cácbonic là chất dinh dưỡng cho thực vật và nó cũng cần một lượng nhỏ cho độngvật để điều hòa quá trình trao đổi chất và để tổng hợp các chất hữu cơ khác Trong cácphản ứng cacboxin hóa hydrat cacbon của các hợp chất hữu cơ khác nhau tham gia vàoviệc hình thành Protit, lipit, gluxit, các axit nucleic và các chất khác Song với hàm lượngCO2 tự do cao trong nước thì chúng có hại cho cá và các động vật khác sống trong nước

2.5.3 Khí H 2 S

Khí Sulfuar hydro trong nước được hình thành chủ yếu bằng con đường sinh họcnhờ hoạt động của các vi sinh vật Chúng có hại cho sinh vật trong thủy vực vì làm giảmkhí Ô xy khi bị ô xy hóa đến S và gây độc trực tiếp Ngoài ra còn làm cản trở sự di chuyểncủa sinh vật trong thủy vực

H2S rất giàu ở những nơi nước thải, nó giảm trong quá trình làm sạch nước thiênnhiên nhờ sự ô xy hóa

2.5.4 Khí CH 4

Khí Mêtan độc đối với sinh vật trong nước Chúng hình thành do sự phân hủy cáchợp chất hữu cơ và thường ở đáy các thủy vực Tốc độ hình thành chúng phụ thuộc vào độđậm đặc của chất bị phân hủy và nhiệt độ trong nước CH4 cũng khuếch tán vào không khímột phần còn một phần bị ô xy hóa do vi khuẩn hiếu khí Pseudomonas cho đến CO2 Khi

có mặt của CH4 sinh vật bị cản trở hoạt động cơ học do các chất phân hủy trong thủy vực

có nồng độ cao

2.6 Các chất hữu cơ hòa tan trong nước

Các chất này chủ yếu là humic bao gồm các a xit humic khó phân giải, các loạiđường, a xit amino, vitamin cũng như dẫn xuất linh động của các hợp chất hữu cơ khácđược sản sinh trong quá trình trao đổi chất của thủy sinh vật Có khoảng 2-10% tổng lượngchất hữu cơ có trong cơ thể và dạng cặn vẩn Để đo hàm lượng các chất hữu cơ trong nướcngười ta dùng chỉ số ô xy hóa tức là số lượng O2 cần để ô xy hóa các chất hữu cơ bằngPermanganat

Các chất hữu cơ hòa tan vì tính bền vững về hóa học nên một khối lượng đáng kểkhông được phần lớn các sinh vật trong nước sử dụng, trừ loài nấm và vi sinh vật Tốc độphân giải các chất humic tăng cao khi nhiệt độ tăng nhất là có tác động của tia tử ngoại.Nhiều loài thủy sinh vật sử dụng các chất như đường, vitamin, a xit amino và những chấthữu cơ có trong nước để đồng hóa Các chất hữu cơ thường kết thành khối lượng lớn thuậnlợi cho dinh dưỡng của sinh vật Thích nghi với việc tìm kiếm các chất hữu cơ các cơ quancảm nhận của sinh vật rất phát triển như cá Chình có thể cảm nhận được rượu với hàmlượng 1g/6000km3 nước còn cá chép với hàm lượng nitrobanzol 1g/100km3 nước

BÀI 2: CƠ SỞ THỨC ĂN TỰ NHIÊN CỦA CÁ

Trang 15

1 Các khái niệm về quần thể, quần xã, hệ sinh thái ở nước

1.1 Quần thể:

Quần thể là một nhóm cá thể của một loài, khác nhau về kích thước, về tuổi và giớitính nhưng có khả năng giao phối với nhau để tái sản xuất số lượng và phân bố trong vùngphân bố của loài, nó là một hệ thống hở và tự điều chỉnh

Ý nghĩa sinh học của quần thể là sử dụng hợp lý nguồn sống, trước hết là nănglượng Tối ưu hóa về năng lượng là khuynh hướng chủ yếu để xác lập và phát triển cấutrúc quần thể

Nhiều sinh vật nổi và neiston rất khó hoặc không có khả năng tách biệt thành cácquần thể riêng biệt do sự thay đổi chỗ ở một cách thụ động do dòng nước chảy Vì vậytrong thủy vực tự nhiên còn xuất hiện quần thể giả (không có khả năng tái sản xuất cá thểmới cho mình mà phải nhận một bộ phận cá thể của quần thể độc lập)

1.2 Quần xã:

Quần xã là một hệ thống sinh học, bao gồm các quần thể của một số loài, phân bốtrong một sinh cảnh xác định để tạo nên sự thống nhất về chức năng và nằm trong mốitương tác với môi trường, đưa đến sự chu chuyển vật chất và biến đổi về năng lượng Thí

dụ về quần xã: Quần xã sinh vật nổi, quần xã sinh vật đáy

Quần xã không phải là sự cộng đơn thuần mà là một tổ hợp các mối quan hệ tươngtác Các yếu tố của một quần xã này thường xâm nhập vào những quần xã bên cạnh vàngược lại, làm cho ranh giới các quần xã không rõ ràng, kèm theo là sự xuất hiện một sốvùng chuyển tiếp, ở đây thường đa dạng hơn, phong phú hơn quần xã bên cạnh

1.3 Hệ sinh thái ở nước

Hệ sinh thái ở nước là một sự tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường nước

mà ở đó trong mối tương tác giữa các thành phần cấu tạo nên hệ xuất hiện các chu trình vậtchất và sự chuyển hóa năng lượng xâm nhập từ ngoài vào

Cấu trúc của hệ sinh thái ở nước phức tạp hơn so với các hệ sinh thái trên cạn, bởi

vì phần không sống của nó không chỉ đơn giản chỉ có đất mà còn nước, khí trong nước, độsâu của các lớp nước, nước đứng, nước chảy, nước hang

Quần xã sinh vật trong nước cũng khác hẳn so với trên cạn Sinh vật sản xuất (tảođơn bào) có kích thước rất nhỏ song khả năng sản xuất lại rất lớn Nhóm động vật tiêu thụ

có kích thước tương dối nhỏ so với động vật tiêu thụ trên cạn, tỷ lệ giữa nhóm động vậttiêu thụ và sản xuất khác hẳn trên cạn (chẳng hạn ở đại dương tỷ lệ động vật tiêu thụ vớisinh vật tự dưỡng là 7-10 ngàn lần thì ở cạn chỉ chênh nhau có 1 con số) Nhóm sinh vậtphân hủy trong nước giàu có hơn nhiều so với trên cạn, vì vậy ở trong nước các chất dễphân hủy hơn ở trên cạn rất nhiều, ở trên cạn có khi vài năm thì trong nước chỉ vài ngày

2 Các nhóm thủy sinh vật (sinh vật sống trong nước)

Các yếu tố tự nhiên cũng như yếu tố con người tác động lên đời sống các sinh vật ởnước khác hẳn với các sinh vật trên cạn Mặt khác những ảnh hưởng đó ngoài việc tuântheo một quy luật chung còn phụ thuộc vào từng thủy vực về mọi mặt Thí dụ ảnh hưởngcủa nhiệt độ tác động lên sinh vật ở vùng lạnh khác hẳn vùng nóng Vì vậy khi nghiên cứucác nhóm thủy sinh vật cần phải nghiên cứu một phức hệ nhân tố tác động lên nó và ảnhhưởng của nó đến môi trường xung quanh Tuy nhiên mọi hoạt động của sinh vật khôngdừng lại ở mức cá thể mà nó có mối quan hệ qua lại với nhau và chúng sống trong mộtquần thể cho nên nghiên cứu cho một cá thể là vô cùng khó hoặc không thể

Trang 16

Trong thủy quyển có hai sinh cảnh điển hình: sống trong tầng nước và sống trongđáy Tính thích nghi với môi trường của các cá thể lại chia các nhóm này thành các nhómnhỏ, theo kích thước và tập tính sống sinh vật nổi chia thành 4 nhóm và sinh vật đáy chiathành 2 nhóm:

2.1 Sinh vật nổi

2.1.1 Phù du sinh vật Plankton

Phù du sinh vật bao gồm tất cả các sinh vật sống trong nước, cơ quan vận động không cóhoặc rất yếu, chúng di chuyển thường là thụ động, trôi theo dòng nước hoặc là bám vào vậtkhác để trôi đi Theo tập quán sinh sống phù du sinh vật chia thành các nhóm nhỏ:

 Sinh vật hoàn toàn phù du Euplankton, cả đời sống trôi nổi trong nước, có thể có một

số giai đoạn sống trong đáy (giai đoạn trứng)

 Sinh vật bán phù du Meraplankton: trong vòng đời mình có một số giai đoạn sồng phù

du, còn những giai đoạn khác sống ở đáy hoặc ở các sinh cảnh khác (giun nhiều tơ, ốc,giáp xác đáy, )

 Sinh vật tạm thời phù du Pseudoplankton, đây là những sinh vật rơi vào tình trạng phù

du ngẫu nhiên như sóng, gió, thiếu ô xy, bản thân nó lại không phải sống phù du (một

du sinh vật phía Bắc, phù du sinh vật phía Nam, ) điều kiện địa lý từng vùng (phù du sinhvật xứ lạnh, phù du sinh vật xứ nóng, )

Phù du sinh vật là nguồn thức ăn rất dồi dào và quan trọng trong các vùng nước đốivới các đối tượng nuôi thủy sản, song nó cũng có những tác hại không thể không nói đến,

đó là hiện tượng chết hàng loạt các ao cá hương mè khi có tảo lam tràn đến làm thức ăncho chúng Người làm công tác thủy sản không thể không chú ý đến vấn đề này

2.1.2 Sinh vật tự duNekton

Sinh vật tự du là những sinh vật có kích thước lớn, các cơ quan vận động phát triểnmạnh, chúng có thể bơi ngược dòng nước với tốc độ lớn (cá, thú có vú ở nước), hình dạngcủa các loài sinh vật tự du thường là phù hợp với sự chuyển động trong nước như hìnhthoi, thon dài, doa động uốn khúc, cấu tạo dạng thủy động học, đây là những lòai cho sảnlượng trực tiếp phục vụ đời sống con người, nó có vai trò rất lớn trong xuất khẩu, cung cấpthực phẩm hàng ngày

Nekton và plankton không có ranh giới rõ ràng, thí dụ: cá con không biết xếp vàonhóm nào

Trang 17

2.1.3 Phù phiêu sinh vật neuston

Phù phiêu sinh vật là nhóm sinh vật sống trong lớp nước bề mặt hoặc ngay sát mặtnước như vi khuẩn, nguyên sinh động vật, côn trùng, động vật thân mềm Những loài sốngngay sát mặt nước có thể sống suốt đời cũng có thể chúng chỉ sống một thời gian nhất địnhnào đó Vì sống trên mặt nước nên những loài trong nhóm này có đặc điểm cấu tạo thíchnhi như vỏ không thấm nước, ít chịu tác động của ánh sáng mặt trời, thức ăn là những mùn

bã hữu cơ trên mặt nước

2.1.4 Pleuston

Pleuston là nhóm sinh vật có một nửa thân mình ngâm trong nước, một nửa thân mìnhdưới nước (bèo), tỷ trọng của chúng thường nhẹ hơn nước Chúng là những giá thể cho cácloài cá đẻ trứng dính và là nơi trú ẩn, nơi rình mồi của một số loài thuộc đối tượng nuôithủy sản

Khả năng thích ứng với đời sống trôi nổi của sinh vật nổi

Sinh vật có kha ínăng nổi khi không bị lực hút của trái đất kéo xuống đáy thủy vực.Muốn vậy thì cần phải giảm trọng lượng thừa b (hiệu số giữa trọng lượng riệng của sinhvật và nước) tăng độ ma sát d với nước theo công thức của Ost - Vand:

b

a =

-c x d

a là tốc độ lắng chìm

b là trọng lượng thừa (hiệu số giữa trọng lượng riêng sinh vật và nước)

c là độ nhớt của nước (không phụ thuộc vào bản thân sinh vật và phụ thuộc vào môitrường)

Như vậy muốn giảm a cần phải:

-Giảm b:

Trọng lượng riêng của nước phụ thuộc vào nhiệt độ và độ muối, khi nhiệt độ cao và

độ muối thấp thì trọng lượng riêng của nước giảm, vì vậy khi đó b sẽ tăng và độ nổi củasinh vật giảm xuống, điều này cũng lý giải vì sao ở biển người ta bơi dễ hơn ở nước ngọt.Trong nước ngọt trọng lượng riêng của sinh vật là 1,01-1,03, còn ở nước biển trọng lượngriêng của chúng là 1,03-1,06

Ngoài ra muốn giảm trọng lượng riêng của mình sinh vật cũng có nhiều đặc điểmcấu tạo thích nghi như giảm bộ xương nặng, tích lũy mỡ, tạo túi khí, tăng lượng nước trong

cơ thể

-Tăng d:

d là diện tích riêng bề mặt của sinh vật, hiện tượng xảy ra trong điều kiện nhiệt độcao và độ muối thấp (nước ngọt) là diện tích riêng bề mặt sinh vật (tỷ số diện tích cơ thể vàthể tích cơ thể) tăng Như vậy diện tích cơ thể phải tăng, để phù hợp điều này cơ thể sinhvật thường mọc mấu lồi, chi phụ, phân đốt hoặc là giảm thể tích cơ thể (kích thước nhỏ)

Sự lắng chìm của Phytoplankton còn tính theo công thức sau:

Vs = - (pf -pw)

Trang 18

-18 ztrong đó: Vs là tốc độ lắng chìm

g là gia tốc trọng trường (981cm/s)

d là đường kính của Phytoplankton

z là độ nhớt của nước

pf là trọng lượng riêng của sinh vật

pw= là trọng lượng riêng của nước

Rõ ràng tốc độ lắng chìm của Phytoplankton cũng giảm khi pf -pw giảm hoặc giảmkích thướ cơ thể, tăng độ nhớt của nước

Nhịp điệu lắng chìm B còn phụ thuộc vào các mối quan hệ sau:

V

B = - x fZ

Theo kích thước người ta chia sinh vật đáy ra các nhóm nhỏ sau:

Theo cách sống người ta chia sinh vật đáy ra 6 nhóm nhỏ (trình bày ở phần sau)

2.2.2 Khả năng thích ứng với đời sống của các nhóm nhỏ Benthos

Để chống lại sự nổi trôi và sóng cuốn theo dòng nước, chống sự cuốn trôi và vađập của cát sỏi, sinh vật đáy phải có những đặc điểm thích nghi Những đặc điểm thíchnghi này biểu hiện ở cấu tạo lớp vỏ cứng, cơ quan bám phát triển, phần lớn các loài chịuđựng được sự thiếu ô xy

Sự thích nghi của từng nhóm trong sinh vật đáy đã chia chúng thành 6 nhóm:

- Sinh vật sống cố định (bám, định cư): đại diên là nguyên sinh động vật, hải miên, nhuyễn thể, thức ăn của chúng được mang tới nhờ dòng nước và chất thải cũng được

Trang 19

dòng nước mang đi, bọn này được đơn giản hóa cấu tạo như không có chi hoặc có chi nhưng chi không có chức năng di chuyển mà chuyển sang chức năng khác, thường là không có thị giác, không có cơ quan thăng bằng, cơ quan cảm giác và xúc giác phát triển nhanh, cấu tạo hệ tiêu hóa phù hợp (có phễu bắt mồi, đáy phễu là miệng) Bọn này sống cố định và tập trung thành từng từng đoàn, bám vào các công trình cầu cống, thuyền bè gây những tác hại rất lớn, đại diện là hầu, hà, trai,

- Sinh vật sống đục khóet: nhóm này có hai nhóm nhỏ bao gồm sinh vật đục khóet

đá và sinh vật đục khóet gỗ, chúng có khả năng chui vào các lớp đá hoặc gỗ nên khả năng bảo vệ khá tốt

 Nhóm đục khóet đá bao gồm một số tảo lam, tảo lục, chúng có khả năng tiết a xít hữu

cơ làm mòn đá, màu sắc thường là màu xanh Một số hải miên, giun đục sâu vào đá 1

cm để sống và cũng tiết a xít làm mòn đá Bọn nhuyễn thể còn có cấu tạo vỏ ngoài nhưmột lưỡi cưa để cưa mòn đá Nhóm này cũng có tác hại rất lớn đến các công trình lâungày dưới nước như cầu, cống bê tông

 Nhóm đục khóet gỗ bao gồm phần lớn là giun và nhuyễn thể, có cơ thể hình giun hợpvới đời sống chui trong gỗ và đục khóet theo bề mặt Để tránh bọn này các công trình

có thể dùng các biện pháp hóa học, cơ học, sinh học

-Sinh vật sống vùi trong đáy: nhóm này bao gồm một số loài giun, nhuyễn thể hai vỏ,chúng sống thành tập đoàn, rất đông, ở biển có thể tới 90% sinh vật sống vùi trong đáy 5-6

cm, trong nước ngọt đại diện là ấu trùng muỗi chiromonas, bọn này chui sâu vào đáy 40cm

25 Sinh vật sống nằm trên đáy: đại diện là sao biển, chúng ít chuyển động, có lớp vỏ ngoài bao bọc để bảo vệ tránh kẻ thù

-Sinh vật sống bò theo đáy: đó là những sinh vật có thể di cchuyển trwn mặt đáy như cua, cáy, bọn này có khả năng tự bảo vệ, cấu tạo cơ thể phù hợp với điều kiện sống, các chi phụ mọc mấu lồi, màu sắc giống như màu đất đáy, đặc biệt vỏ cứng rất phát triển

-Sinh vật du động trong đáy nước: đây là những sinh vật có khả năng tách khỏi đáy

để vào tầng nước trên trong một thời gian nhất định (tôm, cua,cá, ), chúng cũng có những khả năng thích ứng: cấu tạo cơ thể vừa có khả năng bơi lội, vừa có khả năng bò, có vỏ cứng để bảo vệ cơ thể

Tất cả các loài sinh vật đáy đều có một vai trò hết sức lớn trong ngành thủy sản, chúng là nguồn thức ăn cho một số đối tượng thủy sản, là thực phẩm quan trọng đưa năng suất thủy vực lên cao và hiện nay chúng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc làm chất chỉ thị để quan trắc và đánh giá chất lượng nước trong thủy vực

2.3 Thực vật thượng đẳng

Bao gồm các loài rong, bèo, các loại cây trang, súng, chúng có tác dụng quang hợp

và nhả ô xy vào nước, một số làm thức ăn cho cá, một số làm giá thể (ổ đẻ) cho cá đẻ trứngdính

Tuy nhiên trong ao nuôi có quá nhiều thực vật thượng đẳng sẽ không tốt vì chúng

sẽ hấp thụ mất chất dinh dưỡng đồng thời làm tảo trong ao không quang hợp được

Như vậy sinh vật ở trong nước chính là cơ sở thức ăn tự nhiên của các loài cá nuôikinh tế Để gìn giữ và phát triển chúng, cần có những biện pháp nhất định

Những biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn thức ăn tự nhiên của cá

Các loài sinh vật sống trong ao nuôi muốn phát triển cần có thức ăn đầy đủ,ửnh vậytốt nhất là bón phân vào ao Các loại phân thường dùng là:

a Phân hữu cơ: gồm phân bắc, phân chuồng, phân xanh, nước thải

Trang 20

+Phân bắc: phân chuồng trước khi sử dụng nuôi cá cần phải ủ kỹ để phòng bệnh cho cá.+Phân xanh: gồm các loại cây thân mềm nhiều lá, dễ thối rữa và không có chất độc làmchết cá như cây muồng, cây điền thanh, cây họ đậu, cây cứt lợn, dây lang,…Khi bón vào

ao nuôi bó thành từng bó 15-20kg cắm ở các góc ao

+Nước thải sinh hoạt: là nguồn nước được tạo ra hàng ngày từ các khu vực đông dân cư vàcác nhà máy, xí nghiệp, trại chăn nuôi, công nông trường,…nếu nguồn nước thải có chấtđộc thì cần phải xử lý trước khi cho vào ao nuôi

b Phân vô cơ: gồm phân đạm, phân lân Những tháng nóng sử dụng phân vô cơ rất tốt chonuôi cá, tỷ lệ đạm/lân (N/P) là 4/1

Khi bón phân kết hợp bón phân vô cơ với phân hữu cơ để đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa tảo và các sinh vật khác trong nước phát triển Bón phân cho ao nuôi ngoài việc tănglượng dinh dưỡng cho các sinh vật thức ăn còn có tác dụng diệt trừ các địch hại tranh giànhthức ăn cho cá (bọ gạo, bắp cày,…)

BÀI 3: ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI CÁ NUÔI

1 Vài đặc điểm chung

1.1 Sinh trưởng:

Sinh trưởng tức là sự tăng về chiều dài và cân nặng của cá Đặc điểm nổi bật của

sinh trưởng của cá là sinh trưởng liên tục, các cơ quan trong cơ thể cá sinh trưởng với tốc

độ tương ứng Cá có các đặc điểm sinh trưởng như sau:

-Sinh trưởng có tính chu kỳ: trong năm tường có thời kỳ sinh trưởng nhanh (nhiềuthức ăn: mùa mưa) và thời kỳ sinh trưởng chậm (ít thức ăn, mùa khô)

-Sinh trưởng có tính cạn tranh đàn: khi thiếu thức ăn con nào khỏe, ăn nhiều sẽ lớn

vượt, con nào yếu không kiếm được thức ăn sẽ bị còi cọc Sinh trưởng về chiều dài nhanh

ở tuổi thành thục, sau đó lớn nhanh về khối lượng

Cá cái có kích thước lớn hơn cá đực vì nó mang chức năng sinh sản tuổi thành thụcmuộn hơn

-Sinh trưởng mang đặc điểm di truyền của loài

-Sinh trưởng về khối lượng và chiều dài tăng tỷ lệ thuận theo tuổi ở giai đoạn nhỏđến trưởng thành, sau giảm dần khi già Nếu thiếu thức ăn sinh trưởng của cá chậm lại

Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá

-Yêú tố di truyền: có loài có kích thước lớn thì tốc độ sinh trưởng lớn và ngược lại

loài có kích nhỏ sinh trưởng chậm

-Yếu tố môi trường: thức ăn, nhiệt độ, ánh sáng, các chất hoá học, các chất khí.Mỗi loài cá thích nghi với một khoảng nhiệt độ ánh sáng, chất hoá học và chất khínhất định, ngoài khoảng đó cá sinh trưởng chậm, có thể chết

Tiêu hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng qua ống tiêu hoá Ngoài ra còn có khảnăng hấp thụ qua bề mặt da của cơ thể

Trang 21

Nhu cầu về dinh dưỡng của cá bao gồm: Loại vật chất cung cấp năng lượng, loạivật chất xây dung cơ thể, loại vật chất điều hoà sự sống.

Tính ăn của cá phụ thuộc vào cấu tạo của cơ quan bắt mồi và tính di truyền của cá:

cá ăn thực vật, cá ăn động vật, cá ăn tạp

3.1.2 Hô hấp:

Hô hấp là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường của cá Ô xy là chất khíquan trọng trong hô hấp Nhu cầu ô xy của cá khác nhau tuỳ theo:

Nhu cầu của cá non lớn hơn cá già

Nhu cầu của cá đực lớn hơn cá cái

Nhu cầu của cá ở trạng thái hoạt động cao hơn ở trạng thái yên tĩnh

Nhu cầu ô xy vào mùa hè nhiều hơn vào mùa đông

Trong nghề nuôi cá ảnh hưởng của mật độ nuôi là một chỉ tiêu hàng đầu cần quantâm khi nói đến ô xy Các yếu tố ảnh hưởng đến hô hấp của cá là môi trường (nhiệt độ tăngthì cường độ hô hấp phải tăng; nước có nhiều sắt lấp kín màng mang cá không hô hấp được

sẽ bị chết), mang cá là cơ quan hô hấp chính vì vậy mang tốt thì hô hấp sẽ tốt ảnh hưởngchủ quan đến hô hấp của cá chính là các yếu tố di truyền (kích thước nhỏ có tần số hô hấpcao và ngược lại, cùng một loài cá nhỏ có tần số hô hấp cao hơn cá lớn, cá đực hô hấp caohơn cá cái)

3.1.3 Tuổi thọ và tuổi thành thục

Các loài cá khác nhau có tuổi thọ khác nhau, cá có kích thước nhỏ, chu kỳ sốngngắn thường thành thục sớm, ví dụ: cá rô phi thành thục ở 4 tháng tuổi Cá mè thành thục ởtuổi thứ 3

3.2 Đặc điểm sinh học của một số loài cá nuôi

Các loài cá nuôi hiện nay: Cá Mè trắng, Trắm cỏ, Mè hoa, Cá Rôhu, cá Mrigan, CáChép, Cá rô phi,

3.2.1 Cá mè trắng Hypophthalmichthys molitrix harmangdi

Cá mè trắng thích nghi ở pH 6,8, bơi lội nhanh Đây là loài cá ăn thực vật nổi, cám,

bã rượu, bã đậu Tốc độ lớn phụ thu?c vào môi trường nước và lượng tảo trong ao Nuôi ởđiều kiện đầy đủ thức ăn cá 1 năm tuổi nặng 0,5-0,9kg, 2 năm: 1,5-1,9kg, 3 năm 2-4kg

Cá mè trắng thành thục 3 tuổi, có thể thành thục trong ao nhưng không đẻ được màphải cho đẻ nhân tạo nhiệt độ thích hợp cho cá đẻ là 24-28độ C

3.2.2 Cá trắm cỏ Ctepharyngodon indellus

Trang 22

Cá sinh trưởng tốt trong ao với độ pH 5,5-6, thức ăn chủ yếu là thực vật bậc caonhư cỏ, lá mì, bèo, sống ở tầng giữa nhưng không cạnh tranh với cá mè hoa, nên thườngđược ghép với cá mè trắng, mè hoa và một loài ăn đáy Tốc độ lớn của cá trắm cỏ nhanh, 1năm nuôi: 1kg/con, 2 năm trên 3kg Cá trắm cỏ thành thục trong ao nhưng cũng không đẻđược, tuổi thành thục 3tuổi.

3.2.3 Cá chép Cyprinus carpio

Cá sống ở môi trường pH 5-8,5, sống ở tầng đáy, ăn tạp nhưng chủ yếu là sinh vậtđáy như ốc, giun, côn trùng, thực vật non, mùn bã hữu cơ, lớn nhanh, dễ nuôi và thịt ngon,

1 năm cá nặng 0,3-0,8kg Cá chép sinh sản tự nhiên, thành thục khi 1 năm tuổi

3.2.4 Cá rô hu Labeo rohita

Cá sống ở môi trường nước có pH 6-8, nồng độ muối 5-9%o, nhiệt độ 18-380 C,nếu nhiệt độ xuống 110C cá có thể chết Cá ở tầng sát đáy, thuộc loài ăn tạp, thức ăn chủyếu là mùn bã hữu cơ, số ít thực vật nổi, bèo tấm bèo dâu và rau muống non Trong ao nuôicòn sử dụng phân chuồng, phân bắc, một số thức ăn tinh như cám ạo, khô dầu, thức ăntổng hợp Cá lớn nhanh, sau 8 tháng tuổi nặng 0,8kg Cá rô hu không đẻ trong ao nuôinhưng vẫn có khả năng thành thục, tuổi thành thục là 2-3 tuổi

3.2.5 Cá rô phiTilapia niloticus

Cá phân bố ở tầng gần đáy và giữa, nhiệt độ thích hợp là 20-300C Cá bị chết rét ỏdưới 5 và trên 420C, nhiệt độ xuống dưới 100C thì cá ngừng ăn và hay bị bệnh nấm thuỷ

mi Độ pH thích hợp là 4-9, độ muối rộng, 5-30%o Cá cho năng suất cao hơn cá mè, cátrôi, cá trắm cỏ vì có một số ưu điểm nổi bật: ch?u đựng được mật độ dày, sống trong môitrường chật hẹp, hàm lượn ô xy thấp, ăn tạp, mắn đẻ Tuy nhiên trong ao nuôi nguời takhông nuôi cá cái vì đẻ quá dày ảnh hưởng tới mật độ ao nuôi và không tính được mức độ

sử dụng thức ăn tự nhiên trong thuỷ vực

Trang 23

CHƯƠNG 2: PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH CÁ

BÀI 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BỆNH CÁ

1.Một số khái niệm cơ bản về bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng

1.1 Khái niệm về bệnh truyền nhiễm

1.1.1 Định nghĩa về bệnh truyền nhiễm

Quá trình truyền nhiễm là hiện tượng tổng hợp xảy ra trong cơ thể sinh vật khi cótác nhân gây bệnh xâm nhập, tác nhân gây bệnh thuộc giói thực vật bao gồm vi rút, vikhuẩn, nấm, tảo đơn bào Quá trình truyền nhiễm bao gồm ý nghĩa hẹp hơn, nó chỉ sựnhiễm trùng của cơ thể sinh vật, đôi khi chỉ sự bắt đầu cảm nhiễm; tác nhân gây bệnh chỉkích thích riêng biệt, có trường hợp không có dấu hiệu bệnh lý Trong trường hợp tác nhângây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây bệnh nhưng không có dấu hiệu bệnh lý thì lúc này chỉ

có thể gọi là quá trình truyền nhiễm chứ chưa gọi là bệnh truyền nhiễm Bệnh truyềnnhiễm bao giờ cũng phải kèm theo dấu hiệu bệnh lý

Nhân tố phát sinh bệnh truyền nhiễm là: Tác nhân gây bệnh, cơ thể sinh vật, điềukiện môi trường bên ngoài Tác nhân gây bệnh có thể có kích thước rất nhỏ song khả nănggây bệnh lớn do có tốc độ sinh sản nhanh có thể làm chết vật chủ một cách nhanh chóng.Tác nhân gây bệnh khi xâm nhập vào vật chủ hủy hoại các mô, tiết ra độc tố làm rối loạnhoạt động sinh lý bình thường của các tổ chức cơ quan vật chủ

1.1.2 Nguồn gốc và sự lây truyền bệnh truyền nhiễm ở cá

Trong các thủy vực tự nhiên như ao, hồ, sông, suối, cá thường mắc các bệnh truyềnnhiễm, đó là những “ổ dịch tự nhiên”, từ đó mầm bệnh xâm nhập vào các nguồn nước nuôithủy sản thông qua những con cá bị bệnh và xác chết những con bị bệnh Ngoài ra nguồnnước có nhiều chất mùn bã hữu cơ như nước thải sinh hoạt, nước thải của các trại chănnuôi, nước thải công nghiệp có chứa mầm bệnh truyền nhiễm trong điều kiện thuận lợicũng làm cho chúng phát triển rất nhanh và gây bệnh cho cá

Các hình thức lây truyền bệnh truyền nhiễm cho cá:

Bằng con đường tiếp xúc trực tiếp

Lây từ nguồn nước

Lây từ dụng cụ khai thác cá bệnh

Lây bệnh do các mầm bệnh ẩn náu ở đáy ao mà khi ương nuôi cá con người khôngtẩy dọn ao kỹ

Lây bệnh từ những loài cá di cư

1.1.3 Cá có thể truyền bệnh truyền nhiễm cho người và một số động vật

Cá, giáp xác, nhuyễn thể là nguồn gốc lây truyền một số bệnh truyền nhiễm chocon người và gia súc Trong cơ thể một số loài cá có vi khuẩn dịch tả như Bacteria

bontuninus, Bacteria enteritidis, tồn tại Chúng rơi vào nước và làm nhiễm bẩn rất nhiều

nguồn nước

Trang 24

Vi khuẩn Sanmonella snipestifer và Sanmonella enteritidis xâm nhập vào khoang

bụng của cá, nếu những cá này đem ướp muối vi khuẩn có thể sống 60 ngày Trong thủyvực nước ngọt có các loài vi khuẩn này sống và dễ dàng theo nước xâm nhập vào ruột cá.Theo A.K Serbina, năm 1973 qua thí nghiệm đã khảng định cá bị bệnh đốm đỏ có 15-20%

số cá có Bacteria botudinus.

Cá, tôm, hầu sống trong môi trường nước thải sinh hoạt, nước thải các chuồng trạichăn nuôi gia cầm, gia súc, nước thải các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp thường mang vikhuẩn gây bệnh lỵ, bệnh đường ruột, bệnh sốt phát ban và vi khuẩn bệnh sốt phát ban cóthể sống trong cơ thể người 60 ngày Vì vậy các loại thức ăn hải sản ăn sống cần có chế độkiểm dịch nghiêm khắc để tránh một số bệnh lây lan sang người

1.2 Khái niệm về bệnh ký sinh trùng

1.1.1 Định nghĩa

Trong tự nhiên cơ thể sinh vật yêu cầu các điều kiện ngoại cảnh khác nhau ở mỗichủng loại và ở mỗi giai đoạn phát triển Có một số sinh vật sống tự do, có một số sốngcộng sinh, có sinh vật trong suốt cuộc đời hay từng giai đoạn phát triển lại luôn sống ở bêntrong hay bên ngoài cơ thể một sinh vật khác để lấy chất dinh dưỡng mà sống gây tác hạicho sinh vật kia Phương thức sống đó gọi là phương thức sống ký sinh hay sự ký sinh.Sinh vật sống ký sinh gọi là ký sinh trùng còn sinh vật bị sinh vật khác ký sinh gọi là kýchủ

1.1.2 Nguồn gốc của sinh vật sống ký sinh

Sinh vật từ phương thức sống cộng sinh sang ký sinh

Sinh vật từ sống tự do đến phương thức sống ký sinh giả và ký sinh thật

1.1.3 Hình thức ký sinh của ký sinh trùng

Dựa theo tính chất ký sinh trùng để chia ra:

 Ký sinh giả: sinh vật sống tự do trong điều kiện bình thường, chỉ có trong điều kiện đặcbiệt mới ký sinh

 Ký sinh thật: cơ thể ký chủ là môi trường của ký sinh trùng và trong từng giai đoạnphát triển hoặc toàn bộ quá trình sống chúng dều lấy chất dinh dưỡng của ký chủ để sống

Dựa vào giai đoạn ký sinh có thể chia làm hai loại:

Ký sinh có tính chất tạm thời

Ký sinh thường xuyên

Người ta còn dựa vào vị trí ký sinh để chia:

Ngoại ký sinh

Nội ký sinh

Ngoài hai loại ký sinh trên còn có siêu ký sinh

Trang 25

1.1.4 Các loại ký chủ

Theo hình thức ký sinh của ký sinh trùng chia ra các loại ký chủ sau:

Ký chủ cuối cùng

Ký chủ trung gian

Ký chủ lưu giữ Thí dụ đối với cá, ký sinh trùng Cryptobia branchialis ký sinh trên

mang cá trắm cỏ gây bệnh nghiêm trọng nhưng ký sinh trên cá mè không gây bệnh cho cá

mè vì cá mè có khả năng miễn dịch tự nhiên, như vậy cá mè là ký chủ lưu giữ

1.1.5 Phương thức cảm nhiễm của ký sinh trùng

Bằng hai con đường:

Cảm nhiễm qua miệng

Cảm nhiễm qua da; Có hai loại: cảm nhiễm qua da bị động và cảm nhiễm qua da chủđộng

1.2.6 Mối quan hệ giữa ký sinh trùng ký chủ và điều kiện môi trường

Mối quan hệ này phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, chủng loại, số lượng ký sinhtrùng, vị trí ký sinh và tình trạng cơ thể chủ Điều kiện môi trường sống của ký chủ ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến ký sinh trùng, ký chủ và mối quan hệ giữa chúng vớinhau

 Tác dụng của ký sinh trùng đối với ký chủ: ký chủ sinh trưởng chậm, phát triển khôngtốt, sức đề kháng giảm có thể bị chết, có thể tóm tắt ảnh hưởng đó như sau:

Tác dụng kích thích cơ học và gây tổn thương tế bào tổ chức

Tác dụng đè nén và làm tắc

Tác dụng lấy chất dinh dưỡng của ký chủ

Tác dụng gây độc đối với ký chủ

Làm môi giới gây bệnh

 Tác dụng của ký chủ đối với ký sinh trùng: vấn đề này rất phức tạp, khó xác định song

có thể hiểu tác dụng của ký chủ đối với ký sinh trùng biểu hiện ở các mặt sau:

Phản ứng của tế bào tổ chức ký chủ: ký sinh trùng ký sinh vào cơ thể ký chủ gây

kích thích làm cho tế bào tổ chức có phản ứng biểu hiện ở nơi ký sinh trùng đi vào tổ chức

mô hình thành bào nang hoặc có hiện tượng tế bào tăng sinh, viêm loét để hạn chế sinhtrưởng và phát triển của ký sinh trùng, mặt khác làm cho cơ quan bám của ký sinh trùngkém vững chắc, có lúc có thể tiêu diệt ký sinh trùng

Phản ứng của dịch thể: khi bị ký sinh ký chủ sinh ra phản ứng dịch thể, chúng có

nhiều dạng như: phát viêm, thẩm thấu dịch để pha loãng các chất độc vừa tăng khả năngthực bào và vừa làm sạch các dị vật và tế bào chết của bệnh

Trang 26

Tuổi của ký chủ ảnh hưởng đến ký sinh trùng: thường ký chủ trong quá trình phát

triển cơ thể tăng trưởng, ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ cũng thay đổi cho thích hợp Đốivới ký sinh trùng chu kỳ phát triển có ký chủ trung gian thường xảy ra hai hướng:

Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể ký chủ có cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm giảm đi

theo sự tăng tuổi của ký chủ Thí dụ ở ruột cá trắm cỏ, sán dây Bothriocephalus gowkongensis ký sinh cá dưới một tuổi có tỷ lệ và cường độ nhiễm cao hơn cá trên một

tuổi

Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể ký chủ có cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm tăng theolứa tuổi của ký chủ vì lượng thức ăn tăng làm trong thức ăn ký chủ trung gian cũng tăngtheo Một số ký sinh trùng không qua ký chủ trung gian ít liên quan đến tuổi của ký chủ

Tính ăn của ký chủ ảnh hưởng đến ký sinh trùng: Ký sinh trùng là nội ký sinh tác

động rất lớn đến chuỗi thức ăn của cá Cá hiền ăn mùn bã hữu cơ, thực vật thủy sinh, độngvật nhỏ nên dễ nhiễm ký sinh trùng có chu kỳ phát triển trực tiếp hay giun sán có chu kỳphát triển qua một ký chủ trung gian là động vật phù du Cá dữ ăn động vật thủy sinh lớn

và ăn cá nên nhiễm các ký sinh trùng có chu kỳ phát triển phức tạp, giai đoạn ấu trùng của

ký sinh trùng ký sinh ở các ký chủ là vật mồi của cá dữ, vì vậy nên cá nheo, cá thiều hay

cảm nhiễm ký sinh trùng là sán lá song chủ Isoparorchis sp Cá ăn đáy hay nhiễm ký sinh

trùng là giun sán mà quá trình phát triển qua ký chủ trung gian là nhuyễn thể

Tình trạng sức khỏe của ký chủ tác động đến ký sinh trùng: Động vật khỏe mạnh

sức đề kháng tăng, không dễ dàng bị cảm nhiễm ký sinh trùng, ngược lại ký sinh trùng dễdàng xâm nhập vào các động vật gầy yếu sức đề kháng kém Thí dụ trong ao nuôi quá dày

cá, sự cạnh tranh thức ăn dẫn đến tình trạng thức ăn thiếu, môi trường bẩn dễ phát sinh rabệnh

 Quan hệ giữa ký sinh trùng với nhau: trên cùng một ký chủ có nhiều loài ký sinh trùngkhác nhau sẽ nảy ra mối quan hệ tương hỗ hay đề kháng Có thể có sự ức chế lẫn nhau làmảnh hưởng đến khu hệ ký sinh trùng Thường khi cá bị nhiễm ký sinh trùng Apiosoma thìkhông cảm nhiễm ký sinh trùng Chilodonella hoặc khi gặp ấu trùng nhuyễn thể ký sinhtrên mang cá thì ít gặp sán lá đơn chủ

Tuy nhiên trên cùng một ký chủ người ta cũng gặp nhiều loài ký sinh trùng ký sinh,thí dụ Trichodina cùng ký sinh với Chilodonella, Ichthyophthirius; Lernaea với Trichodina

 Tác dụng của điều kiện môi trường đối với ký sinh trùng:

Độ muối của thủy vực ảnh hưởng đến ký sinh trùng: độ muối ảnh hưởng đến sự phát

triển của ký chủ trung gian (độ muối thay đổi làm quá trình tạo vỏ của động vật nhuyễn thể

bị thay đổi) và ảnh hưởng trực tiếp đến ký sinh trùng Các loài cá biển khi vào nước ngọt bịcảm nhiễm ký sinh trùng, khi ra lại nước biển ký sinh trùng bị tiêu diệt

Nhiệt độ nước ảnh hưởng đến ký sinh trùng, mỗi loài ký sinh trùng có một ngưỡngnhiệt độ nhất định, ngoài ngưỡng đó ký sinh trùng có thể bị chết, trong ngưỡng ở độ thíchhợp ký sinh trùng phát triển mạnh Thí dụ, sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus vastator24-260C sau khi thành thục 4-5 ngày đẻ trứng, 3-4 ngày phôi phát triển và tỷ lệ nở 80-90%, còn ở 150C sán lá đơn chủ Dactylogyrus extensus phát triển mạnh, nhiệt độ thấp đi

tỷ lệ nở của trứng sẽ giảm đáng kể

Đặc điểm của thủy vực ảnh hưởng đến ký sinh trùng, các thủy vực tự nhiên sốlượng loài ký sinh trùng phong phú hơn các thủy vực nhân tạo

Trang 27

2 Một số khái niệm cơ bản về bệnh lý

Cơ thể sinh vật bị bệnh là hiện tượng rối loạn quá trình sống bình thường của cơ thểkhi có tác nhân gây bệnh tác động Hay có thể định nghĩa bệnh là sự phản ứng của cơ thểsinh vật với sự biến đổi xấu của môi trường xung quanh, cơ thể nào thích nghi thì tồn tại,

cơ thể nào không thích nghi thì mắc bệnh và chết

2.1 Nguyên nhân và điều kiện phát sinh ra bệnh

2.1.1 Nguyên nhân gây bệnh

Tác dụng kích thích gây bệnh cho cơ thể sinh vật

Sinh vật sống trong môi trường chịu tác động của tất cả các yếu tố môi trường, đa

số các yếu tố này đều có lợi song đôi khi do tác động bởi cường độ quá mạnh, thời gianquá lâu hay các kích thích về cơ giới, kích thích hóa học lại không có lợi cho bản thân sinhvật Nguyên nhân gây bệnh dễ dàng thấy, phổ biến nhất và gây tác hại mạnh là yếu tố sinhvật Sinh vật tác động đến cá dưới hình thức ký sinh ở các tế bào tổ chức cơ quan và gâybệnh cho cá

Do thiếu các chất cơ thể cần

Căn cứ vào mức độ có thể chia nguyên nhân này ra hai loại:

Do thiếu hoặc không có các chất để duy trì sự sống, cơ thể sinh vật sẽ biến đổinhanh chóng có thể dẫn đến chết đột ngột Thí dụ trong thức ăn của cá thiếu canxi và phốtpho dẫn đến cá bị bệnh còi xương, cong thân, dị hình và còn ảnh hưởng đến men tiêu hóacủa cá

Do cơ thể sinh vật có sự thay đổi dẫn đến bị bệnh

Các yếu tố bình thường tác động lên cơ thể sinh vật sẽ có lợi cho sinh vật song khimột tổ chức cơ quan nào đó của sinh vật bị bệnh lý hay bị tổn thương dễ dẫn đến sinh vật

bị bệnh

2.1.2 Điều kiện phát sinh bệnh

Điều kiện phát sinh bệnh bao gồm cơ thể sinh vật và điều kiện môi trường Tuổi,tình trạng sức khỏe, giới tính, loài cá khác nhau thì điều kiện phát sinh bệnh khác nhau.Khí hậu, chất nước, tình hình nuôi dưỡng khu hệ sinh vật cũng ảnh hưởng đến nguyênnhân gây bệnh Phần lớn các loại bệnh phát sinh trong điều kiện ao nuôi bị ô nhiễm, mật độquá dày, thức ăn không đầy đủ, mức nước quá thấp

Các khái niệm nguyên nhân và điều kiện gây bệnh trên đây cũng chỉ là tương đối,

có thể cùng một nhân tố chung nhưng lúc này là nguyên nhân lúc khác lại là điều kiện, thí

dụ thiếu thức ăn cá chết đói hoặc có lúc thức ăn thiếu cá bị đói, dễ bị bệnh

2.2 Quá trình cơ bản của bệnh lý

Khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể cá gây rối loạn sự hoạt động sinh lýbình thường của các tổ chức cơ quan gọi là bệnh lý Nhiều loại bệnh có cùng một hiệntượng bệnh lý gọi là quá trình cơ bản của bệnh lý

Trang 28

2.2.1 Gây rối loạn một phần sự hoạt động của hệ thống tuần hoàn

Cơ thể sinh vật muốn duy trì sự sống cần có một hệ thống tuần hoàn khỏe mạnh

Hệ thống tuần hoàn cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể, giúp cơ thể thải chất cặn bã ra ngoài

và tập trung bạch cầu, kháng lại tác nhân gây bệnh Vì vậy khi cơ thể cá bị nhiễm bệnh, hệthống tuần hoàn bị rối loạn, quá trình trao đổi chất bị trở ngại, sức đề kháng bị giảm cá cóthể bị chết

Sự rối loạn của hệ thống tuần hoàn có thể chia ra:

Rối loạn cục bộ

Rối loạn toàn bộ hệ thống

Hai hiện tượng trên phân biệt chỉ là tương đối Thường thì rối loạn cục bộ là thời kỳđầu của rối loạn toàn phần Các hiện tượng có thể thấy trong rối loạn tuần hoàn là:

Tụ máu: Bất kỳ một tổ chức hoặc cơ quan nào của cơ thể khi hàm lượng máu vượt

quá số lượng bình thường gọi là tụ máu Các mao quản, động mạch, tĩnh mạch nở ra quálớn, chứa đầy máu làm cho các tổ chức hoặc cơ quan bị tụ máu

Có thể có tụ máu động mạch, cũng có thể là tụ máu tĩnh mạch

Thiếu máu: số lượng hồng cầu ít hơn bình thường hoặc lượng máu trong cơ thể

giảm gọi là hiện tượng thiếu máu Khi một tổ chức hay một cơ quan nào đó thiếu máu gọi

là thiếu máu cục bộ Bộ phận thiếu máu nhiệt độ hạ thấp, màu sắc biến nhạt, đầu tiên teolại nhưng sau phù nề và thể tích tăng

Nguyên nhân thiếu máu là do bị sinh vật khác hút máu, do tắc mạch máu, hay bộphận tuần hoàn bị dị tật hoặc thành phần tạo máu thiếu

Tác hại của thiếu máu còn tùy thuộc vào mức độ thiếu máu, thời gian và tính mẫn cảm của

tổ chức cơ thể sinh vật Thiếu máu nghiêm trọng làm cho các tổ chức cơ thể bị chết dần và có thểdẫn đến tê liệt

Chảy máu: đây là hiện tượng chảy máu ra ngoài mạch máu Máu chảy tích ở trong

khoang gọi là chảy máu trong, còn máu chảy ra ngoài cơ thể gọi là chảy máu ngoài Có lúc

cơ thể sinh vật vừa chảy máu trong vừa chảy máu ngoài

Nguyên nhân chảy máu là do vách mạch máu bị tổn thương Chảy máu nhiều có thểlàm sinh vật chết nhanh chóng

Đông máu: một số thành phần trong máu dính lại ngưng kết thành một khối gọi là

đông máu Nguyên nhân đông máu là do mạch máu bị tổn thương, sau khi mạch máu bịchấn thương vách mạch máu trở nên gồ ghề tạo điều kiện tốt cho huyết tiểu bản lắng đọngđồng thời tăng tế bào thượng bì ở vách mạch máu có khả năng sản sinh ra các sợi keo kếtdính các huyết bản lại nhưng sau đó phân giải ngay tạo nhiễm men liên kết cùng vớiCanxium trong máu dẫn đến quá trình trombinogen biến thành trombin Cũng có trườnghợp máu chảy chậm có thời gian cho máu vừa đông dính vừa ngưng kết Máu chảy chậmcũng có thể giúp men liên kết hoạt động dễ dàng hơn Tuy nhiên trạng thái cơ thể phản ứnglại sự hình thành đông máu cũng là một nguyên nhân gây nên đông máu

Tắc mạch máu: đây là hiện tượng máu bị những cản trở của vật thể không chảy

được đến cơ quan Nguyên nhân:

Trang 29

Do mỡ cản trở (mỡ tách khỏi một số tổ chức cơ quan tạo thành giọt nhỏ xâm nhậpvào mạch máu)

Do vách mạch máu bị tổn thương dẫn đến giải phóng Tromboblastis là mầm mốngđông máu

Do sinh vật gây tắc mạch máu

Do bọt khí làm tắc mạch máu

Do u bứu

Sự thay đổi thành phần trong máu: máu gồm huyết tương và thành phần lơ lửng

trong huyết tương bao gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu Tế bào bạch cầu có thể dichuyển dạng amip xuyên qua vách mạch máu, ngược dòng chảy của máu đến một số môcủa tổ chức Số lượng hồng bạch cầu thay đổi tùy theo trạng thái bệnh lý cơ thể sinh vật.Khi cơ thể bị bệnh, số lượng bạch cầu trung tính và bạch cầu mono tăng, bạch cầu limphogiảm Qua nghiên cứu về bệnh cá một số nhà khoa học cho rằng khi cá bị nhiễm bệnh thìlượng bạch cầu ưa a xit tăng, chứng tỏ lượng bạch cầu này đóng vai trò trong việc chốnglại tác hại của ký sinh trùng

Hoại tử cục bộ của cơ thể sinh vật: nguyên nhân gây ra hiện tượng này là do tắc

động mạch Tắc động mạch có nguyên nhân là phía bên ngoài động mạch bị đè nén hoặc

do phản xạ của thần kinh làm mạch máu co giật liên hồi

Phù và tích nước: cơ thể sinh vật phù do dịch thể tích tụ trong các khe của tổ chức

với số lượng lớn

Cơ thể bị tích nước do các xoang bị tích dịch thể Hàm lượng albumin của dịch thểgiảm, ở trong và ngoài cơ thể dịch thể không liên kết có màu xanh vàng Thể tích của các

cơ quan bị phù tăng, bề mặt bóng, xanh xao, năng lực hoạt động giảm

Nguyên nhân: bị chèn ép, bị các tác động cơ giới, do thiếu thức ăn hoặc thành phầndinh dưỡng không đầy đủ, một số cơ quan có bệnh lý như: gan xơ cứng, thận yếu, hệ thốngthần kinh bị rối loạn, sự xâm nhập của thần kinh gây bệnh Nếu các tổ chức cơ quan củasinh vật bị phù và tích nước sau khi tiêu trừ được nguyên nhân cơ thể hoàn toàn hồi phục.Nếu để quá lâu thì hiện tượng phù vẫn còn khi đã loại trừ các nguyên nhân Các cơ quantrọng yếu như não bị phù rất dễ gây ra tử vong

2.2.2 Trao đổi chất bị rối loạn

Kết quả của trao đổi chất bị rối loạn:

Tế bào tổ chức cơ thể sinh vật bị teo nhỏ: nguyên nhân là do:

Hệ thống thần kinh của sinh vật bị bệnh

Do bị chèn ép, đè nén lâu ngày nên hệ thống tuần hoàn bị rối loạn Thí dụ: ruột cáchép bị ký sinh bởi sán lá sẽ teo lại do bị chèn ép

Một số tuyến nội tiết mất khả năng điều tiết

Tác động vật lý, hóa học như phóng xạ, nhiệt độ qúa cao

Một số cơ quan không hoạt động trong thời gian dài

Trang 30

Thiếu dinh dưỡng, hệ thống tiêu hóa bị tắc nghẽn Sự teo nhỏ bắt đầu từ tổ chức mỡđến mô cơ, mô tim, lá lách, gan sau cùng đến não.

Biến đổi số lượng và chất lượng tế bào: khi quá trình trao đổi chất bị rối loạn thì số

lượng, chất lượng tế bào cùng với chất đệm tế bào thay đổi so với bình thường, đó là sựbiến đổi tính chất của tế bào tổ chức Có các dạng biến đổi sau:

Tế bào tổ chức bị sưng tấy: khi sinh vật bệnh truyền nhiễm cấp tính, trúng độc hoặcthiếu ô xy nghiêm trọng, các tế bào của tổ chức sẽ sưng tấy lên Hàm lượng ion K+ trong tếbào giảm, hàm lượng ion Na+ tăng Sự thay đổi các thành phần ion là do tế bào bị tổnthương không đủ năng lượng để hoạt động

Tế bào bị biến đổi về thành phần nước: hàm lượng ion Na+ trong tế bào tăng đãdẫn đến hiện tượng trương nước tế bào

Tế bào tổ chức biến đổi trong suốt: dịch của tế bào hoặc chất đệm của tế bào xuấthiện các chất đồng đều như thủy tinh

Mỡ biến đổi: trong dịch tế bào xuất hiện các giọt mỡ và lượng mỡ vượt quá phạm

vi bình thường, thường mỡ biến đổi là do quá trình ô xy hóa các chất hữu cơ không đảmbảo, do chất độc, độc tố vi khuẩn

Trao đổi khoáng bị rối loạn: các chất khoáng Ca, Fe, K,Mg, Na đều là các chất dinhdưỡng của động vật nếu quá trình trao đổi các chất khoáng bị rối loạn sẽ làm cho quá trìnhsống bình thường của cá bị thay đổi và xuất hiện bệnh lý Cơ thể bình thường thì can xiđược tích trong xương và răng, thừa sẽ bài tiết qua ruột và thận nhưng khi hệ thần kinh mấtkhả năng điều tiết thì bị bệnh viêm thận, thận sẽ lắng đọng can xi, nếu vách mạch máu cohiện tượng vôi hóa khả năng đàn hồi sẽ kém và dễ gây vỡ mạch máu 2.2.3 Tổ chức cơ thểsinh vật bị viêm

Chứng viêm là phản ứng cục bộ hay toàn thân của sinh vật khi có tác động kíchthích từ bên ngoài vào thông qua phản xạ của hệ thống thần kinh Đây là quá trình cơ bảntrong bệnh lý

2.2.3.1 Biến đổi về bệnh lý của chứng viêm:

Biến đổi về chất của tế bào tổ chức: trong vùng bị viêm tế bào phân giải tách ra, lúc

mới viêm chỉ có các tế bào ở vùng giữa biến đổi về chất, xung quanh không rõ ràng.Nguyên nhân làm tổ chức cơ quan bị viêm là do quá trình trao đổi chất bị rối loạn, thiếuchất dinh dưỡng, do kích thích cục bộ Các tổ chức cơ quan bị viêm dẫn đến hệ thống tuầnhoàn rối loạn, tế bào tổ chức phát sinh biến đổi hoặc hoại tử

Thẩm thấu ra: khi cơ thể sinh vật có chứng viêm thì dịch thể và thành phần tế bào

máu thẩm thấu đi ra khỏi mạch máu vào tổ chức Nếu tổn thương nặng các phần tử lớn hơnnhư Globulin đến hồng cầu và Fibrimogen cũng thẩm thấu ra

Tăng sinh tế bào: tác nhân gây bệnh xâm nhập kích thích vào cơ thể sinh vật làm

sinh vật phát chứng viêm Để phòng vệ một số tổ chức cơ thể sinh vật như mạch máu, tếbào nội bì mạng lưới, tế bào sợi tăng sinh tế bào nhằm bổ sung một số tế bào đã thẩm thấu

ra ngoài, hạn chế tổ chức bị viêm phát triển thêm đồng thời khắc phục nhanh chóng cáctổn thất của chứng viêm

Bất kỳ một chứng viêm nào của cơ thể cũng có quan hệ mật thiết và tác động qualại giữa 3 quá trình: biến đổi về chất, thẩm thấu và tăng sinh tế bào

Trang 31

2.2.3.2 Triệu chứng chủ yếu của chứng viêm:

Tổ chức bị viêm có màu đỏ (do tụ máu cục bộ và hồng huyết cầu thẩm thấu ra)

Tổ chức vùng viêm sưng tấy: do dịch thể thẩm thấu ra, do vi khuẩn và các sản vậttrao đổi chất phân giải ra nhiều phân tử nhỏ, áp suất thẩm thấu tăng, tổ chức bị viêm dễdàng sưng to

Tổ chức vùng viêm bị nóng: nhiệt độ cơ thể cao hơn bên ngoài khoảng 20C, máu từtrong chảy ra ngoài nên vùng viêm có cảm giác nóng

Tổ chức vùng viêm bị đau: các chất thẩm thấu ra có sản vật làm đau và do vùngviêm của cơ thể bị đè nén

Cơ năng của tổ chức cơ quan thay đổi: cường độ và năng lực co giãn cơ giảm, niêmmạc phân tiết ra nhiều niêm dịch nhưng lúc nghiêm trọng lại ngưng phân tiết

Các cơ quan nội tạng bị viêm có thể không có hiện tượng nóng và đỏ Các ổ viêmcục bộ có khi cũng có triệu chứng toàn thân như cơ thể phát nóng, số lượng bạch cầu tăng

2.2.3.3 Kết quả chủ yếu của chứng viêm:

mặc dù chứng viêm gây ra những hậu quả không tốt nhưng dù sao đây cũng là mộthình thức phòng vệ của cơ thể sinh vật, thông qua phản ứng viêm để tiêu trừ nguyên nhângây bệnh, phục hồi tổn thất trong quá trình cơ thể bị bệnh, thẩm thấu thành phần dịch thểtrong máu và bạch huyết cầu, làm sạch những tế bào chết cũng như các chất dị dạng, phaloãng các sản phẩm có hại

Kết quả sau cùng của chứng viêm xảy ra trên cơ thể sinh vật có khác nhau:

1.Tuyệt đại đa số bộ phận chứng viêm sau thời gian ngắn thông qua hấp thụ, táisinh tế bào để liền lại và cơ nang cơ thể hoàn toàn hồi phục

2.Trong quá trình biến đổi tổ chức bị viêm lóet, tế bào chất bị tổn thương qúa nặng tuy

có tế bào bổ sung nhưng không thể hồi phục như đầu, tổ chức mới hình thành bởi các tế bàosợi, các chất thẩm thấu ra không được bài tiết ra ngoài nên một thời gian sau biến thành cácchất sợi dính tạo tổ chức mới Vì thế chứng viêm lúc này đã khỏi nhưng lại để lại để lại bệnh

lý, chức năng của cơ thể sinh vật không hoàn toàn hồi phục mà ở các mức độ khác nhau

3.Những trường hợp tổ chức cơ quan bị viêm lóet quá nghiêm trọng, tổ chức cơquan bị biến dạng, các chất thải ra gây nhiễm độc nặng làm cho sinh vật bị chết

2.2.4 Tổ chức cơ thể sinh vật tái sinh, phục hồi, phì

2.2.4.1 Sự tái sinh phục hồi:

Sau khi bị hủy hoại các tế bào tổ chức sinh vật tiến hành hồi phục lại, đó là mộtquá trình tu bổ Năng lực tái sinh phụ thuộc vào chủng loại, sức khỏe, giai đoạn phát triểncũng như khả năng cung cấp dinh dưỡng, cung cấp máu của tổ chức

Hệ thống phát sinh của sinh vật ảnh hưởng đến tái sinh: động vật có hệ thống phát

sinh càng thấp sự tái sinh càng cao và ngược lại

Trang 32

Sự phân hoá của tổ chức cơ thể ảnh hưởng tới năng lực tái sinh tế bào: tổ chức

phân hóa càng cao khả năng tái sinh tế bào càng thấp và ngược lại song không phải tất cảcác tổ chức phân hóa thấp đều có khả năng tái sinh cao

Sự phát dục ảnh hưởng tới khả năng tái sinh của tế bào: tổ chức ở thời kỳ phôi thai

có khả năng tái sinh mạnh nhất, thời kỳ già cơ thể mất dần khả năng tái sinh tế bào

Điều kiện sống, trạng thái hệ thần kinh của sinh vật ảnh hưởng tới sự tái sinh tế bào: thường có hai loại tái sinh:

Tái sinh sinh lý: là hiện tượng bình thường xảy ra hàng ngày biểu hiện tế bào mớithay thế tế bào già cỗi như hồng cầu bổ sung

Tái sinh bệnh lý: khi có bệnh lý sinh vật có tế bào mới thay thế tế bào đã chết Tổchức mới tái sinh có thể có kết cấu và cơ năng giống hoặc không giống hoàn toàn như tổchức cũ ban đầu

2.2.4.2 Phì và tăng sinh của tế bào sinh vật:

Các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, tác động lên cơ thể sinh vật làm cho tế bào

tổ chức tăng sinh quá độ, hình thành các khối u có kết cấu và tính năng hoạt động khácthường Tổ chức của khối u có khả năng trao đổi chất và sinh trưởng rất nhanh, khôngđồng nhất với các tổ chức cơ thể sinh vật, tế bào không phân chia hoàn toàn, không hìnhthành kết cấu tế bào bình thường Thành phần hóa học của tế bào của tổ chức bị u bứu khácvới tổ chức bình thường về số lượng, thành phần nước nhiều, Protein giảm, thể keo phântán nên sức trương bề mặt tế bào giảm

Tế bào cơ thể sinh vật tăng lên về thể tích là phì Còn tế bào của tổ chức tăng lên về

số lượng thì gọi là tăng sinh Có khi tổ chức tăng lên do cả phì và tăng sinh và cũng có thể

2.2.5 U bứu trên cơ thể sinh vật:

Có hai loại u bứu trên cơ thể sinh vật: u bứu lành và u bứu ác

ở cá có hơn 60 loại u bứu khác nhau, điển hình là:

-U bứu thượng bì: chỉ các u bứu ở các tổ chức thượng bì như gan, dạ dày, ruột, tuyến sinhdục, tuyến tụy, tuyến giáp, bàng quang, thanạ, bong bóng, da, mắt, mang

-U bứu lá giữa của tổ chức cơ quan không tạo máu như mô cơ, mỡ, xương, mạch máu.-U bứu cơ quan tạo máu: tổ chức lâm ba

-U bứu tế bào sắc tố: hay gặp hơn là u bứu tế bào sắc tố đen trong hơn 10 loại u bứu tế bàosắc tố

Trang 33

BÀI 2: PHƯƠNG PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO CÁ

1 Thuốc chữa bệnh cho cá

1.1.2 Tác dụng trực tiếp và tác dụng gián tiếp

Tế bào hoặc cơ quan nào của cá tiếp xúc với thuốc phát sinh ra phản ứng, đó là tácdụng trực tiếp; còn khi có tác dụng trực tiếp ở cơ quan nào đó rồi lại dẫn đến cơ quan khácgây phản ứng là tác dụng gián tiếp

1.1.3 Tác dụng lựa chọn của thuốc

Tính mẫn cảm của các cơ quan trong cơ thể cá với thuốc không giống nhau nên tácdụng trực tiếp của thuốc với các cơ quan của cá cũng có khả năng lựa chọn Do quá trìnhsinh hóa của tế bào tổ chức cơ quan không giống nhau, tế bào cơ quan nào phân hóa càngcao quá trình sinh hóa càng phức tạp khả năng can thiệp của thuốc càng lớn nên tính mẫncảm của thuốc càng cao, như hệ thống thần kinh Tuy nhiên tính lựa chọn của thuốc cũngchỉ mang tính tương đối, nhất là khi dùng thuốc liều cao

Hiện nay dùng một số hóa chất để tiêu diệt sinh vật gây bệnh có tính lựa chọn cao,

ở nồng độ không độc hại với cơ thể vật chủ đã có thể can thiệp được quá trình sinh hóacủa sinh vật gây bệnh nên hoá chất được dùng phát huy hiệu quả tốt

Tuy nhiên có một số hóa chất không có tính lựa chọn cao nên khi vào cơ thể sinhvật có thể can thiệp vào quá trình sinh hóa cơ bản nhất của nguyên sinh chất tế bào nên đã

có tác dụng đến sự sống của các tổ chức cơ quan khác như các ion kim loại kết hợp với gốc(SH) của men làm rối loạn chức năng hoạt động của hệ thống men nên tế bào không tổnghợp được Prôtêin

1.1.4 Tác dụng chữa bệnh và tác dụng phụ của thuốc

Dùng thuốc chữa bệnh nhằm tiêu diệt nguyên nhân gây bệnh và các triệu chứngbệnh, vì thế nên thường dùng thuốc chữa bệnh và thuốc bổ dưỡng khôi phục lại chức nănghoạt động của các tổ chức cơ quan

Trong quá trình chữa bệnh thuốc có khả năng chữa bệnh nhưng một số thuốc cókhả năng gây phản ứng phụ, có thể có hại cho cá như:

-Nồng độ cao quá nên duy trì hiệu lực lâu dài ở trong nước, có trường hợp liềulượng dùng đúng nhưng khi sử dụng không may thời tiết thay đổi cũng gây ảnh hưởng đếnđời sống cá, có thể gây ngộ độc

-Khi tiêm cá một số bị lở loét hoặc một số cá khi chữa bệnh xong lớn chậm,

Ngày đăng: 28/09/2013, 01:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sự biến đổi của tỷ trọng (g/ml) của nước chứa muối - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Bảng 1 Sự biến đổi của tỷ trọng (g/ml) của nước chứa muối (Trang 6)
Bảng 2: Độ hòa tan của ô xy khi thay đổi nhiệt độ và độ muối - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Bảng 2 Độ hòa tan của ô xy khi thay đổi nhiệt độ và độ muối (Trang 12)
Hình 3.1 Cá trắm cỏ bị bệnh đốm đỏ - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Hình 3.1 Cá trắm cỏ bị bệnh đốm đỏ (Trang 42)
Hình 3.2 Cá mè trắng bị nhiễm bệnh trắng đuôi - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Hình 3.2 Cá mè trắng bị nhiễm bệnh trắng đuôi (Trang 44)
Hình 3.3 Cá bị bệnh viêm ruột - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Hình 3.3 Cá bị bệnh viêm ruột (Trang 45)
Hình 4.2 Trùng quả dưa - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Hình 4.2 Trùng quả dưa (Trang 49)
Hình 4.3 Trùng loa kèn (sinh sản) - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Hình 4.3 Trùng loa kèn (sinh sản) (Trang 50)
Hình 4.4 Giun tròn Philomatra - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Hình 4.4 Giun tròn Philomatra (Trang 51)
Hình 5.4: Con bã trầu - GIAO TRINH CA VA BENH CA
Hình 5.4 Con bã trầu (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w