Tiếp cận bức tranh hiện thực lịch sử - xã hội và con người Việt Nam thế kỷ XX qua tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách không chỉ để hiểu hơn về lịch sử Việt Nam thế kỷ XX và số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ DUYÊN
LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỶ XX
VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI
QUA TIỂU THUYẾT CUỒNG PHONG
CỦA NGUYỄN PHAN HÁCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ DUYÊN
LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỶ XX
VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI
QUA TIỂU THUYẾT CUỒNG PHONG
CỦA NGUYỄN PHAN HÁCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BIỆN MINH ĐIỀN
Nghệ An, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn cơ sở đào tạo sau đại họctrường Đại học Vinh và Quý thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Biện Minh Điền –
Người đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân yêu trong gia đình,bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Anh Sơn 2 đã động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khóa học này
Nghệ An, tháng 7 năm 2019
Tác giả
Đặng Thị Duyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Nghệ An, tháng 7 năm 2019
Tác giả luận văn
Đặng Thị Duyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 NHÀ VĂN NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA TIỂU THUYẾT CUỒNG PHONG 8
1.1 Nhà văn Nguyễn Phan Hách trên con đường đến với tiểu thuyết 8
1.1.1 Nguyễn Phan Hách - một nghệ sĩ đa tài 8
1.1.2 Con đường đến với tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách 10
1.2 Cơ sở ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong 11
1.2.1 Những tiền đề khách quan 11
1.1.2 Những tiền đề chủ quan 14
1.3 Cuồng phong trong dòng mạch tiểu thuyết viết về hiện thực lịch sử xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX 15
1.3.1 Tổng quan tiểu thuyết viết về hiện thực lịch sử, xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX 15
1.3.2 Vị trí của Cuồng phong trong dòng mạch tiểu thuyết viết về hiện thực lịch sử xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX 19
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC LỊCH SỬ, XÃ HỘI VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI QUA TIỂU THUYẾT CUỒNG PHONG 22
Trang 62.1 Bức tranh hiện thực lịch sử, xã hội Việt Nam và số phận con người qua
tiểu thuyết Cuồng phong 22
2.1.1 Một vài vấn đề về sự phản ánh hiện thực của văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng 22
2.1.2 Chế độ thuộc địa và những cơn “cuồng phong” ở nửa đầu thế lỷ XX (1900 – 1945) 24
2.1.3 Lịch sử xã hội Việt Nam và những cơn “cuồng phong” chặng đường 1945 - 1975 32
2.1.4 Lịch sử, xã hội Việt Nam sau 1975 và những cơn “cuồng phong” mới 42
2.2 Số phận con người qua tiểu thuyết Cuồng phong 44
2.2.1 Một vài nét về con người trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại 44
2.2.2 Số phận con người qua thế hệ Cụ Cả Cồ 46
2.2.3 Số phận con người qua thế hệ ông nghè Nguyễn Đức Nguyên 49
2.2.4 Số phận con người qua thế hệ Đức Vĩnh, Đức Hàm 52
2.2.5 Số phận con người qua thế hệ Đức Lữ, Đức Trung 58
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA BỨC TRANH HIỆN THỰC LỊCH SỬ, XÃ HỘI VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI QUA TIỂU THUYẾT CUỒNG PHONG 61
3.1 Nghệ thuật tạo dựng cốt truyện, kết cấu và xung đột 61
3.1.1 Cốt truyện 61
3.1.2 Kết cấu 63
3.1.3 Xung đột 65
3.2 Nghệ thuật tạo dựng không gian và thời gian 66
3.2.1 Nghệ thuật tạo dựng không gian 66
3.2.2 Nghệ thuật tạo dựng thời gian 71
Trang 73.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 75
3.3.1 Một số vấn đề về nhân vật và mối liên hệ giữa nhân vật và các thành tố khác trong cấu trúc tác phẩm văn học 75
3.3.2 Các kiểu/ loại nhân vật và đặc điểm của nó trong tiểu thuyết Cuồng phong 76
3.3.3 Nghệ thuật khắc họa nhân vật của Nguyễn Phan Hách 80
3.4 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ 83
3.4.1 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu 83
3.4.2 Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ 88
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Có thể nói hiện thực cuộc sống là nơi bắt đầu và là nơi đi tới của văn chương Hơn bất cứ một loại hình nghệ thuật nào, văn học gắn chặt với hiện thực cuộc sống và hút mật từ nguồn sống dồi dào đó Hiện thực xã hội là mảnh đất sống của văn chương, là chất mật làm nên tính chân thực, tính thực
tế của tác phẩm văn học Một tác phẩm có giá trị hiện thực bao giờ cũng giúp người ta nhận thức được tính quy luật của hiện thực và chân lý đời sống Những tác phẩm kinh điển bao giờ cũng chở đi được những tư tưởng lớn của thời đại trên đôi cánh của hiện thực cuộc sống
Hiện thực lịch sử, xã hội ở bất cứ thời đại nào cũng luôn là mảnh đất màu mỡ quý giá để các nhà văn khám phá, thể hiện Lịch sử Việt Nam thế kỷ
XX đầy biến động với những trận cuồng phong dữ dội kéo theo đó là số phận dân tộc và số phận con người Đây là đề tài lớn đòi hỏi sự tiếp cận của nhiều ngành, trong đó có văn học, nghệ thuật (bao hàm cả sáng tác và nghiên cứu lý luận, phê bình)
1.2 Tiểu thuyết là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, có khả năng bao quát lớn về không gian và thời gian, phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân
nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời, bao gồm cái cao cả lẫn tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài Ở thể loại này, yếu tố đời tư càng phát triển, chất tiểu thuyết càng tăng, yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển, chất sử thi càng đậm đà Tiểu thuyết sử thi nắm bắt những đổi thay của các thời kì lịch sử, sự tiếp nối của các thế hệ Con người được thể hiện như một
Trang 9phần tử sống động của nhân dân mình Nó hướng tới số phận tương lai của nhân dân hay giai cấp
Chính vì vậy, so với các thể loại văn học thì đây là thể loại có nhiều ưu thế nhất trong nhận thức, phản ánh lịch sử Việt Nam thế kỷ XX và số phận
con người Tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách đã góp phần
đáng kể trong thể hiện điều đó
1.3 Tiếp cận bức tranh hiện thực lịch sử - xã hội và con người Việt Nam
thế kỷ XX qua tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách không chỉ để
hiểu hơn về lịch sử Việt Nam thế kỷ XX và số phận con người (qua chuyện đời của một dòng tộc Nguyễn Đức, với những biến động thăng trầm khó lường) mà còn để hiểu hơn tác giả Nguyễn Phan Hách và tiểu thuyết của ông – một nhà văn đa tài và nặng lòng với đất nước, quê hương Ông không chỉ
nổi tiếng với hai bài thơ Hoa sữa và Làng quan họ quê tôi được Thế Duy và
Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc, mà ông còn là nhà văn có phong cách nghệ
thuật đặc sắc Với sự ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong, Nguyễn Phan Hách
mong muốn đây là tác phẩm để đời cho chặng đường lao động văn chương miệt mài của ông
1.4 Tìm hiểu, nghiên cứu Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX và số phận con
người qua tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách không chỉ vì ý
nghĩa khoa học mà còn vì ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đọc tác phẩm, ta như thấy hiện lên bức tranh lịch sử đất nước qua những chặng thời gian, giống như một “biên niên sử” bằng hình tượng văn học về những năm tháng đã qua Đồng thời cũng góp phần đánhgiá năng lực cây bút văn xuôi Nguyễn Phan Hách, từ đó góp phần tìm hiểu bước đi của tiểu thuyết đương đại Việt Nam
Trang 102 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Vấn đề nghiên cứu lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XX và số phận
con người trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Trước hết, có thể thấy hiện thực lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XX, đặc biệt là nửa sau thế kỷ này (1945 – 2000) là một nguồn nguyên liệu vô giá, bất tận cho sáng tác văn học, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết Đấy là một hiện thực đầy phức tạp, dữ dội Đã có nhiều nhà văn với nhiều tác phẩm (tiểu thuyết) xuất sắc về thời kỳ lịch sử đặc biệt này, tiêu biểu Nguyễn Đình Thi
với Vỡ bờ, tập I (1962), Vỡ bờ, tập II, 1970); Nguyên Hồng với Cửa biển (bộ tiểu thuyết 4 tập: 1961, 1967, 1973, 1976); Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng (2 tập); Chu Lai với các tiểu thuyết: Nắng đồng bằng, Khúc bi tráng cuối
cùng ; Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh; Lê Lựuvới Mở rừng, Thời xa vắng; Thái Bá Lợi với Còn lại với thời gian;Nguyễn Trí Huân với Chim én bay; Nguyễn Minh Châu với Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ rừng ra; Đình Kính với Sóng chìm; v.v
Xuất hiện muộn, nhưng Nguyễn Phan Hách đã ghi tên mình một cách đường hoàng vào danh sách những nhà văn viết tiểu thuyết (đương đại) với tầm bao quát rộng lớn về lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XX bằng tiểu
thuyết Cuồng phong Tiểu thuyết Cuồng phong đã khắc họa một cách sinh
động bức tranh lịch sử, xã hội và con người Việt Nam suốt cả một thế kỷ
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử - xã hội và số phận con Việt Nam thế kỷ XX trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (tiểu thuyết Việt Nam đương đại, ở đây, xin giới hạn là tiểu thuyết từ sau 1975) đã có một bề dày đáng kể với nhiều công trình, bài viết công phu Có thể kể đến: Nguyễn Bích Thu với
“Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Nghiên
cứu Văn học số 11/2006; Nguyễn Thị Bình với Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay, Đề tài NCKH cấp Bộ, Mã số:
Trang 11B2006-17-29, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008; Bùi Việt Thắng với Tiểu
thuyết Việt Nam đương đại, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2009;Mai Hải
Oanh với Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại,
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009; Trần Đình Sử với “Văn học và hiện thực
trong tầm nhìn hiện đại”, tham luận tại Hội nghị khoa học về Văn học phản
ánh hiện thực đất nước hôm nay, Đà Lạt, 12.7.2010; Nguyễn Thị Tuyết Minh
với Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945, Nxb Công an nhân dân, 2011;
Trần Thị Mai Nhân với Những đối mới của tiểu thuyết Việt Nam trong 15 năm cuối thế kỉ XX, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2014; v.v
Các công trình trên đều phân tích, khái quát, đánh giá những thành tựu đáng kể và hạn chế đáng nói của tiểu thuyết Việt Nam đương đại về những đổi mới, cách tân thể loại; về nhận thức và phản ánh hiện thực lịch sử - xã hội
Việt Nam chủ yếu là từ sau 1975 đến nay Rất tiếc là tiểu thuyết Cuồng
Phong của Nguyễn Phan Hách xuất hiện muộn nên còn ít được nhắc đến
2.2 Vấn đề nghiên cứu lịch sử Việt Nam thế kỷ XX và số phận con người
trong tiểu thuyết Cuồng Phong của Nguyễn Phan Hách
Cuồng phong là câu chuyện về lịch sử Việt Nam thế kỷ XX dữ dội và
phức tạp được kể qua chuyện đời của một dòng họ Ra mắt độc giả tháng 11
năm 2008, song có thể nói tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách
vẫn nằm trong dòng chảy khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết sử thi hiện tại, một trong những tuyến vận động chủ đạo của văn học từ sau 1945
Tính đến thời điểm này, hiện chưa có công trình nào mang tính chuyên
biệt tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách Tất
cả những bài viết về nhà văn và tiểu thuyết này mới chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược giới thiệu về tác phẩm Đáng chú ý có: Thiên Anh với “Nguyễn Phan
Hách và Cuồng phong”; Hoàng Phương Liên với “Lời giới thiệu tiểu thuyết
Trang 12Cuồng Phong của Nguyễn Phan Hách”; Phương Hoài với “Nhà văn của vùng
quê Luy Lâu”,
Thiên Anh (trong bài viết “Nguyễn Phan Hách và Cuồng phong”) nhận
xét: “Cuốn sách đọc chạy trang, các sự kiện đầy ắp, nhiều kiến thức cuộc sống
và tri thức sách vở Ông có một giọng văn thanh thoát, hóm hỉnh làm người ta bật cười” Bài viết đề cập đến kết cấu “dọi đèn pha”, “văn phong đẹp, mạch lạc, khúc chiết, gợi cảm” nhưng vẫn chưa đi sâu, làm rõ các khía cạnh
Hoàng Phương Liên trong “Lời giới thiệu tiểu thuyết Cuồng Phong của Nguyễn Phan Hách” lại viết: “Cuồng phong ghi nhận khát vọng cháy bỏng
của tác giả muốn làm một cái gì đó giống như biên niên sử ở mức độ nhỏ bằng hình tượng văn học về những năm tháng đã qua” Bài viết sơ lược giới thiệu thể loại, nội dung, đề tài của cuốn tiểu thuyết
Phương Hoài (trong bài viết “Nhà văn của vùng quê Luy Lâu” nhận xét:
“Tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách dễ đọc, dễ cảm thụ, truyện tưởng dễ như
không mà sâu sắc Cuốn Cuồng phong in ra có hiệu ứng tốt” Bài viết cũng
mới chỉ đưa ra những cảm nhận nhẹ nhàng và đơn giản như vậy
Một vài bài viết khác như bài “Nguyễn Phan Hách hô phong hoán vũ
trong Cuồng phong” trên Vtc.vn (12-2008) cũng chỉ giới thiệu sơ lược về cốt truyện, nghệ thuật, ngôn ngữ của Cuồng phong; bài “Nhà văn Nguyễn Phan
Hách: Tôi nhát gan lắm” trên Anninhthudo.vn (12-2008) cũng đề cập đến nội dung và những vấn đề thời sự liên quan đến tác phẩm; bài “Nguyễn Phan
Hách điều chỉnh lượng sex trong Cuồng Phong” Hoanggiaanh.net (12-2008)
lại phát hiện ra cái tài của nhà văn với lối viết giống sex dân gian
Cũng cần phải kể đến một luận văn Thạc sĩ vớiđề tài “Nghệ thuật trong
tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách” Luận văn này khẳng định
giá trị của tác phẩm cũng như năng lực của cây bút văn xuôi Nguyễn Phan Hách qua một số khía cạnh hình thức nghệ thuật đáng chú ý của tác phẩm
Trang 133 Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX và số
phận con người qua tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách
3.2 Giới hạn của đề tài
Đề tài bao quát Nguyễn Phan Hách và các sáng tác của ông, dĩ nhiên tập
trung vào tiểu thuyết Cuồng phong (có đối sánh với một số cuốn tiểu thuyết
tiêu biểu viết về lịch sử Việt Nam thế kỷ XX)
Văn bản tiểu thuyết dùng để khảo sát, luận văn dựa vào cuốn:
Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và xác định những khám phá, đóng góp của Nguyễn Phan Hách trong nhận thức, lý giải về lịch sử Việt Nam thế kỷ XX và số phận con
người qua tiểu thuyết Cuồng phong
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra một cái nhìn chung về tác giả Nguyễn Phan Hách và cơ sở
ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong
4.2.2 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định đặc điểm bức tranh lịch sử, xã
hội Việt Nam thế kỷ XX và số phận con người qua tiểu thuyết Cuồng phong
của Nguyễn Phan Hách
4.2.3 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những thành công và hạn chế của Nguyễn Phan Hách trong nghệ thuật khắc họa bức tranh lịch sử, xã hội và
số phận con người ở tiểu thuyết Cuồng phong
Cuối cùng rút ra một số kết luận về tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn
Phan Hách và đề xuất một số vấn đề về tiếp nhận kiểu/ loại tiểu thuyết như
Cuồng phong trong bối cảnh chung của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
có các phương pháp chính: phương pháp liên ngành, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp
Luận văn là công trình tìm hiểu bức tranh về lịch sử - xã hội Việt Nam
thế kỷ XX và số phận con người qua tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn
Phan Hách với cái nhìn tập trung và hệ thống
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách nói
riêng, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung trong nhận thức, phản ánh lịch
sử xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương
Chương 1 Nhà văn Nguyễn Phan Hách và sự ra đời tiểu thuyết Cuồng phong
Chương 2 Bức tranh lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XX và số phận
con người qua tiểu thuyết Cuồng phong
Chương 3 Nghệ thuật khắc họa bức tranh lịch sử - xã hội và số phận con
người của Nguyễn Phan Hách qua tiểu thuyết Cuồng phong
Trang 15Chương 1 NHÀ VĂN NGUYỄN PHAN HÁCH
VÀ SỰ RA ĐỜI TIỂU THUYẾT CUỒNG PHONG
1.1 Nguyễn Phan Hách trên con đường đến với tiểu thuyết
1.1.1 Nguyễn Phan Hách - một nghệ sĩ đa tài
1.1.1.1 Nguyễn Phan Hách – một nghệ sĩ đa tài, hoạt động trên nhiều
lĩnh vực
Nguyễn Phan Hách (tên thật là: Nguyễn Xuân Hách) sinh ngày 13/01/1944 tại Mão Điền, Thuận Thành, Bắc Ninh Từ một cậu trai làng bên kia sông Đuống, Nguyễn Phan Hách học ở trường làng, trường huyện rồi theo học trung cấp sư phạm tỉnh, sau đó được phân bố lên huyện miền núi Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang dạy học Sau 5 năm giảng dạy, niềm đam mê sáng tác văn học nghệ thuật đã thôi thúc ông trở thành một cán bộ sáng tác - nghiên cứu ở Ty văn hóa Hà Bắc Được đi qua nhiều mảnh đất, gặp gỡ nhiều con người với nhiều số phận khác nhau ở những môi trường khác nhau, Nguyễn Phan Hách có thêm nhiều vốn sống, vốn hiểu biết và văn hóa, ứng xử Tình yêu văn hóa, lịch sử dân tộc đã khơi nguồn cho các sáng tác và trở thành niềm
ám ảnh sâu sắc trong từng trang viết của tác giả
Năm 1973, Nguyễn Phan Hách làm biên tập thơ cho tuần báo Văn nghệ
Năm 1978, ông làm biên tập văn xuôi cho NXB Tác phẩm mới (nay là NXB Hội Nhà văn) Từ 1996 đến 2004 ông làm Phó giám đốc rồi Giám đốc NXB Hội Nhà văn Sau khi về hưu, ông rời nhiệm sở, tiếp tục gắn bó với nghiệp văn chương bằng những sáng tác của mình, đặc biệt ghi dấu với sự ra đời của
tiểu thuyết Cuồng phong (2008)
Nhà thơ, nhà văn Nguyễn Phan Hách đã qua đời vào lúc 15 giờ ngày 21.4 tại Hà Nội, hưởng thọ 75 tuổi Ông ra đi để lại bao nỗi tiếc thương cho bạn bè, đồng nghiệp, người thân và đông đảo công chúng độc giả; “Nhà thơ,
Trang 16nhà văn Nguyễn Phan Hách ra đi, dù đã được báo trước vẫn khiến bạn bè, đồng nghiệp và công chúng vô cùng tiếc thương Rời cõi tạm ở tuổi 75 nhưng
những sáng tác của ông vẫn mãi ở lại cùng năm tháng” (Báo Thông tấn xã
Việt Nam, ngày 23.4.2019)
1.1.1.2 Nguyễn Phan Hách – một gương mặt đáng chú ý của thơ Việt
Nam đương đại
Nguyễn Phan Hách sớm đến với nghệ thuật Ông làm thơ, viết văn từ nhỏ Khi đang còn là một cậu bé học lớp 5 trường làng, ông đã cho ra đời
truyện ngắn đầu tay Khỏi ốm, được in trên tuần báo Văn nghệ Tiếp đó trên tuần báo Văn nghệ số tết Mậu Tuất 1958, tác giả lại có truyện ngắn Sân tranh
– đánh dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông
Nguyễn Phan Hách còn được tác giả biết đến qua bài thơ Hoa sữa nổi tiếng được nhạc sĩ Thế Duy phổ nhạc theo ý thơ thành ca khúc Mối tình đầu
đầy cảm xúc: “Ngày xưa tôi thầm yêu một nàng thiếu nữ, tóc em dài như gió mùa thu Ngày xưa khi hoa sữa thơm ven mặt hồ, theo năm tháng em lớn từng ngày Những kỷ niệm không bao giờ phai ” Bài hát ấy đã trở thành một miền kí ức không bao giờ quên trong tâm hồn của những chàng trai cô gái mới lớn Để rồi, khi năm tháng thanh xuân đã rời xa, họ vẫn nhắc về mối tình đầu ngây thơ trong sáng trong những vần thơ ngọt ngào sâu lắng mà Nguyễn Phan Hách đã dâng tặng cho đời Không chỉ nổi tiếng với bài thơ
Hoa sữa mà tên tuổi của ông còn gắn liền với bài thơ Làng quan họ quê tôi
được nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc và phổ biến trong nhiều thế hệ với
ca từ mượt mà trong sáng
Tính đến nay, gia tài sáng tác của Nguyễn Phan Hách đã có 04 tập thơ,
gồm: Người quen của em (1981), Hoa sữa (2000), Ao thu thuyền lá (2000, in chung), Vô tình (2007) Trong đó, bài thơ Người quen của em và Nhìn sao được giải thưởng của báo Văn nghệ năm 1969 và 1974 Đọc thơ Nguyễn
Trang 17Phan Hách, người đọc bị mê hoặc bởi giọng điệu ngọt ngào, ngôn từ sâu lắng
và đặc biệt là tấm chân tình của một tâm hồn nhạy cảm, yêu cái đẹp Nhiều năm sau, người ta vẫn nhớ thương những vần thơ nhẹ nhàng, bay bổng của ông:
Ta viết bài thơ trên lá biếc
Tình yêu ta quang hợp nắng trời
Ngày mai thành hoa thơm quả ngọt
Chất diệp lục thơ thành máu thịt cuộc đời
Hay:
Tuổi mười lăm em lớn từng ngày
Một buổi sáng bỗng thành thiếu nữ
Hôm ấy mùa thu anh vẫn nhớ
Hoa sữa thơm ngây ngất bên hồ
(Hoa sữa)
1.1.2 Con đường đến với tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách
Nguyễn Phan Hách không chỉ có sở trường về thơ mà ông còn gây ấn tượng với bạn đọc qua hàng loạt tác phẩm truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết Hơn 50 năm cầm bút, tác giả đã cho ra đời 07 tập truyện vừa, truyện
ngắn, gồm: Vườn hoa cổng ô (1974), Tổ chim sẻ (1978), Cây vĩ cầm cảm lạnh (1982), Quà tặng của thiên nhiên (1985), Khớp ngựa ô (1988), Tình đùa (1989), Cô gái đầm sen (2004) Ngoài ra ông còn xuất bản 04 cuốn tiểu thuyết: Tan mây (1989), Mê cung tình ái (1990), Người đàn bà buồn (1994),
Cuồng phong (2008)
Nguyễn Phan Hách từng tâm sự trên báo An ninh Thủ đô (tháng 6
2010): “Đúng là tiểu thuyết chưa bao giờ là thế mạnh của tôi nhưng tiểu
thuyết mới là thứ tôi thích nhất” Khi Cuồng phong ra mắt bạn đọc, tác giả hi
Trang 18vọng: “Tôi cũng không có khả năng làm những cuốn sách mang tầm thời đại, tầng tầng lớp lớp nhứng triết lý theo kiểu hậu hiện đại nhưng tôi tin người đọc vẫn thấy cuốn sách thực sự có ích vì có thể tìm thấy câu chuyện cả một thế kỉ đầy biến động, mà có thể nói là dữ dội nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỉ XX”
Với Nguyễn Phan Hách, thể loại tiểu thuyết khó, giống như một “trận đánh lớn” nếu người chỉ huy chưa đủ tầm thì đành chịu Theo ông, hình như cấu trúc tiểu thuyết bây giờ đã có sự thay đổi, người ta có thể phải dùng lối kết cấu mới, nhưng nội dung vẫn phải là phản ánh hiện thực của thời đại này
Ba cuốn tiểu thuyết ra đời trước đó gồm Tan mây, Tam cung, Người đàn bà
buồn thực sự chưa thỏa mãn men say tiểu thuyết của ông Để rồi, khi về hưu,
Nguyễn Phan Hách đã dùng tất cả thời gian, bút lực và sức sáng tạo dồi dào của mình để cho ra đời đứa con đẻ tinh thần đáng quý mà bấy lâu ông đã ấp
ủ: tiểu thuyết Cuồng phong Chính nhà văn đã khẳng định: “Có lẽ đây là cuốn
sách quan trọng nhất của tôi” (Theo“Nguyễn Phan Hách: Một số trang tôi viết
giống sex dân gian”, báo Thể thao văn hóa ngày 12/12/2008)
Với sự ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong, Nguyễn Phan Hách đã thỏa
mãn được khát vọng cháy bỏng, đó là muốn làm một cái gì đó giống như
“biên niên sử” ở mức độ nhỏ bằng hình tượng văn học về những năm tháng
đã qua Và người đọc nhận ra, tình yêu văn chương, cuộc sống, niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật là ngọn lửa bừng cháy trong một nghệ sĩ đa tài Nguyễn Phan Hách
1.2 Cơ sở ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong
1.2.1 Những tiền đề khách quan
1.2.1.1 Chất liệu từ hiện thực lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XX
Lịch sử Việt Nam thế kỉ XX có biết bao nhiêu biến động dữ dội Đầu thế
kỉ XX, Thực dân Pháp cơ bản đã hoàn thành xong công cuộc bình định trên
Trang 19đất nước ta và chuyển sang khai thác thuộc địa, xây dựng trật tự mới, chế độ Thực dân nửa phong kiến được xác lập và ngày càng được cũng cố Đối với đất nước ta, đây là những năm tháng đau thương bi đát nhất của lịch sử Chế
độ thuộc địa và các phong trào yêu nước - cách mạng là hai nội dung lớn trong lịch sử dân tộc từ 1900 – 1945 Thôn xóm làng mạc Việt Nam tiêu điều
xơ xác do kẻ thù tàn phá, nhân dân phải xiêu tán lưu lạc khắp nơi Những người tham gia kháng chiến trước kia bị giết, bị tù đày hoặc phải trốn tránh không dám trở về Phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi đầu thế kỉ XX dưới sự lãnh đạo của các nhà chí sĩ yêu nước đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản cũng nhanh chóng bị thất bại
Những năm 1940 – 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận Việt Minh ra đời đã phát động chiến tranh du kích toàn quốc Cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 chính là thắng lợi lớn của dân tộc Việt Nam trong quá trình đấu tranh giữ nước, mang lại nền độc lập tự chủ cho đất nước
Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trải dài 30 năm (1945 - 1975) cũng là một giai đoạn lịch sử đáng ghi nhớ, vừa anh hùng, vừa bi thương Đáng lưu ý là từ năm 1953 – 1956 ở nước ta đã diễn ra tổng cộng 5 đợt cải cách ruộng đất với mục đích nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là “bóc lột”, “phản động”, “phản quốc” Tuy nhiên việc thực hiện lại gây ra nhiều phương hại và tổn thất, nhất là trong việc nông dân quá khích ở các địa phương đã lạm dụng việc xét xử địa chủ để đấu tố nhằm trả thù cá nhân
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi, quét sạch kẻ thù ra khỏi đất nước Nhân dân ta hăm hở bước vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Nhưng có một bộ phận những con người Việt Nam bên kia chiến tuyến
Trang 20phải rời bỏ gia đình, quê hương, đất nước sang lẩn trốn ở trời tây Rồi sự sụp
đổ của Chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Tất cả như những trận cuồng phong dữ dội làm thay đổi biết bao số phận con người Dưới bất cứ chế độ xã hội nào, số phận con người cũng đan xen hạnh phúc và khổ đau
Văn chương ở bất cứ thời đại nào, loại hình nào cũng phải bắt nguồn từ
hiện thực đời sống Với Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách, người đọc như
thấy được bức tranh hoành tráng, bao quát không gian, thời gian lịch sử thế
kỷ XX Những sự kiện lịch sử, những đổi thay của xã hội, những số phận con người vật vã giữa cuộc đời đầy bão táp lần lượt hiện ra từ giọng văn thanh thoát, mạch lạc, khúc chiết, khi trữ tình thắm đậm, khi “u mua” hóm hỉnh của tác giả Chính chất liệu hiện thực từ bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thế kỉ
XX là những tiền đề khách quan cho sự ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong 1.2.1.2 Chất liệu từ hiện thực quê hương, dòng tộc
Trong bài trả lời phỏng vấn của phóng viên Hoàng Hồng (báo An ninh
thủ đô năm 2010), nhà văn Nguyễn Phan Hách tâm sự: “Tôi tự tin về những
gì mình viết bởi câu chuyện trong Cuồng phong chính là câu chuyện của
dòng tộc nhà tôi và ngôi làng nơi tôi sinh ra Câu chuyện của tôi có ý nghĩa, liên quan đến nhiều người, gắn chặt với lịch sử, diễn biến nhanh, chuyển cảnh nhanh nên đọc sẽ không thấy mệt” Quả đúng như vậy, chất liệu từ hiện thực quê hương, dòng tộc, gia đình tác giả cũng là những tiền đề khách quan quan
trọng cho sự ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong
Làng quê bên sông Đuống của tác giả vừa thơ mộng trữ tình với bao làn điệu quan họ ngọt ngào, nhưng cũng như bao làng quê nông thôn khác trên đất nước Việt Nam, đời sống người dân thật vất vả Cảnh lao động khuya sớm ngoài đồng cùng biết bao tập tục kìm hãm đày đọa người nông dân Bao bi kịch con người bị tù túng sau lũy tre làng Bao khát vọng của lớp trẻ quê,
Trang 21muốn thoát khỏi sự giam cầm cổ hủ ở làng quê mà chưa thoát được Để rồi, mỗi bận về quê, chứng kiến bao cảnh ngộ, bao bi kịch của người nông dân, Nguyễn Phan Hách lại trăn trở nghĩ suy Cảm xúc dâng trào, rối bời, thôi thúc
tác giả phải viết một điều gì đó về làng quê mình Cuồng phong được viết ra
từ những suy tư, khao khát cống hiến của nhà văn Tác phẩm xây dựng một
“bối cảnh hoành tráng, tập trung vào nửa sau thế kỉ XX đầy biến thiên của đất nước Những số phận con người vật vã giữa cuộc đời đầy bão táp Câu chuyện một gia đình bốn thế hệ khá điển hình, như tấm gương nhỏ phản chiếu
hiện thực xã hội” (Theo “Nguyễn Phan Hách với Cuồng phong”, báo Văn hóa
giải trí ngày 14/09/2008) Hiện thực ấy được lấy chất liệu cụ thể từ chính
dòng họ của nhà văn và ngôi làng nơi ông sinh ra
Không chỉ thế, Nguyễn Phan Hách còn được hưởng “gen” văn chương từ ông nội – một ông đồ nho có tiếng trong vùng, từng mở trường “Lạc giáo” tỉnh Bắc Ninh Quê hương, dòng họ, gia đình là cái nôi truyền thống giúp cho ngòi bút tài hoa của Nguyễn Phan Hách có cơ hội được thể hiện, được sáng
tạo Để rồi cuối đời, như một sự tri ân, ông đã cho ra đời tiểu thuyết Cuồng
phong – tác phẩm để đời ghi dấu quá trình lao động văn chương miệt mài của
người nghệ sĩ tài hoa này
1.2.2 Những tiền đề chủ quan
Hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật đã lâu, từng là Giám đốc NXB Hội Nhà văn, tiếng tăm của Nguyễn Phan Hách được nhiều người biết đến Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà tiểu thuyết có những đóng góp đáng kể vào quá trình đổi mới và phát triển văn học cuối thế kỉ XX với 04 tập thơ, 07 tập truyện ngắn, truyện vừa và 04 tiểu thuyết Dù đã cho ra đời 03 tiểu thuyết
trước đó (Tan mây, Tam cung, Người đàn bà buồn) nhưng Nguyễn Phan
Hách vẫn chưa thỏa mãn Ông vẫn ấp ủ khao khát phải viết một cái gì đó thật mới hơn, dữ đội hơn
Trang 22Ngày đầu bước chân vào sự nghiệp văn chương, thơ là niềm đam mê, ám ảnh và chính thơ cũng mang lại vinh quang tên tuổi cho Nguyễn Phan Hách Nhưng rồi ông nhận ra, thơ không tải hết nỗi niềm day dứt của mình trước cuộc sống và người nghệ sĩ ấy đã chọn truyện ngắn và tiểu thuyết Với vốn sống phong phú và đa dạng của con người từng sống, gắn bó với làng quê, tác giả hiểu cái vật lộn, giằng xé, kìm hãm tù túng của những con người sau lũy
tre làng Cuồng phong ra đời đã thỏa mãn niềm khao khát của Nguyễn Phan
Hách: “Tôi muốn tác phẩm của mình miêu tả được những biến thiên bão táp của đất nước qua góc độ nào đấy” (“Nguyễn Phan Hách: Một số trang tôi viết
giống sex dân gian”, báo Thể thao văn hóa ngày 12/12/2008)
Khát vọng và ý đồ nghệ thuật của tác giả cùng những điều kiện, sự trải nghiệm và khả năng viết tiểu thuyết của ông là tiền đề chủ quan đóng vai trò
quyết định cho sự ra đời của tiểu thuyết Cuồng phong
1.3 Cuồng phong trong dòng mạch tiểu thuyết viết về hiện thực lịch
sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX
1.3.1 Tổng quan tiểu thuyết viết về hiện thực lịch sử, xã hội và số phận
con người Việt Nam thế kỷ XX
1.3.1.1 Hiện thực lịch sử, xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ
XX – đề tài lớn, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với nhiều ngành nghệ thuật
Một trong những tuyến vận động chủ đạo của văn học Việt Nam kể từ sau 1945 là dòng chảy khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết sử thi hiện đại Bên cạnh đó, dù chịu ảnh hưởng của khuynh hướng sử thi nhưng nhiều tác phẩm lại thấm đẫm bao nỗi niềm thế thái nhân tình thời hiện đại, mang đậm dấu ấn thế sự đời tư Hiện thực lịch sử - xã hội thời kì này đòi hỏi nhà văn, bên cạnh tài năng, vốn sống, sự từng trải còn phải có tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh vững vàng của người cầm bút Chính cuộc sống đã tác động đến từng người, tạo nên số phận riêng, cảnh ngộ riêng của họ Những con người bình thường
Trang 23nhiều khi do sự xô đẩy của lịch sử, của cuộc đời lại ẩn chứa nhiều bi kịch Vì vậy sự tiếp cận đời sống ở phương diện đời tư thế sự có thể nói đã đem đến
cho văn học thế kỉ XX, nhất là từ sau 1975 những trang viết mới mẻ, sâu sắc
Nhắc đến hiện thực lịch sử, xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỉ
XX chúng ta không thể không nhắc đến những sự kiện quan trọng Đó là nỗi đau của dân tộc, của con người dưới chế độ thuộc địa; là khát vọng độc lập tự
do của cả một dân tộc; là các phòng trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta; là cuộc tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945; là sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; là hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
vĩ đại (1945 – 1975); là việc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975); là hai cuộc chiến tranh biên giới Tây – Nam và phía Bắc (1979);
là thời kỳ đất nước bước vào chặng đường Đổi mới (từ 1986), Hiện thực lịch sử - xã hội đất nước, đó còn là những khoảng tối tiềm tàng của những số phận; những u uẩn của thời cải cách ruộng đất; số phận của những con người bên kia chiến tuyến; những cựa quậy quẫy đạp đau thương của đêm dài trước đổi mới hay mặt trái của cơ chế thị trường,
Tất cả những sự kiện, biến cố lịch sử - xã hội và số phận con người ấy đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc chưa từng có đến mọi ngành nghệ thuật: văn học,
âm nhạc, điện ảnh, hội họa, Chưa bao giờ, ở mọi lĩnh vực/ ngành nghệ thuật, lĩnh vực nào, ngành nghệ thuật nào cũng có thành tựu lớn đến thế Khó
có thể kể hết khối lượng tác phẩm của từng ngành nghệ thuật Riêng trong văn học, bất cứ ở loại hình, thể loại nào cũng có những thành tựu lớn lao,
mang tính bước ngoặt vĩ đại Về thơ, sau Thơ mới 1932 – 1945, thơ Việt vẫn
tiếp tục phát triển mạnh Kịch – loại hình hiện đại giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn nghệ dân tộc ở mọi chặng đường Văn xuôi với tất cả các thể loại (ký, truyện ngắn, tiểu thuyết, ) càng phát triển mạnh Điều đáng nói ở đây là văn học, nghệ thuật dẫu phát triển theo khuynh hướng nào, hầu như tất
Trang 24cả đều lấy cảm hứng từ hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX, nhận thức và phản ánh chân thực sinh động từng hiện tượng lớn nhỏ của hiện thực phong phú, đa dạng và cũng đầy phức tạp ấy
1.3.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại với hiện thực lịch sử - xã hội và
số phận con người Việt Nam thế kỷ XX
Tiểu thuyết là thể loại có khả năng miêu tả cuộc sống bề bộn, phức tạp, đồng thời luôn hướng đến cái nhìn đời tư về xã hội và con người Ở đó các nhà văn có thể đổi mới lối viết, cách viết, tiệm cận với tư duy nghệ thuật của thế giới đương đại, đồng thời phát huy những giá trị bản sắc dân tộc
Năm 1986 được xem là dấu mốc quan trọng về sự đổi mới mạnh của văn học Việt Nam, trong đó có thể loại tiểu thuyết Từ 1986 đến cuối thế kỷ XX, không khó để nhận thấy sự rở rộ của tiểu thuyết với hàng loạt tác phẩm (trong
đó có những cuốn từng gây xôn xao dư luận, từng tạo sự cảm nhận, đánh giá
nhiều chiều) Có thể kể đến: Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Thiên
sứ (Phạm Thị Hoài), Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương
Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn
chiến tranh (Bảo Ninh), Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Sao đổi ngôi (Chu Văn), Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bé tý
(Nguyễn Khải), Ông cố vấn – hồ sơ một điệp viên (Hữu Mai), Những ngày
thường đã cháy lên (Xuân Cang), Ác mộng (Ngô Ngọc Bội), Chim én bay
(Nguyễn Trí Huân), Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Quãng đời xưa
in bóng (Dũng Hà), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Phố, Ăn mày dĩ vãng
(Chu Lai), Lời nguyền hai trăm năm (Khôi Vũ), Miền hoang tưởng (Đào Nguyễn), Nền móng (Nguyễn Mạnh Tuấn), Người và xe chạy dưới ánh trăng (Hồ Anh Thái), Những người ở khác cung đường (Hoàng Minh Tường),
Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Không phải trò đùa, Góc tăm tối cuối
Trang 25cùng (Khuất Quang Thuỵ), Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Tuổi thơ dữ dội
(Phùng Quán), Ngày thường (Phùng Khắc Bắc), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán)…
Theo Nguyễn Thị Bình, “tiểu thuyết chặng này viết về mọi đề tài nhưng
hệ quy chiếu phổ biến là các giá trị nhân bản Không phải sự kiện lịch sử mà
số phận cá nhân mới là trung tâm chú ý Chính những câu hỏi về con người (trạng thái tồn tại của nó, ý nghĩa cuộc sống của nó) là nơi giao hội nhiều cảm hứng, nhiều chủ đề, làm nảy sinh nhiều loại nhân vật, nhiều sắc thái ngôn
ngữ, nhiều cảm thức văn học” (Nguyễn Thị Bình, Báo cáo tổng kết đề tài
khoa học cấp Bộ, Mã số: B2006-17-29, ĐHSP Hà Nội, 2007)
Lịch sử là hiện thực giãn cách với con người hiện tại nhưng đối với các nhà tiểu thuyết, nó không hẳn là chuyện đã qua, mà lịch sử còn là hiện tại đầy sống động Lịch sử cũng là nơi các nhà văn lấp đầy các khoảng trống về tư tưởng, tâm lí, tình cảm, khát vọng của con người và của chính mình Tiểu thuyết lịch sử sau 1986, một mặt tiếp nối mạch sử thi của văn học giai đoạn trước 1975, mặt khác chủ yếu khai thác, miêu tả số phận con người trong dòng lịch sử Các tác giả đặt con người từ các góc nhìn khác nhau để lột tả được những góc khuất chưa được lịch sử hé mở
Dù các tác phẩm được viết ra bởi những hình thức nghệ thuật khác nhau nhưng phần lớn đều đem lại cho người đọc nhận thức và cảm xúc về những thăng trầm lịch sử, con người, dòng họ theo suốt cả một thế kỉ Có một số
cuốn tiểu thuyết (tiêu biếu nhất vẫn là Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách)
đã đi dọc chiều dài thời gian, khái quát những thời kì đã qua, theo sát từng sự kiện, những cuộc cách mạng song hành với việc lí giải những vấn đề bức xúc của thực tại Có không ít các nhà tiểu thuyết đã ngược dòng quá khứ tìm kiếm
ở chiều sâu lịch sử ánh sáng soi chiếu hiện tại Đó chính là những đóng góp
Trang 26quan trọng của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam từ sau 1986 đến nay trong dòng chảy văn học dân tộc
1.3.2 Vị trí của Cuồng phong trong dòng mạch tiểu thuyết viết về hiện
thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX
Như ở trên đã trình bày (mục 1.3.1.2), trong dòng mạch tiểu thuyết viết
về hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX, nếu như, “tiểu thuyết chặng này viết về mọi đề tài nhưng hệ quy chiếu phổ biến là các giá trị nhân bản Không phải sự kiện lịch sử mà số phận cá nhân mới là
trung tâm chú ý”, thì tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách lại chú
ý cả hai: sự kiện lịch sử và số phận cá nhân con người Đấy là điều đáng chú
ý thứ nhất về vị trí của Cuồng phong trong dòng mạch tiểu thuyết viết về
hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX
Cái đáng quý nhất của tiểu thuyết chính là ghi lại “ảnh hình của thời gian
đã mất” Tiểu thuyết của Nguyễn Phan Hách đã làm được điều đó Tác phẩm của ông không dửng dưng với quá khứ, hơn thế, còn muốn dựng lại quá khứ Qua quá khứ, tác giả muốn rút ra bài học cho hiện tại và tương lai Đọc tiểu thuyết Nguyễn Phan Hách, ta như thấy được khát vọng cháy bỏng của tác giả, muốn làm một cái gì đó giống như “biên niên sử” ở mức độ nhỏ bằng hình
tượng văn học về những năm tháng qua Đấy là điều đáng chú ý thứ hai về vị
trí của Cuồng phong trong dòng mạch tiểu thuyết viết về hiện thực lịch sử -
xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX
Đọc Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách tựa như thấy được bức tranh
rõ nét, chân thực, sinh động về lịch sử Việt Nam thế kỉ XX Một bức tranh lịch sử được tái hiện trong một không gian mang tính lịch sử và thông qua
thân phận con người Viết về đề tài lịch sử, Cuồng phong đã tái hiện lại bối
cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỉ XX với những biến thiên bão táp Đấy là
điều đáng chú ý thứ ba về vị trí của Cuồng phong trong dòng mạch tiểu
Trang 27thuyết viết về hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế
kỷ XX
Tiểu thuyết Cuồng phong kể về một gia tộc bốn thế hệ:
Thế hệ thứ 1: Cụ Cả Cồ - người nông dân với lòng yêu nước bản năng, chống cường quyền, đã tham gia khởi nghĩa chống Pháp
Thế hệ thứ 2: Ông nghè Nguyễn Đức Nguyên thoát ly giáo lý Khổng Mạnh nghìn đời, khao khát Duy Tân, xây dựng nhà nước độc lập
Thế hệ thứ 3: Có sự phận chia trận tuyến Đức Vĩnh và Đức Hàm là con của ông nghè Nguyễn Đức Nguyên Người anh cả Đức Vĩnh bám vào ngoại bang, tiếp tục quyền lợi thồng trị của mình Người em Đức Hàm là chiến sĩ Cách mạng, kháng chiến để giành độc lập thống nhất đất nước
Thế hệ thứ 4: Đức Lữ - con trai của Đức Vĩnh nối nghiệp bố, phục vụ cho đế quốc Mỹ Đức Trung - con trai của Đức Hàm tiếp tục tham gia kháng chiến Ngày thắng lợi, họ bước vào cuộc sống đời thường, với những khát vọng đời thường của kỉ nguyên “văn minh vật chất” lấn át Và “bi kịch số phận” đã diễn ra với những kẻ không có bản lĩnh Lấy hành trình diễn biến và
số phận của một dòng tộc (qua 4 thế hệ) làm một trục chính, qua đó tái hiện bức tranh về hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ
XX Đấy là điều đáng chú ý thứ tư về vị trí của Cuồng phong trong dòng
mạch tiểu thuyết viết về hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt
Nam thế kỷ XX Đây cũng là một nét riêng độc đáo của tiểu thuyết Cuồng
phong
Các nhân vật của Cuồng phong có số phận éo le, nhiều biến động giữa
cuộc đời Những cơn cuồng phong của lịch sử đã kéo theo những thăng trầm, thay đổi đầy bất ngờ mà họ cũng không lường trước được Với một văn
phong đẹp, mạch lạc, khúc chiết, gợi cảm, cách kết cấu “dọi đèn pha”, Cuồng
phong hiện lên sinh động như một cuốn phim sử thi hoành tráng Những
Trang 28khoảng sáng cận cảnh xen giữa những vùng mờ nhòe mênh mông của lịch sử được tái hiện chân thực như cuộc sống qua những trường đoạn, mang màu sắc điện ảnh Nguyễn Phan Hách không hề né tránh bất cứ một sự kiện lịch sử
nào, kể cả những vấn đề được xem là nhạy cảm Đến với Cuồng phong, sự
thật lịch sử được tôn trọng tuyệt đối
Đấy là điều đáng chú ý thứ năm về vị trí của Cuồng phong trong dòng
mạch tiểu thuyết viết về hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX
Tiểu thuyết Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách xứng đáng là cuốn
sách “để đời” không chỉ đối với riêng nhà văn, mà còn xứng đáng là cuốn
sách “để đời” đối với đông đảo công chúng độc giả Đóng góp của Cuồng
phong cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại là điều không thể phủ nhận
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tiểu thuyết Cuồng phong xuất hiện, đến được với bạn đọc là một nỗ lực
lớn của Nguyễn Phan Hách Cuốn tiểu thuyết là một sự thể hiện xúc động khát vọng cháy bỏng của Nguyễn Phan Hách “muốn làm một cái gì đó giống như biên niên sử bằng hình tượng văn học về những năm tháng đã qua” Tiểu thuyết Việt Nam đương đại (từ 1986 đến nay) ngày càng phát triển mạnh, phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau Điều đáng nói là hiện thực lịch sử - xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỷ XX vẫn là nguồn cảm hứng vô tận, là đề tài hấp dẫn cho tiểu thuyết dẫu viết theo khuynh hướng tư tưởng và bút pháp nào
Nằm trong dòng mạch tiểu thuyết đương đại viết về hiện thực lịch sử -
xã hội và số phận con người Việt Nam thế kỉ XX, Cuồng phong có một vị trí
khó có thể thay thế bởi những đóng góp mới mẻ của nó
Trang 29Chương 2 BỨC TRANH LỊCH SỬ, XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XX
VÀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI QUA TIỂU THUYẾT CUỒNG PHONG
2.1 Bức tranh hiện thực lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XX qua
tiểu thuyết Cuồng phong
2.1.1 Một vài vấn đề về sự phản ánh hiện thực của văn học nói chung,
tiểu thuyết nói riêng
Mệnh đề “Văn học phản ánh hiện thực” - theo Biện Minh Điền - “đã có
từ lâu, xuất phát đầu tiên từ quan niệm “nghệ thuật là sự mô phỏng - mimesis” do Platon, sau đó là Aristote đưa ra từ thời cổ đại Nhưng rồi, nó được hiểu, được diễn giải theo nhiều cách khác nhau, được bàn đi bàn lại, được bổ sung, điều chỉnh, thậm chí được / bị “xét lại” bởi nhiều quan điểm, lý thuyết khác nhau ( ) Có thể rồi đây, còn xuất hiện nhiều đề xuất khác nữa
về vấn đề này Dẫu thế nào đi chăng nữa, vẫn khó có thể từ chối mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, khó có thể phủ định chức năng nhận thức, phản ánh hiện thực của văn học Cách hiểu từ “phản ánh” thụ động và “việc đề cao quá mức đặc tính phản ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của văn học đã dẫn đến chỗ hiểu lệch bản chất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, coi nhẹ sự tìm tòi tư tưởng và thể hiện những suy nghĩ của cá nhân nghệ sĩ trong tác phẩm”.Hệ lụy của cách hiểu thụ động từ “phản ánh” và “việc đề cao quá mức đặc tính phản ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của văn học” ấy đã dần dần được khắc phục trong văn học ta, nhất là ở tiểu thuyết thời gian qua (từ những năm tám mươi của thế kỷ XX đến nay) Tuy nhiên cũng không vì thế mà cực đoan phủ định chức năng “phản ánh hiện thực” của văn học (mà tiểu thuyết là thể loại có khả năng lớn lao nhất) Vấn đề là cách hiểu từ “phản ánh” như thế nào cho thỏa đáng (ngay chữ “mô phỏng” - tiếng Hi Lạp cổ: “mimesis” mà Aristote quan niệm cũng không mang nghĩa sao chụp tiêu cực, bị động, thiếu
Trang 30sáng tạo) Điều quan trọng nhất đáng nói ở đây là việc xử lý chất liệu hiện thực của nhà văn” [20, 204 - 205] Theo Trần Đình Sử, “Văn học nói chung không phản ánh hiện thực như các sự kiện hiện tồn như báo chí, thông tấn, lịch sử biên niên, tư liệu Văn học phản ánh hiện thực trong những ý nghĩa
do thực tế và các xu thế, khả năng đời sống gợi ra” [59] Văn học chân chính bao giờ cũng là tấm gương phản ánh chân thực hiện thực lịch sử, xã hội và số phận con người Dù ở bất kì thời đại nào, người đọc cũng tìm thấy bức tranh bằng ngôn từ với những nét vẽ đa màu, đa sắc về cuộc sống khách quan được người nghệ sĩ ghi lại
Từ sau 1975, đặc biệt từ 1986 đến nay, cách nhìn về hiện thực lịch sử -
xã hội và con người trong văn học Việt Nam nói chung, tiểu thuyết nói riêng
đã có những thay đổi quan trọng Nhiều nhà văn thẳng thắn thừa nhận, do yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử, trước kia mình còn mắc nợ cuộc đời về sự thật –
sự thật về người nông dân, về chiến tranh, người lính, về những thân phận riêng; bây giờ hòa bình, họ phải trả món nợ ấy với đời, với văn học Đằng sau những chiến công vinh quang còn có bao nhiêu hy sinh mất mát, bao sai lầm đẩy con người vào nỗi cùng quẫn khổ đau Do vậy, văn học cần nhìn lại và thực sự đã nhìn lại thực tại, phản ánh hiện thực cuộc sống nhiều chiều hơn với một tầm tư tưởng mới, điểm nhìn mới
Nhà văn viết với tâm thế thoải mái, tự do hơn Trong nhận thức và phản ánh hiện thực, không có cái gọi là “vùng cấm” Từ thể tài lịch sử- xã hội chuyển sang thể tài thế sự - đời tư, các tác giả có điều kiện khai thác triệt để chất liệu hiện thực Hiện thực đời sống được tái hiện đủ mọi cung bậc, từ cao
cả đến thấp hèn, từ lạc quan tới bi phẫn, từ ánh sáng đến bóng tối Qua tiểu
thuyết Việt Nam đương đại – mà Cuồng phong là một tác phẩm tiểu biểu,
người đọc có cơ hội nhìn lại bức tranh hiện thực lịch sử - xã hội Việt Nam và
số phận con người thế kỉ XX, từ đây nhận chân chính xác hơn những gì đã
Trang 31qua trong quá khứ Qua Cuồng phong, người đọc có thể nhận thấy bức tranh
hiện thực lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỉ XX - “một hiện thực dữ dội , tột đỉnh đau thương và tột đỉnh kiêu hãnh tự hào” (lời Nguyễn Phan Hách) được tác giả tái hiện lại một cách chân thực và khách quan
2.1.2 Chế độ thuộc địa và những cơn “cuồng phong” ở nửa đầu thế
kỷ XX (1900 – 1945)
Cuồng phong có bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thế kỉ XX, một thế kỉ
đầy biến động của dân tộc Nguyễn Phan Hách quan niệm những biến thiên
dữ dội bi hùng của đất nước, cơn cuồng phong của chiến tranh và thân phận con người trong bão táp đó là chất liệu vô giá của văn học Chính hiện thực lịch sử, hiện thực đời sống đã làm nên giá trị cho văn chương Nguyễn Phan Hách từng quan niệm: “Tôi nghĩ sứ mệnh của tiểu thuyết là là ghi lại những ảnh hình đã qua Hiện thực Việt nam là một nguyên liệu vô giá, bất tận cho tiểu thuyết Tôi muốn tác phẩm của mình miêu tả được những biến thiên bão táp của đất nước qua các góc độ đấy Qua câu chuyện một gia tộc với bốn thế
hệ (và những người liên quan), qua số phận những con người vật vã trong cơn cuồng phong, tôi mon men đến chủ đề mà tôi thích” Với hơn 700 trang tiểu thuyết, Nguyễn Phan Hách đã dựng lên hàng loạt nhân vật với những cảnh đời, số phận, tâm trạng, tính cách khác nhau xuất hiện trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc với những biến cố của nó
Thời gian lịch sử được tái hiện trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết
Cuồng phong bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XX với hàng loạt sự kiện, biến
cố (chế độ thuộc địa; những cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại giai cấp thống trị, chống lại chế độ thực dân phong kiến; cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945; )
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nhảy vào xâm lược nước ta với luận điệu vô cùng xảo trá là “bảo hộ” và “khai hóa”, nhưng thực chất là “đến cướp
Trang 32nước ta, bóc lột nhân dân ta” Các cuộc khởi nghĩa của vua tôi nhà Nguyễn và nhân dân trong cả nước chống lại bọn thực dân xâm lược dù mạnh mẽ quyết liệt nhưng cuối cùng đều rơi vào bế tắc Điều đó được nhà văn Nguyễn Phan Hách tái hiện rõ qua cuộc đấu tranh của nhân vật Cả Cồ Cuộc khởi nghĩa của
Cả Cồ trong Cuồng phong là một trong những dẫn chứng đầu tiên cho phong
trào yêu nước của Việt Nam đầu thế kỷ XX
Cả Cồ là nhân vật khởi nguồn cho hình tượng người nông dân chống cướp, bảo vệ thôn làng, trở thành lãnh binh chống Pháp lừng danh Sinh ra ở vùng đất Nhã Sơn hoang dại, hồn rừng và hồn suối nhập cả vào Cả Cồ, sinh
và dưỡng Cả Cồ Thể chất của Cả Cồ mạnh mẽ hồn nhiên như tự nhiên Với sức mạnh của mình, Cả Cồ đánh được cả hổ và bắt đầu tập hợp lực lượng những kẻ thích đánh nhau để chống cường hào, áp bức, cướp giật nhằm
“cướp của nhà giầu, chia cho người nghèo” Tiếng tăm của Cả Cồ nổi tiếng đến mức “chỉ thiếu người ta tôn Cồ lên thành thánh Oai danh Cồ lừng lẫy Đâu đâu cũng nhắc đến tên” [27;17]
Với sức mạnh vốn có và tính cách bản năng của mình, Cả Cồ đã quy tập
và lãnh đạo cả một đội quân “nổi loạn” đánh tây Cả đã xây dựng cho mình một “biên thùy” kiên cố và vững chắc để đánh giặc: “Vùng núi rừng hiểm trở
Nhã Sơn thành căn cứ nghĩa binh Thành Nhã Sơn được xây dựng dày ba lớp
bằng đất, đá, tre gai, cây rừng Trong thành là hệ thống hang động tự nhiên, thông từ núi này sang núi khác, súng thần công có bắn suốt ngày đêm cũng chẳng suy suyển gì Những xóm ấp quanh thành là pháo đài Dân các xóm
biến thành nghĩa quân cả Cấy cày làm ăn lúc bình thường, đánh giặc khi có
biến Cả Cồ thề diệt hết quân Pháp lang sa, quan Nam triều Cờ hai màu đỏ và xanh Đỏ là máu, xanh là màu trời tự do” [27;22].Dưới sự chỉ huy của Cả Cồ,
“các “thống tướng” đào hầm đắp lũy, chế tạo súng hỏa mai, rèn dáo mác, làm
cung tên, cắm chông, đặt bẫy Quân lính quan phủ, quan đồn tấn công vào
Trang 33làng, sa bẫy gào thét kêu van vang trong đêm mà nghe rợn người” [27;23] Cách đánh giặc của Cả Cồ là lối đánh du kích dựa vào địa thế rừng núi hiểm trở, đánh những trận nhỏ lẻ nhằm tiêu hao sinh lực địch “Đại bản doanh của
Cả Cồ vững chắc như thạch bàn Hang núi thông luôn nhau với những dãy núi trập trùng vô tận Quan lính Cả Cồ thoắt ẩn thoắt hiện Đang đi trên
đường đấy, mà có khi cần có thể rút mất tăm trong rừng” [27;23]
Thời gian đầu của cuộc khởi nghĩa, với khí thế hùng mạnh và tinh thần đấu tranh quật khởi, nghĩa quân của Cả Cồ đã làm cho bọn giặc kinh hồn bạt vía, khiếp sợ đến mức phải chấp nhận hòa hoãn: “Cả đánh phá hàng loạt phủ huyện, đồn giám binh Pháp suốt cả vùng tỉnh Bắc Cướp sạch, đốt sạch, trói giải tù binh về hàng đàn, hàng lũ Quan giám binh Tây, xưa thét ra lửa, cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết Quan Pháp, quan Nam triều không thể làm gì cái đội quan xuất quỷ nhập thần trong rừng Cực chẳng đã, xuống nước, cho người đi nghị hòa” [27;23-24] Nhân vật Cả Cồ trong tác phẩm
Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách chính là hình ảnh tiêu biểu của người
anh hùng nông dân nghĩa sĩ với lòng yêu nước bản năng, đã khởi nghĩa chống phong kiến và bọn thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỷ XX
Tuy nhiên, cũng bởi cuộc đấu tranh của những người nông dân yêu nước, căm thù giặc này diễn ra một cách tự phát, thiếu cơ sở khoa học, thiếu chiến thuật quân sự nên sau 10 năm ngủ say trong hòa hoãn, đến năm thứ 11, thế cờ thay đổi Trong khi quân của Cả Cồ lo làm giàu, say sưa trong “quyền
uy, rượu ngon, gái đẹp” thì quân Pháp đã tăng cường thêm nhiều vũ khí tối tân khiến cho “Cuộc trở mặt, tổng tiến công Đại đồn Nhã Sơn của quân Pháp
và triều đình bất ngờ như vũ bão giáng xuống” Cuối cùng nghĩa quân của Cả
Cồ thất bại thảm hại; riêng Cả Cồ đã lựa chọn cái chết bất đắc dĩ trước khi bị quân Pháp bắt sống: Ngưởi chủ tướng trẻ tuổi oai hùng đắc chí một thời, bình tĩnh mỉm cười, đưa súng ngắn lên thái dương bóp cò, không kịp cho quân
Trang 34Pháp ngăn cản” [27;28] Không chỉ dừng lại ở việc càn quét và tiêu diệt các cuộc khởi nghĩa nông dân, hành động của bọn thực dân Pháp còn độc ác và tàn bạo hơn với những người đã chết nhằm lấy làm bài học để ngăn ngừa cảnh báo những kẻ đang sống: “Đầu Cả Cồ và các tướng lãnh bị chặt, cắm cọc bêu giữa chợ chính vùng Nhã Sơn suốt mấy tháng Quạ, diều hâu bay lượn, khoét mắt rỉa thịt chí chóe inh ỏi một vùng Đêm đêm hồn ma của các thống tướng về lập lòe như đom đóm bay” [27;28] Riêng gia đình Cả Cồ,“Bọn thực dân Pháp tróc nã “tru di tam tộc” nhà Cả Cồ Những đứa con bị giết hết Vợ Cả tự đập đầu vào tường mà chết Dòng họ Cả Cồ mất giống” Quả thật, cuộc đời của Cả Cồ tựa như một cơn cuồng phong Oanh liệt,
vẻ vang là thế, cuối cùng lại thất bại thảm hại, đau đớn Phải chăng, đó chính
là số phận chung của những người nông dân nghĩa sĩ đã đứng lên chống giặc cứu nước của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX như Nguyễn Thiện Thuật trong khởi nghĩa Bãi Sậy ở Hưng Yên (1883-1892) và Phạm Bành, Đinh Công Tráng trong khởi nghĩa Ba Đình ở Thanh Hóa (1886-1887) hay Hoàng Hoa Thám trong khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) ở Bắc Giang?
Các cuộc khởi nghĩa nông dân chống phong kiến, chống thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỷ XX tuy cuối cùng đều thất bại nhưng đã đi vào trang sử đầy vẻ vang, hào hùng của dân tộc Đấy là biểu hiện chân thực, sinh động tinh thần quật khởi, lòng yêu nước và ý chí đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân Việt Nam Đó chính là “trang sử tột đỉnh đau thương và tột đỉnh kiêu hãnh tự hào” mà nhà văn Nguyễn Phan Hách đã tái hiện thành công
trong tiểu thuyết Cuồng phong
Những tưởng rằng nòi giống của dòng họ Cả Cồ tuyệt tự thì thằng bé Nguyên chính là niềm niềm hi vọng cuối cùng của Cả Thằng bé là kết quả của “cú cưỡng hiếp” giữa Cả và cô gái con ông đồ Ngạn Khi ông đồ đưa thằng bé đến gặp Cả Cồ, Cả đã nghĩ: “đứa con bất ngờ và bí mật này cần phải
Trang 35cất đi, giữ kín, để dùng vào việc lớn mai sau Chí ít thì bất luận trong hoàn cảnh nào, nó cũng là sự tái sinh của Cả Cồ trong cuộc đời này Nhưng đứa con bé bỏng này cần phải tiếp tục giấu ở một nơi nào đó phòng bất trắc khó lường trong tương lai” [27;26] Vả quả thật đúng như dự đoán của Cả Cồ, năm Cả Cồ bị giết cũng chính là năm mà “có chàng sĩ tử trẻ tuổi, tên Nguyễn Đức Nguyên, từ thành Nam lều chõng đi thi đỗ “Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân”
Nguyễn Đức Nguyên ngay khi còn nhỏ đã nhận được sự dạy dỗ bài bản, chu đáo của ông đồ Ngạn và ông Tú Cát Đây là hai nhà nho bất đắc chí nên
họ đã gửi gắm bao tâm huyết cứu nước vào niềm hi vọng cuối cùng là cậu bé Nguyễn Đức Nguyên thi đỗ “Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân”, làm quan không phải để mưu cầu danh lợi, làm giàu cho bản thân, làm tay sai cho bọn thực dân phong kiến mà là để giúp dân Dù ông không ra mặt trực tiếp chống lại thực dân Pháp nhưng cách làm của ông đã cho thấy rõ sự khác biệt so với các vị quan cùng thời Nguyễn Đức Nguyên thoát ly giáo lý Khổng Mạnh nghìn đời, khao khát Duy Tân, dựng xây đất nước độc lập: “Trên huyện đường, chữ nghĩa thánh hiền đã đầy bụng rồi, mà vẫn còn chưa thỏa mãn Đêm nào cũng chong đèn mọt sách Không tổ tôm, mạt chược Không dựng lầu ngâm thơ thưởng nguyệt” [27;34] Không những thế, Nguyễn Đức Nguyên còn ra phố huyện mua một ngôi nhà mở cửa hàng buôn bán, treo biển: “Tân thành quốc thương” để bán nước mắm Rồi ông đứng ra mở trường “Tân Thành học hiệu” dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp cho trẻ con, dạy cho chúng kĩ năng sống Ngoài ra ông còn mở một lớp quan trọng cho người lớn, truyền cho thanh niên ý tưởng: “Nền nho học Khổng Mạnh đã lỗi thời, phải đưa đất nước thoát khỏi ý thức hệ Khổng Mạnh, phải học tâp Châu Âu, Nhật Bản, phát triển công thương nghiệp, phải canh tân đất nước” [27;37] Có một dạo, ông quan ấy còn huấn luyện một đội ngũ cả chục người toàn thợ cắt
Trang 36tóc cắt cái đuôi sam nặng trĩu trên đầu, được mọi người ủng hộ và khen ngợi bởi cắt đi nhẹ người, trông trẻ ra, lại văn minh nữa Thế nhưng, Nguyễn Đức Nguyên cuối cùng vẫn phải nhận cái kết vô cùng bi đát giống như Cả Cồ - bố
đẻ của ông: “mọi người kinh hoàng nhìn xe của “Nhà nước Đại Pháp” về thẳng Huyện đường Thuận An, ông Nghè Nguyên đeo thẻ bài ngà, đang ngồi
xử án trên công đường, bị bọn Tây lôi cổ xuống, trói gô bắt đem đi” [27;39] Nguyễn Đức Nguyên bị đày ra Côn Đảo cùng các sĩ phu yêu nước khác và bị chết ngoài đó
Cuộc đời, số phận của nhân vật Nguyễn Đức Nguyên trong tiểu thuyết
Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách khiến ta liên tưởng đến hình ảnh của
những sĩ phu yêu nước Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX Đó là Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu đã tham gia các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản như phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), phong trào Duy Tân (1906-1908) Sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX cho thấy sự khủng hoảng về con đường cứu nước của dân tộc ta, từ đó đòi hỏi phải tìm ra một con đường cách mạng mới và một giai cấp mới để gánh vác sứ mệnh lịch sử ấy
Thế hệ thứ ba trong gia đình Nguyễn Đức Nguyên đã có sự phân chia trận tuyến Người anh cả Đức Vĩnh tiếp tục quyền lợi thống trị của mình Còn người em thứ hai Đức Hàm lại là một chiến sĩ cách mạng, kháng chiến để giành độc lập thống nhất đất nước
Nguyễn Đức Vĩnh sau khi học hết trường Hậu bổ ngoài Hà Nội, vừa ra trường, ông được bọn Pháp chỉ đạo Nam triều, bổ ngay chân tri huyện Thuận
An quê nhà - nơi chính Nguyễn Đức Nguyên - bố đẻ của ông từng nhậm chức
và giờ đang ở tù ngoài đảo xa Nếu như ông Nghè Đức Nguyên nho nhã, khiêm tốn, giản dị bao nhiêu thì con trai ông - Đức Vĩnh lại kiêu ngạo hách dịch bấy nhiêu Cách ăn chơi của Đức Vĩnh khi làm quan tay sai cho Pháp rất
Trang 37phóng khoáng, trác táng: “Bác Cả mở tiệc linh đình, gọi cô đầu về tom chát
cả đêm Tiệc bày giữa vườn đào Một con bê vàng rộm quay trên đống than hồng Một anh đầu bếp đầu đội mũ vải trắng cao vót, xẻo từng miếng thịt nóng hổi đặt vào đĩa các quan Những “cô đầu tân thời” tóc phi rê, áo dài hoa đào, cổ cao trắng nõn đeo hạt trai, cười cười nói nói, mắt liếc lẳng lơ các quan Nhưng các cô chỉ liếc mắt, không hay bằng các cô vũ nữ váy ngắn trắng muốt, áo hở ngực, ôm lưng các quan nhảy điệu vanxơ dưới nóng hoa đào Ngọn gió thổi qua, hoa đào rơi lả tả trên người các quan, trên vai trần vũ
nữ Quan ta thì khoác tay cô đầu, quan Tây thì ôm vũ nữ Ô tô để chật ngoài ngõ” [27;45]
Trái ngược với Đức Vĩnh, người em trai thứ hai - Nguyễn Đức Hàm - lại
có quan niệm và lí tưởng sống hoàn toàn đối lập với anh Đang là sinh viên trường Cao đẳng Luật khoa Hà Nội, Đức Hàm bỏ giữa chừng bởi không thích làm quan, muốn sống có ý nghĩa, có lí tưởng Anh hoạt động trong nhóm thanh niên trí thức với cương lĩnh đấu tranh đòi độc lập dân chủ Qua cuộc đối thoại đầy căng thẳng quyết liệt giữa hai anh em Đức Vĩnh và Đức Hàm, người đọc đã phần nào hiểu được tình hình lịch sử lúc bấy giờ Đức Vĩnh cho rằng: “Khi mà không đủ sức xoay chuyển bánh xe thời cuộc thì đừng để nó nghiền nát Bản thân chúng ta phải tìm cho mình con đường sống phù hợp thời thế, đừng để cuộc đời vùi dập xuống đất đen” [27;51] Hay: “Nhưng mình phải sống, tìm lấy bóng râm mát cho thân phận nhỏ bé của mình Dù khắp Trung Nam Bắc đang ngấm ngầm phong trào cách mạng phản đế phản phong, nhưng làm gì được với trật tự xã hội hiện hữu Một bên là văn minh phương Tây, là kỹ nghệ tối tân, súng ống tầu bay đại bác, là hệ thống cai trị quyền lực Bên kia có cái gì, là cái gì, những anh dân thường ngỗ ngược” [27;53] Rõ ràng quan điểm sống của Đức Vĩnh là tìm mọi cách có lợi cho bản thân, và tin tưởng tuyệt đối vào chế độ cai trị của bọn thực dân Pháp Trái
Trang 38ngược với người anh trai của mình, Đức Hàm lại cho rằng: “Quan trường thối nát mục ruỗng đến tận xương tủy Đất nước rồi không biết sẽ đi về đâu Chả
lẽ thành phần tinh hoa không lo cho đất nước thì ai sẽ lo đây Cuộc sống này đang được đun trên ngọn núi lửa âm ỉ Rồi một lúc sẽ sôi lên sùng sục, nổ tung Một cuộc cách mạng sẽ đảo lộn tất cả” [27;52]
Đúng như dự đoán của Đức Vĩnh, tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của mặt trận Việt Minh, Cách mạng nổ ra, giành chính quyền về tay nhân dân Vũ Hùng từ thân phận thằng ở trong nhà ông nghè Đức Nguyên, vụt trở thành người “khổng lồ” đầy uy lực Việt Minh chọn Hùng làm chỉ huy đoàn dân quân tự vệ, phụ trách cả mấy trăm người Còn Nguyễn Đức Vĩnh từ một
vị quan huyện đầy uy lực, khăn xếp áo gấm, ngực đeo thẻ ngà cùng đoàn tùy tùng đề lại khúm núm bước ra Cơn cuồng phong của lịch sử diễn ra bất ngờ đến mức nó tạo ra một nghịch cảnh khó tin Bao năm nay chỉ có Hùng khúm núm trước Huyện Vĩnh Vậy mà bây giờ Huyện Vĩnh phải khúm núm trước Hùng Nếu như Vũ Hùng trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 cao lớn lừng lững, oai phong như một vị thống tướng thì Huyện Vĩnh lại run lẩy bẩy, đầu cúi thấp, hai tay dâng ấn triện, sổ sách, thẻ ngà vừa cởi từ cổ ra
Có thể thấy bức tranh hiện thực lịch sử - xã hội Việt Nam đầu thế kỷ
XX đã được Nguyễn Phan Hách tái hiện lại trong tiểu thuyết Cuồng phong
một cách chân thực và sinh động Thông qua một số sự kiện tiêu biểu gắn với cuộc đời số phận của các nhân vật, người đọc hiểu hơn về chế độ thuộc địa và những cơn “cuồng phong” ở nửa đầu thế kỷ XX (1900 – 1945)
Qua các sự kiện, biến cố được miêu tả, cuốn tiểu thuyết cho thấy nhà văn Nguyễn Phan Hách đã tôn trọng một cách tuyệt đối sự thật lịch sử, đúng như ông đã từng mong muốn “người đọc vẫn thấy cuốn sách thực sự có ích vì có thể tìm thấy câu chuyện cả một thế kỷ đầy biến động, và có thể nói là dữ dội nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX”
Trang 392.1.3 Lịch sử, xã hội Việt Nam và những cơn “cuồng phong” chặng
đường 1945 – 1975
Ba mươi năm trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ (1945 – 1975), lịch sử xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn, ác liệt, dữ dội chưa từng có Trong cơn lốc xoáy ấy, số phận con người càng trở nên mong manh
Đức Vĩnh sau khi bị Việt Minh cắt hết chức tước, bổng lộc, xuống làm một người dân thường, vì quá sợ hãi đã trốn vào chùa Chân giáo Bút Tháp – Vạn Bảo Vĩnh tự biến mình thành một ông sư “chân chính” để “mũ ni che tai”, lánh giông bão ngoài đời, bởi “Giông bão trước mắt khủng khiếp lắm” Còn Đức Hàm, ngày 16 tháng 4 năm 1946 đã đến Phủ Khâm Sai – tên mới là Bắc Bộ Phủ - phố Ngô Quyền làm việc Nửa năm sau ngày Bác Hồ đọc bản
“Tuyên ngôn độc lập”, tình hình lịch sử đất nước bao biến động, “Pháp núp sau quân Anh Đồng Minh đã tiến đánh Nam Bộ ngay từ ngày 23- 9- 1945 Phía Việt Nam đã nhượng bộ từng bước Hiệp định sơ bộ 6- 3- 1946 đã được
kí kết Quân Pháp đã tràn vào Hà Nội và các nơi, trên danh nghĩa thay chân
20 vạn quân Tàu Tưởng của Tướng Lư Hán để làm nhiệm vụ của Đồng minh giải giáp quân Nhật Quân Tàu Tưởng rút về nước Nhưng giờ đây, quan Pháp ngạo nghễ đóng trong thành cổ Hà Nội – ngôi thành mà Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu, hai lần cố thủ chiến đấu đến phút cuối cùng với thực dân Pháp Thành cổ Hà Nội lại một lần nữa rơi vào tay Pháp, thành đại bản doanh của Pháp Quân Pháp đã đồng thời kiểm soát Hà Nội cùng với Việt Minh” [27;81] Hội nghị trù bị ở Đà Lạt, để chuẩn bị cho cuộc đàm phán Việt – Pháp cấp cao ở Phông-ten-nơ-blô (Pháp) trong xu thế Việt Nam đòi độc lập, toàn vẹn lãnh thổ; còn Pháp thì muốn trở lại thành thực dân đô hộ Đông Dương Những sự kiện, biến cố đó cũng được tác giả Nguyễn Phan Hách tái
hiện rất cụ thể và rõ nét trong Cuồng phong Cụ thể ngày 10 tháng 5, sau một
Trang 40cuộc tranh luận nảy lửa, phái đoàn Việt Nam đã đứng dậy bỏ phòng họp để phản đối âm mưu của Pháp muốn tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam để “nhập” vào nước Pháp Người Việt Nam sẽ đương đầu, sẽ chiến đấu đến cùng giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ
Phong trào “Tuần lễ vàng”, toàn dân phải ủng hộ cách mạng Xã Bút Nam cũng như bao vùng quê khác, nhiệt tình hưởng ứng: “Bút Nam trống rong cờ mở, hô hào toàn dân ủng hộ vàng cho cách mạng” Rồi phong trào Bình dân học vụ diễn ra rất vui: “Tối đến các nhà gọi nhau ơi ới ra đình ra điếm Đèn sáng như sao sa Trước kia chỉ trẻ con cắp sách Lớn xác ai còn đi học chữ Mà học để làm gì Nhưng giờ đất nước độc lập, người cách mạng phải biết chữ chứ” Trên ba mặt trận “Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, nhân dân ta đã thực hiện “Hũ gạo cứu đói”, rồi mở các lớp bình dân học chữ quốc ngữ ở ngoài Đình, vào các đêm Chỉ ba tháng sau, ai cũng biết đọc, biết viết Cách mạng đã đem lại bình đẳng cho phụ nữ: “Cách mạng cho đàn bà được tham gia tất cả các công việc xã hội Phó chủ tịch huyện bây giờ
là đàn bà Đàn bà làm chiến sĩ tự vệ, tập mốt hai mốt cùng đàn ông Đàn bà được đi bầu Quốc hội ngày 6 tháng giêng” [27;91]
Từng sự kiện lịch sử của đất nước được Nguyễn Phan Hách tái hiện rất
chi tiết trong Cuồng phong Cụ thể “8 giờ 3 phút tối ngày 19 - 12 – 1946 , Hà
Nội chìm trong màn đêm Tiếng đạn đại bác từ pháo đài Láng gầm lên rung chuyển bầu trời báo hiệu mở màn cuộc Kháng chiến chống Pháp” Tương quan lực lượng giữa Pháp và ta cũng được cũng được nhà văn tường thuật rõ ràng: “Phía Pháp ở Hà Nội có khoảng 6500 quân, gồm một trung đoàn bộ binh, một trung đoàn xa tăng thiết giáp, một tiểu đoàn pháo, một bộ phận biệt kích, một bộ phận lính dù, cùng với không quân và thủy quân Ngoài ra còn
7000 Pháp kiều ở Hà Nội đã được phân phát vũ khí, sẵn sàng tham gia vào cuộc chiến Toàn Đông Dương, quan viễn chinh Pháp lúc này có khoảng