1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn

170 206 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA LỊCH SỬ ====== NGUYỄN ĐĂNG TUYÊN SỬ DỤNG TƯ LIỆU THÔNG SỬ TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT NHẰM HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

NGUYỄN ĐĂNG TUYÊN

SỬ DỤNG TƯ LIỆU THÔNG SỬ TRONG DHLS

Ở TRƯỜNG THPT NHẰM HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC SINH

(ÁP DỤNG CHO PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM

TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII SGK LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử

Người hướng dẫn khoa học

ThS NINH THỊ HẠNH

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới ThS Ninh Thị Hạnh – người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo em trong quá trình triển khai đề tài khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các Thầy/Cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền cho em những bài học, những kinh nghiệm quý báu và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành đề tài nghiên cứu này Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ em trong những lúc khó khăn

Em xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Hà Nội, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Trung tâm Thông tin và Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ em tìm hiểu, khai thác nguồn tài liệu cần thiết, đây là một phần quan trọng giúp cho đề tài nghiên cứu đạt kết quả cao nhất

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt nhất tới cha mẹ, người đã sinh thành và nuôi dưỡng em khôn lớn, người luôn giúp đỡ em có thêm động lực

và niềm tin trong lúc đề tài gặp khó khăn hay bế tắc

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Đăng Tuyên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Giả thuyết khoa học 8

7 Bố cục của khóa luận 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU THÔNG SỬ HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 10

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 10

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 10

1.1.1.1 Khái niệm tư liệu thông sử 10

1.1.1.2 Khái niệm năng lực nhận thức, tư duy lịch sử 13

1.1.2 Vai trò của việc sử dụng tư liệu thông sử trong DHLS ở trường THPT 21

1.1.3 Một số yêu cầu khi sử dụng tư liệu thông sử trong DHLS ở trường THPT 24

1.1.4 Định hướng đổi mới PPDH Lịch sử ở trường THPT 27

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 29

1.2.1 Thực tiễn việc DHLS ở trường THPT 29

1.2.2 Thực tiễn việc khai thác, sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS trong DHLS ở trường THPT 36

Trang 5

1.2.2.1 Về phía giáo viên 37

1.2.2.2 Về phía học sinh 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU THÔNG SỬ NHẰM HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC SINH KHI DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII,(SGK LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 43

2.1 MỘT SỐ YÊU CẦU KHI SỬ DỤNG TƯ LIỆU THÔNG SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ NHẰM HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC SINH 43

2.1.1 Đảm bảo tính khoa học 43

2.1.2 Đảm bảo phù hợp với nội dung bài học 44

2.1.3 Đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh 44

2.1.4 Nguyên tắc sử dụng đúng mức độ 45

2.2 VỊ TRÍ, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII (LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 45

2.2.1 Vị trí 45

2.2.2 Mục tiêu 46

2.2.3 Nội dung 47

2.3 HỆ THỐNG CÁC TƯ LIỆU THÔNG SỬ CÓ THỂ SỬ DỤNG TRONG KHI DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII (LỊCH SỬ LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 49

2.4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU THÔNG SỬ TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII NHẰM HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC SINH 60

Trang 6

2.4.1 Sử dụng TLTS giúp HS ghi nhớ, miêu tả, tái hiện các sự kiện, hiện

tượng lịch sử 60

2.4.2 Sử dụng TLTS giúp HS hình thành tư duy so sánh, tổng hợp, khái quát các đặc điểm chung, đặc điểm riêng của các sự kiện hiện tượng 63

2.4.3 Sử dụng TLTS giúp HS hình thành tư duy phê phán tư liệu lịch sử 67

2.5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69

2.5.1 Mục đích thực nghiệm 69

2.5.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 70

2.5.3 Tiến trình thực nghiệm 71

2.5.3.1 Thực nghiệm ở lớp 10A3 và 10A6 71

2.5.3.2 Thực nghiệm ở lớp 10A1 và 10A4 74

2.5.4 Kết quả thực nghiệm 74

2.5.4.1 Đánh giá kết quả thực nghiệm bài 24 tại hai lớp 10A3 và 10A6 74

2.5.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm bài 24 tại hai lớp 10A1 và 10A4 78

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 7

đề lịch sử trên cơ sở những chứng cứ xác thực Đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS, làm cho HS hứng thú và phát huy được khả năng vốn có của mình một cách năng động và sáng tạo

TLTS có vị trí và vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu và học tập lịch sử TLTS là cơ sở, là căn cứ quan trọng để nhìn nhận một cách toàn diện và khoa học về các vấn đề lịch sử Sử dụng TLTS trong DHLS theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS, nhất là hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS sẽ giúp HS nắm vững, nhìn nhận các sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách chính xác, khoa học và sâu sắc Tức là, việc

GV tổ chức, hướng dẫn HS làm việc với TLTS, HS phân tích, tự đưa ra kết luận như một “nhà khoa học nhí”, nhưng không phải theo hình thức “thử - sai” mà đi theo con đường ngắn nhất mà khoa học lịch sử đã đi

Tuy nhiên, một thực tế đang diễn ra với bộ môn Lịch sử, GV dạy học còn thiên về truyền thụ tri thức HS tiếp cận với tri thức lịch sử thông qua sự hiện đại hóa lịch sử, qua lời vàng ý ngọc của GV Thực tế cho thấy, HS không mấy mặn mà với phương pháp DHLS này Điều đó, có thể lí giải một phần nguyên nhân dẫn tới sự xôn xao dư luận gần đây đối với vấn đề của bộ môn Lịch sử ở trường THPT, HS không thích học lịch sử, chán học sử, sợ học sử

Trang 8

thậm chí ghét nó và có những hành động phản kháng… Việc đó sẽ trở nên ngày càng nghiêm trọng hơn, nếu chúng ta không khắc phục được vị trí, vai trò của bộ môn Lịch sử trong trường THPT và trong xã hội Để có thể phát huy hết khả năng và nhiệm vụ của bộ môn trong giáo dục giới trẻ, yêu cầu của

xã hội đặt ra với bộ môn Lịch sử ngày càng cấp thiết

Trong chương trình lịch sử lớp 10 THPT, đặc biệt là phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII có vị trí quan trọng Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII diễn ra những sự thay đổi lớn của các vương triều, bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân, xuất hiện hình thức kinh tế hàng hóa và giành được nhiều thành tựu đậm nét về văn hóa Việc đánh giá chính xác, khách quan đối với giai đoạn lịch sử này là hết sức cần thiết trong DHLS

ở trường THPT

Xuất phát từ mục tiêu và thực tiễn DHLS và mong muốn được góp ý kiến của mình trong việc đổi mới phương pháp DHLS ở trường THPT, tôi

quyết định lựa chọn đề tài “Sử dụng tư liệu thông sử trong dạy học Lịch sử

ở trường Trung học phổ thông nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (Áp dụng cho phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII SGK lớp 10, Chương trình Chuẩn)” làm đề tài khóa

luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sử dụng tư liệu lịch sử nói chung và sử dụng TLTS nhằm hình thành, phát triển các năng lực cho HS trong DHLS nói riêng đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều học giả, cá nhân quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau:

* Nghiên cứu về vấn đề sử dụng tư liệu lịch sử trong DHLS ở trường THPT

Trang 9

Liên quan tới vấn đề sử dụng tư liệu lịch sử trong DHLS có thể kể đến các công trình như sau:

Trong cuốn “Phương pháp luận sử học” của Phan Ngọc Liên (chủ

biên), NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011, tác giả đã xác định vị trí, vai trò của tư liệu trong học tập và nghiên cứu lịch sử

Tập thể các tác giả cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập

II, Phan Ngọc Liên (chủ biên) NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2010, cũng đề cập đến vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong DHLS Ở đó, có nhắc đến tài liệu lịch sử và vai trò của nó là dùng để làm dẫn chứng minh họa cho các sự kiện được trình bày

Trong cuốn “Đổi mới phương pháp DHLS ở trường phổ thông” do

Phan Ngọc Liên chủ biên, NXB Đại học Sư phạm, 2008, tác giả đã trình bày các bài viết về việc sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử ở trường THPT Trong đó, khẳng định sự cần thiết cần phải sử dụng các tài liệu tham khảo, tư liệu lịch sử trong quá trình DHLS

Các tác giả Vũ Quang Hiển, Hoàng Thanh Tú trong cuốn “Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông”, 2014, NXB Đại học Sư

phạm Hà Nội, cũng đã nhấn mạnh vị trí, vai trò của các tài liệu tham khảo trong quá trình DHLS là góp phần vào việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ, là căn cứ khoa học, bằng chứng về tình chính xác, tính cụ thể, phong phú của sự kiện lịch sử

Luận văn thạc sĩ “Sử dụng tư liệu gốc phần lịch sử thế giới (thế kỉ XVI – giữa thế kỉ XIX) để biên soạn SGK Lịch sử Trung học cơ sở sau năm 2015”

của tác giả Nguyễn Thị Xuyến, 2014, đã đề cập đến tư liệu gốc, khẳng định tầm quan trọng của tư liệu gốc, trong DHLS và biên soạn chương trình SGK Lịch sử Tác giả đã xây dựng và đề xuất hệ thống tư liệu cần thiết và một số

Trang 10

biện pháp sửa dụng tư liệu trong xây dựng chương trình và biên soạn SGK Lịch sử ở Trung học cơ sở theo định hướng đổi mới sau năm 2015.

Khóa luận tốt nghiệp "Sử dụng tư liệu lịch sử gốc nhằm phát triển năng lực đánh giá cho HS khi dạy học bài "Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII", lớp 10 THPT (chương trình Chuẩn)" của sinh viên Đồng Thị Bay -

K59A trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả đã đưa ra quan niệm về tư liệu, tư liệu lịch sử, tài liệu lịch sử và đưa ra quan niệm thế nào là tư liệu lịch

sử gốc Cùng với đó, tác giả cũng đã đề xuất một số biện pháp khai thác và sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực HS trong DHLS khi dạy bài

"Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII", lớp 10 THPT (chương trình

Chuẩn)

* Nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực cho HS trong DHLS ở trường THPT

Liên quan đến việc phát triển các năng lực cho HS trong DHLS cũng đã

có nhiều nhà sử học, nhiều nhà giáo dục, nhiều tác giả quan tâm đề cập tới ở mức độ khác nhau, chúng ta có thể điểm qua một số công trình, tác phẩm, bài viết sau:

Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã đi sâu nghiên cứu vấn đề tư duy và quy trình dạy học để phát triển tư duy là một trong những phương pháp hữu hiệu nhằm kích thích quá trình tư duy độc lập, sáng tạo của HS trong cuốn

“Giáo trình Giáo dục học” tập 1, (2009), NXB Đại học Sư Phạm Bên cạnh

đó, tác giả cũng khẳng định quá trình nhận thức độc lập của HS phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của quá trình dạy học

Tác giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị trong cuốn “Phương pháp Dạy học lịch sử” (NXB Giáo dục, 1980) coi việc rèn luyện kĩ năng đánh giá sự

kiện, nhân vật, hiện tượng lịch sử là một nhiệm vụ của môn Lịch sử ở trường

phổ thông: “phải rèn luyện tư duy khoa học, thông qua sự phân tích, tổng

Trang 11

hợp, so sánh, khái quát, nhận xét, đánh giá các sự lịch sử và nhân vật lịch sử

cụ thể, qua đó rèn luyện trí thông minh và óc sáng tạo cho HS”

Giáo sư Nguyễn Thị Côi, trong cuốn “Các con đường nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông” (NXB Đại học Sư phạm, 2006), coi việc

đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách đúng đắn là biểu hiện của hiệu quả DHLS và tính khoa học của các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả

bài học lịch sử: “Tính khoa học của nội dung bài học còn thể hiện ở việc đánh giá, giải thích để tìm ra bản chất, mối quan hệ nhân quả, sự phát triển có tính quy luật của các sự kiện, hiện tượng lịch sử” Tác giả cũng đưa ra những yêu

cầu đối với việc đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử, phải đảm bảo những nguyên tắc của phương pháp luận sử học Đó là, đánh giá dựa trên quan điểm lịch sử kết hợp với quan điểm giai cấp, tránh hiện đại hóa, bóp méo lịch sử…

Bài viết “Kinh nghiệm thực hành giờ học lịch sử của Kato Kimiaki ở trường phổ thông Nhật Bản”của hai tác giả Nguyễn Thị Côi và Nguyễn Quốc

Vương (Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, Số 290 năm 2012), sau khi nêu qua niệm về “giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán” của nhà giáo dục Nhật Bản Kato Kimiaki, hai tác giả đưa ra ví dụ tiến hành kiểu giờ học này và đã đi đến rút ra một số kinh nghiệm tiến hành giờ học ở trường phổ thông Đó là,

“Trong quá trình tiến hành giờ học GV phải coi trọng và phát huy tính chủ thể của HS Trong giờ học GV phải làm cho HS cảm nhận được sự thú vị hấp dẫn của việc học tập lịch sử GV phải có năng lực tổ chức hướng dẫn cho HS tiến hành các hoạt động nhận thức một cách tích cực… [6; 64]

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Phương pháp DHLS của sinh viên

Khúc Ánh Ngọc với đề tài Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trong DHLS nhằm phát triển tư duy độc lập của học sinh qua dạy chương “Các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII – XVIII” lớp 10 THPT (Chương trình Chuẩn); Đặng Bích Phượng với đề tài Sử dụng câu hỏi trong SGK lịch sử

Trang 12

nhằm phát triển tư duy học sinh qua giảng dạy chương “Các cuộc cách mạng

tư sản đầu thời cận đại”… đã tập trung vào một số biện pháp sư phạm như

xây dựng, sử dụng hệ thống câu hỏi, sử dụng câu hỏi trong SGK, sử dụng tài liệu tham khảo để phát triển năng lực tự học… với bài học

Như vậy, chúng ta thấy những công trình, tác phẩm, bài viết trên mới chỉ đề cập tới một khía cạnh nào đó của vấn đề mà đề tài đề cập Các tác phẩm, bài viết liên quan tới tư liệu lịch sử mới chỉ đề cập tư liệu lịch sử gốc trong nghiên cứu và học tập lịch sử nói chung, chưa mở ra khả năng phát triển năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS với TLTS Các công trình liên quan tới năng lực, phát triển tư duy HS, các tác giả đã chú trọng tới tính chủ thể trong đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhưng chưa có hoặc còn rất hạn chế tới năng lực nhận thức, tư duy lịch sử của HS và hình thành, phát triển năng lực này cho HS trong DHLS Việc sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS thì chưa có công trình, bài viết nào

đề cập sâu tới vấn đề này, nhất là trong dạy học bài phần Lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, lớp 10 THPT (chương trình Chuẩn)

Những tác phẩm, công trình, bài viết trên chính là cơ sở quan trọng giúp tôi hoàn thành đề tài này

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng: Quá trình sử dụng TLTS để hình thành năng lực nhận thức, tư

duy lịch sử cho HS trong DHLS ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài đi sâu vào biện pháp sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS khi dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII (Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)

Trang 13

Về phạm vi khảo sát: HS lớp 10 ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội, các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và thực tiễn của việc DHLS lịch sử ở trường THPT nói riêng, đề tài tập trung khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng TLTS để góp phần hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh trường THPT qua dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII (Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)

4.2 Nhiệm vụ

- Tìm hiểu cơ sở lý luận có liên quan đến vấn đề sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS trong dạy học ở trường THPT

- Khảo sát, điều tra thực trạng việc sử dụng TLTS trong DHLS nói chung và việc sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử đối với phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII (Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)

- Tìm hiểu chương trình, cấu trúc SGK Lịch sử lớp 10 THPT (chương trình Chuẩn) của Việt Nam

- Thống kê TLTS có liên quan đến phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII có thể sử dụng trong DHLS phần chương III - Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII

- Đề xuất một số biện pháp sử dụng TLTS để nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS góp phần nâng cao hiệu quả BHLS khi dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII (Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)

Trang 14

- Thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả của những biện pháp sư phạm đề

ra Trên cơ sở đó rút ra kết luận liên quan đến đến đề tài

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Cơ sở phương pháp luận là: Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về giáo dục và đào tạo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu các nguồn tư liệu của các tác giả nghiên cứu về giáo dục, các TLTS về phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII

- Điều tra thực tiễn và quan sát: thông qua phương pháp quan sát, điều tra, thăm dò GV và HS nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng

- Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm các biện pháp sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử khi dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII (Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn) trên địa bàn một số tỉnh, thành phố

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng được hệ thống TLTS trong DHLS theo quy trình, cách thức đề tài đề xuất sẽ góp phần hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS trong học tập môn LS, đáp ứng được mục tiêu dạy học phần Lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII trong chương trình Lịch

sử lớp 10, chương trình Chuẩn

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng TLTS hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh trong dạy học ở trường THPT

Trang 15

Chương 2: Một số biện pháp sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh khi dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII (Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU THÔNG SỬ HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƯ DUY LỊCH SỬ CHO HỌC SINH TRONG

DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm tư liệu thông sử

Tư liệu lịch sử hay sử liệu là vấn đề quan trọng không chỉ trong nghiên cứu lịch sử mà cả trong DHLS Tuy nhiên, liên quan tới khái niệm tư liệu lịch

sử và TLTS, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau

Theo Từ điển tiếng Việt: “Tài liệu là văn bản giúp cho tìm hiểu một vấn đề gì: tài liệu học tập, tài liệu tham khảo; tư liệu là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu” [27;1132] Trong tài liệu lịch sử bao gồm tư liệu lịch sử Do

đó, ta thấy tư liệu lịch sử thường được trích ra từ trong các tài liệu lịch sử Nó

là phần quan trọng của tài liệu lịch sử, phục vụ cho quá trình nghiên cứu hay học tập lịch sử Tư liệu lịch sử chứa những sự kiện lịch sử, đó chính là cấu tạo

cơ bản của lịch sử Điều này đã khẳng định vai trò của tư liệu lịch sử hết sức đặc biệt đối với khoa học lịch sử

Từ việc phân tích các đặc trưng của bộ môn và những khái niệm có liên

quan trong sách “Phương pháp luận sử học” do Phan Ngọc Liên (chủ biên) NXB ĐHSP Hà Nội, 2011, các tác giả đã đưa ra cách hiểu “tư liệu lịch sử là khâu trung gian nối liền giữa nhà sử học với các công trình nghiên cứu lịch sử” “Tư liệu lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình những dấu vết của quan hệ

Trang 17

ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng hóa một mặt hoạt động nào đấy của con người” [22;206]

Hiện nay, các nhà sử học thường chia tư liệu lịch sử thành các nhóm: tư liệu thành văn, tư liệu vật chất, tư liệu truyền miệng dân gian, tư liệu ngôn ngữ, tư liệu dân tộc học, tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và tư liệu băng ghi

âm (chiếm vị chí chủ yếu là các tư liệu thành văn)

Một là, tư liệu vật chất (hay còn gọi là tư liệu vật thật) Đây là nguồn tư

liệu duy nhất để nghiên cứu về các thời cổ đại khi chữ viết chưa xuất hiện Nguồn tư liệu này mang ý nghĩa rất quan trọng Đó là những dụng cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí của người xưa, các thành quách nhà cửa được các nhà khảo cổ học tìm thấy tại các di chỉ khảo cổ Đây là nguồn tư liệu chủ yếu trong thời kì chưa có chữ viết và phản ánh một cách khá trung thực

và khách quan một mặt nào đấy của cuộc sống

Hai là, tư liệu thành văn (tư liệu chữ viết): Đây là nguồn tư liệu quý,

ngày nay chúng ta có thể dễ dàng thu thập chúng dưới nhiều hình thức khác nhau Quan trọng là phải có phương pháp nghiên cứu và xử lí tư liệu Vì lịch

sử mang tính giai cấp, nên tư liệu lịch sử mang tính chủ quan của tác giả (ảnh hưởng của tính giai cấp) Khi tìm hiểu về tư liệu lịch sử chữ viết, cần có sự đối chiếu và xem xét chúng với các tư liệu truyền miệng dân gian để có cái nhìn toàn diện và chân thực nhất về lịch sử Ngoài ra, tư liệu chữ viết còn bao gồm cả những bảng số liệu được thống kê lại từ những ngành liên quan như quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục Thông qua những bảng thống kê

đó lịch sử được cụ thể hóa

Nguồn tư liệu thành văn rất phong phú và đa dạng, nên để nghiên cứu nguồn sử liệu này một cách dễ dàng hơn, người ta thường phân chia thành các loại khác nhau như: phân chia theo lĩnh vực, phân chia theo ngành, theo đặc điểm, nguồn gốc…

Trang 18

Ba là, tư liệu hình ảnh: Là loại tư liệu có tính chất đặc biệt, ta có thể tri

giác được hình ảnh lịch sử Nó giúp ta miêu tả lịch sử một cách sinh động, cụ thể hơn Hình ảnh lịch sử có thể có hai trường hợp: một là tranh, ảnh được chụp, vẽ tại thời điểm xảy ra sự kiện lịch sử Đây là tư liệu lịch sử gốc; hai là

có thể được dựng lại để chụp… Vì vậy, khi sử dụng chúng ta cần có sự đánh giá, phân biệt rõ

Bốn là, tư liệu băng ghi âm, ghi hình: Đây là loại tư liệu mới xuất hiện

cùng với xã hội hiện đại Loại tư liệu này cho phép chúng ta nghe, nhìn hiện thực lịch sử Nó ghi lại một cách chân thực và tái hiện gần như đầy đủ các sự kiện, hiện tượng xảy ra Tuy nhiên, hiện nay, nguồn tư liệu này rất dễ được xử

lí bằng kĩ thuật công nghệ do đó, khi sử dụng cần lưu ý về tính trung thực, nguyên bản của nó

Ngoài ra, còn có loại tư liệu truyền miệng dân gian: bao gồm những

thông tin lịch sử chưa được tập hợp, còn lưu truyền tự nhiên trong dân gian và

có nhiều dị bản khác nhau Sự tồn tại của các huyền thoại, truyền thuyết, trải qua nhiều thời kì, đã được bao phủ lên bởi một màu sắc kì bí

Trong các loại kể trên, TLTS chính là một loại tư liệu thành văn TLTS đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác nghiên cứu và học tập lịch

sử

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên) NXB Từ điển Bách

khoa năm 2012, “thông sử là lịch sử trình bày có hệ thống mọi mặt sinh hoạt

xã hội từ xưa đến nay của một nước, một dân tộc” [22;1219]

Như vậy, về cơ bản TLTS là một loại tư liệu thành văn trình bày có hệ thống các lĩnh vực của đời sống xã hội từ xưa đến nay của một quốc gia, dân tộc nào đó TLTS có những đặc điểm sau:

- Mang tính khách quan, chân thực TLTS là bằng chứng của quá khứ, nó

ra đời trong thời điểm lịch sử, là nguyên gốc, chưa thông qua một lăng

Trang 19

kính chủ quan nào, nên khách quan và chân thực hơn các tư liệu, tài liệu lịch sử khác

- Đáng tin cậy và có thông tin chính xác hơn cả vì nó gần gũi hơn với các

tư liệu này sẽ vấp phải nhiều khó khăn, GV cần chú ý lựa chọn các TLTS phù hợp với nội dung, đối tượng và trình độ, đảm bảo tính khoa học, vừa sức

Trong đề tài, tác giả chủ yếu khai thác hệ thống TLTS ở các tác phẩm

thông sử: Đại Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên); Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn)

1.1.1.2 Khái niệm năng lực nhận thức, tư duy lịch sử

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) NXB Từ điển bách khoa (2012) cũng đã xác định năng lực có hai cách hiểu: 1 Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 2 Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [22;851

Theo John Erpenbeck, “năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hoá qua ý chí”

Weinert (2001) định nghĩa: “năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng

Trang 20

như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [7;42-43]

Theo quan niệm trong chương trình giáo dục phổ thông của Quebec (Canada), năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định

Ví dụ: Năng lực trí tuệ, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực giao tiếp, năng lực tự học, năng lực hợp tác…

Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người và quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau

Theo Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực là

“khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ

sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [4;5]

Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh

Chương trình giáo dục phổ thông xác định tám năng lực chung mà người học cần hình thành gồm:

- Năng lực tự học;

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;

Trang 21

Một ví dụ về cấu trúc năng lực (năng lực sử dụng ngôn ngữ):

Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết

Trang 22

cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn của một môn học/hoạt động nào đó

Theo PGS TS Nghiêm Đình Vỳ, môn Lịch sử có ưu thế trong việc giúp HS hình thành những năng lực chuyên biệt:

- Hình thành thói quen thu thập tư liệu lịch sử, đồng thời biết vận dụng một số phương pháp phê phán sử liệu

- Phân biệt giữa tư liệu lịch sử và sự trình bày mang yếu tố chủ quan của người sau phân biệt các dang khác nhau của các nguồn tài liệu khoa học cơ bản trong địa lý và lịch sử Năng lực tái tạo

- Hiểu biết và trình bày được nguyên nhân, tác động/ảnh hưởng của các sự kiện và quá trình xã hội nắm vững và vận dụng các khái niệm lịch sử phổ thông cơ bản

- Hiểu biết và chỉ ra các quan hệ cơ bản của các sự kiện, quá trình xã hội tiêu biểu;

- Trình bày được các sự kiện lịch sử quan trọng, các quá trình phát triển lịch sử và các cấu trúc lịch sử cơ bản;

- Nắm vững và vận dụng các khái niệm lịch sử phổ thông

Trang 23

cơ bản;

- Hiểu biết và chỉ ra các quan hệ cơ bản của các sự kiện, quá trình lịch sử tiêu biểu; nêu lên được một số mối liên

hệ của lịch sử với hiện tại

- Hiểu và trình bày những biến đổi lớn của xã hội; sự hưng thịnh và suy vong tiêu biểu; nguyên nhân của chúng;

- Hiểu và nêu lên được một số mối liên hệ giữa lịch sử với hiện tại; đúc kết bài học lịch sử;

- Hiểu biết và trình bày được nguyên nhân, tác động/ảnh hưởng của các sự kiện và quá trình lịch sử;

- Xác định các sự kiện lịch sử, quá trình lịch theo khong gian và thời gian (đồng đại và lịch đại);

+ Lịch đại: cho phép học tập quá khứ lần theo các giai

đoạn trước kia của lịch sử Đó là sự thống nhất giữ quá khứ, hiện tại và tương lai, dựa vào quan niệm biện chứng cho rằng trong một quá trình phát triển mỗi giai đoạn tiếp sau đều mang trong mình nó những đặc điểm và những yếu tố của giai đoạn trước Một trong những cách hiểu quá khứ là dựa vào những liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng, đánh giá hiện tượng trong mối liên hệ với những kinh nghiệm lịch sử cụ thể

+ Đồng đại: xác định các hiện tượng, quá trình khác nhau

xảy ra cùng một thời điểm (có liên quan đến nhau) bao quát được toàn vẹn và đầy đủ quá trình lịch sử; so sánh được cái gì đã xảy ra trong cùng một thời gian, ở các nước khác nhau, ở các vùng khác nhau trong một nước, ở các tổ chức đảng khác nhau, cũng như so sánh các quá trình có

Trang 24

tính chất khác nhau xảy ra trên cùng một lãnh thổ (thí dụ như phong trào công nhân, phong trào nông dân, v.v…)

Sự kết hợp giữa đồng đại và lịch đại trong nghiên cứu, học

tập sự phát triển của một đối tượng, của những đối tượng khác trở nên cần thiết một cách khách quan Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với cùng một thời đại cũng như trong những thời đại lịch sử khác nhau

- Giải thích: xác định và giải quyết được những mối liên

hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch

sử với nhau, thông qua đó lý giải được mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử như chỉ ra mối quan hệ của các sự kiện, hiện tượng với hoàn cảnh lịch sử, với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước; những tác động tích cực hoặc tiêu cực của tình hình thế giới đối với lịch sử Việt Nam… Qua đó lý giải nguồn gốc, bản chất của mối quan hệ và tác động qua lại giữa sự kiện, hiện tượng lịch

sử đó Giải quyết được các vấn đề (các vướng mắc), có kiến thức kĩ thuật cập nhật, có phẩm chất nhà thương lượng, có khả năng suy ngẫm và kế hoạch hóa chiến lược, nêu lên được một số mối liên hệ giữa lịch sử với hiện tại; đúc kết bài học lịch sử;

- So sánh nhân vật, sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử; phân

Trang 25

tích một nhân vật hay một sự kiện lịch sử; phản biện các nhận định, sự kiện lịch sử; khái quát một giai đoạn hay một thời kì lịch sử… Từ đó thấy được tác động, ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của lịch sử

- Nhận xét, đánh giá các vấn đề lịch sử: các phong trào

yêu nước theo những khuynh hướng khác nhau, những hoạt động của các cá nhân tiêu biểu, các phong trào cách mạng, các hiệp định, các hoạt động quân sự, chính trị, ngoại giao… Rút ra bài học lịch sử từ công cuộc dựng nước và giữ nước của ông cha ta và các bài học lịch sử khác;

- Thể hiện được chính kiến của mình về các vấn đề lịch sử,

như lập luận khẳng định hoặc phủ định của các nhận định, nhận xét về một sự kiện, hiện tượng, vấn đề hay nhân vật lịch sử…

- Biết vận dụng kiến thức lịch sử và liên hệ với thực tiễn

bằng sử dụng ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì để trình bày, lập luận các vấn đề lịch sử qua đó để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện nay: ô nhiễm môi trường, xung đột trên thế giới, tranh chấp biên giới, biển đảo, xu thế toàn cầu hóa… vận dụng những kiến thức lịch

sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, hay các vấn đề thời sự đang diễn ra ở trong nước và thế giới

Năng lực thực

hành lịch sử

Thông qua các tài liệu văn kiện, hình ảnh, bảng biểu, hiện vật, di chỉ, di tích, phim ảnh, truyền miệng, tác phẩm văn học lịch sử… nâng cao năng lực đọc và năng lực quan sát

Trang 26

lịch sử, hình thành cách tưởng tượng về hoàn cảnh lịch sử nhất định phù hợp với điều kiện lịch sử đương thời

- Trình bày diễn biến cuộc kháng chiến, trận đánh, chiến dịch, cuộc chiến tranh trên lược đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử

- Nắm vững và vận dụng các phương pháp cơ bản của học tập lịch sử; (Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử)

- Làm việc với SGK về các nguồn số liệu;

- Hình thành năng lực tham gia (và tổ chức) học tập hợp tác/làm việc theo nhóm

- Hiểu biết, sử dụng và trình bày bản đồ lịch sử và địa lý nói riêng

- Học được cách dùng các phương thức như khẩu ngữ, văn bản… để trần thuật lại lịch sử, nâng cao năng lực biểu đạt

Hoàng Thanh Tú (2014) đã chỉ ra cụ thể các mức độ cần đạt của năng lực nhận thức, tư duy lịch sử:

- Tái hiện được các

sự kiện, hiện tượng lịch sử qua tranh

- Tổng hợp, khái quát được đặc điểm chung/riêng của các

Trang 27

- Trình bày được hoàn cảnh, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của sự kiện, hiện tượng lịch sử

ảnh, tư liệu

- So sánh được quan điểm của các nhân vật lịch sử, nhận ra được sự giống và khác nhau

- So sánh và nhận ra điểm chung, riêng của các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch

sử

- Sử dụng được các thuật ngữ, khái niệm lịch sử trong các tình huống học tập khác nhau

sự kiện, hiện tượng lịch sử/ của một giai đoạn hay một thời

kỳ lịch sử của dân tộc và của thế giới

- Đánh giá được thái độ/vai trò của nhân vật lịch sử

- Phân tích, phản biện được các nhận định, quan điểm của nhân vật lịch sử

- Đánh giá được mặt tích cực, hạn chế của các sự kiện, hiện tượng lịch sử

Làm rõ những dấu hiện, mức độ cần đạt của năng lực nhận thức, tư duy lịch sử là căn cứ để chúng tôi xây dựng các biện pháp sử dụng TLTS giúp hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho HS

1.1.2 Vai trò của việc sử dụng tư liệu thông sử trong DHLS ở trường THPT

Đối với GV: Việc sử dụng TLTS nhằm hình thảnh năng lực nhận thức,

tư duy lịch sử cho HS chính là một biện pháp để nâng cao hiệu quả DHLS TLTS là tư liệu nghiên cứu giúp GV làm cho bài giảng phong phú và hấp dẫn hơn Và những kiến thức lịch sử vốn khô khan với các mốc thời gian với sự kiện sẽ được học sinh tiếp thu một cách nhanh hơn

Trang 28

Đối với HS: Qua việc sử dụng TLTS, HS có cái nhìn biện chứng về quá

khứ, hiện tại và tương lai của lịch sử Nó tuân thủ đúng quy luật chung của quá trình nhận thức của các em là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến hoạt động thực tiễn Việc sử dụng TLTS là phương tiện cần thiết và quan trọng trong DHLS, sử dụng nó một cách hợp lý,

có chọn lọc sẽ góp phần gây hứng thú học tập cho HS, nâng cao hiệu quả bài học, phát triển các năng lực nhận thức độc lập cho HS

Việc sử dụng TLTS có ý nghĩa to lớn trên cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Cụ thể:

Về mặt giáo dưỡng: TLTS là một phương tiện quan trọng để cụ thể hóa

kiến thức lịch sử, nhằm tạo cho HS biểu tượng rõ ràng, cụ thể, có hình ảnh, tăng thêm tính chất sinh động, gợi cảm của bài giảng và gây hứng thú cho việc học tập của các em Thông qua các TLTS và sự hướng dẫn của GV theo hướng hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử, HS sẽ có được biểu tượng lịch sử, có được cách tư duy, lí luận lịch sử TLTS chính là minh chứng giúp HS hình dung quá khứ, đây cũng là phương tiện có hiệu quả góp phần hình thành những khái niệm quan trọng, giúp HS nắm vững các quy luật của

sự phát triển xã hội Đồng thời, với biện pháp này, để có thể đánh giá một sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, HS đã tự chủ động khai thác trong TLTS - những bằng chứng lịch sử để từ đó nhận thức, tư duy về lịch sử, đưa ra nhận xét, đánh giá của mình Trong quá trình ấy, HS đã trải qua các thao tác tư duy

từ nhận diện, tổng hợp, phân tích, so sánh… dần hình thành tư duy lịch sử Cũng trong quá trình ấy, những tri thức lịch sử sẽ được khắc sâu đối với bản thân mỗi HS sau khi đã làm việc tích cực với TLTS

Về mặt giáo dục: Việc sử dụng TLTS trong DHLS sẽ gợi xúc cảm lịch

sử, là cơ sở để giáo dục tình cảm đạo đức cho HS Đồng thời qua việc tìm hiểu những tư liệu lịch sử sẽ rèn cho các em đức tính chân trọng đối với các

Trang 29

tư liệu, chính bản thân các em đưa ra phán đoán đối với những nhân vật, sự kiện lịch sử trong quá khứ theo quan điểm của các em, giúp các em phát huy khả năng suy nghĩ độc lập, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử để đi đánh giá, phân tích, bình luận về nó

Với cách hướng dẫn đúng hướng của GV khi cho HS tìm hiểu tư liệu, các em sẽ tự nhận thức được những điểm đúng, điểm sai của quá khứ, hình thành những cảm xúc, tình cảm, thái độ trân trọng, yêu ghét rõ ràng Chính từ

đó, còn rèn luyện cho các em tinh thần chuyên cần, hăng say và sáng tạo trong lao động học tập Bằng cách đó, HS khắc phục được thói quen ỷ lại, trông chờ, thụ động của mình mà còn rèn luyện thói quen chủ động làm việc trong bất cứ hoàn cảnh nào Đồng thời, giáo dục cho các em đạo đức, lí tưởng, niềm tin yêu cuộc sống, hiểu rõ truyền thống dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, biết trân trọng, giữ gìn, biết ơn đối với những gì mà thế hệ ông cha đi trước đã dầy công vun đắp

Về mặt phát triển: Sử dụng TLTS nhằm hình thành năng lực nhận

thức, tư duy lịch sử cho HS trong DHLS chính là làm cho năng lực nhận thức của HS được bộc lộ một cách toàn diện Khi các em tham gia tích cực vào hoạt động nhận thức, các em không những ghi nhớ các sự kiện nhanh hơn, lâu hơn mà thông qua hoạt động thực hành góp phần phát triển ở các em khả năng đối chiếu, phân tích, tìm mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện lịch sử, tư duy lịch sử, tư duy lô-gic, tư duy phê phán… Khi làm việc với các tư liệu lịch sử,

kĩ năng đọc tư liệu của các em sẽ được rèn luyện thuần thục Qua hoạt động học tập với các TLTS các em sẽ hình thành kĩ năng đánh giá, nhận xét và phát triển ngôn ngữ, trí nhớ và tư duy của mình Chính hoạt động học tập tích cực

đó sẽ giúp các em trở nên năng động hơn, tự tin linh hoạt hơn trước tập thể và

từ đó đi đến làm chủ được kiến thức của mình Các em đủ kiến thức để bảo vệ

Trang 30

lập trường và quan điểm của mình trước những câu hỏi đặt ra ở ngoài xã hội

Thứ nhất, mục đích sử dụng: Các TLTS được sử dụng trong giảng

dạy không phải nhằm cho HS nghiên cứu để trở thành một nhà sử học đúng nghĩa TLTS đưa vào trong DHLS ở trường THPT là các tư liệu đã được kiểm nghiệm chính xác, khoa học lịch sử khẳng định Mục đích khi cho HS tiếp cận với các tư liệu này, là để các em có được cái nhìn khách quan không phụ thuộc vào bất cứ ai, bất cứ luận điểm nào trong các tài liệu viết về vấn đề lịch

sử đó Các em có thể đưa ra quan điểm riêng của mình về các vấn đề lịch sử

có cơ sở là TLTS Đồng thời còn nhằm hình thành cho các em cách tiếp cận tri thức, cách học, bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học Việc GV hướng dẫn cho HS tiếp cận và khai thác TLTS trong bài học là việc GV chỉ ra cho HS con đường ngắn nhất để tiếp cận tri thức, để đưa ra những kết luận khoa học đúng đắn một cách nhanh nhất và dễ dàng nhất Đây là mục tiêu chính về mặt giáo dưỡng của bộ môn lịch sử đặt ra Và việc sử dụng TLTS trong dạy học là một biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của bộ môn ở trường THPT

Thứ hai, TLTS sử dụng trong DHLS cần phải đáp ứng mục tiêu bài học GV cần chú ý khi lựa chọn TLTS để sử dụng, cần phải căn cứ vào

mục đích, yêu cầu của bài học và trình độ nhận thức của HS TLTS sử dụng trong bài cần có nội dung trọng tâm vào bài học, là những tư liệu cần thiết để khi nêu lên HS có thể hiểu nội dung lịch sử được phản ánh trong tư liệu đó

Trang 31

Để đáp ứng được mục tiêu bài học, khi sử dụng TLTS, GV cần phải xem kỹ nội dung của bài học để tiến hành thẩm định, chọn lọc tư liệu trước khi sử dụng trên lớp Có như vậy khi đưa vào sử dụng mới có tính chính xác, đem lại hiệu quả và đáp ứng được mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng và phát triển của bài Bên cạnh đó, việc GV sử dụng tư liệu có liên quan chặt chẽ với các

sự kiện cơ bản trong bài, vừa sức với HS còn là biện pháp tốt để hướng dẫn các em tự học ở nhà, góp phần phát huy tính tự giác, tích cực học tập của mình

Thứ ba, sử dụng TLTS phải làm nổi bật nội dung cơ bản của bài, đảm bảo tính khoa học trong nội dung Trong DHLS, chúng ta không thể

cung cấp hết cho HS mọi kiến thức của khoa học lịch sử mà chỉ có thể làm cho các em nắm vững những kiến thức cơ bản của bài, là những kiến thức tối

ưu cần thiết cho việc hiểu biết của HS về lịch sử Để xác định kiến thức trọng tâm, nội dung cơ bản của bài, GV cần căn cứ vào sơ đồ Đai-ri để thiết kế giáo

án GV cần căn cứ vào nội dung bài viết trong SGK để lựa chọn TLTS cho phù hợp Nhằm làm rõ kiến thức cơ bản của bài, khắc sâu kiến thức cho HS, tránh việc sử dụng TLTS một cách nặng nề, tràn lan, biến giờ học thành giờ nghiên cứu tư liệu

Thứ tư, sử dụng TLTS phải đảm bảo tính vừa sức, trình độ và tâm

lí HS Trong dạy học ở trường THPT, tính vừa sức được thể hiện ở việc GV

lựa chọn nội dung, PPDH và cách tổ chức quá trình nhận thức phù hợp với từng đối tượng HS Còn tính vừa sức trong sử dụng TLTS được thể hiện:

- Khối lượng kiến thức trong các TLTS đưa vào sử dụng phải vừa đủ

GV phải căn cứ vào từng cấp học, lớp học, đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi cũng như khả năng tư duy của từng đối tượng, giữa HS trung học cơ sở với

HS THPT, HS ở thành phố với HS ở nông thôn… để xác định nội dung cơ bản phù hợp với từng đối tượng HS Sau đó mới lựa chọn các TLTS phù hợp

Trang 32

với từng đối tượng, tránh trường hợp tư liệu quá dễ hay quá khó với trình độ nhận thức của các em

- Khi đưa TLTS, tránh đưa những tư liệu bằng tiếng nước ngoài, những

tư liệu khó hiểu phải mất rất nhiều thời gian giải thích và làm cho việc lĩnh hội kiến thức của HS gặp khó khăn

- Trình bày nội dung TLTS ngắn gọn, súc tích, cụ thể, dễ hiểu, không rườm rà, quá nhiều tên riêng, tên nước ngoài

- GV không nên trích dẫn quá nhiều tư liệu lịch sử, phải biết chọn lọc, phân loại chúng, đưa những tư liệu lịch sử có nội dung liên quan đến nội dung

cơ bản của bài học Tránh việc trích dẫn quá nhiều tư liệu sẽ làm loãng nội dung kiến thức của bài học, làm phân tán sự chú ý của HS

Thứ năm, sử dụng TLTS phải kết hợp nhuần nhuyễn với các PPDH khác Trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng không có phương

pháp nào là vạn năng Bởi vậy, khi dạy học phải kết hợp nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau để đạt hiệu quả cao nhất Nội dung lịch sử rất phong phú, nhiều loại kiến thức, mỗi loại kiến thức cần có những biện pháp dạy học phù hợp để đạt kết quả giáo dục tốt nhất TLTS là một nguồn kiến thức quan trọng bên cạnh các nguồn kiến thức trong SGK Vì vậy, khai thác TLTS cũng

là một biện pháp dạy học của GV Do đó, cần kết hợp nhuần nhuyễn việc sử dụng TLTS với các PPDH khác

Khi hướng dẫn HS khai thác các TLTS, GV cần phải kết hợp nhuần nhuyễn với lời nói sinh động của GV và HS, các đồ dùng trực quan, trao đổi thảo luận, sử dụng các tài liệu tham khảo khác, cần ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình khai thác TLTS … để hướng dẫn HS tri giác, tìm hiểu, nghiên cứu và trả lời các câu hỏi gợi mở mà GV đặt ra Từ đó, góp phần phát huy được tối đa vai trò ý nghĩa của việc sử dụng TLTS trong DHLS ở trường THPT

Trang 33

1.1.4 Định hướng đổi mới PPDH Lịch sử ở trường THPT

Đổi mới PPDH là một trong những mục tiêu lớn được ngành giáo dục

và đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và là một mục tiêu chính đã được Nghị quyết Trung ương 2, Khóa VIII, ngày 24/12/1996 chỉ ra rất rõ ràng và

cụ thể: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS ” [55 Song đổi mới như thế nào? Và cụ thể phải làm những gì?

Sau đây là những định hướng cụ thể về mục tiêu, nội dung dạy học về đổi mới PPDH, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá được quy định trong chương trình giáo dục THPT Sử dụng TLTS trong DHLS là một trong những biện pháp phù hợp với các định hướng đó

Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức Đó là quá trình dạy học trong đó GV đóng vai trò hướng dẫn, định hướng còn HS là người chủ động trong quá trình học tập dưới sự hướng dẫn của GV Trong DHLS có sử dụng TLTS, HS dưới sự hướng dẫn của GV thông qua nghiên cứu TLTS kết hợp với SGK sẽ ghi nhớ nội dung kiến thức của bài học Không những thế, GV có thể hướng dẫn cách khai thác TLTS để HS có thể tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình tự học

Đổi mới giáo dục theo hướng nội dung giáo dục THPT cần phải đảm bảo cho HS có những hiểu biết phổ thông, cơ bản về, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học xã hội Đây là yêu cầu mang tính thời sự sâu sắc bởi trong bối cảnh hiện nay, giới trẻ Việt Nam không có nhiều hứng thú với lịch

sử dân tộc Các em tiếp cận với Lịch sử qua góc nhìn đã được hiện đại hóa

Trang 34

DHLS có sử dụng TLTS dưới sự hưỡng dẫn của GV sẽ giúp HS có cái nhìn khách quan hơn, khoa học hơn về các sự kiện, hiện tượng lịch sử

Đổi mới PPDH với các hình thức tổ chức giáo dục phong phú, đa dạng bao gồm các hình thức tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục ở phòng học, trong nhà trường, ngoài phòng học, ngoài nhà trường, sao cho bảo đảm sự cân đối và hài hòa giữa dạy học và hoạt động giáo dục theo tập thể lớp, nhóm nhỏ,

cá nhân; giữa dạy học nội khóa và ngoại khóa, dạy học bắt buộc và tự chọn; giữa phát triển năng lực cá nhân của HS và nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi đối tượng HS Sử dụng TLTS trong DHLS là một biện pháp có thể được

áp dụng trong các giờ học chính khóa ở trên lớp, các hoạt động ngoại khóa ngoài lớp, hay khi HS tự học, tự nghiên cứu ở nhà, tại thư viện, bảo tàng…

Đổi mới giáo dục theo hướng đánh giá kết quả các môn học và hoạt động giáo dục nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục Đánh giá kết quả giáo dục các môn học và hoạt động giáo dục Sử dụng TLTS trong DHLS sẽ góp phần xác định chính xác chuẩn kiến thức môn học, có thể sử dụng đánh giá thường xuyên và định kì, có thể kết hợp được với cả hình thức kiểm tra trắc nghiệm và tự luận Cùng với đó, TLTS phong phú về nội dung,

đa dạng về số lượng, có tính khoa học, chính xác cao nên sẽ trở thành công cụ đánh giá thích hợp đảm bảo sự công bằng, chân thực, có khả năng phân loại tích cực, giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy và học

Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các PPDH khác nhau sao cho vừa đạt mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở Thực tiễn đã chứng minh không phải

cứ phương pháp cũ là lạc hậu và phương pháp mới thì mới hoàn hảo Không

có phương pháp nào tồn tại mà không có ý nghĩa Vì thế, về bản chất đổi mới PPDH là đổi mới cách thức tiến hành phương pháp trên cơ sở khai thác triệt

để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương

Trang 35

pháp mới Do đặc thù của môn Lịch sử nên việc sử dụng TLTS kết hợp với phương pháp dùng lời, các phương tiện trực quan trong DH có ý nghĩa giúp

HS trực quan dễ dàng và tạo nên sự húng thú trong học tập

Như vậy, đổi mới phương pháp DHLS cần được đổi mới theo những định hướng cơ bản như trên để HS chuyển từ cách học thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang cách học tích cực, chủ động sáng tạo, hình thành và phát triển năng lực cho HS, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Để làm được điều này tất yếu phải đổi mới PPDH của GV GV cần chuyển từ phương pháp truyền thụ một chiều sang phương pháp chú trọng hình thành năng lực tự học, hình thành và phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của HS

Sử dụng TLTS trong DHLS sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới về phương pháp DHLS hiện nay

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Thực tiễn việc DHLS ở trường THPT

Theo điều tra tình hình thực tế những năm gần đây, bộ môn Lịch sử ở trường THPT đã có những bước tiến đáng kể về nhận thức, nội dung và phương pháp dạy học Các cấp lãnh đạo và xã hội cũng rất quan tâm tới môn học, bằng chứng là các kì thi HS giỏi Quốc gia hàng năm vẫn có tổ chức thi môn Lịch sử và số lượng HS giỏi quốc gia môn Lịch sử vẫn khá cao ví như năm 2015 có 130 HS đạt giải HS Giỏi Quốc gia môn Lịch sử và năm 2016 là

133 HS [48] [50]

Nhiều HS vẫn yêu thích môn học Lịch sử, coi đây là một môn học quan trọng và rất hấp dẫn Cụ thể, một bạn HS Phan Đình Phùng có ý kiến: "Em phản đối ý kiến rằng tất cả mọi học sinh đều ghét môn Lịch sử Ở trường em

có rất nhiều bạn thích môn Lịch sử, bởi vì cách dạy Sử ở trường em có nhiều điều mới lạ" [49]

Trang 36

Để thực hiện được điều đó, các nhà giáo dục Lịch sử, GV ở các trường THPT đã luôn cố gắng tìm cách đổi mới nội dung chương trình, SGK nhằm nâng cao chất lượng dạy – học bộ môn Nhiều các hội nghị, hội thảo bồi dưỡng, tập huấn GV lịch sử đã được thường xuyên diễn ra có thể kể đến như

Tọa đàm “Làm sao để học tốt và yêu thích môn lịch sử” tại Hà Nội vào chiều

ngày 11/1/2016 do ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội tổ chức; ngày

15/11/2015, Hội Khoa học Lịch sử đã tổ chức Hội thảo “Môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông” nhằm xác định vai trò của môn Lịch sử trong giáo dục

phổ thông Cùng với đó, ngành giáo dục cũng đã tổ chức nhiều chương trình tập huấn, đổi mới PPDH với các chủ đề như: Đổi mới chương trình, SGK theo định hướng phát triển năng lực; Xây dựng chương trình dựa trên khung đánh giá năng lực người học; tập huấn các kĩ thuật dạy học, đổi mới phương pháp… cho cán bộ, giảng viên và cả sinh viên sư phạm còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV

Và hiện nay, toàn ngành Giáo dục đang thực hiện Nghị quyết số 29 NQ/TW, Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc Hội về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mỗi GV trong đó có GV Lịch sử cũng đã không ngừng đổi mới phương pháp, cải thiện hình thức tổ chức dạy học… để giúp HS yêu thích, say mê với môn Lịch sử

Tuy nhiên, vẫn có những thực tế cần phải tích cực cải thiện “Theo thông báo và số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo hai năm gần đây

nhất cho thấy, “trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014 toàn quốc có 910.831 học sinh đăng ký dự thi, có số lượng thí sinh đăng ký thấp nhất trong 4 môn thi tự chọn là môn Lịch sử với 104.959, chiếm 11,52% Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2015 vừa qua, môn Lịch sử cũng có số lượng thí sinh chọn thi thấp nhất, với 153.688 em đăng ký (chiếm 15,3% trong tổng số gần 960 nghìn thí sinh

Trang 37

đăng ký dự thi [54] Và nhiều bài thi Lịch sử đã gây sốc cho GV và cả xã hội như “Hòa thượng Thích Quảng Đức thắt cổ tự tử ở Ngã Tư Sở ” [53],

“…Quang Trung là tên trường em đang học - trường Nguyễn Du "Nguyễn

Du chính là ông Quang Trung",…” [52]…

Thực tế này cho thấy HS đang cách tiếp cận lịch sử theo chiều hướng hiện đại hóa lịch sử, khiến cho bản chất lịch sử bị hiểu nhầm, tính khách quan, chân thực của lịch sử không được đảm bảo

Việc sử dụng TLTS trong DHLS giúp hình thành năng lực nhận thức,

tư duy LS sẽ góp phần cải thiện thực tế trên

Để tìm hiểu thực trạng dạy học Lịch sử và thực trạng sử dụng TLTS trong dạy học Lịch sử ở trường THPT, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn về vấn đề DHLS ở trường phổ thông ở tại 3 trường: THPT Mỹ Hào (Hưng Yên), THPT Phúc Thọ (Hà Nội), THPT Bắc Đông Quan (Thái Bình) thì thấy một thực tế rằng ở tại các trường đều tập trung vào học theo các Ban

Tự nhiên, tình trạng học môn Lịch sử chỉ mang tính chất là có, số lượng các lớp học theo Ban xã hội rất ít, thậm chí có trường không có lớp nào theo Ban

Còn ở Trường THPT Bắc Đông Quan (Thái Bình) có 42 lớp Mỗi khối

có 14 lớp với 2 lớp Ban xã hội nhưng HS định hướng học khối D (các môn Ngữ văn – Toán – Anh) chứ số lượng HS theo khối C (Ngữ văn – Lịch sử -

Trang 38

Địa lí) rất ít Nhà trường có 6 GV tốt nghiệp Cử nhân Sư phạm Lịch sử nhưng một GV được bồi dưỡng để phụ trách công tác Thư viện và chỉ còn 5 GV phụ trách dạy 42 lớp

Sau khi khảo sát ở 274 HS thuộc 8 lớp ở 3 trường trên thuộc khối lớp

Sau khi khảo sát về học tập lịch sử ở trường THPT của 274 HS ở các

lớp trên, chúng tôi thu được kết quả như sau: Với câu hỏi “Em có thích học môn lịch sử không?” Với 4 mức lựa chọn là “Rất thích”; “Thích”; “Bình

thường” và “Không thích” thì chúng tôi tổng hợp được kết quả:

Trang 39

Hình 1.1 Biểu đồ kết quả khảo sát hứng thú của HS với môn Lịch sử

Hơn 2/3 số HS (68,2% HS) chọn mức độ “Bình thường” và “Không thích” (mức độ “Không thích” chiếm 6,9%)

Chỉ có 31,8% HS chọn mức độ “Thích” và “Rất thích” (mức độ “Rất thích” rất ít, chỉ chiếm 12,8%)

Trong đó, ở lớp 10A9 trường THPT Mỹ Hào (Hưng Yên) không có HS nào lựa chọn “Không thích” nhưng cũng lại có lớp như lớp 10A7 trường THPT Bắc Đông Quan (Thái Bình), không có HS nào chọn “Rất thích” Ở trường THPT Bắc Đông Quan, tỉ lệ HS chọn “Bình thường” và “Không thích” chiếm đến 74,7% trong khi mức trung bình của 274 HS được khảo sát là 68,2%

Thông qua số liệu trên cho thấy một thực trạng đang diễn ra sự yêu thích của HS đối với bộ môn Lịch sử ở trường THPT còn một số lượng hạn chế

Trang 40

Vậy, vì sao lại có thực trạng này xảy ra? Theo như Giáo sư Nguyễn Thị

Côi trong bài viết “Một vài suy nghĩ về thực trạng dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay và những giải pháp khắc phục” đã chỉ ra rằng cần đánh

giá nguyên nhân từ nhiều phía Theo đó có những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, chúng ta phải thừa nhận rằng quan niệm chưa đúng về bộ

môn Ở các trường THPT hiện nay từ cấp quản lý đến GV, cha mẹ HS và HS đều coi lịch sử là môn phụ Vì vậy, việc đầu tư về cơ sở vật chất, thời gian cho dạy, học bộ môn chưa nhiều (hiện tượng nếu không thi tốt nghiệp thì cắt xén chương trình vẫn diễn ra) HS học tập đối phó, không hứng thú, điều đó cũng làm cho GV mất cảm hứng trong giảng dạy Tâm lý coi thường môn Lịch sử còn khá phổ biến không chỉ có ở các cấp quản lý giáo dục, trong nhà trường, mà cả ngoài xã hội Ví dụ như tại trường THPT Bắc Đông Quan – Thái Bình, khi được hỏi về suy nghĩ của em về môn Lịch sử ở trường THPT,

HS lớp 11A4 và 11A6 đa số cho rằng đây là môn phụ, chỉ cần học thuộc và không quan trọng bằng các môn Toán, Lí, Hóa

Cùng với quan điểm trên và những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường cũng một phần nào làm cho chất lượng DHLS chưa tốt Hiện nay, ngay từ khi bước vào cấp THPT cha mẹ HS và HS đã xác định khối thi vào đại học Đa số HS lao vào khối A, D, còn rất ít hướng theo khối C (Văn, Sử, Địa) Bởi vì theo quan niệm thi khối A, D, các em sẽ vào học các trường đại học sau này ra trường dễ xin việc và việc làm có thu nhập cao Còn các trường tuyển khối C không chỉ số lượng ít, mà sau khi ra trường xin việc khó, nếu có thì thu nhập thấp, không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống Do đó, học sinh tập trung vào học các môn sẽ thi Đại học, đối phó với những môn học khác, tình trạng học lệch xuất hiện gần như phổ biến ở hầu khắp các trường

mà chúng tôi điều tra, khảo sát

Ngày đăng: 02/11/2016, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, NXB Thời Đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Nhà XB: NXB Thời Đại
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Luật Giáo dục (đã đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009), NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
5. Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Côi – Nguyễn Quốc Vương, Kinh nghiệm tiến hành giờ học Lịch sử của Kato Kimiaki ở trường Phổ thông Nhật Bản, Tạp chí Giáo dục, số 290, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tiến hành giờ học Lịch sử của Kato Kimiaki ở trường Phổ thông Nhật Bản
8. N.G. Đairi (1973), Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào
Tác giả: N.G. Đairi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1973
9. William Dampier, Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688
Nhà XB: NXB Thế giới
10. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2006
11. Lê Văn Hồng (1995), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 1995
12. Hội giáo dục Lịch sử (Thuộc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) (1996), Đổi mới việc dạy học Lịch sử lấy “HS là Trung tâm”, Đại học Quốc gia – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới việc dạy học Lịch sử lấy “HS là Trung tâm”
Tác giả: Hội giáo dục Lịch sử (Thuộc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam)
Năm: 1996
13. N.M. Iakovlev(1983), Phương pháp và kĩ thuật lên lớp trong trường phổ thông tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và kĩ thuật lên lớp trong trường phổ thông tập 1
Tác giả: N.M. Iakovlev
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
14. Vũ Quang Hiển – Hoàng Thanh Tú (2014), Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Vũ Quang Hiển – Hoàng Thanh Tú
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2014
15. I.F. Kharlamôp (1979), Phát huy tính tích cực học tập của HS như thế nào?, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của HS như thế nào
Tác giả: I.F. Kharlamôp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1979
16. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng (2012), Phương pháp dạy học Lịch sử, Tập 1, 2. NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Lịch sử, Tập 1, 2
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2012
17. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (1999), Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở THCS. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở THCS
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
18. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông. NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2008
19. Phan Ngọc Liên (chủ biên), (2013), Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10, chương trình chuẩn
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
20. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (2002), Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2002
21. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), Phương pháp dạy học lịch sử tập 1, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử tập 1
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2008
22. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), Phương pháp dạy học lịch sử tập2, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử tập2
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2008
23. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2003), Phương pháp luận sử học, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận sử học
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành ý thức - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Hình th ành ý thức (Trang 22)
Bảng 1.1. Bảng tổng hợp số lƣợng HS đƣợc khảo sát - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Bảng 1.1. Bảng tổng hợp số lƣợng HS đƣợc khảo sát (Trang 38)
Hình 1.1. Biểu đồ kết quả khảo sát hứng thú của HS với môn Lịch sử - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Hình 1.1. Biểu đồ kết quả khảo sát hứng thú của HS với môn Lịch sử (Trang 39)
Bảng 2.1: Hệ thống các TLTS có thể sử dụng   cho nội dung Lịch sử Việt Nam ở các thế kỉ XVI – XVIII - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Bảng 2.1 Hệ thống các TLTS có thể sử dụng cho nội dung Lịch sử Việt Nam ở các thế kỉ XVI – XVIII (Trang 56)
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp số HS   của hai lớp đối chứng và hai lớp thực nghiệm. - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Bảng 2.2. Bảng tổng hợp số HS của hai lớp đối chứng và hai lớp thực nghiệm (Trang 76)
Bảng 2.3: Bảng thống kê kết quả kiểm tra của lớp 10A3 và 10A6 - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Bảng 2.3 Bảng thống kê kết quả kiểm tra của lớp 10A3 và 10A6 (Trang 82)
Bảng 2.4: Bảng thống kê kết quả kiểm tra lớp 10A3 và 10A6 - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Bảng 2.4 Bảng thống kê kết quả kiểm tra lớp 10A3 và 10A6 (Trang 82)
Bảng 2.8: Bảng thống kê kết quả kiểm tra lớp 10A1 và 10A4 - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Bảng 2.8 Bảng thống kê kết quả kiểm tra lớp 10A1 và 10A4 (Trang 87)
Bảng 2.7: Bảng thống kê kết quả kiểm tra của lớp 10A1 và 10A4 - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Bảng 2.7 Bảng thống kê kết quả kiểm tra của lớp 10A1 và 10A4 (Trang 87)
Hình 2.2: Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra của hai lớp 10A1 và 10A4 - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Hình 2.2 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra của hai lớp 10A1 và 10A4 (Trang 88)
Hình thức: Các nhóm gồm 7 HS tiến hành hoàn thành nhiệm vụ và báo - Sử dụng tư liệu thông sử DHLS ở trường THPT nhằm hình thành năng lực nhận thức, tư duy lịch sử cho học sinh (áp dụng cho phần lịch sử việt nam từ thế kỷ x đến thế kỷ XVIII, SGK lớp 10, chương trìn
Hình th ức: Các nhóm gồm 7 HS tiến hành hoàn thành nhiệm vụ và báo (Trang 157)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w