chúng vần quyêì định cứ quân sang đánh chiếm Việt Nam., tráng trợn cho rằng viộc đem quân đánh chiêm Nam Kì từ lâu đã nằm trong diự kiến của nước Pháp, đốn nay Ihi hành chấng qua chi là
Trang 1ĐINH XUÁN LẢM {Chủ Inén)
NÍỈUYKN VÃN KHÁNH - N(U YKN ĐINH l i :
LỊCH SỬ VIỆT NAM
T Ậ P II
ỈH5H - i 945 (Tái bản lần thứ mười ba)
NHÀ XLi 1 BÁN (ỈIÁO 1)1 ( Vít: í NAM
Trang 2Chủ biên :
GS ĐĨNH XUÂ N LÂM
Phản công bién soạn :
- Lời nói đầu
- Chương I, II, III, IV, V : G S Đinh Xuân Lâm
Có sự cộng tác của Cử nhân sừ học Lê Đình Hà
Trang 3LỜI NÓI ĐẨU
ĐẠI C U Ơ N G LỊCH s ử VIỆT NA M (Tập I II Irinlì hày một cách hệ thống lịch sử cuộc ílấu iranìì yỠH nước t ách mạiii> của nhán dán ta \'ì dộc Ịập dán tộc
lược, dến năm ỉ 945 - Cát lì mạng íhúnị> 'I ám thành công đã phá tan hai xiềng
xíc h IIÓ lệ P h á p - N h ậ t cìồnỊị th ờ i lậ i nhào ( 'Ììế iỉộ quân c h ủ chuyên chê tồ n t ạ i lìịỊÓ! lìị^àn năm C h ủ tịch H ố C h í M in h llỉu y m ặ l C h ín h p h ủ lâ m th ờ i đ ọ c b á n 1'uyêii iniỏn D ộ c lậ p lìiỊÒy 2 - 9 - Ỉ 9 - I Ĩ dà khắng đ ịn h nước V iệ t N a m " c ó
íỊuyềìi hưàng tự d o và dộ c lập và sự íhậí (íã tlĩàiĩlì m ột nước tự do, độ c lập Toàn lliẽ clân tộc \ ’iệt Narn quyết dem íất cừ tinh thần và lực ỉượntị, tính mạng
vù ( lid ( d i dè g iữ \'ữn}> quyền tự do dộc lậ p ấ y " M ộ t k ỉ nịỊuvèn mcri c ủ a lịc h sử (lãn lộ c ( k ĩ m à ru , k i niịnyén dộ c lậ p (làn lộ c gắfì iièn với chủ n g hĩa x ã hội.
Đ Ạ l CU Ơ N G LỊCH s ú VIỆ r NAM (Tạp l ỉ l â ing câ ịỊơnịỉ phàn ánh một ( ách tươHỊị dối loàn (liệiì cuộ( ilấu tranh của nhàn dàn ta, không ch i vê mặt
ic trưới dây chiữì íỉưực ( Iní lrọiìỊ> ihiiìiỊ mừi Đi' thực hiện đưỢi' yêu cấu này, ( ác l(H iỊÌá niộl mựỉ kê lliừti ( ó ( họn ÌỌ( L(’l (Ịiui ( lia Iìhữnị> người iỉi trước, mật khác tỉù chù ý khai tluí( mội sò nỊỊUõn ne ìiệu mới cónỊỉ hô trong \’à nịịoài nước
dc rận iliu ìí’ vào việc hiéii soạn ( õni’ n inh.
lạo (Ic i li(>hi> lạ i cúc ilìế lực phàn (lộin’ nói irẽn (lồng thời cũng là lịch sử quá
ỉ rình lifn ròi chân lí cứu nước, lừ.xu hướng phong kiên, qua xu hướng dán chủ tư sán, (lê c uối cùng dơn lới sự ịịựp Ịịỡ có tính lấl xêu của chủ nghĩa yêu nước
iruyền ỉhỏng với chủ nghĩa x ã hội CỈIỈỢC cỉáiìlì dấu hằng sự kiện Irọng đ ạ i
Trang 4-chính (lâĩỉg vô sờn ra dời, kếĩ ílĩỉH ỉlỉởi ki klìỉỉỉìiỉ lìoàỉĩỉ^ vai ĩ rò Icìnlì (lạo Ví) mờ
r a tìuyị k ì p h â ĩ ĩr iê ỉì ( l i u ( á d ì m ạn^ \ iệt N a m , dần tới C ủch n u m ^ ỉlìúns: Tánì
Plìáp, phút \ í ỉ Nlìậí nhàm hiên Việĩ Nam iliânlì mộỊ uưới ilìuộc ílịa iìihỉ Ịìlỉoỉì^
k iế n , m ộ t thực d â n clịa hao (làm siciể lợ i ệìlìuận ĩố i chỉ vù m ộí ( í h ì ( ứ (/iiiin sự
troĩìỉ^ khu vực D ô ỉì ỵ N a m Á.
C á c íâ c í>iíl (1(1 cỏ nlỉiíUí có ịỉắníỊ, nlìỉúì^ chảc klìôỉìỉ^ íránlì kluii Ịìlìữn}^ íhii U
sỏ ĩ và hạn c h ế vé n ộ i dun\ị vù hình í hức, vì vậy cõỉìi^ írin lì nủy (Ún (liiự( Ịiè p lỉu
h ô Siiỉỉị^, s ử a c h ữ a , lìo à ỉỉ c h in h iutìì.
C ác tác giã
Trang 5PHẨN MỘT
VIỆT NAM
Trang 7Chương I
CUỘC KHÁNG CHIẾN BĂT ĐẦU
i ẢM MƯU X Â M LƯỢC VIỆT N A M
C Ủ A T H ự C D Â N P H Á P
Âni mưu xâm lirực ciia tư bàn Pháp dối với Việt Nain lâu dài và liên tục, bắt nguồn từ những năm đầu thế ki XVII, và ngàv càng được xúc tiên một cách
mạnh mõ, đặc biệl từ giữa thê ki XIX Niiày 2 - 12 - 1852, Lui Bônapác (I.ouis
Bonaparte) dựa vào sự 11112 hộ cùa bọn dại tư sán phán động, giáo dân và sức
mạnli cùa lưỡi lê dò lên ngôi I ioàng dò Ncn Đô chế thứ hai là một hình thái chuyèn chê cùa giai cấp tư sán l’háp, bên trong ra sức đàn áp và bóc lột nhân dân, bòn ngoài ráo riêt đấy mạnh xám chiêm thuộc địa Nhưng cũng phái đợi
nước cùng nhau câu kcl (fc uy hiếp 1 rung Quốc, cộng thêm các báo cáo cúa các thương nhân và giáo sĩ vổ tình liinh tmà\ liiéni suy đốn cúa rriểu dinh Huế,
N ap ổ lcô n g III mới dáni ra m ặt hành dộng
Ngay 16 - 9 - 1856, tàu cliióti Catina (catmat) ciến Đ à N áng, có phái viên
cầm quốc thư sang Việi Nam nhưng 'I ricu đình lỉu ế lo ngại không chịu tiếp
Thài bại trong âin imru điéu tra tình hình Việt Nam phục vụ âm m ưu xâm lược,
ngày 26 - 9 - 1856, tư bán Pháp dã iráng trợn nổ súng bắn phá các đồn luỹ rồi
kéo lên khoá tât cả các đại bác bố trí ở trên bò, sau đó tàu nhố neo bỏ đi Một
thánịi sau, ngày 24 - 10 tàu chiến ( ’aprixiơ (Capricieusc) lại cập bến Đà Nẩng
xin dược gặp các quan lại rriéu đình dê Ihương lưựng, nhưng cũng bị cự tuyệt
C uối cùng, ngày 2.1 - 1 - 1857, phái viên cùa N ap ô lcô n g III là M ồngtinhi
(Moiitigny) cập btMi Ị)à Nang, yêu cầu (tược tự do truyén đạo và buôn bán 'I hực
ra đây chi là mộ! chuyên đi dọn dường sần cho cuộc can thiệp vũ trang khi đánh
Trang 8xona 'I tuiìi’ Quốc Cho nên, nuay irước khi Mòngtinhi đòn f)à Nẩnii inỏt thánu
Bộ Irướnu llái lỊuãn l’háị) là llaiìKnlanh (lỉainclin) liã liốp viện thôiii clio hạm
dội Pháp ớ riiái Bình Dưưng \à Bộ trường Ngoại giao Pháp là Oalópxki
(W a lc \\sk i) cũng dã ra lộnh c h o !’lió Ị)õ dốc (ìiơ n u iy (R ig a u lt cic (kMKỉiiilly)
lúc (ló đang chi liuy hạm tlội Pháp tham gia cuộc lân công 'IVung Quốc, 'sau khi bần phá \'à chiòm cứ xong Quang C'háii phai kéo ngay quân xuống đánh t liiõni Việt Nam Rõ ràng việc cử Mônsilinhi sanu iiặp 1'riổu đình Iliiõ chi có ịúá trị ngoại iiiai) hìnli thức, còn mọi mưu niõ kè hoạch đcu dã được bọn tư báu Siip cfặt
lừ trước, chi (lơi tliời c ơ và kiõni cớ (fc nổ súniĩ Vì thô, bán thân M ỏniĩl inhi cỉã
có những hành dộng \ỏ cùng trắng Irơii Vãp phái Ihái độ cùa '1'ricu dìnli liuò cươnii quvèt cự tuyệt không liõp trước khi rúl lui \'C lurớc y dã t!c tloạ s.è (.iùni:
\ ũ lực do trừnii phạ! nèu klìỏng tỉình clii \ iọc cãnì dạo; đồng thời y cĩinc c ãp biU)
\'C mrớc yẽu cấu cử biiih chiếiii gấp Nam Kì, 1 rirác khi xuống tàu \'C niưcÝc, y
còn lén lút dưa tên gián d iệp đội lội !>iáo sì ị\-nlơranh (P ellcrin ) vé i*háp V cu cầu
Napòlẽông III cứ binh sang Việt Nam bcMih vực những người theo đạo.
Ngày 22 - 4 - 1857 Napôlêỏng 111 quyết định cử ra FIội đồng Nam Kì đê
dại diện cho Nguyền Ánh và Môngmỏranh (Montmorin) đại diện cho Lu i X V I
Âm nuru cùa tư bán l^háp lúc đó ià Iiiuỏn dựa vào vãn kiện bán nước d;ẩu tiên cùa Nguyền Ánh đê “hợp pháp lioá" việc mang quân sang đánh chièVn Việt Nam Nhưng Hiệp ước đó trong thực tẽ dã bị thú tiêu ngay sau khi kí kết ('hình pHú ỉ’háp lúc đó không có điều kiện thi hành vì còn lo đối phó với ngọin sóng cách mạng đang dâng cao trong nước Do đó họ không thể dựa vào cớ ihii hành lỉiệp ước đế đưa quân chiếm dóng Đà Nẩng Côn Lòn, đòi độc quyén Ithương
mại và tự do truyền đạo ở Việt Nain như các ítiểu khoản của Hiệp ước (đã ghi
Mặc dù vậy chúng vần quyêì định cứ quân sang đánh chiếm Việt Nam., tráng
trợn cho rằng viộc đem quân đánh chiêm Nam Kì từ lâu đã nằm trong diự kiến
của nước Pháp, đốn nay Ihi hành chấng qua chi là tiếp tục truyền thốiiig cũ trung thành với một “quốc sách" dã dược các chính phủ tiốp tục theo đuiôi qua
các th(yi kì m à thỏi T h á n g 7 - 1857, N apôlêông III q u y ế t đ ịn h vũ iramg can
Ihiệp vào Việt Nam 'l'ư bản Pháp (tã lấv cớ trá Ihù việc '1’ricu đình l luố không
liếp nhận quốc thư của Pháp do làu chiến Calina đem đến tháng 9 - 185i6, cho
ỉà "làm nhục quốc kì” Pháp Mặt khác, chúng còn lấy cớ “bênh vực dạo” ,
“truyền bá văn ininh Công giáo” đế tranh thú sự đồng tình, ủng hộ cúa diư luận Công giáo ớ Pháp và Viột Nam Nhưng tất cá những lí do đó đéu không clnc đậy
Trang 9nổi riguyên nhân sâu xa bèn Irong cùa ám mưu xâm lược Đó ià yêu cầu tìm kiếin thị trường và căn cứ ớ Vién Đỏng, nhâì ià ớ niicn Nam 'ÍVung Quốc cửa chú nghĩa tư bán Pháp khi (íang chuvôn mạnh lẽn con đưcmg đố quốc chú nghĩa;
dó là cuộc chạy đua aiành siậl thị trường giữa 1’lìáp với các nước tư bán khác ờ khu vực Vicn Đông, dặc biột vứi địch tliú cổ truvén là tư bán Anh.
Cuối cùng, sau khi liên quân Pháp - /\nh dánh xong Quáng Cháu (5 - 1 - 1858)
và tiùng áp lực quân sự buộc phong kiến 1'rung Quốc kì Điéu ước Thiên Tân (27 - 6 - 1858), Giơnuiy (Rigault dc Gcnouillv) kéo ngay quân xuống hợp với quân 'l ây Ban Nha do Đại lá Palãngca (Palanca) chi huy, rồi giong buồm kéo ihắng lới Đà Nầng, dàn trận từ chicu 31 - 8 - 1858 Pháp và Tây lỉan Nha liên minh quân sự với nhau vì trong sô các giáo sĩ nước ngoài bị 'rriéu đình ỉluế giain giữ giối hại hồi đó có một sò người 'í'ây lỉan Nha Tư bán 'Pây lìan Nha cũng nhiéu iần nhòm ngó các vùng Đồ Sơn Quáng Yên ngoài Bắc nên Nữ hoàng Tây Ban Nha Idaben ĨI (Isabclle II) sẩn sàng câu kết với Pháp trong cuộc vicn chinh này đê’ kiếm lợi.
II KHỦNG KHOẢNG SUY VONG CÙA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN
!'ư bán Pháp lãm le nổ súng xâm lưực đúng vào lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khùng hoáng trầm trọng Chế độ phong kiến Việt Nam đã khung hoàng nặng từ cuối thê ki XVIIl I.úc này những mầm IIIỐIIỈỈ tỉầu tiên của chủ lỉghĩa iư bán lionịỉ nước dã xuất hiện và ngày càng mâu thuán đối kháng với quan hệ kinh tố phong kiến báo thủ lạc hậu bao đời thống trị xã hội Việt Nam Nén kinh tố ticu nông dang cần được phát triển, nhưng bị chê độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến uy hiếp nghiêm trọng Đây cũng là thời
kì bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân trên một quy mô rộng lớn trong phạm
vi cả nước, đòi hỏi đất nước phái sớm thống nhất Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn thắng lợi đã mờ ra nhiều triển vọng cho sự phát triển cúa lực lượng sản xuất theo hướng tư bán chú nghĩa Nhưng dựa vào thế lực tư bán Pháp Nguyễn Ánh dã đánh thắng triểu Tây Sơn.
II
Trang 10Ngay sau khi lên ngôi (1802) Nguyciì Ảnh lây niên hiệu là (ìia Long và các vua tiếp theo (Minh Mạng '1'hiệu rrị, l ự Đức) ngày càng đi sâu vào con dường phán động, vừa ra sức phục hổi và cunc cỏ quan hệ sàn xuất cũ vừa cỏ tình hóp nghẹt lực lượng sàn xuất mới đã manh nha phát triến hồi Ihê ki XVIII Mọi chính sách chính trị kinh tế, vãn hoá, xã hội triều Nguyền ban hành đểu nhằm mục dích duy nhất ià báo vẹ đặc quycn đặc lợi cho tập đoàn phi)ng kiên nhà Nguyền.
iiộ máy chính trị triều Nguỵẻn ngay từ dầu dã mang nặng tính chàt quan liêu, độc doán Đó là một nhà nước quân chú chuyên chế tuyệt đôi, tập trung cao độ với một chê độ chính trị lạc hậu, phán dộng Mọi quycn hành déu tập trung trong tay nhà vua Vua được coi là “con trời”, “thay trời" trị dân; quyền hành nhà vua được coi là “thần khí" thiêng liêng, vô hạn Nhà vua trong thực lê'
là đại địa chú lớn nhất trong nước, có toàn quyền phung phí tài sán quôc gia trên xương máu cúa nhân dân Còn quan lại trong triều và ở các địa phương hầu hết là bọn hú bại; chính trị Ihì báo thủ, cầu an; kinh tế thì tham lam và cuổng bạo '!'ừ vua đến quan đổu rất tự cao lự dại với mớ học thuyết Khổng Mạnh lỗi ihời, xem trật tự phong kiến là bất di bất dịch, mãi đến lúc súng giặc nổ ấm bên tai mới bàng hoàng tinh giấc 'IVong hoàn cánh đó đời sòng cùa người nông dân trong các thôn xã vỏ cùng cơ cực IXrứi Iricu Nguyền, lố chức xã thôn đã hoàn loàn trờ thành một công cụ cúa bọn cường hào địa chủ nông thôn Nó trói buộc người nông dân trong những quan liệ địa phưtmg hẹp hòi có lợi cho sự b(>c lột cùa nhà nước phong kiến và cán irờ sự phát triên cùa nền kinh lè hàng hoá.
Nén kinh tê tư hữu cùa nông dân bị xâin phạm nghiêm trọng Ruộng đất phần nhicu tập trung vào tay bọn quan lại, clịa chủ Công điền, còng thổ chỏ nào màu mỡ béo tối đểu bị bọn cường hào lũng đoạn, còn lại thì bọn hương lý lại bao chicin, dân nghèo chi dưực nhữnu chỗ xưctng xẩu Nói clìung nông dân khône có ruộng cày đời sống vô cùng cực khổ Hiện iượng nông dân không có ruộng đất cày cấy làm ãn phái bò làng đi tha phương cầu thực là nét phổ biến dưới triéu Nguyền Chi từ năm 1802 dên nãm 1806, nông dân trên 370 thôn Ihuộc mây trân lớn ngoài Bắc dã xiêu lán đi nơi khác Đến năm 1826, lại đến
108 xã thôn thuộc 13 huyện của trấn Hãi Dưcmg xiêu tán cộng thêm vào đó là
tô thuế rất nặng né Đó là chưa kc tới tình trạng vỡ đê lụt lội, mất mùa đói kém Ihường xáy ra hầu như không năm nào không có Đê Văng (ỉiang ớ Mưng Yên
vỡ 18 nám liền, biến cả một vùng dồng bàng phì nhiêu ở Khoái Châu thành bãi đâì hoang, nhân dân vùng này từne đoàn ỉang thang kéo nhau di các nơi xin ăn.
Trang 11Tại c ác vùng ở Bắc Ninh Sơn râ y lại có nạn châu c h ấu phá hoại rnùa m àng Vì vậy, nan đói xảy ra thường xuyên N gay trước khi tư bản Pháp sắp nổ súng đán h vào D à N ẩng (1858) mộl trận đói ghê gớm dã xáy ra iàm ch o h àn g ch ụ c vạn
nhiin dân các linh Trung - Bắc Kì bị chết Đồng thời, cũng do sự bất lực ciia Triều đình phong kiên Ihống trị, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng
chục vạn người.
1'rước tình hình bi thám đó, dế xoa dịu và ngăn ngừa dân chúng nổi dậy
:h(>ng lại, phong kiến íriều N guyễn đã có mộ! sò biện pháp M inh M ạn g ra lệnh
cho Nguyễn Công Trứ chiêu dân tiến hành khai hoang miền ven biển lập ra hai huyện 1'iền Hái (TTìái Bình), Kim Scm (Ninh Bình) trong hai năm 1828 - 1829;
Tự t)ức giao cho Nguyẻn 'iVi Phương lo liệu việc mộ dân lập ấp ớ Nam Kì từ năm 1853 Nhưng tất cá các biện pháp trên đếu không mang lại kết quá đáng
kế v'i đéu xuất phát từ lợi ích cùa giai cấp thông trị Người nông dân sau một thời gian dổ mỏ hôi sôi nước mát lại thấy ruộng đất do lay mình làm ra bị bọn
p h o n g kiến cư óp đoạt Vì vậy nạn nô n g dân lưu tán, nhất là đến đời 'ỉ'ự Đức, khi
tư bản Pháp sắp nổ súng khởi hàn, lại càng trở nên phổ biến khắp cá nước và ngày càng trẩm trọng hơn lèn Đó là một trong những nét tiêu biểu cúa thời kì khủng hoàng suy vong của chê dộ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn.
cht) nhà vua, vàng vạc, gấm vóc, các công trường xây dimg cung điện, thành
quách, lăng tâm đéu do bộ Côiig cúa Triều đình quản lý, Chế độ làm viộc irong các công xưởng này là chế độ “công tượng” mang nặng tính chất cưỡng bức lao động Những người thợ giói ớ các địa phương bị bắt về đây được phiên chế thành đội ngũ, làm việc tập trung với một số lương rất thấp, lại chịu sự kiếm soát nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với công việc 1'riều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai mỏ Số mò được khai thác từ nàm 1802 đến năm 1858 là 139 mó, bao gổm đủ các loại Nhưng phần lớn các mỏ đều do quan lại Triều đình đímg ra khai thác, chỉ một số ít là do chủ
mỏ Hoa kiều hay Việt Nam chủ trì Phương thức sản xuất trong cả ba loại mỏ
cơ bàn vẫn là lối sán xuất Ihii công cá thể, với những hình thức bóc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch Nâng suất trong các công trường mỏ vì vậy
!3
Trang 12Ihường thấp Đã thế, iricu Nguyền còn dátìlì Ihuè san vật rất nặng \ ào các mò do Iloa kiều hay người Vịộl đứng ra khai thác, Nhicu phép lắc vô lí làin hạn chò sự
phát tricn cúa ngành khai IIIỎ, như quy định nhữiig khu \ự c c ấ m khai nio giữ
dộc quyén thu mua các kiiiì loại khai ihác (tưoc Ihco giá quy định.
Các nghé thủ công tronii nhàn clãn khóniỉ có dicu kiệMì phát Iriến Tại các công xướng thủ còng, mặc dù khỏnti có IIIÓI chê dộ phường hội chặt chc theo
kiổu các nước phong kiến châu Âu nliưng các mối quan hệ phức lạp giữa chú
và thạ giữa thợ cá và thợ bạn, giữa tác iànii chuyên niỉhiệp với nhau \à rấl nhicu luật lẹ câm đoán cùa IViéu dinh dã làm cho sáng kiên, tài nâng cùa người
thợ ngày càng bị bóp nghẹt, ( ác nehô thu cõniỉ nhỏ và nuhc phụ gia lìình ớ
nông thôn còn bị dinh đốn \'ì nóiii’ dãn dõi khổ li tán lìiủ công nghiệp hầii như
bị tê liệt.
'rhưcmg nghiệp dưới triéu Nguyền sút kém một cách rõ rệt Chính sách
“trọng nông ức thương” cùa rriéu dinh dã kìm lìãm thương nghiệp Vó nội thương, một mặt '1'riéu đình nắm dộc quycn buôn bán nguyên liệu cóng nghiệp (như đồng, thiếc, chì kẽm nhất là lưu hoàng, dicin liêu), vì sợ nhân dân chế vũ khí chống lại Mặt khác, rriéu đình dật ra nhiéu luật lệ cliặt chẽ để kiềm chê như nẳm độc quyén buôn bán cã dối với Iiiộl sỏ’ lâm sán quý uiá cướp (foạl cúa đồng bào miền núi (quê gạc hưưu sáp ong, ngà voi gồ quý); ciánh thuò Iiặng vào các mặt hàng quan trọng đốn đời sống nhân dân như lúa gạo đê hạn chẽ việc chuyên chở trao đối giữa các vùng trong nước; câm nhân dãn họp chợ Việc giao lưu giữa các dịa phương vì vậy gặp rất nhiéu trở ngại, Ihị irường trong mrớc
không tập trung và thông Iihât.
Ngoại thương cũng bị Triéu dinh náni dộc quyổn 1'hực hiện chính Siích bế
q u an toá câng, T ricu dinh chi liiứ Iiiìo giọt Iiiụl sỏ cứa hiciầ clu) làu nước ngoài
lui tới buôn bán Chi được nhập vào những hàng hoá rricu dinh cán (như sắt, chì, gang, lưu hoàng để làm súng đạn); còn xuất cáng thì cáni tàu thuyén nirck' ngoài khòng được mua tơ lụa thóc gạo irong nhàn dân Tàu buôn nước ngoài lới buôn bán còn bị khám xét rất kĩ đế đánh !huc và định giá hàng, lại còn có thc bị trưng dụng đi phục vụ cho các (tm cổng tik' đột xiiât cùa lYiều đình (như clìớ gạo cho quân lính, hay chuyên chứ nguvên \ậ( liệu xâv liựng lăng tám, cuna
điện) C hính sách bê quan toá cáng cùa '!'riéu đình đã làm cho việc buôn bán với
nước ngoài sa sút rõ rệt 'Iliuế cứa quan, trước có 60 sờ, đến nãni 1851 chi còn
21 sở; một sô' cáng trước kia buôn bán rất pliổn Ihịnh, nay cũng trớ nên tiêu diều vắng vẻ,
Trang 13Nói tóm lại ncn kinh tế - lài chính luróc la (rong nứa dầu thê ki XIX đã suy đốn irấm Irọng vé mọi mặt nông, cóng ihư(»nu nghiệp Do sự báo thú, lạc hậu,
thậm c h í phán đ ộ n g cùa triều N guyền, các yẽii lò tư bán chú nghĩa mới náy sinh
trong các khu vực kinh tê, dang trên dà pliát tricn tự nhiên và tiên bộ phù lìọ^i
với y c u cấu phiít triến cúa xã hỏi hổi (ló, (lóii bị hóp nghẹt
Nõn kinh tê hàng lioá vì vậy đã bị co hcp lại rrên cơ sớ đó, ncMi lài chính quốc gia ngày một kiệt quệ Đời sôniỉ nhàn dân ngày càng cực khổ Mâu
th u ần giữa giai cấp p h o n g kicn Ihổng irị với nhân dân - ch ú yếu !à nò n g dân -
dã trở nên vỏ cùng gay ỉỉắt \'à đã bộc lộ ra lìuoài một cách sâu sắc với hàng loạt cuộc khới nghĩa nône ciân SUỐI cá lììày dời vua triổu Nguvỏn 'í rước khi tư bán l’háp nổ súng \âni lược, một so cuộc kliứi nghía lớn đã bùng nổ; ỉ^han Bá Vành ã Nam Định (1821); Ló Duy l.ương ơ Ninh Bình (1833); Lê Vãn Khôi ớ
Cìia ỉ ) Ị n h (1 8 3 3 ); N ô n g Vãii Vân CY '1’uyCMi Q uanu (1 8 3 3 ); C ao Bá Q u á t ờ Bảc
N in h ( 1854)
Đè duy trì chê dộ xã hội thổi nál nhằm biU) vệ đặc quvcn dặc lợi nhà Nguyễn đã ra sức cúng cỏ' trật lự phong kiên băng mọi cách.
Vô d ố i nội, họ ra sức đàn áp khùng bò các phong Irào cú a q u ần ch ú n g , huy
đ ộ n g nlhững iực lượng quân sự lo lớn \ àc) \ iẹc dập lát các cu ộ c khới nghĩa nòng
dân trong biên máu Các cuộc hành quàn liên niièn một mặt đã làni cho chính lực lượmg quân sự cùa 'I ricu đìnlì bị suy yêu dán mặt khác cũng làm huỷ hoại khá năinịỉ kháng chiên lớn iao cua dán lộc càng tạo thêm điếu kiện thuận lợi cho tư bán ỉ’lìáp thôn tính nưức ta Đê biện minh cho thủ doạn tàn bạo trCn triều Nguyền đã ban hành bộ luậl (ìia ỉ,ong nãni 1815 Bộ luật này được soạn ra phóng nheo bộ luật phán động cùa phong kiên Mãn Thanh (Trung Quốc), dưới
ý niộin trấn á p n h â n dãn và giữ vừng trát tư phoiiịì kiên tuyệl đôi Cá vãn học
cũng dược dùng đế tuyên Iruycn clìo chó (tộ thong trị cúa phong kicn Nguyền,
n h ư Mi nh M ạ n g ra 10 clicu ỉ ỉ i h í n (lu. 1'ự Đức diền àni T h ậ p ( i i ề u ( l i ễ n c a đế truyền Ibá rộ n g rãi họ c thuyết N ho giáo, trẽn cơ sớ d ó c ú n g c ố ý thức hệ pho n g
kiến dã bị rạn nứt.
Vè đôi ngoại Iriếu Nguyền ra sức đáy mạnh ihú đoạn xâm lược đối vứi các nước lá.ng giềng như Cao Miên Lào, làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gi.a và tài lực nhân dân bị khánh kiệl Còn (lói \'ới các nước phương 'rây thì thi hànỉn ngày một thêm gấl gao chính sách bõ quan toá cáng và cấm đạo giết (iạo rnưcíc âni mưu xâm lược ngàv càng ráo riél cùa bọn tư bán nước ngoài -
nhiú là cùa tư bàn Pháp - phong kiến nlià Nguvền tưcnig làm như vậy là iránh
Trang 14được nạn lớn Họ không thấy được muốn bào vệ độc lập dân tộc, muôn giữ gìn đất nước trong những điếu kiện quốc gia và quốc tế bấy giờ, biện pháp thích hợp nhất là mỡ rộng cửa biển giao thương để duy tân xứ sờ, đẩy mạnh phát triến nông công thưcmg trong nước, trên cơ sở đó quan tâm bổi dưỡng sức dân, sức nước để có thê đối phó kịp thời và hiệu quả với nhihìg âm mưu xâm lược ngày càng được đẩy mạnh của tư bản nưdc ngoài Trái lại, càng đóng chật cửa và càng cấm đạo, giết đạo, lại càng tạo thêm lí do cho chúng nổ súng xâm lược sớm hơn mà thôi.
Rõ ràng là với những chính sách của triều Nguyễn, nước Việt Nain đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bàn phương Tây đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự hoại động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt thưcmg nhân và giáo
sĩ Lịch sử lúc này đã đi tới một bước ngoặt Một ỉà triều Nguyễn bị đánh đổ và thay thế vào là một triều đại khác tiến theo hướng mới tư bản chủ nghĩa, có khả nảng duy tân đất nước và bảo vệ nển độc iập dân tộc Hai là nước Việt Nam bị mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa của chúng Thực tế lịch
sử đã cho thấy rõ khi tiếng súng xâm lược của tư bản Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam đã phân hoá thành hai phái chủ chiến và chủ hoà, phái chủ hoà gồm phần đông là đại phong kiến và quan lại lớn do Tự Đức đứng đầu nhanh chóng câu kết với bọn cướp nước, làm tay sai cho chúng đàn áp và bóc lột nhân dân cả nước Tất nhiên, khi khẳng định trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để đất nước ta rơi vào ách Ihống trị của thực dân Pháp vào nứa sau thế ki XIX, chúng ta không hề quên những đóng góp của họ về các mật phát triển giáo dục, vãn hoá, nghệ thuật mà một số thành tựu đến ngày nay vần là tài sản quý của dân tộc.
Trang 15lực cúa 'Pricu đình Huế tại đâv, rồi \'U(íl {!c(> ilái Ván đánh thọc sâu lên Huế bóp
chét sức k h áng ch iế n cúa tricu Níiuvcn lai chỏ và buộc T riều đình phái đầu hàriị! M ờ sáng hôm sau (nsỉày I - 9 - 185S), ch ú n g đã ch o người đưa tối hậu thư buộc T rấn thú T rần H oàng phái tra lời ngay tro n g vòng hai giờ K hông dợị hết hạn, ch ú n g dã ra lệnh cho tàu chiên bán tỉai bác lên các đồn Đ iện Hải, An
Hái cúa Triều đình suôt trong ngày hôni (ló, '1'iếp sau, chúng cho quân đổ bộ lên
bán <!áo vSơn Trà
Chọn Đà Nẩng làm mục tiêu lân công đầu tién, tư bản Pháp nhằm đạt mấy mục đíclì sau: cửa biển nơi đây tương đối sâu rộng nên tàu chiến của chúng có thế ra vào dẻ dàng; hậu phương Quáng Nam giàu có và đông dân có thế giúp chúng thực hiện khẩu hiệu 'lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”; trông chờ vào sự ùng hộ cúa giáo dân vùng này mà bọn gián diẹp dội lốt giáo sĩ hoạt dộng trong đất liền dã báo cáo là khá mạnh.
Được tin mất bán đảo Stín Trà, 'lYicu đình Huế vội phái nhiều quân tướng tới tâng cường lực lượng phòng thú Nguyễn 'ĩri Phương được cử làm Tổng chỉ huy
m ặt Irận Q u ả n g N a m để lo việc ch ống giặc N hưng ông k h ô n g ch ủ đ ộ n g tấn
công tiêu diệt địch mà chi huy động quân dân dắp luỹ chạy dài từ bờ biển vào phía trong để bao vây dịch ngoài mé biên, chặn khòng cho chúng đi sâu vào nội địa cròn đối với nhân dân trong vùng thì ông ra lệnh thực hiện “vườn không nhà trôìig” tán cư vào bên trong dê khói bị giặc bát đi lính, nộp lưofng thực hay cung cấp tin tức Chiến thuật này không phái khống có hiệu quả Mấy lần liên quân
P háp - 'Pày Ban N h a tìm cách đ án h sâu vào dểu bị q u a n q u â n T riều đình đán h
bật trò lại và bị thiệt hại khá nặng Kết quá là sau 5 tháng chiến tranh chúng hầu như giảm chân tại chỗ Trong lúc (tó thì khó khàn cúa chúng mỗi ngày một tảng thêm; do không hợp khí hậu nên binh lính địch bị ốm đau và chết khá nhiéu trong khi thuốc men lại thiếu; tiếp tê thực phẩm cho quân !ính rất khó khăn Tiên lui đểu khó, cuối cùng tướng giặc Giơnuiy quyết định chỉ đê lại ở Đà Nẵng tnội lực lượng quân sự nhỏ bé đỏ cầm chân quân đội Triều đình, còn lại thì lợi
d ụ n g niùa g ió bấc k é o vào đ án h G ia Đ ịnh (2 - 1859)
 m m ư u của đ ịch lần này kéo vào đánh Cìia Đ ịn h so với lúc đ án h Đ à Nẵng
có nhiéu điểm khác Chúng muốn cất đứt đường tiếp tế bằng cách đánh chiếm Sài Gòn và Nam Kì mà chúng biết ià kho lúa gạo của Triều đình Huế; tránh sự tiếp viện cùa Triéu đình Huế mà chúng đã được biết là không phải yếu kém như bọn giáo sĩ Pháp đã báo cáo; đánh Sài Gòn xong sẽ theo đường sông Cửu Long
17
Trang 16hành động gấp vì tư bản Anh sau khi ehiếm Xingapo và Hương Cáng cũng dang ngấp nghé chiếm Sài Gòn đê nối liền hai cửa biển quan trọng trên.
Ngày mồng 9 - 2 - 1859, hạm đội Pháp đã tập trung đầy đú ở Vũng Tàu Sáng hôm sau (mồng 1 0 - 2 ) , chúng bắt đầu công phá các pháo đài Phúc 'I hÁng Lương Thiện, Phúc Mĩ, Danh Nghĩa thuộc các tỉnh Biên Uoà, Gia Định, có nhiệm vụ bảo vệ đường thuý vào Gia Định Sau đó, làu chiến giặc ngược sông Cẩn Giờ, vừa tiến vừa bắn phá các đồn hai bên bờ 'l àu Pháp liến rất chậm, từ cửa Cần Giờ vào đến gần thành Gia Định (tức Sài Gòn) phái inât 6 ngày, vì vấp
phải sức chống cự khá quyết liệt cùa quan quân Triéu đình đ ó n e tại các đồn trên
bờ và nhiểu đập cán giữa lòng sông Sáng ngày 16 địch đ ố bộ c h iếm được hai
pháo đài báo vệ trực tiếp thành Gia Định và cho tàu ngược sông íìến Nghé vào
đ ậ u sát ngay trước mặt thành Sáng ngày 17, tàu chiến địch tập tru n g hoá lực
bắn vào thành, đến trưa thì cho quân đò bộ đánh thành 1'rước sức tàn công mạnh mẽ cúa địch, Trân thú Gia Định là Vũ Duv Ninh ra lệnh rút quân, bó lại trong thành nhiều súng các loại và lương thực Chiếm được thành Cỉia Định, nhưng Giofnuiy lượng sức không đú giữ thành nên ngày mồng 8 - 3 quyết (lịnh phá thành, rồi rút quân xuống đóng dưới tàu đậu giữa sông đế khỏi bị quân ta lập kích Sau đó, chúng chỉ đê lại một số ít quàn ở Gia Định, còn lại thì cấp tốc kéo ra tiếp viện cho sô' quân Pháp đóng lại ờ mật trận Đà Nẵng, lúc đó dang có nguy cơ bị quân ta tiêu diệt.
Ra tới Đà Nẩng, đê củng cố tinh thần quán lính Giơnuiy quyết định niở cuộc tấn công lớn ngày mồng 8 - 5 - 1859 Cùng lúc, quân Pháp đánh vào các đồn Điện Hái, Phúc Ninh Thạch Giản, rồi liến sâu vào nội địa, buộc quân rriểu đình phải lui về cố thú phía sau Nhưng chúng đã bị lốn thất nặng, nên sau dó phái rút vể các vị trí cũ không dám tiến sâu hơn Quân Pháp ớ Việt Nam lúc đó rất khốn đốn 'Fừ tháng 4 - 1859, tư bán Pháp bị vướng vào cuộc chiên iranh với
Áo trên đất Italia nên phải dồn lực lượng quân sự vào chiến trường châu Âu không thể tiếp viện nhiều c h o đội quân xàm lược Việt N am M ãu Ihuản y\nh -
Pháp lúc này cũng trở nên gay gắt chiến tranh có thê’ bùng nổ giữa hai nước Trong tình thế khó khăn đó, Chính phu Pháp buộc phải ra lệnh cho (ìiơnuiy
Để có áp lực vói Triều đình Huế, Giơnuiy đã cho tàu chiến bắn phá các pháo đài, thuyển buôn, tàu chiến của ta dọc theo bờ biển các tỉnh Bình Định Quảng Bình, Quảng Trị Nhưng do thái độ không dứt khoát cúa Triều đình, đánh không dám đánh mạnh, mà hoà cũng không ra hoà cuối cùng việc hoà
Trang 17nghị k h ỏ n g Ihành G iơ n u iy bị gọi về Pháp và Đ ô đốc P ag iơ (P ag e) được cứ sang thay Sang lới nơi lúc đẩu P agiơ táo bạo thí n g h iêm iại k ế h o ạch cũ của
G iơ tiuiy trước kia là dố c lực lượng đánh mạnh vào phía bấc vịnh Đ à N ẩn g đ ể làm chú co n đircaig đ è o Mái V ân, rồi đánh thầng vào Huế N h ư n g m ộ t lẩn nữa,
c h ú n g lại bị đ á n h bại, sỏ q u ân lính bị chêì và bị thương lên tới 300 người T hất bại iro n g â m m ư u đ á n h vào Huế Pagiư quyết định rút d ầ n q u â n vào G ia Đ ịnh,
đến cuối tháng 3 - 1860 toàn bộ quân Pháp sau 19 tháng chiếm đóng Đà Nẩnji đã rúl hết về Gia Định.
Tại Cìia Định Pagiơ mộl mặt chủ động đưa ra các điều khoán nghị hoà với
T riều (lình H uế, mặt khác vẫn ráo riết chuán bị đê thời c ơ tới là nổ súng N hưng lẩn này c ũ n g n h ư lầii irước cuộc Iighị hoà đã thâl bại vì thái độ c ố ch ấp cúa
T riều (tình T rong khi đó, giặc Pháp ờ Gia Định ra sức m ở rộng phạm vi chiếm
đóng xung quanh thành, dánh chiêm Chợ l.ớn, lập một phòng tuyến kéo dài từ
chùa Khai T ườ ng (gần TrưcTiig Thi) tới chùa Cây Mai (7 - 1860) Sau đó phần lớn q u â n Ph áp trên m ặt trận Gia Định lại bị điều động sang m ặt trận H oa Bắc
(Trung Quốc).
Sau khi đ ã liên m in h cùng với các nước tư bán Âu - M ì dù n g \ ii lực buộc
p hong k iên T ru n g Q u ô c phải kí Đ iểu ước Bắc Kinh (25 - 10 - 1860) m ở thêm
nhiều cứa biển, dành thêm nhiều thị trường cho các thế lực tư bán nước ngoài trực tiẽp xâm nhập Trung Quốc, tư bán Pháp đem toàn bộ hải quân ờ Viễn Đông
vé G ia Đ ịn h đ ể xúc tiến việc xâm chiếm Nam Kì, để từ đó thôn tính M iên, Lào,
Hoa Nain (Trung Quốc) Đạo quân xâm lược của địch tập trung trên sông Bêíi
N ghé n g à y m ồ n g 7 - 2 - 1861 đã lẻn tới trẽn 4.000 người với gần 50 chiến thuycn các loại Đ ô đoc Sácne (Charner) được Chính phú Pháp g iao ch o toàn
q u y ển lu y ên ch iế n và kí hoà ước với Viột Nam Lực lưcmg cúa T riều đ ìn h H u ế ở
G ia Đ ịn h d o N g u y ẻ n Tri Phương chỉ huy hầu hết tập trung trong Đại đ ồ n Phú
T h ọ (C h í H oà), được xây dựng gấp rút để chặn đườiig tiến của địch
4 giờ sáng ngày 24 - 2 - 1861, giặc Pháp bắt đầu nổ súng công kích Đại dồn Cỉiúng tiến quân râì chậm, phần vì hoả lực khá mạnh của quan quân Triểu đình lừ irong thành băn ra, phần vì vấp phái hệ thống hào luỹ bảo vệ mặt ngoài thành Cuộc chiến đấu diẻn ra khá ác liệt suốt trong hai ngày liền Cuối cùng
Nguyồii Tri Phương ra lệnh bỏ thành chạy về đồn T huận K iều ở sau lưng Đại
dồn đế cỏ thủ Nhưiig ngày 28, địch tấn công chiếm luỏn đồn Thuận Kiều, quan
q u ân T riều đ ìn h phái lui về Biên Moà Sau đó, giặc Pháp thừa thắng m ở rộng
19
Trang 18phạm vi chiếm đóng, lần lượt đ án h c h iế m Đ ịn h Tưcrtig (12 - 4 - 1861), Biên Hoà (16 - 12 - 1861), V ĩn h L ong (23 - 3 - 1862).
Trước sức tấn c ô n g ồ ạt của tư bán Pháp, n g a y từ đầu, giai cấp p h o n g kiên
cầm quyển có trách nhiệm báo vệ độc lập dân tộc đã tó ra hèn nhái và hAt ỉực, trong nội bộ đã sóm có sự phân hóa: phái chủ chiến và phái chủ hoà.
C ùng đứng trên lập trường giai cấp p h o n g k iến th ố n g trị, hai phái irêii có cách giải q u y ết m âu thuẫn d â n tộc k hác nhau Phái chủ ch iế n m u ố n dlựa vàc
phong kiến Trung Quốc đê đánh đuổi bọn cướp nước xa lạ mà họ gọi là hạch quý (quý trắng), hay dương quỷ (quỷ ngoài biển) Tiêu biểu cho phái này cc phái “công thủ” gồm Tô Linh, Phan Hữu Nghi, Trần Vãn Vi, Lê Hiẽn Hữu, Nguyễn Đăng Điều Hồ Sĩ Tuấn chú trưcmg “phải giữ và đánh Ihú đê công và công dể thủ rồi quét sạch địch” Phái chủ hoà với các lập luận khác thirò^ig nhu
“chiến không bằng hoà”, “thủ để hoà”, “chống giặc duy thủ là hơn” bị phái thú nhất kịch liệt lên án; “Trăm sự giảo quyệt đều do một chữ hoà mà ra cá”.
Tiếng súng của giặc đã nổ ầm bên tai mà Triểu đình còn bận bàn ciãi, nghị luận lung tung, kẻ hoà, người đánh, trên dưới không nhất trí, đánh hoài không ngã ngũ Nhung tựu trung, ý kiến được nhiểu người tán thành là chủ ho>à Điều
đó khẳng định một thực tế là ngay từ đầu đại bộ phận hàng ngũ phoing kiến cầm quyền đã mang năng iư tưởng thất bại chủ nghĩa, đã có tư tưcmg ssự giặc, Trong thời kì đầu, vì quyền Icri giai cấp bị trực tiếp đụng chạm, nẻn họ c.ó phán ứng lại Nhưng vì bất đắc dĩ phái chống cự lại quân thù nên sức chốiiỊg cự rấl hạn chế, để rồi đầu hàng từng bước trước kẻ thù, cuối cùng dâng toàn V"ẹn lãnh thổ cho chúng.
Chính tư tưởng bạc nhược này đã làm cho quan quân Triểu đình bỏ liỡ nhiéu
cơ hội đánh thắng quân thù Trước sau, Pháp không hề bị tấn công míạnh nên sinh lực ít bị hao hụt, nhờ đó có thể vượt qua mọi khó khăn trở ngại cđế hoàn
th àn h cuộc x â m lược T h á n g 9 - 1858, khi liên quân Pháp - T ây Ban Nhia đ ổ bô
đánh chiếm Đà Nẵng, định mở đường đèo Hải Vân lên kinh thành, hiết Trần Hoàng đến Lê Đình Lỹ, Phạm Khắc Thận, Chu Riúc Minh và cuối (CÙng cá danh tướng Nguyễn Tri Phương đều “án binh bất động”, chỉ chủ trương bao vâ> địch ngoài mé biển, nếu địch đánh vào mới chống lại, còn không hề chiú động tấn công địch lần nào Pháp đánh rát ở Đà Nẵng mà trên mặt trận duy 'nhất sál
cạn h kinh th àn h H u ế chỉ có 3.000 q u â n c h ín h qu y ; riên g đ iểu đ ó đ ủ nó)i lên sụ
thiếu quyết tâm tiêu diệt địch của Triều đình.
Trang 19Cítn nói rằng n hững đ iéu kién phòng thu và lán c ó n g địch trên m ặt trận Đ à
N ẩng k h ô n g phái ít N g a y từ Iiãm 1K57, trước sư nliòm ngó ngày càn g lộ liễu của iư ban Pháp Đà Nầiig đã dược tăng cường phòng thú, sô đại bác tâng gấp 3 lần (íốn lũy được c ú n g cô iại giữa lòng sóng dăp cán đê ngăn ch ặn tàu địch,
luôn luôn có trên dưới 3.0f)() quân Ihường irực Đó là chưa kể tới sô dân quân rất đông, sẩn sàng phổi họyp với quân đội rriểu đình tiêu diệt địch Đã thế, lúc này địch cùng gập rất nhiéu khó khãn vo quân sò' \ à tàu chiến thiếu hụt vì \0íófng vào cuộc chiến tranh ở ĩtalia từ năm 1859 Chính tướng giặc Giơnuiy phải nhận
rằng: " N è u họ (T riều đ ìn h Hué) (lánh m ạnh thì họ đã đ án h bại ch úng tôi lâu
rổi” I riổu dinh đã bỏ mât thừi co' llìuận lợi đẽ chiến thắng quân thù! Kết quả là sau 5 tháne bị sa lầy trC-n mặt trận Đà Nẩng \ ừa bị tiêu hao trong chiến đấu, vừa bị chct vì bệnh tật khá nliicu, lại tliiốu thỏti \é lương thực và thuốc men,
q u ân g i ặ c \ ần c ó thê yên ốn đóng tại Đ à Nĩĩng cho đến tháng 2 - 1860 m ới rút
toàn bo vào Cìia Định mớ mặt trận inới.
Lán này giặc Pháp đã táo bạo cho tàu chióii ngược sông đi sâu vào nội địa bắn phá bừa bãi và tấn công chiếni thành Cìia Định Các quan lại Tricu đình chịu irách nhiệm ở đây đã khòiiỉi có nhữníi hành động cứng rắn kịp thời đê bóp chết ntĩav từ đấu ý chí xâm lãng của địch Mặc dù thành Gia Định lúc đó có
1.(){)() c|Uân với đú khí giới và lư(míỉ thực ch o 1 \ ạn quân đóng giữ trong mộl
năm nihưng quân Triều đình chi chỏng đỡ vài trận, rồi bỏ thành chạy dài Sau đó,
vì sự biỊ rriềii đình trừng phạt Vù Duy Ninh thãt cổ chòt đế trốn trách nhiệm, mở đầu líiột chuỗi tự sát cúa bọn bầy tòi bất lực cùa rnột 'I riều đình suy tàn.
Q iu ln giặc lo sợ vì vàp pliái sức chiên đấu quyèl liệt của nghĩa quân H ọ tự
dộng n gày đêm bám sát dịch dế íiòu diệt, nén chúng không dám đóng quân trên
bộ inà phái rút xuống tàu tláu giữa sông rông, chi đóng một dồn nlìó trên bờ sông 'Prong khi dó, tướng lĩnh rriéu đình vần ngồi yên không dám hành động Lúc này, phần lớn quân Pháp (!ã ticp viện cho số quân đang bị khốn đốn ở Đà
N ẩng s ố k hác bị vướng vào chiến tranh trốn đất Ilalia (4 - 1859) hạm đội liên
m inh A n h - Ph áp bị T ru n g Quốc đánh bại trẽn sông Bạch Hà Số q u â n đ ịch ở
Gia Địmh chỉ có dưới 1.000 người dàn mỏng trẽn một phòng tuyến dài hcfn 10
cây số nhưng T riề u đ ìn h vẫn không hav biết SÀ vổ tình hình địch, c ứ m ộ t m ực bao v â y , vừa b a o vây vừa thương Ihuyct, tuyệt nhiên k h ô n g hề có m ột lần nào
chú độiiị’ íấn công địch Nguyẻn 'ÍYi Phương từ lúc vào làm Tổng thống quân vụ
đại th ẩ n phụ trách m ặ t trận Cìia Định (3 - 1860) cũng chỉ biếl đ ô n đố c q u ân dân
hết đào hầm lại đắp lũy đé bao \âv địch mé ngoài, thực hiện triệt để chiến
21
Trang 20thuật “án binh bất động”, không đánh và cũng không hoà Hậu quà là liàiig ngàn quân bị tập trung trong Đại đồn, chỉ rộng 3 cây số vuông để làm mục
tiêu cho đại bác giặc.
Tai hại hon nữa chính tình trạng trên dưới ý kiến khôĩig thống nhấi, nội bộ giai cấp phong kiến thống trị phân hóa phức tạp nên Triều đình bó lỡ nhỉều dịp nghị hoà với Pháp với nhihig điều kiện có lợi cho ta Đánh Đà Náng khỏỉig xong, hết Gicmuiy (7 - 1859), đến Pagiơ (3 - 1860) đểu muốn nghị hc\i, Các điều khoán chúng đưa ra như hai nước Pháp - Nam giao háo lâu dài, khi>an xá những người cộng tác với Pháp, không truy nã người theo đạo \’à ihá giái> sĩ tự
do Ihông Ihưcmg, tự do giảng đạo, lập lãnh sự và cứa hàng ở các bến Ciiiig, và
đặc biệt là điều khoán cuối cùng “kí hoà ước xong là Pháp lập tức rúi chiên thuyền khỏi Gia Định” xét ra không phải ià quá đáng, tình hình Ihực tè cúa chúng lúc đó không cho phép đòi hói nhiểu.
T rong tình hình đó, 'lYiểu đ ìn h đú n g ra là phái tranh thú thời cơ h o à hoãn đê
c h ỉn h đ ố n đội ngũ, bồi dưỡĩig lực lượng liếp tục kháng ch iế n v ề sau Nhưiig
Triều đình không thấy đâu là điểu nhượng bộ tạm thời trước mãt, đâu là quyền lợi cơ bán và lâu dài về sau, nên đã không chịu kí kết vào lúc còn có đicu kiện
kí kết Kết quả là cuộc điều đình thất bại, trong lúc tình trạng không đánh không hoà cứ kéo dài có lợi cho địch Đến khi Pháp kí xong Điéu ước Bắc Kinh (1860), những khó khăn lúng túng đã qua, chúng liền mở rộng cuộc xâm lược Chiến thuật, chiến lược sai lầm đó tất nhiên dản Triều đình Hitế lới một chuỗi thất bại Cuối cùng, để cứu vãn quyền lợi của giai cấp, đứng trưcýc nguy
cơ xâm lược bên ngoài và nguy cơ khởi nghĩa nông dân bén trong, Triều (iìtih đã phán bội quyền lợi cúa nhân dân, của dân tộc bằng việc vội vã kí hàng ước Iigày mồng 5 - 6 - 1862, nhượng đứt ba tinh miền Đông Nam Kì cho giặc Pháp, đúng vào lúc phong trào kháng chiến trong nhân dân miền Nam đang lên mạnh, buộc Pháp thấy rằng “cần phái chinh phục lại những tỉnh dã chinh phục rồi”.
Trong khi Triều đình hoang mang dao động, chống cự một cách y ếu ỚI đẩu hàng tùmg bước và cuối cùng cất đát dâng cho giặc thì nhân dân c i nước đã ngay từ đầu sôi nổi chống giặc Ý nghĩ của quần chúng rất đơn giáji và đúng đắn: giặc đến cưóp nước thì phải đánh giặc giữ nước; chúng tới thì đánh, chúng chưa dến thì phải chủ động tìm chúng mà đánh Ngay lừ những ngày đẩu chúng
ta đã thấy bên cạnh quân đội chính quy còn có đông đảo dân quân “gồm tất cá những ai không đau ốm và không làn tật” Với lực Iưcmg đó, nếu Triéu đình
Trang 21quyê' tâm kháng chiên thì dù \ ũ khí có kém clich, \ảii không thế mất nước Đốc
học i’h ạ m V ãn N ehị ớ N am Dịtih cliicu ino diíoc 3{)0 “ thân bién binh d ũ n g ”
gồm loàn nho sĩ khỏo inạiih xin (ti lừ ntioài Bãc \'ào bổ sung cho quân thứ
Q uàng N a m , xin mài lìiới dược chuáii \ ; nliưiig khi vào đến kinh đ ô H u ế tliì
q u â n P h á p ttã rút khoi Đ à Nầni> ho licii \in (tưííc hành q u à n tiếp vào G ia Đ ịnh chicn đ á u rrié u đình ra ỉộnlì bát phai IKÍ \v liãc
'rrêti mặt trận Đà Náng, vào thántí 5 - IS59 (!ói nghĩa quân của Phạm Gia
V ĩnh đ ã phối hơp cliặt chẽ \ớ i tlọi quáii cua Tiicu (íinh d o N guyén Song T hanh
\ à O ao ’l'rí chi h u \ clo tlánli bai cuộc tàn COIIII cua liiặc, buộc chúng phái chạy
\ c hán đ á o Sơn 1 rà
Ircn m ặt trận (ìia Định, quán ilịcli klioiìu đánh lan rộng ra được m ặc dù
q u â n dội c h í n h Cịuy cua 1 ricii liìn!) o ila\ khoii<j I.|uá vài Iiiỉàn và k h ỏ n c c h ú
đ ộ n g tìm c i ặ c CỈL' (láiili Nhãiì dâii tÍỊa plumnt: V(V| lòniỉ sôi sục c ă m thù đã tự (ỉộntl t o clìức lliành (lội Iieũ ilc ttáiili địch Iiea\ từ klii c h ú n u mới đặt c h â n lén
itát licn.
N.uay khi licMi lỊuâii l’háp - l áy liaii Nha vừa háii phá cứa Cần Giờ. rồi nhằm
phúi (ìia Đ ịn h lion phái thì 'lìâ n I hiọii ('hình (Irước là 'ỈVi huyẹn bị Triéu đình
cácli cliức) và Lô Huy (một võ quan bị ihai hoi) tiã cấp tỏc chicu inộ dược tròn 5.{)(1() dân binh \ận cloiis dóiisi bào iỉóp lióii lutín*) kéo nghĩa dũng tới ngăn
giặc, ycni hộ c h o các cánh qiiáii 1 rioii đình rút lui khói bị tiêu diệt Đ ồng thời,
nhân dàn tìia Định CÒII tự lay ihicu luiy Iilia cưa rời đi iKti khác Chính giặc
Pliáp phái thừa n h ận ‘‘chiéu IIÌK) (í thành pho cĩnii: C(') những đ ám c h á y ” C ùng với sức ch iế n d ấ n cứa dỏiig hào (ỉia Định khá|) luc tmli Iihãn dãii nhiệt liệt ứng
nghĩa nu) binh.
Iiìổng ĩ raiii: mong 4 - 7 - IS60 mol iit)i Iieliia ciiinịZ ò.ooo người do
Bình râiii cãiii iliiu (fã xiiiii; phony (hinh CÌKÍ Rây, vị trí quan Irọng nhảt
cứa địch trên phòng Iiìycn cua cluing từ chùa ( a\ Mai đôn 'I rườim 'l'hi Nghĩa quâii dã phục kícli (iáiiì chct lon Dai úy lỉácỊx' (lỉiirbc) íỉần 1 rường 'ỉ'hi dánh dĩun làu chiên dịclí IVimòiilio (IViiiìauguct) (láu lãn sõng Đổng Nai đầu năm I86i Q)uân Pháp còn chép lại rang, dân dũiiii (k-ni đcni tìm cách virc/t qua giữa các lỉon địch (ióiig quanh ihàiih (lia ĐỊiih (!é lọl \à() Iiội thành, tía dần từng tèn
địch, dốl c h áy c ơ sờ tiiiih trại cua eiặc làm clio chúiiỉi hoang inang lo sỢ
Ciiậc ỉ^háp từ (ria Địn!) (!áiili chiẽni rộng ra các tinh lân cận, phong trào kháng chiên của nhãn clân Nain Kì còn phát trion niạnli hơn nhiều, chúng càng
23
Trang 22vào sâu trong nội địa càng phải trả giá đắt hơn Dưới sự lãnh đạo của các văn ihân, sĩ phu yêu nước, nhân dân Nam Kì, chủ yếu là nông dân, đã khàng khái tiổi dậy chống giặc khấp nơi.
Điển hình có cuộc nổi dậy cùa Trương Định, Đỗ Trinh Thoại Nguyễn Thông, Phan Vãn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, Trà Quý Bình, Trịnh Quang Nghị I.ưu Tuấn Thiện, Lê Cao Dõng, Nguyễn TTiành Ý ở Gò Công, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An từ năm 1860 đến năm 1864; kế đó là Võ Duy Dương ờ Đồng Tliáp Mười từ năm 1865 đến năm 1866; Nguyễn Trung Trực ở Tân An và Rạch Giá lừ năm 1861 đến năm 1868 Ngoài ra, rất nhiều vãn ihân khác cũng tự động mộ quân chống Pháp như Đỗ Quang, Âu Dương Lân, Trần Xuân Hoà, Nguyẻn ỉíữu Huân, Phan Vãn Trị, phối hợp tác chiến với nghĩa quân Trương Định.
Cuộc nổi dậy của Trưcfng Định là phong trào lớn nhất lúc đó Trương Định
đã chiến đấu rất sớm trên mật trận Gia Định Ngay sau khi Pháp chiêm ihành Gia Định (17 - 2 - 1859), ông đã đưa đội nghĩa quân cúa ông gồm toàn nỏng dân đồn điền dưới quyển lên đóng tại dồn Thuận Kiều, phối hợp cùng quân đội chính quy của Triều đình xung phong đánh giặc Trong các lần giao tranh vód quân thù, Trương Định đã chiến đấu rất anh dũng nên được binh lính dưới quyền và nhân dân tin cậy đi theo rấl đông Nhận định vế ông giặc Pháp đã phái thừa nhận rằng nếu quan lại Triều đình không tìm cách hạn chế ông mà đô ông iioạt động được tự do hơn thì chúng còn bị Ihiệt hại nhiều hơn nữa và có thè bị thua rồi.
Khi Nguyễn Tri Phương được điểu động lừ mặt trận Đà Nẩng vào phụ trách nặt trận Gia Định (3 - 1860), Trưcmg Định đã chủ động đem quân của mình tới phôi hợp lác chiến với đội quân chính quy của Nguyễn Tri Phương, phòng Iiyến O ìí Hoà bị vỡ và Đại đồn thất thủ (2-1861), quân đỏi chính quy cúa Triều iình bỏ chạy tán loạn, ông liền điểu động đội nghĩa quân của ông vế hoạt động
y Gò Công thuộc huyện Tân Hoà (Gia Định), quyết tâm chiến đấu lâu dài Trong thời gian đầu, lợi dụng địch còn phài lo đối phó ở nhiều nơi, Trưctng Định
lã nhanh chóng phát triển thế lực, chiêu tnộ thêm binh sĩ dồn lương, đúc súng /à đánh Ihấng nhiều trận Địa bàn hoạt động của nghĩa quân không những ở Gò Tông, Tân An, Mĩ Tho mà bao gồm cả vùng Chợ Lớn, Gia Định, lan rộng ra hai 3ên nhánh sông Vàm cỏ, từ Biển Đông lên tới biên giới nước Cao Miên, kiêm lĩnh hay liên lạc với hầu hết những người cầm đầu các toán nghĩa quân khác hồi
đó, như ĐỖ Trinh Thoại, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng, Trần Xuân Hoà, Nguyẻn Trung Trực, Võ Duy Dưcmg Nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cũng
Trang 23làm q u â n sư c h o n g h ía quàn Quan lại T rié u (lình m ộ t số c ó tinh th ần yêu nước c h ó n g P h á p c ũ n g lìni dèn tiưcíne lựa Iiiỉhìa q u â n , n h ư Tuần phú G ia
Định Đ ò Quang.
P h ố i hợp với p h o n g trào chung, cuộc khcri níỉhia i ùa 'ĩrư ư n g Định ngày càng
th êm m ạ n h T ro n g n ăm 1862, phoníỉ trào dàtiiỉ cao k h ấp nơi gần như "tống khới n ịih ĩa ” ( ìiặ c Ph áp buộc pliái tliừa nhân chi trừ vừng ngoại ô trực tiếp cùa
Sài Gòn tương đối yên ổn còn thì niột cuộc tổng kliời nghĩa dang lan tràn khắp
N am K ì, lôi c u ố n tuyệt đại bộ phận nhân dâii Ihaiii gia Đ ến tháng 3 - 1862,
ch ú n g đ ã phái rúl khói nhiều dồn vì sợ bị riíỉhĩa quân tập kích tiêu diệt Phần lớn
các quận, huyện và ihị trấn quan trọnc tlìuộc hai tinh Gia Định và Định Tường
như; G ò C ô n g , r â n A n RcỊch Oầm, Cai Lậy Chợ (ìạo, lỉên I.ức đều được giải phóiiịĩ Đ ịc h chì cò n g iữ mây (inh ihành \'à m ột sỏ íl đồn bị c ỏ lập nén rất hoang
mang lo sợ Ngược lại dân tâm sĩ khí lèn rất cao.
Trận đánh l(ýn nhất trong thời gian này !à trạn tân công vào căn cứ Quy Sơn
(tức ( ìò R ù a c á c h G ò C ông vài cây sô) vào (lónì 2 1 rạng sáng 22 - 6 - 1861 do
Đ ỗ 'I rin h T hoại chi huy có sự phối hựp lác chiên chật chẽ cúa nghĩa quân
'1'rươiig Định 'l uy khônc chiếm được cứ địêiri Đổ 1 rinh '1'hoại và nhicu người
khác bị hi sinh, n h ư n g nghĩa quân đã anh ciũiiiỉ cIúCmi đấu buộc dịch phái xác nhận: “ Bây g iờ phái n iờ mát ra trước iriộl sư lliật hiên nhiên là người Viẹl có
tinh than lự chủ và quyết tâm giữ gìn độc lập dãn lộc" Đồng thời cũng phái kế
tới c u ộ c phối hợp lài tình cúa toán nghĩa quân do N guyền T rung Trực chỉ huv
d ã đỏl ch áy và đ á n h chìni tàu cliiên Élpõrĩmg (lispérance) cúa I’háp trên sông
5 - 6 — 1862, cắt đứt ba tinh miền Đ ô n g dâng cho giặc T riều đình vội kí hoà
ước vì imang nậng tư tướna Ihât bại chủ nghĩa, sợ dịch ngay từ đầu, không hiểu chỗ yòu cúa chúng đê chiến thắng chúng mà chi nhìn íhấy ưu thế về kĩ thuật và
vũ khí I!(tn nữa triéu Nguyền inuòn bắt tay \'ứi Pháp đế có thế dồn lực lượng tiêu diệt các phong trào dấu tranh rầm rộ của nòng dân ngoài Bắc.
25
Trang 24Vổ phía địch, niậc dù đang đánh thắng và chiếm đất chúng nhận thây nghị
hoà S(ííni ngày nào là có lợi ngày ấy 'I hực tế trên chiến trường N am Kì ch ú n g
không dù binh lực dô chiếm rộng ra và bình định các nưi đã chiêni đươc Ị)ư luận nước !’háp lúc đó đối với việc xâm chiêm Việt Nam cũng chưa nhãi irí,
m ột sô người chù trương nên ch ú ý đốn các vùng C ận Đ ông và ch àu Mĩ m à họ
cho là gán gũi và dề ăn hơn Đã thế chính lúc này, một lực lượng quân sư lớn cùa Pháp lại dang bị sa lầy trên chiến trường Mêhicô và có nguy cơ bị tiêu diẹl
'IVong những điéu kiện cụ thế như vậy, thực dân Pháp chi m o n g síTtm kí két (tược hoà ước với 'IVicu đình H u ế đc vừa giữ ng u y ên được các vùniỉ đât đã clìiôni \ ừa
có thời gian chuán bị mở rộng phạm vi chiếm đóng khi có dicu kiện.
C uộc nghị hoà tiên hành rất nhanh chóng N a ày m ồ n g 5 - 5 - 1862 phái viên cúa tướng giặc Bỏna (lìonard) mới đ e m thư nghị hoà ra ! luê Ihì dóii nuày
m ồ n g 5 - 6 nám đ ó (nghĩa là đú n g m ộl tháng sau), hoà ước điì được kí kot tại
Sài (ròn Hai phái viên ciia lYiểu đình là-Phan rhanh Gián và Lâm Duy lliẹp đeu là những phần tứ chú hoà nèii hoàn toàn bưng tai bịt mát trước nhữiig khó
micn Đỏng Nam Kì (Gia Định Biên Iloà Định Tường) cho Ihực dân Pháp; IIIÒ rộng các cứa biên Đà Nẩng, ĩia Lạl Quãng Yõn clìc) tàu bè Pháp lự tU) thông Ihương; nộp lién bồi thường chiên phí là 20 iriệu quan (ước lính dêìi 2H0 vạn lạng bạc).
I ioà iróc kí kết xong, thực dân Pháp vội cho các ihuycn máy hôi há truyõn tin
đ ó di các nơi nhất ià ớ các nơi đ an g bị nghĩa quân uy hiõp n g h iêm trọng, tưứng
rằng nghĩa quân các nơi sẽ ngoan ngoãn thi hành lệnh cùa Triéu (lình hạ khí giới, giái tán \'é làng làm ản Nhưng trái với montĩ muốn cúa chúniỉ, nghĩa quàn
đã bán vào các thuyén máy đế biếu thị mối căm phần lớn lao ciia họ đối vói bán hàng ước Các toán nghĩa quân dã khòng chịu công nhận chính quyén mới cùa
thực dân Pháp lỉọ không chịu rời sang ba linh Iiiicn 'ỉ’ãy còn thuộc 'ĩricu dinh
mà cương quyết ớ lại bám đất, bám dân tiến hành cuộc kháng chiến nga> Irong lòng địch Đặc biệt, phong trào “tị địa'' cùa vãn thân, sĩ phu niicMi Đòng bó “đất bạch quý" mới bị Pháp chiếm rời sang ba linh niién 'l ây còn là đất lự do Nhà thơ Nguyễn Đình Chiếu tuy hai mắt bị mù vẫn thain gia phong trào này Còn Triều đình phong kiến, sau khi kí hoà ước dã vội phái Phan Thanh Cìian vào phụ trách công việc các tinh còn lại Theo lời yêu cầu cúa thực dân Pháp.
Trang 25I’han T h an h Cìián đã ra lệnh cho ngliìa quán các nơi hạ k h í giói, nộp súng đạn
ch o Phiíp nhưng không m ột ai nghe theo
R iêng (tối với nghĩa quân rrircíng Đinli 'i riêu đình m ột mặt hạ lệnh bắl phái bãi biiili, mặt khik’ hai lẩn hụ lệnh (ticu độiie chù urớnc đi nhận chức Lãnh binh
ớ An (íiaiig rồi Phú Yên Phan '1'hanli (lia n (lã I i h ié u lần vièl thư vừa m ua
c h u ộ t \ ’ừa dọa dầin '1‘rươiìg ĐỊiih phái bãi b i n h 1 irớnt: giặc Ii()na c ũ n g đã nhiéu lần n h ờ niỉirời dưa Ihu dụ ônu ra hànu
D ị n l i n h ậ n p h o n i i s o á i i S ị i K õ i ì : V N T Í X )
Đ ược sự úng hộ cúa quấn chúntỉ y c L i nước, Iiiỉười linh hùng ilã cương quyếl ứ lại c ù n g nghĩa quân sál cánh chicĩi (lâu (!Cmi cùnc N gọn c ờ "B ình 'l ầ y Đại
n g u y ê n so ái” vcýi kháu hiệu " l ’han - Làm inãi quốc IVicu đình khí d â n " (l*han
rh aiih Cỉián và U m Duy Iliộp bán nước, Tricu đuih bỏ dân) đã phấp phới tung bay k h ãp nơi càng tăng Ihcin lin iướng ch o tlổng bào bao nhiêu, lại càn g làm
c h o bè lũ cướp nước \ à bán nước khiếp dám bấy nliiéu! '1'rương Đ ịn h c ù n g các chi huy nghĩa quân khác (lã thừa lúc địch rút khỏi phán lớn các q u ận , huyện,
đ ồn bòi đê’ vận dộng nhân dân dào hào chặn sõng, dắp chư ớng ngại vật trên các đường hành quân của c h ú n g n g h ĩ a quán tăng lên rất nhanh, nhất là các đạo quân cúa Pliạiiì 'ĩuấn Phát ớ 'lần An Bùi l iiiy Diệu ứ t a n Đước, Nguyễn Văn 'ĩrung ớ
27
Trang 26'la n '1'hành Đ ê rèn thêm vũ khí giết giặc, các lò rèn đã hoạt d ộ n g suòt tigày dẽm Mặl khác, Trương Đ ịn h còn liên lạc cá với m ột sỏ nhà biiôn Hoa kicu đc
m ua súng dạn nước ngoài Đ ó là chưa kê tcri căn cứ G iao l.oan dưực xây vlựng sát tính Bình riiuận m icn 'IVung dế dựa vào m icn ỈYung m à tổ chức \ i ệ i (ỉúc súng ống Q u y m ô cúa n g h ĩa q u â n lúc đ ó vì vậy khá lớn
Cìiặc Pháp thừa biết ràng đầu não cùa phong trào k h án g ch iế n là ở cán cứ
l â n H oà ((ìò C õng), m u ô n bình đ ịn h được N am Kì không thc k h ô n g chiếm lây căn cứ đó C ho nên, sau khi nhặn được thêm viện binh vào đ ầ u n ám 1863,
c h ú n s dã m ớ cuộc tấn còng lớn vào căn cứ 'l ãn Hoà C uộc lấn c ô n g từ bốn phía bát dầu từ sáng ngày 25 - 2 N g h ĩa quân đã anh dũng chiến dấu suôi ba ngày liền N hưng sau khi hai viên tướng Đ ặng Kim Chung và Lưu Báo Đường bị trúng đạn chêì, họ đã phái rút khói căn cứ đế báo toàn lực lượng Đ ịch cliiếm dưực r â n Hoà ngày 28 - 2 T rư ơng Đ ịnh rúl q u ân về lập căn cứ mới ờ Phước Lộc, kiếm soát các tinh Biên Hoà, r h ú Dầu M ột, T ây N inh, Đ ó n g T h á p Mười và các vùng bưng giữa Sài Cìòn - T ràn g Bàng, V àm c ỏ Đ ỏ n g , tức vù n g bưng l ầm I.ạc, tống Cầu An ỉ lạ
Sau khi m ất cãn cứ G ò C ô n g T rư ơng Đ ịnh vẫn k h ô n g n e ừ n g hoạt dộng ơ
thành phó bị tạm chiếm đê dán bô cáo có đó n g dấu đ ổ n g cúa Bình Tâỵ Đại nguyên soái Đ ồ n g bào các xã c h u y ền lay nhau đọc các bản hịch kêu gọi chống Pháp cùa Trương Định G iặc Pháp và lay sai biết rõ Trương Đ ịn h cò n hoạt dõng thì chúng chưa thế ngồi yên được, nên đến ngày 25 - 9 - 1863, c h ú n g lại m ở đ(ít lấn cóng mới l.úc này, '1'rương Đ ịn h đ an g dóng q u ân ở Lý N hân Khi dịch kéo tới nghĩa quán vừa c h ố n g trá lại vừa dời về căn cứ T ân Phước có địa th ế hiêm yêu căn cứ này nằm gần vcn sông Soài Rạp, nơi hai con sõ n g V àm c ỏ
hcTín 1 vạn quân, ông dang ráo riết chuán bị đánh úp, thu phục lại 1'ân ỉloà Nhưng giặc Pháp có tay sai là H u ỳ n h Cóng Tấn (đội T ân) - tên này trưíVc Ihco nghĩa quân, sau bỏ về hàng Ph áp - dần đường bí mật lọt vào căn cứ, bao vây '1'rương Đ ịnh cùng các tùy tướng tại la n Phước Trong cuộc đấu súng q u y ct liệt vào hửng sáng ngày 20 - 8 - ỉ 864, Trương Đ ịn h đã cùng các ch iến sì cúa ỏng chiến đấu vô cùng anh d ũ n g , N h ư n g không m ay, ông bị trúng đ ạ n gẫy xUctng sống K h ông m u ố n đê giặc bắt, ông đ ã rút gươm tự sát
Chủ tướng 'ĩrư ơ n g Đ ịnh hi sinh, phong trào k h án g ch iến ciia d ồ n g bào Nam
Kì g ặ p khó khăn hơn nhiều M ột số nghĩa quân đã rút lên Đ ồ n g T h á p Mười lập căn cứ trong vùng rừng thưa c ò rậm đầy nước, m ộ Ihêm binh, irữ thêm lương,
Trang 27rèn Ihorn gư(ĩin giáo, tícli tliéiii súng (laii \à Ihường lừa lúc íỉiặc sơ hớ, kéo ra
đ án h các vùng n hư Mĩ T'h(), 1 iiti An, {'liợ 1 (Vn Mội sò kéo vé bổ sung ch o cân
cứ Cìiao Loan giữa !ìà Rịa \ à IVinh 1 huàn Mộl số k hác hợp lại dưới lá c ờ cúa
N guyẻn lỉu ã n lìoạl độ n g troiig các \ùntỉ (ìò Cong, râ n An, C h ợ Cìạcx Bình DươHị; hay cú a Võ Duy Dirơiig hoạt lỉõng ớ Đóniỉ Tháp Mười C on trai cúa 'IVương Định là '1'rương Q uyén, mặc dù còn tro tuổi, c ũ n g tiếp nối chí hướng cùa
cha, kéo một toán nghĩa quân lẽn lãy Niiih phối hợp chặt chẽ với đổng bào
Khơino và d ồ n g bào Thượng dế xây dựim c ơ s ờ kháng ch iến lâu dài trên rnột dịa bàn lộng lứn từ Sài G ò n đến U dỏnu - cô dỏ iurớc Miên
Sau khi ho à ước nhục nhã ngàv 5 - 6 - 1862 (tược kí kết, làn sóng phán đối
d á n g lèn ràì c a o irong nhân dãn, hàng loạt các CU()C khởi nghĩa bù n g nổ trong khi 'Pnéu đình nhà N guyẻn đã naoaii niioãn Ihi hành các điểu khoán đ ã kí kết
m ặc dù hoà ước d ó chưa được C hính phú Plìáp phê chuẩn
riiang 12 - 1 8 6 2 , Triều đình đã y hẹn trá náni dầu ch iê n phí d ồ n ẹ thời cũng vào khoáng cuối năm đó, iại giri thư \ ào Sài (ìòn đé nghị với Pháp ch o ch u ộ c lại
ba tỉnh mới niât N hưng thái (lộ cùa Pliáp là dứt khoát phái chiếm đứt ba tình làni bàn dạp m ờ rộng chiếm đó n u vé sau Clio nõn, sau khi hoà ước được Chính phú !’l:áp phê c h u án tháng 4 - 1863 Itóna dã ra ngay H u ế buộc 'l ự Đức phái kí chiiân y hoà ước Đè xoa dịu phong trào chỏng I^iuíp lẽn m ạn h trong nhân dân
và cùng đê m u a ch u ộ c vua quan '1 ricu đình lỉuế, Pháp giao trà thành V ĩnh Long
đ o à n thiếu tự tin và cứng rắn, phần d o sự phá hoại c ủ a c án h thực dân hiếu
c h iế n , cu ộ c đ iể u đ ìn h cuối cùng Ihất bại Hoà ước (5 - 6 - 1862) vẫn được thi
h àn h \à việc x in c h u ộ c lại ba tinh k h ô n a thành K h ô n g n h ữ n g vậy, Ihực d ân
P h áp còn c h u ẩ n bị ráo riêl đê khi cổ thời cơ đánh c h iế m luôn cá ba tỉnh m iền
T â v Nam Kì
í'hct bại th ảm hại trong đường iối ngoại giao, nhưng 'I riều đình nhà N guyền vần ch-ĩa tinh; đ ã thế, còn ngày m ộl đi sãu h(ín vào con đường phán động Triều
đ ình tuyệl nhiÔMi k h ô n g thấy biện p h áp tích cực nhất và d u y nhất đ ú n g lúc bấy
g iờ là J ế thu h ồ i đất dai đã m ất phái lo chinh đốn nội trị, bồi d ư ỡ n g sức d â n
p h á t d ộ n g c h i ế n tr a n h y ê u nước 'lYái lại, chi lo d ồ n m ọ i lực lư ợ n g sẩ n c ó
29
Trang 28Mười hai vị sihlìầìì \ 'iị'l Num íli sư lại kinh dô Pháp (Píiris) luìni ÌHỐJ
trong lay vào việc dàn áp phong trào nông dân khới nghĩa Dân tình dói khổ nạn đói hạn hán xáy ra thường xuyên Số dân lưu vong rât đông, sẩn sàng gia nhập bất cứ một phong trào nào với mong muốn đánh đố rriéu đình phonj: kiến đê’ cái thiện cuộc sống bi đát cúa mình.
'l'ừ tháng 4 - 1862 Nguyễn 'i hịnh (lục gọi là Cai Vàng) kéo cờ khửi nịíhĩa ò Bác Ninh, được nòng dân nghèo Iheo rất đỏng Tháng 9 năm dó dồng bào 'ITiố dưới sự chi huy của Nông Ilùng Thạc lại nổi dậy ò '1'uyên Quang Cũng phái kc lới hoạt động ciia những toán phi từ Trung Quốc tràn sang, như Lý Đại Xưưng, Hoàng Nhị Vãn, Lưu Sĩ Anh hoành hành ờ phía bắc 'lliái Nguyên; I.ý Hợp Thắng ở Cao Bằng Cuối cùng phái nói tới cuộc nổi loạn của 'I'ạ Vãn Phụng do Ihực dân Pháp giật dây thông qua bàn tay của bọn gián điệp đội lốt thầy tu, cốt
để Triều đình bối rối vì phải lo đối phó với phong trào ngoài Bắc mà scy hử và nhượng bộ chúng trong Nam Phong trào chống Triều dinh phong kiến mục nát ngày một lan rộng trong cả nước Đặc biệt, nảm 1866, bùng nổ ngay tại kinh thành ỉỉuế cuộc khởi nghĩa lớn của binh lính và thợ thuyén làin việc tại công
Trang 29trường xây d ự n g K hiêm I,àng cùa 'l'ự Đức 'I haiiì giii lãnh d ạ o có m ột nh ó m sĩ
phu và q u a n lại q u ý tộc như Đoàn Ilữu 'ỈVưng, Trương '1'rọng lỉo à 'i'ón 'l'hâì
C úc bất bình với c h ín h sách cãt dãi (ỉầu hàng 2 Ìậc cúa 'í'ự Đức
Đc dổi phó lại, 'IVicu đình (!ã phái (tiéu (ỉộng nhicu danh tướng như Neuyẽn
Tri Phư(«ig rrư ơ n g Q uốc Dụng, Vũ 'I rong [ìình (tom q u ân dàn áp d ữ dội các
p hong trìn) nuoài ỉỉác Riêng đói \(Vị cuộc khới riiỉlùa ớ ỉlu ô rricu đình càn g ra
íav tàn sál dữ dội Kẽl tịua là ciíc cuộc khơi Iieliĩa trước sau dcu bị thát bại
n h ư n g đ ã d án h d â u sự suy đòìi cìmg cực cua trióu N g u y ền , sự phản nộ cao độ
cùa các lãiii’ lớp nhân dãn (lòi \ới iiiai cấp phonu kicn thống trị.
3 '1'hực dãn Pháp đánh chiém ba tinh micn Tây Nam Kì
lìonịỉ lúc rriéu đình 1 luõ chi lo dốc lực Iượĩiiỉ vào việc đàn áp phong trào
n ô n e ciârỉ 1 ru n a Kì, Bắc Kì \'à tìm cách phá hoại, imãn trò phong trào yêu nước
chống l’fìáp cúa đồng bào Nam Kì Ihì thưc dân ỉ’iiáp naày đêm ráo riót chuán bị
âm nuru chièiìi nỏì ba tinh inién rày N am Kì Đõ dọn dườiig ch o việc thực hiện
ãin miru này năin 1863 ihưc dân Pháp dã iliừa lúc phong kiến Miên sư hở đê chiếni đóng kinh thành Nani Vang (ỉ^hnòiiì Pènh), sau đó dùng áp lực quân sự buộc vua Nôrỏđôm (Norodoiii) phái công nhận quyền bào hộ ciia chúng Sau
khi ba tin h m iền Đ ỏ n g Nam Kì \ à nước C ao Miên lọt vào tay Pháp, số phận ba
lỉnh miền 'í'ây Nam Kì có thê xcin là đã dirợc (tịnh (loạt.
Nhiốu lấn chúng vu cáo quan lại Triều dinh ớ ba tinh micn 'lầy ngáin ngầm
ủng hộ hay 1(S ch ứ c phong trìu) cliỏnti 1'liáp ờ ba tinh m iền Đ òng C húng còn
tuyõn hô ckiy trì các quan lại IViéu dính I ỉuê ớ inicii 'l ây là nguy cơ thường Irực
c h o xứ N am Kì ihiKK' i’háp \ à liío xựợẹ bíío trir<\ c;họ (liii d iện 'rriồu (tình 1 luê ớ
Vĩnh l.ong là l’han '1'hanh (ỉiàn rằng: một hành dộng cừu địch như vậy buộc chúiiịi phái thôn tính các tinh còn lại ['rong khi dó rriéu đình lluê irước sau
vẩn tlíco duối đ ế n c ù n g chính sách cấu hoà chuộc đất k h ô n g nhChig đã không
tích cực đc phòng trước àin rnưu dịch, mà còn có nhiổu hành động vô cùng có hại cho phong (rào chống l’háp, nlut giái tán nghĩa quân miến Đỏng, nghiêm câm nhân dân miền 'í'ây úng hộ miền Đông khánỉ; chiến
Nãni chắc tình hình đó ỉ^liáp càng muốn hành động gấp Tháng 10 - 1866, chúnịi cử phái viên ra Huê' đưa thư thăm dò thái độ 'ÍYiều đình Huế hứa hẹn nếu bằng lòng giao luôn ba tinh miền 'i'ây thì chúng sc giúp Triều đình liều trừ hết
31
Trang 30giặc biên và sẽ đình hết mọi khoán (iền bồi thưcmg Đến tháng 2 - 18^7, thực dân Pháp một lần nữa lại phái người ra ĩluê đòi trá tién bồi thường chièr phí và nhượniỉ ba tinh miền ‘1'ây cho chúng.
Tinh hình nước Pháp lúc này cũng thuận lợi cho việc thực hiện âiĩi niiru mớ rộng xâm lược Việt Nam 'l ên Giơnuiy trước kia từng cầm quân đánh Đà Nẩng
và Gia Định đến nay đã giữ chức Bộ trưởng Hái quân và Thuộc địa rất tan dồng
việc chiếm luôn ba tỉnh m iền Tây dê n ắm được toàn bộ lưu vực sông C'úu IvOng
từ Hạ lÌKì xuống C uộc chiến tranh ở M ê h ic ô (Bắc Mĩ) ỉúc này đ ã ch áin dứt với
sự thất bại hoàn toàn cúa Pháp nên bọn tư bán hiếu chiến Pháp muốn nhàn cơ hội này tìm một thắng lợi dù nhò đê đổn bù vào tổn thất lớn lao vừa qua.
Sau khi chuấn bị xong m ọi m ặt, sáng ngày 20 - 6 - 1867, dịch kt5o tcíị dàn tràn trước thành Vĩnli Long Kinh lược sứ m iền l ây Phan T h a n h G ián và T rấn
thủ Vĩnh Long Trương Vãn Uyển vội xuống tàu dịch đê thương Ihuyêi Nhưng
kẻ thù quyết tâm lân lới đưa thư buộc phái nộp thành không điổu kiện Trong
tình th ế thân cô th ế c ỏ cuối cùng Phan ITianh G ián phái nộp thành ch o c h ú n g
không một chút kháng cự Theo ý Pháp, ông còn viết thư cho quan quân hiii lỉnh
An Giang, Hà Tiên yêu cầu nộp thành để “Iránh khỏi mọi sự đổ máu vò ích”!
C ho nên sau khi lây xo n g thành V ĩnh L o n g , địch chia quân chiếm linh lị An
G iang là C hâu Đ ốc (2 i - 6), rồi c h iế m luôn l i à T iên (2 4 - 6) không lốn m ột
viên đạn Các quan lại 'IViếu đình ở hai tinh vốn sợ Pháp nên sẵn sàng nộp thành
ch o giặc m ậc d ù quân d â n ở dây đều c h ố n g giặc đến cùng
• L ấy xong ba tình m ié n T ây Ihực d â n P h á p c h o người ra l ỉ u ê báo sự việc
đã rồi Triéu đình không hề phán ứng, mà chỉ xin đổi ba tỉnh mién Tây mới mất đế lấy lại tỉnh Biên Moà, nhưng không được Pháp chấp nhận C'òn Phan 'í hanh Gián thì sau khi đê mất ba tinh đà nhịn ân trong 17 ngày nSi uống ihuốc dộc chết.
Sau khi ba tỉnh miền Tây đã lọt vào tay giặc Pháp, phong trào kháng chiến trong nhân dân lên rất mạnh Một số vãn thản, sĩ phu yêu nước chống Pháp một lần nữa lại tìm cách vượt biển ra vùng Bình Thuận ở cực Nam Trung Kì lập ra Đồng Châu xã do Nguyẻn 'lliông cầm đầu đê nương tựa vào nhau, lập căn cứ Tánh Linh để mưu cuộc kháng chiến lâu dài về sau Một số khác đã cương quyết ở lại bám đất, bám dân tham gia phong trào chống Pháp Con trai của
'lYương Đ ịnh là Trương Q u y ề n đ ã kéo q u â n lên xây dựng cơ s ở kháng ch iế n ở
vùng Tháp Mười - Tây Ninh, liên minh với nhà sư yêu nước người Miên là
Trang 31P u cờ m hô ch ống Pháp quyct liệt từ năm 1K66 clếii Iiărn 1868 N ăm 1867 Phan
T ôn và Phan L iê m (hai con trai của Phaii 'ITianh (íián ) đã cầm đâu nghĩa quân nổi dậy suốt m ột vùng rộng lớn bao gồm các tinh lìèVi Tre, V ĩnh L ong Sa Đéc, 'Irà Vinh C ùng năm đó, Nguyồii Trung 'I rực lập cân c ứ ở ỉ i ò n C h ô n g (R ạch
G iá) N guyền H ữu H uân được giặc Pháp Iha lừ hải đáo về lại tiếp tục khởi nghĩa
ờ T ả n Aii và M ĩ 'ITio nãm 1875 Ncoài ra còn cỏ Thân V ãn N híp ở M ĩ T ho, anh etn Đổ Thừa L o n g , Đ ỗ Thừa 'l'ự ớ Tân An và R ạch G iá trong năm 1868; Phan
T ò n g ờ m ién Ba Tri (Bến Tre) và Giồng G ạch từ nãm 1869 đến nâm 1870; Lê
C ông T hành, P h ạ m Vãn Đồng \'à Âu Dương Lân ở V ĩn h Long, L ong X uyên,
C ần T hư nảm 1872; T rần Vãn ITiành ở Bãi Thưa giữa các tỉnh Hà Tiên, Châu
Đ ố c R ach Giá L ong X u y ên năm 1873: N guyễn Xuân Phụng Đ o àn C ông Bửu
ở T rà Vinh n ãm 1875; Lê Tấn Kế Trần Bình ở Ba Đ ộ n g (cũ n g thuộc Trà V inh) nãm 1875; ch o đ ế n cuối cùng là r^haii Văn HỚII (Q uản H ớn) và N g u y ễ n Văn Bưííiig (Đ ế Bường) lập cãn cứ Bà Điếm Ilóc M ôn nãni 1885
Như vây N a m Kì bị thực dãn Pháp kéo tới xâm chiếm trước tiên nên đổng bào iniển N am c ũ n g đã trước litMi đứiig lên anh dũng dánh giặc giữ nước
Phong trào c h ô n g Pháp ờ Naiĩi Kì từ năm 1859 \ ể sau kéo dài hcm 20 n ă m dã
ch ứ n g n ũ n h h ù n g hồn tinh thần chiến đáu oanh liệt và bền bì của nhân dân N am
Kì Bàt đầu d â y lên ở m iền Đỏng, phong trào sau lan rộ n g k h ắp N a m Kì và
n h an h chóiig b iến thành cuộc chiến tranh nhân d â n rô n g lớn, sôi nổi và m ạn h rnẽ lạ thường, b u ộ c chính kẻ thù phái khâm phục R õ ràng đây là m ộ t phong trào băt n g u ồ n từ lòng căm thù vố hạn cúa q u ần chúng nhân dân đối với giậc ngoại xâm, n g u y ệ n hi sinh tất cá và chiến dấu đến cùng để cứu nước cứu dân
Đ ộ n g lực k h án g ch iến chủ yếu lúc bấy giờ là đông đảo n ô n g dân N a m Kì, những người “d ả n ấp, dân lân":
"Cui cút làm ăn.
Lo toan nghèo khó,
Chưa quen cung ugựa dảtt tới n ường nhung^'K
C hỉ hiéi ruộng trâu, ờ theo ỉàng họ.
Việc cuốc, việc càỵ, việc bừa việc cấv, tay vốn quen l à m ;
Tập khiên, rập súiìịỊ, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngố^’.
(1) Trườn ỉ nhung: dịch chữ nhung trưimịỊ là nơi chiến trân,
( 2 ) N g u y ẻ ri Đ ì n h C h i ể u “ V â ì ĩ tế nghĩa sĩ Cầỉì Giuóc,
Trang 32Khi T ổ q u ố c lâm nguy, những người dân bình thường giàu lòng yêu nước,
c ăm thù g iặc đã sẵn sàng hành đ ộ n g k h ô n g m ột chút do dự, với k h í thế d ũ n g càưi phi thường:
“N^^oài cật có một manh áo vài, náo (U/i mang hao tấu,
h ồ li lìiỊÒ i'''
Trong tay cám một ngọn tám VỎHỊỊ, chi nài sắm dao tu
n<>n
Hoà mai đánh hằng rơm con cúi cũng dốt xong nhà
(lụy cliio kia:
Gư(fm deo dùìĩg hằnịỉ lưỡi dao phay, cũng chém I ( f t dầu
quan hai nọ.
Chi nhọc quan quàn giỏng tráng kì trống giục. í/ự/) rào
ỉư<n tới, coi Ịịiặc cũng nhưkliàn^^:
Nào sợ thằng Táy hắn dạn nhó, dạn lo xò cứa xỏnịị
vào liều minh như c hánị’ có!
Ké đám ngang, người chém ngược, làm cho mã là, ma ní'*'
c h ấp m u ô n vàn thủ đ o ạn đ à n áp m an rợ cù a q u ân thù, đ ú n g như câu nói của
N g u y ễn T ru n g Trực hiên n g an g trả lời giặc Pháp khi ch ú n g tìm cách dụ d ỗ m ua
ch u ộ c ông; “ Bao g iờ T ây n h ố hết cỏ nước N am mới hết người N am đánh l ầ y ”
(1) Bao tàu háu lìgòi: túi đựng đạn, túi đựng ihuoc nổ.
(2) D ao tu nón gỗ: dao lưỡi dài và nón tre chóp gồ cùa lính.
(3) M ã tủ, ma ni: mã tà, tiếng Malaixia là cảnh sát, Ma ní lính đánh thuê, người ờ Manila thủ dò
Philippin Sau thành liếng chi chung lính cánh sát và lính lẽ dương đánh Ihuê.
(4) Nguyền Đình Chiếu - Vãn lê Iiịỉhĩa sĩ Cắn Giuộc.
Trang 33Chương l ỉ
CUỘC KHÁNG CHIẾN CỬA NHÂN DÂN VIỆT NAM CHỐNG PHÁP
C húng cũng bắt đầu thi liành Iiiộl sò biện pliáp kinh tế thực dân gâ'p rút (như ra sức vơ vci lúa gạo trong nhân dân đế xuất khẩu kiêm Im; cướp đoạt ruộng đất các
nơi (tế bán dấu giá hay cho thuê dài hạn; bãt đẩu xây dụng thành p h ố Sài G ò n -
C hợ L(ÍĨ1 với bốn tàu xưcViig íia Son, ) Để phục \ ụ dắc lực các chính sách chính trị và kinh tc trên, thực dân Pháp còn m ờ tarcnig dòng, trưcmg thông ngôn, trường nho sĩ và trường Ph áp - Vịột đào tạo cấp tốc tay sai các loại; ra báo ch ữ Q u ố c ngữ và ch ữ Pháp tuyên truyén ráo riết cho việc đátih chiếm Bắc Kì sấp tới
Đ ồ n g thời, vừa đê’ hcTp pháp hoá việc chiếm dóng ba tỉnh m iển T ây, vừa đ ể
m ạt ra sức vận đ ộ n g chính giới ơ P háp thừa lìhậii việc lấn chiếm vừa qua, m ăt khác chú dộiig ycu cầu Triều dìiih Huê sứa đổi Điều ước n ă m 1862
35
Trang 34Âm mưu cúa kẻ thù thâm độc như vậy, nhưng phong kiến triều Nguxẻn i!ã tỏ
ra hoàn loàn bị độ n g và bất lực T rước sau, ch ú n g vẫn tiếp tục thi hành ch ín h sách khuất phục đẩu hàng trước uy vũ cù a thực dân Pháp Kẻ thù đ ã tr in g trựn
c h iếm đ ó n g phần lớn đất nước và đ a n g ráo riết âni m ưu thôn tín h cá nước,
nhưng Triều đình phong kiến vẫn không có những biộn pháp kiên quyci đò clôi phó iại Nhân dân dòi hòi Triều đình phải có hành động thích hợp khi 'ận nước làm nguy, nhưng triều Nguyền chi tiến hành nhỏ giọt và chậm chạp mộ! sô công tác phòng thủ như tổ chức thêm một số cơ hương binh ở các tinh, bổ nhiệm một
sổ' võ q u a n di trấn thủ các nơi x u n g yếu xây thêm đ ồ n lũy ở bến Thị ríạ.1 (Q uy
Nhơn) và đặt thêm đại bác súng đồng bảo vệ Thuận An, đúc thêm súrtỉ ốiig
Để sau đó triều Nguyễn lại tìm cách ngăn trở phá hoại các cơ sở kháig chiến trong nhân dân, như: giải tán các dội dân vệ do nhân dân các địa phư<'Jng tự động lập ra, giáng chức hay tống giam các quan lại và sĩ phu ở các dịc pihiiơng tham gia phong trào chống Pháp, Đường lối chú yếu của Triều đình trước sau
như một vẫn là bằng con đường thương thuyết xin chuộc lại sáu lỉnh đã ĩiâì
Về nội trị, tình hình Việt Nam sau năm 1867 lại càng bi dát 'Pnềiu đình phong kiến vẫn tiếp tục ra sức vơ vét bóc lột nhán dân cá nước, vừa đê tic)á mãn nhu cầu xa xỉ của giai cấp phong kiến suy tàn vừa để có tiền bồi thườig, chiến phí cho Pháp Trong khi đó thì nông nghiệp bỏ bê trề, các công tác đinh điền và
đẻ điều bị sao nhãng, nạn vỡ dê mất mùa xảy ra thường xuyên Còn cônỉ mghiệp
và thương nghiệp, so với trước vẫn không có gì khác Các chính sáci lức chẽ thương nghiệp, bế quan tỏa cảng trong thương nghiệp, cũng như ch nlh sách
“công tượng” trong công nghiệp đã kìm hãm ngặt nghèo sự phát triểr cúa hai ngành đó Kết quả là nền tài chính của nhà nước phong kiến ngày thĩiri thiếu hụt một cách trầm trọng, đời sống nhân dân trong nước ngày một kiệt tuiè Mâu thuẫn xã hội vì vậy càng thêm sâu sắc, dẫn tới sự bùng nổ hàng loạt nhimig cuộc khởi nghĩa nông dân ỏ nhiều nơi thuộc vùng đồng bằng, như Tuần Vlnih (Hà Đông); Đỗ Vẫn Đạo, Nguyễn Văn Năm (Phúc Yên); Lê Văn Khuônig, Đỗ Chuyên, Nguyễn Nhiễm, Nguyễn Văn Đài (Bắc Ninh); Quản Thoả, Quíản Uy, Quản Cáo và dư đảng của Tạ Vàn Phụng (Quảng Yên), Trong khi cđó dọc theo biên giới hai nước Việt - Lào, đồng bào Mông ngoài Bắc và dồing bào Thưcmg trong Nam Trung Kì cũng nổi dậy Đặc biệt, tình hình ngoài Eìắc lúc này còn rối ren Ihêm nhiều bởi sự xâm nhập cùa nhiều toán thổ phỉ :ừ Trung Quốc tràn sang và sự hoành hành của bọn Tàu Ô cướp biển.
Trang 35D ế đ ô i phó lại, triều N guyễn một mặl ra sức đàn áp đ ả m m á u các cuộc nông
dân khởi nghĩa, mặt khác cầu cứu phong kiến nhà Thanh (Trung Quốc) phái
q u â n sang đánh d ẹ p các toán thố phi 'i‘inh cảnh nước nh à ng u y khốn n hư vậy đã thúc đ ẩ v m ột số quan lại và sĩ phu tÌLMi bộ Ihức thời m ạn h dạn đưa ra nhiểu để
nghị đổi mới các mặt công lác nội trị, ngoại giao, kinh tế, cũng như văn hóa -
xã hội cùa nhà nước phong kiến Năm 1868, rrần Đình Túc và Nguyễn Huy le'
xin m ở cừa biến Trà Lí (Nain Định), Đinh Văn Điền xin đẩy m ạn h việc khai
k h ẩn ru ộ n g hoang và khai mỏ, phát triến việc buôn bán với nước ngoài, chấn
chỉnh việc quốc phòng Năm 1872 Viện 'niương bạc xin mở ba cửa biến Đà Nầng ở miền '['rung Ba Lạt Đổ S(ín ờ ngoài IMc đê thông thương rộng rãi với bên ngoài Nhưng được nhiếu người chú V hơn cà là các đé nghị cải cách của Nguyỏn Trường Tộ (1830 - 1871) đề cập đến hàng loạt vấn để quan trọng hồi
đó như: chấn chinh bộ máy quan lại phái triến nông, công, thương nghiệp và tài chính, chinh đốn võ bị mở rộng ngoại giao, cái lổ giáo dục.
Nhìn chung, tất cá các đé nehị cái cách đều xuất phát từ tinh thần yêu nước muốn cho nước nhà giàu mạnh để có thê đương đầu với sự tấn công ngày càng dồn dập của chú nghĩa tư bán phương Tây Trong hoàn cảnh bế tắc của xã hội phong kiến Việt Nam hồi đó, lối thoát duy nhất là mạnh dạn đi vào con đường phát triển chủ nghĩa tư bàn Các để nghị cải cách ở nước ta cuối thế kỉ XIX nhầíĩi giải quyết một phần nào yêu cầu đó của lịch sử Nhưng các đề nghị đó vẫn có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, nặng vể chịu ánh hưởng bên ngoài mà thiếu cơ sở bên trong; chưa động chạm tiến vấn đề cơ bản cúa thời đại là giải quyết hai mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam là mâu thuần giữa nhân dân ta với thực dân Pháp xâm lược và giữa nông dàn với địa chú phong kiến Triều Nguyễn cầm quyến lúc đó trên miệng hố suy vong lại đối lập với nhân dân nên trước sau đã ngoan cô cự tuyệt mọi đé nghị cái cách l(Vn nhỏ, thú tiêu những tiển để pháu triển mới của xã hội, luẩn quẩn trong vòng bê tác cúa chế độ phong kiến đương thời Đó chính là trách nhiệm lớn lao ciia triều Nguyễn trước lịch sử dân tộc Nhưng cho đến trước năm 1873, tư bản Pháp vẫn chưa dám chủ trương mờ
rộng ch iế n tranh ờ Việt N am đem quân ra đánh chiếm Bắc Kì vì tình hình nước
Pháp còn có nhiểu điểu đáne lo ngại BỊ đánh bại trong cuộc chiến tranh Pháp - Đức năm 1870, một phần lãnh thổ nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng Nàm
1873 tuy quân Đ ứ c rút khòi dất Pháp - chỉ giữ lại hai m iền A n d át (A lsace) và
L oren (L orraine), nhưng sự uy hiếp của Đức với Pháp vẫn rất m ạn h , buộc giới
chính trị Pháp phải để phòng đường biên giới phía đông Tinh hình kinh tế
37
Trang 36chính trị nước Pháp chưa ổn định cũng không cho phép giai cấp tư sán l’háp nghĩ tới chuyện đánh chiếm thuộc địa nơi xa, vừa lốn kém vừa nguy hiếm
Trong khi đó thì bọn thực dân Pháp ở Nam Kì lại nôn nóng muốn hành dộng gấp Chúng luôn luôn nhòm ngó Bắc Kì nhất là từ sau khi Nam Kì đã (lược củng cố có lợi cho chúng Chúng biết chắc Triều đình Huế suy yếu sẽ khóng có phản ứng gì đáng kể Đê' dọn đường cho đội quân xâm lược sau này, chung đã
tung ra Bắc bọn gián đ iệp đội lốt thầy tu đê d o thám lình hình và tổ chức mót sô
giáo dân lầm đường làm nội ứng Đồng thời, chúng còn bí mật xúi giục những tập đoàn phiến loạn mượn danh nghĩa phù Lê chống Nguyền làm áp lực buộc phong kiến triều Nguyễn phái nhờ chúng đem quân ra giúp Thương nhân l*háp lúc đó cũng ráo riết tìm cách hoạt động Sau khi thấy đường vào miền 'lầy Nam Trung Quốc bằng sông Cửu Long khổng thể di được vì lắm thác ghềnh nguy hiểm, chúng đặc biệt chú ý tới đường sông Hồng Tên lái buòn Pháp Đuypuy (Jean Dupuis) vẫn chở súng ống vào vùng Vân Nam, Quý Châu ('lYung Quốc) bán cho bọn tướng tá triều ITianh dàn áp phong trào khởi nghĩa cùa nhân dân
Nếu đi theo sông Trường G ia n g (D ương Tử) thì sẽ xa xôi tốn kém nên chúng
đố c Lưỡng Q u ả n g thay m ặt “ITiiên triều” yêu cẩu T riều đ ìn h Huê ch o Đ uypuy
được ngược sông Hổng Y còn được sự ủng hộ cúa q u an q u â n nhà Thanh dóng
trên vùng thượng du Bắc Kì M ặt khác, y lại xin C hính phủ Pháp úng hộ công việc kinh doanh ITiực dân Ph áp ở N am Kì lúc đ ó cũng thấy đây là m ột ihừi cơ
tốt để hành động, vừa để kịp thời ngăn chận thế lực nước Anh phát triến CJ miền Tây Nam Trung Quốc, vừa để củng cô' tình hình Nam Kì, nghĩa là đế buộc 'rriều đình Huế phải chính thức thừa nhận việc Pháp chiếm đóng ba lỉnh núén Tây Nam Kì, vừa đê gạt thế lực địch thủ cổ truyền của Pháp là Anh ra khói địa bàn Bắc Kì.
T ình hình nước Ph áp trong hai n ãm 1870 - 1871 k h ô n g c h o phép giai cấp tư
quyển ở nước Pháp (cũng như ờ Nam Kì) đều tỏ ra rất dè dặt Tinh hình dó buộc
Đ u y p u y phải tự m ình hành đ ộn g Y đi H ương Cảng và T h ượ n g Hải (1 0 - 1872)
sắm pháo thuyền và súng ống đạn dược, mộ quân lính, rồi kéo lới Bấc Kì tháng
11 năm đó Bọn thực dân hiếu chiến ở Nam Kì cũng đã lợi dụng việc Triều đình Huế yêu cầu gửi quân ra Bắc tiễu trừ giặc biển để phái ngay tàu chiến ra Bắc tiếp tay cho Đuypuy Được thể làm càn, Đuypuy đã buộc Kinh iược sứ Lỏ Tuấn trong vòng hai tuần phải xin Triều đình Huế cho phép hắn được mượn đường
Trang 37sô n g ! ỉóng Ji lên V ân Nam Nhưng hạn hai luiin c hưa hết và giấy phép cũng
ch ư a có, Đ uypuy đã nố súng thị uy rổi lự tiện kéo (loàn tàu vào Cửa C ấm ngược sônịỉ I iôntỉ lèn tới lỉà Nội naàv 22 - 12 - 1872
M ạc dù chưa có lệnh cúa 1 ricii (!inli trước h à n h độ n g n g an g trái của Pháp, quâiì ilàn lỉà Nội đã đé cao cánh giác, tích cực (lo phòng L ệnh bất hợp tác được ban hanh, nhãn dân tích cực thực hiện, khỏim Iiiỏt ai chịu chi dường, m ua bán tiếp lé với Pháp, các chợ không họ|) Đổng thời, quân dân nhiều nơi còn sôi nổi
d ó n g cọc đẽ chặn lại hay đánh (láiii làu thuycn của (íịch đi lại trên sông N h ờ có
Lục Ký Lê Đạt Ký và quân T hanh đóng ớ Bắc Ninh íĩiúp đỡ, Đ u y p u y vẫn kiếm được inôt sỏ thuyén nhỏ đê chuyến hàng ngược sông H ồ n g lên tận sát biên giới
\'ào đầu tháng 3 - 1873 Bán hàng xone khi trớ vc, y lại được bọn tướng T h an h
ở V ân N am cho q u â n vũ trantỉ đấv du hộ tônii Y còn m ộ thêm được m ộ t số binh lính trang đội quân Lưỡng Quáng (Quáng Đỏng và Q u á n g T ây ) lúc đó
đ ó n g ở Bác Kì C ó m ột lực lưựng quân sự khá mạnh trong tay, Đ u y p u y càng tỏ
ra hu n g hãn và hạch sách nhiồu điéii quá đáng; như đòi dược đóng q u ân trên bờ sônj>; đòi thá những người cộng lác với y dã bị bãl giam ; đòi có nhượng địa ở
Hà Nội; đòi được cung cấp muôi và than đá để đưa lên V ân N am bán; xé b ô cáo cúa N e u v ẻn Tri Phương mới lừ llu è ra nhận chức T ổ n g đố c Hà Nội; c h o lính Pháp và thổ phi lèn bờ bát các quan, lính và dân chúng đ e m x u ớ n g tàu; cướp
t h u y ề n g ạ o cùa T rié u đ ìn h Ilu ê ờ b ờ sòng; tuyên bô việc b u ô n bán ở Hà Nội
d o V n ắ m và tự d o c h o c h ớ hàng lên Vân Nam bán; thá tay sai đi d o th ám !ấy
tin lức ờ khãp nơi; khước từ lời N guyền Tri Pỉurưng m ới tới th ư ơ n g th u y ết, ( l iũ a lúc quan hệ đôi bên dang hẽt sức căng tháng thì bọn thực dân hiếu chiến Pháp ư Sàl G ò n phái Đại úy hái quân Gácniò (Prancis G arnier) m an g quân
ra Bác, bé ngoài với danh nghĩa giúi quyết tại chồ vụ Đ u y p u y nhưng bên trong
chính là đê kiếm cớ can thiệp sâu vào vấn dể liắc Ki,
11 T H Ụ C D Â N PH Á P D Á N H C H IẾ M BẮ C k ì
LẦN T H Ử N H Ấ T (1873 - 1874)
K hởi hành từ Sài G ò n ngày II - 10 - 1873, đội tàu ch iến của G á cn iê ra tới
H à N ội ngày m ồ n g 5 - 11 N hiệm vụ của bọn thực dân hiếu ch iến N am Kì giao
c h o G á c n iê khi k é o q u ân ra Í3ác là được toàn quyển hành đ ộ n g và tuỳ theo diễn biến tình hình m à thiết lập c h ế độ bảo hộ hay ch ế độ thuộc địa
39
Trang 38Ngay khi mới đặt chần tới Hà Nội, Gácniê đã lộ rõ bộ mặt khiêu khích Hán hội quân với Đuypuy, đòi vào dóng quân trong thành, mở sông Hồng cho việc
c h u y ên c h ở hàng hoá và b u ô n bán, đòi tổ chức việc th u thuế, c h o q u â n lự d o đi
canh gác các phố xá và bất bớ, đánh đập, hãm hiếp nhân dân.
Nguyễn Tri Phưc^g cùng các quan lại Triều đình ở Hà Nội lúng túng, bị động, trước sau chỉ ngồi chờ lệnh của Triểu đình Huế Triều đình Huế khi »ghe
tin G ácn iê khiêu khích ở H à N ộ i đã đối phó lại rất yếu ớt T rần Đ ìn h T ú c dược
cử ra Bắc đã cách chức m ột số quan lại ờ Hà Nội, ra b ố cáo c ấ m n h ân dân buôn
bán giao thiệp với Pháp, vạch rõ trách nhiệm của Gácniê ra Bắc chỉ là để xử lí
và đuổi tên Đuypuy, việc xong là phải rút đi Nhân dân ílà Nội dã chấp- hành nghiêm chỉnh lệnh bất hợp tác của Triều đình Qiính thực dân Pháp đã phảá thừa nhận rằng không một thương nhân hay giáo dân nào dám bén mảng tới chỏ chúng đóng Đội quân chiếm đóng Hà Nội của Gácniê lâm vào tình thế rất nguy khốn Các giếng nước uống thường bị bỏ thuốc độc, ban đêm luôn luôn sợ bị quân dân ta tấn công tiêu diệt, kho thuốc súng của chúng ờ bờ sông mấy lần bị đốt cháy ừong đêm.
Giữa lúc tình hình đang căng thẳng thì Gácniê nhận được viện binh từ Sài Gòn và Hương Cảng đến Lực lưcmg được tăng cường, ngày 16 - 11 - 1873, y
tự tiện tuyên bố mở đưcmg sông Hồng cho thuyển chở hàng hoá và buôn bán, thiết lập chế độ thuế quan mới Sáng ngày 19 tháng đó, hắn đưa tối hậtu thư buộc Nguyên Tri Phương phải giải giáp quân đội, rút hết súng trên thànhi, khai phóng sông Hồng Không đợi trả lời, sáng sớm 20 - 11 - 1873, y ra lệ;nh nổ súng đánh thành Hà Nội.
Tính đến ngày 20 - 11, lực lượng trong tay Gácniê không có bao inhiêu Không kể số quân và tàu thuyển của Đuypuy, riêng quân sô' cúa Gácniẻ g<ồm cả quân Pháp và ngụy chỉ có 212 tên, kể cả lính chiến và lính thợ Còn vũ khií cũng rất ít, ngoài số súng tay có hạn, chỉ có 11 khẩu đại bác, hai tàu chiến và miột tàu
đổ bộ Về phía Triểu đình thì quân số tuy đông tới 7.000 người nhưng tìnln hình trang bị hết sức kém cỏi, súng ống thiếu một cách trầm trọng, kĩ thuật b)ắn rất kém vì từ lâu việc luyện tập bị sao nhãng Đã thế, việc tích cực chuẩn bị mọi mật để để phòng sự tráo trở của Pháp cũng không được chú ý đúng mức Nguyễn Tri Riương lại chủ quan ichông ngờ địch trở mặt, đánh sớm nhiư vậy Mặc dù thế, khi chiến sự xảy ra, quân dân Hà Nội đã chiến đấu anh dũng Đón trước âm mưu của giặc, ngay từ trước khi giặc Pháp nổ súng, nhân dân Hỉà Nội
đã chủ động đốt ẳcho đạn chứa 20 vạn viên ở bờ sổng để hạn chế sức mạmh tấn
Trang 39cỏnịi tiia chúng Đ ến khi quán Pháp bất (íảu cuộc tán cố n g , bộ binh cúa chúng
x ông lêr, dưới sự yểm hộ của (!ại bác từ tàu chiến đâu ngoài sông bắn lên, một cán h quán cùa c h ú n g đã bị cỊuãn ta chặn đánh ác liệl tại cửa Ô Q u an C hường, đội quâr của la g ồ m có 100 tmirời do một viên C hưởng c ơ (k h ô n g rõ lên) chỉ huy dã c iiế n đàu rất anh dũng và hi sinh đốn người cuối cùng
NguyẲn 'l'ri Phương đã lẽn cứa thành phía nam trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu Ônị: bị trúng dạn ở bụng l)ọn Pháp cỏ tình cứu c h ữ a định đê m u a ch u ộ c về sau n h ư ig ông đ ã xé băng, rồi nhịn ăn mà chết Con trai ông ià N g u y ễn Lâm
c ũ n g bị ìrúng đạn chêì lỉiệ p quân 'ỉ'rần Vãn Cát và Suất đội N g ô T riều đã hãng hái xông lên m ật thành ch iến dâu \ à đều hi sinh tại trận M ột số q u an lại khác bị PhaỊ) bát rồi đưa xuống tàu giái \à o Sìii Gòn Còn lại phẩn lớn đẻu tìm đường chạy lên Sơn Tày liên lạc V(ífi cánh quàn cùa lYiéu đình do Hoìưig T á Viêm chi huy
M ặc Jù thành l ỉ à Nội bị giặc chiẽni quan quân rriề u đình tan rã nhanh chóng, m â n dân I ỉà Nội vần tiêp tục duy trì cuộc chiên đ ấu , dưới sự chi huy của
m ột số si phu, vãn thân yêu nước Tú lài Phạm Lý lổ chức những người trong
h u yện Thọ Xương (h u y ện sớ tại cùa tinh ỉ là Nội) ra sức ch ố n g giữ nhưng cũ n g
k h ô n g lrj lại được Đ áng chú ý là Nghĩa Hội một tổ ch ứ c bí m ật đoàn kết yêu nước chóng ỉ^háp xàm lược thời k'i đó tập hợp đông đ á o các nhà nho, những người lao dộng, bu ô n bán, làm thợ, một sỗ Hoa kiều và cá m ộ t số người làm
c ô n g chc Pháp, c h u y ê n !o việc thu thập tin tức của Pháp báo c h o q u a n q u ân bên ngoài đê có kê hoạch hành động kịp Ihời và thícli h(;rp như phá hoại các kho làng giặc, trân áp những kẻ Ihco giặc
Sau kii chiếm thành G á cn iẽ dóng luỏn quân trong Ihành c h o bịl kín các cửa thành, chi đế lại cửa Đ ông, đế dé phòng quân ta lấn công M ặt khác, đổ ổn định
lình hình, y vừa dán b ố c á o vu cho cỊuan tjuân ta khièu khích buộc phải đánh
chiếm thinh vừa d ẩ y m ạn h việc tuyôn niộ ngụv quàn và ra sức đ á n h th u ế nặng
đ ể có tiéE ch u ẩn bị m ờ rộng phạm vi chiếm đóng
Về phía bọn thực dàn hiếu chiến Pháp ờ Sài Clòn, c h ú n g rât vui m ừ n g khi nghe tin 3 á cn iê đ ã chiếm được Hà Nội, nhưng cũng rất lo ngại T riều đình H u ế phán ứn^ lại q u y ết liệt và kêu gọi nhân dân kháng chiến T ro n g khi dó, phong kiến iriềi N g u y ề n đ ã đối ỉập sâu sắc với nhân dân cá nước nên k h ô n g còn khả năng thực hiện viộc đó
Do tìrh hình thúc bách, triổu N guyễn cũng điều q u ân , c ứ q u an ra íìắc tiến hành m ộ sô' c ô n g tác phòng thú các nơi Nhưng xu hướng ch ủ yếu vẫn là điều đình thư<?ng thuyết, hết viết thư hay cử người vào Sài G ò n yêu cầu Đ ô đốc
41
Trang 40Đ uyprê (Đ u y p ré) gọi G á cn iê về, lại đ ế n phái người ra l ỉ à Nội thương tiìuyếl tại chỗ với Pháp đẽ yêu cầu c h ú n g irá th àn h trì và kho tàng Kết quá là quaii quâii còn dang trên đường ra Bắc thì G ácniê đã tranh thù thời cư đưa quân dánh chicni
Ilái Dưcíiig ngày 3 - 12, Ninh Bình ngày 5 - 12, Nam Định ngày 12 - 12.
N h ư vậy là chi trong vòng k h ô n g đầỳ m ộ t tháng, d o sức k h áng chiôn yếu ớí cúa q u a n q u â n Triều đình, n h iều tinh thành lớn nhò m iề n đ ồ n g bằiig Bắc Kì đ ã
bị giặc ĩ^háp chiếm đóng Nhưiig đi tới đâu, ch úng đều vấp phái sức chiên đấu
q u y ết liệt của nhân dân các địa phương sôi nổi tự đ ộ n g ch ô n g giặc, (1 N am
Đ ịnh, nhiểu vị vãn thân yéu nước n h ư N g u y ề n M ậu Kiên với hai con là N guyên Hữu Cirơng và N guyễn Hữu Bàn đ ã tụ họp hàng nghìn nghĩa q u ân đ á n h giặc ờ vùng Trực N inh (Kiến X ương, Thái Bình n g ày nay), rồi kéo sa n a Nam Đ ịnh phôi h c ^ giữ thành Phạm V ăn N ghị chiêu m ộ 7.000 q u â n xây dim g càn cứ
ch ô n g Pháp tại \òing núi A n ỉỉo à (Phong D oanh - Ý Yên) tỉnh N am Định, ở các nơi khác, nghĩa quân đã đ á n h ch o địch những dòn rất nặng, thủ liêu bọn tay sai cúa chúng, rào làng chiến đấu, buộc ch úng phải rút về c ố thủ trong (hàiili (V các tỉnh !ị
Thừa lúc G ácn iê x u ô n g đ á n h N a m Đ ịnh, việc canh phòng ỉ ĩ à Nội S(í hở
c án h q u â n T riều đình của H o àn g T á V iê m đ ó n g ở Sơn T ây kéo về phôi hợp với
c án h q u ân T riểu đình của T rương Q u a n g Đ ản đó n g ở Bắc N inh dê tÁn công Hà Nội Đi th eo c án h quân c ú a H o à n g T á V iê m lúc đó có đội q u ân C ờ đen thiện
ch iến cúa Lưu Vĩnh Phúc, đã từng lập c ô n g nhiều irong việc g iú p T riéu đình
đ án h d ẹ p thố phỉ trên vùng I-ào Cai, Mà G iang
V ò n g vây của q u ân ta n g à y c àn g k h é p chặt xu n g q u an h H à Nội N ghe tin đ ó
G á cn iê vội vã kéo q u ân từ N am Đ ịn h về (18 - 12 - 1873) C hính lúc đó, phái đoàn củ a T riều đình Huê ra tới I l à N ội đ ể thưcmg Ihuyết (1 9 - 12 - 1873) Lợi
d ụ n g c ơ hội, G ácniê m ột m ạt c h o d á n b ố c á o tu y ên b ố đ ìn h chì xu n g đ ộ t để tiện việc thương thuyết - m ục đ ích củ a c h ú n g là làm la m ất c ả n h giác khi đ a n g kh ép chặt vòng vây xung q u an h H à N ội, m ặt k h á c làm áp lực đối với phái đ o àn của
T riều đ ìn h H u ế để liến h àn h cu ộ c thương thuyết trên th ế m ạn h
N hưng sáng 21 - 12 - 1873, Lưu V ĩn h Ph ú c kéo q u â n vào sát thành H à Nội
k h iêu chiến, G ácn iê đ a n g hội đ à m với phái viên T riề u đ ìn h Huế, nghe tin đó