Đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS, làm cho HS hứng thú và phát huy được khả năng vốn có của mình một cách năng động và sáng tạo Có nhiều biện pháp khác nhau trong dạy học lịch sử
Trang 1TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 Ở TRƯỜNG THPT
(CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học lịch sử
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ và long biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Ninh, người đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận của mình
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Lý luận Phương pháp dạy học Lịch sử trường Đại học Sư Phạm Hà Nội II ,đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Khoa và Trường
Do thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên em khó tránh khỏi thiếu sót
Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận này hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Ngô Thị Phương Hoa
Trang 3LỜI CẢM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của mình Những số liệu
và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chƣa đƣợc công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp của đề tài 12
6 Bố cục của khóa luận 13
NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU GỐC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 14
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1.1 Việc sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử ở trường THPT 14
1.1.1.1.Quan niệm về tư liệu gốc 14
1.1.1.2 Các loại tư liệu gốc 16
1.1.1.3 Đặc điểm của tư liệu gốc 18
1.1.1.4 Một số yêu cầu khi sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử ở trường THPT 19
1.1.2 Việc phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 22 1.1.2.1 Khái niệm về “năng lực” 22
1.1.2.2 Các năng lực chung cần hình thành cho học sinh 23
1.2.2.3 Các năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 24
1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 28
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng 30
lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 30
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 33
Trang 51.2.1 Thực tiễn việc dạy học lịch sử ở trường THPT 33
1.2.2 Thực tiễn việc khai thác, sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 38
1.2.2.1 Về phía giáo viên 39
1.2.2.2 Về phía học sinh 44
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU GỐC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975, LỚP 12 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 49
2.1 VỊ TRÍ, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA GIAI ĐOẠN 1954 – 1975 TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ LỚP 12 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 49
2.1.1 Vị trí 49
2.1.2 Mục tiêu 49
2.1.3 Nội dung kiến thức cơ bản 50
2.2 CÁC NGUỒN TƯ LIỆU GỐC CÓ THỂ SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1954 – 1975, LỚP 12 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN 51
2.3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM SỬ DỤNG TƯ LIỆU GÓC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH KHI DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1954 – 1975, LỚP 12 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 63
2.3.1 Sử dụng tư liệu gốc trong nghiên cứu kiến thức mới 63
2.3.1.1 Sử dụng tư liệu gốc để tạo tình huống có vấn đề và nêu mục đích học tập 63 2.3.1.2 Sử dụng tư liệu gốc để cụ thể hóa sự kiện, hiện tượng, giúp học sinh “giải mã” các sự kiện lịch sử đang học 68
2.3.2 Sử dụng tư liệu gốc để củng cố, ôn tập kiến thức cho học sinh 73
2.3.3 Sử dụng tư liệu gốc để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 74
2.3.4 Sử dụng tư liệu gốc để giao bài tập về nhà, định hướng học sinh tự học 79
2.4 Thực nghiệm sư phạm 81
2.4.1 Mục đích thực nghiệm 81
Trang 62.4.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 81
2.4.3 Tiến trình thực nghiệm 82
2.4.4 Bài thực nghiệm 82
2.4.5 Kết quả thực nghiệm 82
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8Gần đây vấn đề thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội đối với ngành giáo dục và đào tạo nói chung là việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước nhà; đổi mới phương pháp dạy học từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học hiện đang trở thành định hướng cơ bản nhất của giáo dục phổ thông nói chung và bộ môn Lịch sử nói riêng
Đặc trưng của bộ môn Lịch sử là những tri thức mang tính quá khứ, không thể tri giác một cách trực tiếp như những tri thức khác Yêu cầu đặt ra là cần nhìn nhận quá khứ một cách khách quan, chân thực Từ lịch sử thấy được quá khứ, thấy được quy luật của xã hội loài người, soi vào lịch sử để có được tấm gương, rút ra bài học kinh nghiệm cho cuộc sống hiện tại Cho đến thời điểm hiện nay, giáo dục lịch sử cần thiết phải cho HS tự đánh giá các vấn đề lịch sử trên cơ sở những chứng cứ xác thực Để HS tự có sự phán xét với lịch sử mà không cần phải qua một lăng kính chủ quan của bất cứ ai Đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS, làm cho HS hứng thú và phát huy được khả năng vốn có của mình một cách năng động và sáng tạo
Có nhiều biện pháp khác nhau trong dạy học lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học sinh, trong đó tư liệu gốc có vị trí và vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu và học tập lịch sử Tư liệu gốc là “dữ liệu” cần thiết để HS có thể khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách khoa học và chính xác nhất, là nguồn kiến thức quan trọng giúp HS có biểu tượng chân thực, sinh động, cụ thể về các sự kiện hiện tượng lịch sử, tránh việc “hiện đại hóa lịch sử” Không chỉ thế, qua quá trình tiếp xúc, làm việc, tìm tòi, khám phá tư liệu gốc dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, HS
sẽ giải quyết những bài tập nhận thức mà GV đưa ra, từ đó các em có các cách nhìn
Trang 92
nhận, đánh giá khác nhau về lịch sử Đặc biệt, sử dụng tư liệu lịch sử gốc trong DHLS theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS, sẽ giúp HS nắm vững, nhìn nhận các sự kiện hiện tượng lịch sử một cách chính xác, khoa học và sâu sắc Tuy nhiên, một thực tế đang diễn ra với bộ môn Lịch sử, hiện nay nhiều GV dạy học còn thiên về “truyền thụ tri thức” HS tiếp cận lịch sử chủ yếu thông qua SGK theo kiểu “thầy đọc trò chép” , coi đó là thứ bất di , bất dịch Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS “chán học sử”, “sợ học sử”, thậm chí chán ghét và quay lưng lại với bộ môn Lịch sử Thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu đối với GV bộ môn phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học để vừa tạo hứng thú cho học sinh trong học tập Lịch sử, vừa đáp ứng được yêu cầu định hướng phát triển năng lực đầu ra
Trong chương trình lịch sử lớp 12 THPT – Chương trình chuẩn, phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 có vị trí và vai trò rất quan trọng Đây là giai đoạn nước ta phải thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng đó là : “cách mạng xây dưng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam”, để cùng hoàn thành mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đấu tranh thống nhất đất nước để đi lên CNXH Để việc đánh giá chính xác, khách quan đối với cuộc cách mạng này là hết sức cần thiết trong DHLS
ở trường THPT
Xuất phát từ mục tiêu và thực tiễn DHLS và mong muốn được góp ý kiến của mình trong việc đổi mới phương pháp DHLS ở trường THPT, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 ở trườngTHPT” làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tài liệu nước ngoài
2.1.1 Tài liệu giáo dục học, lí luận dạy học
T.A.Ilina trong cuốn “Giáo dục học tập II” (NXB Giáo dục Hà Nội, 1973) đề
cập đến các phương pháp làm việc với SGK và các quy tắc làm việc chủ yếu của
Trang 103
HS trong SGK
Cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” (năm 2011) của tác giả
Robert.J.Marzano-Debra J.Pikering-Jane E.Pollock, người dịch Nguyễn Hồng Vân, gồm 13 chương, đã đưa ra ví dụ về một số phương pháp dạy học hiệu quả nhằm mục đích phát huy cao độ khả năng học tập của học sinh cùng thực tế việc vận dụng chúng ở các nước phương Tây Trong hệ thống các phương pháp tác giả đưa ra, đặc biệt coi trọng phương pháp tạo và kiểm định các giả thuyết, đề ra những giải pháp khác nhau nhằm giúp học sinh phát triển năng lực GQVĐ trong học tập và vận dụng
vào thực tiễn cuộc sống
Cuốn “Nghệ thuật và khoa học dạy học” của Robert J Marnano, người dịch
giáo sư tiến sĩ Nguyễn Hữu Châu, đã khẳng định dạy học là một khoa học đồng thời cũng là một nghệ thuật Mỗi giáo viên phải tự xây dựng những phương pháp dạy học cụ thể cho học sinh tại những thời điểm thích hợp để học sinh phát triển tư duy
so sánh logic, phân tích đánh giá Trong quá trình đó, GV đóng một vai trò quan trọng không chỉ giúp HS hình thành tri thức mới mà dối với bản mỗi GV cũng luôn
tự hoàn thiện mình
Cuốn “Tám đối mới để trở thành giáo viên giỏi” cuả Giselleo.Martin-Kniep,
người dịch Lê Văn Canh, đã khẳng định GV muốn trở thành người giáo viên giỏi cần phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học trong đó tập trung vào các câu hỏi cốt lõi mang tính định hướng mục tiêu, nhiệm vụ học tập, buộc học sinh tự đi khám phá vấn đề theo chiều sâu giúp học sinh giải quyết các vấn đề đặt ra
Trong bài viết “primary and secondary sources” trên trang
www.concordia.edu/library của trường Concordia University Texas đã đưa ra các
khái niệm về tư liệu (nguồn tin chính) và tài liệu (nguồn tin thứ cấp) Trong đó, đã đưa ra các ví dụ và đặc điểm để phân biệt giữa hai khái niệm này Hay trong bài viết
“National Curriculum Levels for History” và “National Curriculum Level Descriptors for History” (dẫn theo 57), các tác giả đã đưa ra các mức độ nhận thức
của học sinh trong dạy học lịch sử từ tái hiện, biết, hiểu, vận dụng Trong từng mức
độ lại đưa ra 8 cấp độ nhận thức theo thể thức tăng dần Để phát triển và đánh giá
Trang 114
cấp độ nhận thức của học sinh trong từng thì trong dạy học bộ môn phải hướng HS tới việc tự giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập Các vấn đề học tập có độ khó tăng dần tương ứng với từng cấp độ nhận thức của học sinh
2.1.2 Tài liệu giáo dục lịch sử
Trước hết cần phải kể đến bài “Nghiên cứu những nguồn tư liệu về lịch sử ở Liên Xô” của M.Tchernomoski Trong bài nghiên cứu này tác giả đã đề cập đến
nguyên tắc phân loại các nguồn tư liệu Theo tác giả dựa vào những phương pháp
và những hình thức phản ánh hiện thực, về tổng thể những nguồn tư liệu lịch sử có thể được đem chia thành các nhóm hoặc loại hình rất riêng biệt: Vật chất, viết, tượng hình và nói
Tiếp đến, công trình nghiên cứu của Ivan Koval Tchenko in trong Tạp chí
Nghiên cứu Lịch sử số 5 năm 1985 với nhan đề “Nguồn tư liệu lịch sử dưới ánh sáng của lý luận thông tin”, đã đề cập đến vai trò của nguồn tư liệu lịch sử, nếu
không lưu hành những nguồn tư liệu mới, không đi sâu vào phân tích, phê phán chúng,… sẽ không thể nâng cao chất lượng và hiệu quả của những công trình nghiên cứu lịch sử Đồng thời, tác giả khẳng định tư liệu lịch sử là những phương tiện vận chuyển những điều cho biết về quá khứ, bản chất xã hội của chúng…
A.A.Vaghin trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”
(NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 1977) đã trình bày các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, ý nghĩa của việc sử dụng SGK và tài liệu lịch sử
Trong các tài liệu của các tác giả nước ngoài đã nêu lên vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng SGK, đưa ra hướng dẫn sử dụng SGK cho hiệu quả nhất Đồng thời các tác giả thấy được vai trò của tài liệu trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng Song các tác phẩm trên đều chưa chú ý về CT SGK và cách đưa hệ thống
tư liệu lịch sử gốc vào BS SGK nhằm phát triển năng lực HS trong dạy học
2.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Tài liệu giáo dục học
Trong cuốn “Giáo dục học” tập 1 của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (Nxb GD,
Hà Nội, 1987) và giáo trình “Giáo dục học” tập 1 của Trần Tuyết Oanh chủ biên
Trang 125
(2009) Nxb ĐHSP Hà Nội, đã đi sâu nghiên cứu về tư duy và quy trình dạy học để phát triển tư duy, trong đó dạy học nêu vấn đề (học tập phát hiện và giải quyết vấn đề) là một trong những phương pháp hữu hiệu nhằm kích thích quá trình tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh Ngoài ra, các tác giả khẳng định quá trình nhận thức độc lập của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của quá trình dạy học
Giáo trình “Tâm lí học đại cương”, Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), đã đi sâu
vào phân tích sự chuyển hóa bên trong quá trình nhận thức của học sinh và so sánh
sự khác biệt trong quá trình nhận thức, giải quyết vấn đề của HS THPT với các nhà khoa học Trong đó, tác giả khẳng định muốn phát triển tư duy của HS trong dạy học cần phải đặt HS vào các tình huống có vấn đề (dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề) Với cách thức này quá trình nhận thức của HS không đơn giản diễn ra thụ động một chiều, mà biến thành quá trình tự chiếm lĩnh tri thức thông qua việc giải quyết vấn đề HS sẽ lĩnh hội được tri thức mới
2.2.2 Tài liệu giáo dục lịch sử:
Trước hết, trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập II, Phan
Ngọc Liên (cb) Nxb ĐHSP Hà Nội tái bản qua các năm 1996, 2010, 2012, đã đề cập đến vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo trong DHLS Các tác giả đã nhắc đến tư liệu gốc
và vai trò của nó là dùng để làm dẫn chứng minh họa cho các sự kiện được trình bày
Tiếp đến, trong các sách chuyên khảo và sách tham khảo như: Cuốn Phương pháp luận sử học của Phan Ngọc Liên (cb), Nxb ĐHSP Hà Nội, 2003… đều đã thừa
nhận vị trí, vai trò của tư liệu gốc trong công tác học tập và nghiên cứu lịch sử Đồng thời chỉ ra hướng mở trong sử dụng tư liệu gốc trong DHLS ở trường THPT
Trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của
Hội giáo dục Lịch sử Trường ĐHSP Hà Nội (Phan Ngọc Liên chủ biên), Nxb Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2005 có các bài viết về việc sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử ở trường THPT như: Sử dụng văn kiện Đảng, sử dụng kiến thức thế giới vào DHLS Việt Nam… Trong đó, khẳng định vai trò và sự cần thiết phải sử dụng tài liệu tham khảo, tư liệu lịch sử trong dạy học bộ môn
Trang 136
Tác giả Nguyễn Thị Côi (2006) trong cuốn “Sử dụng bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT” đã đề cập đến một số nguồn tư liệu gốc hiện tại được lưu trữ và trưng bày tại bảo tang như: Bảo tang Lịch sử Việt Nam Đây
là cơ sở quan trọng để chúng tôi tìm kiếm, xác minh và xây dựng một hệ thống tư liệu gốc có thể sử dụng trong DHLS Việt Nam (1954-1975), THPT – chương trình chuẩn
Tôplski với cuốn Phương pháp luận sử học (Metoddlogia historii), Bộ Đại học và T.H.C.N, Hà Nội, 1966; Mấy vấn đề về Phương pháp luận sử học, của Viện
sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970 và cuốn Phương pháp luận sử học của
Phan Ngọc Liên (cb), Nxb ĐHSP Hà Nội, 2003… đều thừa nhận vị trí, vai trò của
tư liệu lịch sử gốc trong công tác học tập và nghiên cứu lịch sử Đồng thời chỉ ra hướng mở trong sử dụng tư liệu lịch sử gốc trong DHLS ở trường THPT
Trên các tạp chí nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành đã có một số bài viết đề cập đến vấn đề nghiên cứu như:
TS.Nguyễn Văn Ninh trong bài viết “Sử dụng tư liệu lịch sử gốc theo hướng phát triển năng lực học sinh khi dạy học chương V “Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975”, lớp 12 THPT” đã chỉ ra khái niệm, đặc điểm, vai trò – ý nghĩa của tư
liệu lịch sử gốc trong DHLS ở trường phổ thông, đồng thời đề cập đến một số hệ thống tư liệu gốc sử dụng trong dạy học lịch sử giai đoạn 1954 – 1975
Tác giả Trần Viết Thụ trong bài viết “Về việc sử dụng các tài liệu gốc trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” (in trong tập san của Hội khoa học Lịch sử Việt
Nam, 1996), đã chỉ ra khái niệm tài liệu gốc và khẳng định vai trò của tài liệu gốc có
ý nghĩa quan trọng trong DHLS, giúp học sinh tái hiện hình ảnh của quá khứ, đồng thời gây hứng thứ học tập cho các em Nhưng bài viết chưa đề cập tới khả năng của việc sử dụng tư liệu này cho HS đánh giá các vấn đề lịch sử xung quanh tư liệu Trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6 năm 1985, tác giả Nguyễn Văn Thâm
– Phan Đại Doãn đã bàn “Về vấn đề phân loại các nguồn sử liệu của lịch sử Việt Nam” Trong bài viết, các tác giả đã nhấn mạnh việc phân loại các nguồn sử liệu
của lịch sử dân tộc là một nhiệm vụ tất yếu và rất cấp thiết trong giai đoạn ngày nay Làm tốt công việc này sẽ góp phần quan trọng tạo ra cho khoa học lịch sử ở
Trang 147
nước ta một cơ sở tư liệu tin cậy, chính xác và có hệ thống Bên cạnh đó, việc phân loại các nguồn sử liệu sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu có điều kiện tiếp cận và sử dụng một cách phổ biến, chính xác, chủ động
Bài viết Thử phát triển “nhận thức lịch sử khoa học” và phẩm chất công dân” cho HS lớp 8 qua thực tiễn DHLS ở trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành (trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cán bộ trẻ (4/2013), Khoa Lịch sử, ĐHSP
Hà Nội) của tác giả Nguyễn Quốc Vương cũng chỉ rõ rằng sự cần thiết và khả năng của sử dụng tư liệu lịch sử gốc trong DHLS để phát triển “nhận thức khoa học lịch sử” cho HS
Trong bài viết “Kinh nghiệm thực hành giờ học lịch sử của Kato Kimiaki ở trường phổ thông Nhật Bản” của tác giả Nguyễn Thị Côi và Nguyễn Quốc Vương
(Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, Số 290 năm 2012), sau khi nêu quan niệm về “giờ học lịch sử bằng tư duy phê phán” của nhà giáo dục Nhật Bản Kato Kimiaki, đã đưa
ra ví dụ tiến hành kiểu giờ học này và đã đi đến rút ra một số kinh nghiệm tiến hành
giờ học ở trường phổ thông Đó là, “Trong quá trình tiến hành giờ học GV phải coi trọng và phát huy tính chủ thể của HS Trong giờ học GV phải làm cho HS cảm nhận được sự thú vị hấp dẫn của việc học tập lịch sử GV phải có năng lực tổ chức hướng dẫn cho HS tiến hành các hoạt động nhận thức một cách tích cực…[14;64]
Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên cũng
đề cập tới vấn đề sử dụng tài liệu lịch sử trong DHLS nói chung và tư liệu gốc nói riêng như:
Luận văn thạc sĩ “Sử dụng tài liệu lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực
cả HS trong DHLS Việt Nam từ 1945 đến 1954” của Nguyễn Thị Xuân Khang,
2010 đã phân tích rất sâu khái niệm tài liệu, tài liệu lịch sử, việc phân loại các nguồn tài liệu lịch sử và các phương pháp khai thác và sử dụng chúng trong dạy học
bộ môn
Luận văn thạc sĩ “Sử dụng tư liệu gốc phần lịch sử thế giới (thế kỷ XVI – giữa thế kỷ XIX) để biên soạn sách giáo khoa lịch sử trung học cơ sở sau năm 2015” của Nguyễn Thị Xuyến, 2014 đã khẳng định tầm quan trọng của tư liệu gốc
Trang 158
trong dạy học lịch sử nói chung và trong biên soạn SGK nói riêng Tác giả đã xây dựng một hệ thống tư liệu gốc cần thiết và đề xuất một số biện pháp sử dụng trong xây dựng chương trình và biên soạn SGK bậc THCS theo hướng đổi mới sau năm
2015
Các khóa luận tốt nghiệp như “Khai thác và sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử Việt Nam (1858 – cuối thế kỉ XIX) lớp 11 THPT (Chương trình chuẩn) của sinh viên Nguyễn Thị Mai – K59A, “Sử dụng tư liệu lịch sử gốc nhằm phát triển năng lực đánh giá cho học sinh khi dạy học bài “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII”, lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)” của sinh viên Đồng Thị Bay - K59A, các tác giả đã đưa ra các quan niệm về tư liệu, tư liệu lịch sử, tài liệu lịch sử
và đưa ra quan niệm thế nào là tư liệu lịch sử gốc Ngoài ra, còn đề xuất một số biện pháp khai thác và sử dụng TLG theo hướng tích cực trong DHLS cụ thể ở một số bài khác nhau
Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu trên đây đều khẳng định sự cần thiết phải sử dụng tư liệu lịch sử gốc trong DHLS Theo các tác giả, tư liệu lịch
sử nói chung và TLG nói riêng là nguồn thông tin quan trọng giúp bài giảng thêm phong phú, HS có biểu tượng cụ thể, có hứng thú học tập và có tác dụng giáo dục, phát triển rất lớn Mặc dù, các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra một số phương pháp khai thác và sử dụng tài liệu tham khảo nói chung và tư liệu gốc nói riêng vào trong DHLS Song, việc xây dựng một hệ thống tư liệu gốc cần thiết trong DHLS
và vận dụng các PPDH với sự hỗ trợ của tư liệu gốc trong DHLS nhằm nâng cao hiệu quả bài học, phát triển năng lực HS khi dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) còn chưa được đi sâu nghiên cứu
2.2.3 Tài liệu phát triển năng lực
- Liên quan đến việc dạy học theo hướng phát triển năng lực cho HS trong DHLS cũng đã có một số đề án, hội thảo của các nhà giáo dục học; các nhà nhà
sử học, tác giả quan tâm và đề cập tới ở mức độ khác nhau, chúng ta có thể điểm qua một số công trình, tác phẩm, bài viết sau:
Trang 16và bài viết“Xác định khung năng lực cơ bản cần có ở Học sinh THPT” của tác
giả Nguyễn Hồng Thuận, đã nhắc đến khung năng lực chung cần hình thành cho
HS THPT, trong đó năng lực GQVĐ là một trong những năng lực chung, cốt lõi, không thể thiếu cần hình cho HS trong dạy học các bộ môn nói chung và DHLS nói riêng
Trong “Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS trong trường THPT (môn Lịch sử)” (Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục THPT – Chương trình phát triển giáo dục trung học), nhiều bài viết xoay quanh vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực, xây dựng hệ thống chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của HS THPT Quan trọng nhất, trong chương 2 của tài liệu từ khung năng lực chung cần hình thành cho HS THPT các tác giả đã xây dựng hệ thống các năng lực chuyên biệt trong DHLS
Trong bài viết “Tổng quan về các khung năng lực cần đạt ở học sinh trong mục tiêu giáo dục phổ thông”, Nguyễn Thị Minh Phương, đề tài NCKH của
Viện Khoa học và giáo dục Việt Nam, 2007 đã đề cập đến mục tiêu cuối cùng của giáo dục phổ thông là nhằm phát triển năng lực cho học sinh và hệ thống năng lực cần hình thành cho HS bậc THPT Theo tác giả, năng lực của HS được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học Nói cách khác, mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học, giáo dục là phẩm chất và năng lực người học Năng lực vừa được coi là điểm xuất phát, vừa được coi là sự
cụ thể hóa của mục tiêu giáo dục
Trang 1710
Tác giả Trần Trung Dũng trong trong bài viết “Tổ chức hoạt động dạy học
ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh”, Tạp chí giáo dục
số 106, 2012 (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã
đề cập đến các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh THPT bao gồm 3 nhóm năng lực: Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân, nhóm năng lực quan hệ xã hội, nhóm năng lực công cụ trong đó, tác giả đưa ra khái niệm và biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học nói chung
Bài viết “Xây dựng hệ thống kĩ năng cần hình thành và phát triển cho học sinh trong môn lịch sử ở trường phổ thông” của tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng và
Nguyễn Văn Ninh, khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội đăng trên tạp
chí Dạy và học ngày nay (số tháng 2 năm 2015), đã đề cập đến phương pháp dạy
học định hướng phát triển năng lực trong bộ môn Lịch sử; hệ thống các năng lực chung và năng lực chuyên biệt cần hình thành cho HS trong DHLS
Ngoài ra còn có những luận văn, khóa luận nghiên cứu chuyên sâu về phát triển năng lực cho HS trong dạy học ở trường phổ thông qua các môn học khác như: Vật lý, toán học, văn học, địa lý… Là cơ sở quan trọng để tác giả nghiên cứu, tìm hiểu ứng dụng trong dạy học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
Như vậy, có thể thấy những công trình, tác phẩm, bài viết trên mới chỉ
đề cập tới một khía cạnh nào đó của vấn đề mà đề tài đề cập Các tác phẩm, bài viết liên quan tới tư liệu gốc mới chỉ đề cập tư liệu gốc trong nghiên cứu và học tập lịch sử nói chung, có một số công trình mở ra khả năng phát triển năng lực cho HS khi làm việc với tư liệu gốc như phát triển năng lực đánh giá của tác giả Đồng Thị Bay, phát triển năng lực giải quyết vấn đề của tác giả Nguyễn Thị Trang Vấn đề sử dụng tư liệu gốc để phát triển năng lực cho HS chưa có một công trình, một bài viết nào đề cập tới, nhất là trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975), THPT - Chương trình chuẩn Vì vậy, những tác phẩm, công trình, bài viết trên chính là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài này
Trang 18số biện pháp sử dụng TLG để phát triển năng lực cho HS
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí thuyết về việc khai thác và sử dụng TLG trong DHLS ở trường THPT nhằm phát triển năng lực cho HS
- Khảo sát, điều tra thực tiễn việc sử dụng TLG trong DHLS ở trường THPT nói chung và sử dụng TLG để phát triển năng lực khi dạy học lịch sử Việt Nam (1954– 1975) THPT - Chương trình chuẩn nói riêng
- Nghiên cứu chương trình, SGK lớp 12 THPT – Chương trình chuẩn, đặc biệt phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 để vận dụng, qua đó xác định nội dung TLG cần khai thác và sử dụng trong DHLS phần này
- Sưu tầm, xác định nội dung các TLG thành văn và hình ảnh có liên quan đến lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975
- Xác định một số biện pháp sử dụng TLG để phát triển năng cho HS khi dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975(SGK lớp 12 – Chương trình chuẩn)
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả của những biện pháp sư phạm đề ra, từ đó rút ra kết luận khoa học liên quan đến đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung đi sâu vào một số biện pháp sử dụng tư liệu gốc, theo hướng
phát triển năng lực cho HS khi dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 (SGK lớp 12 – Chương trình chuẩn) Do khả năng và thời gian thực hiện đề tài không cho phép, nên chúng tôi giới hạn việc đi sâu khai thác và sử dụng những tư liệu gốc thành văn và hình ảnh trong giờ học nội khóa để phát triển năng lực cho
HS
Trang 1912
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
- Nghiên cứu các nguồn tư liệu của các tác giả nghiên cứu về giáo dục học, lý luận dạy học
- Các tư liệu trong văn kiện Đảng
- Các tư liệu trong Hồ Chí Minh toàn tập
- Toàn văn Hiệp định Paris
- Các câu nói, lời phát biểu của các chính trị gia tại các Hội nghị, Đại hội
- Tranh ảnh, phim tư liệu…
Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các nguồn tư liệu của các tác giả nghiên cứu về giáo dục học, lý luận dạy học; phân tích, so sánh, tổng hợp các tư liệu trong giai đoạn lịch sử Việt Nam 1954-1975
- Điều tra, khảo sát thực tiễn việc sử dụng TLG trong DHLS nói chung và theo hướng phát triển năng lực cho HS nói riêng ở trường THPT hiện nay thông qua phiếu điều tra, dự giờ, thăm lớp
- Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm những biện pháp đề tài đề xuất và kiểm nghiệm hiệu quả những biện pháp đề tài đề xuất trong thực tiễn
Trang 2013
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, lớp 12 THPT (chương trình chuẩn)
Trang 2114
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU GỐC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Việc sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.1.1.Quan niệm về tư liệu gốc
Tư liệu gốc với vai trò là một trong những căn cứ khoa học, bằng chứng lịch sử quan trọng nhất mang lại tính hấp dẫn và xác thực khi sử dụng để chứng minh chúng, đưa ra một kết luận khoa học hay viết một tác phẩm về lịch sử Vì vậy, TLG luôn được các nhà nghiên cứu lịch sử chú trọng và ưu tiên trong công tác nghiên cứu Hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể, nhất quán thế nào là tư liệu gốc, nó phụ thuộc vào quan niệm của từng người và từng thời lì lịch sử Nghiên cứu
vấn đề này có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến như:
Lê Nin trong bài “thống kê học và xã hội học” đã chỉ ra rằng “các kết luận
của các công trình nghiên cứu khoa học chỉ đúng đắn khi chúng được dựa trên nền tảng toàn bộ các sự kiện chính xác và không thể chối cãi được và được sắp xếp trong sự toàn vẹn của chúng, trong mối lien hệ và phụ thuộc khách quan của chúng”[34;276] Theo Lê Nin, tư liệu gốc chính là nền tảng toàn bộ các sự kiện
chính xác, là cơ sở, căn cứ, minh chức xác thực của lịch sử
Các học giả phương Tây quan niệm rằng TLG là “nguồn tư liệu được viết hoặc ra đời trong thời gian nghiên cứu Là những tư liệu ban đầu về sự kiện, hiện tượng lịch sử thường là nhật kí, thư từ, báo chí, bài phát biểu, bản thảo, các cuộc phỏng vấn được viết cùng hoắc ngay sau khi sự kiện, hiện tượng thực tế diễn ra
Tư liệu này cho ta cái nhìn bên trong của một sự kiện”.[Dẫn theo 53]
Để phân biệt với “tài liệu” các tác giả cho rằng “tài liệu” là “những nguồn thông tin thứ cấp có chức năng phân tích, giải thích “tư liệu”, ra đời sau sự kiện,
Trang 2215
hiện tượng thực tế đã diễn ra và thường mạng các quan điểm, giả thuyết, kết luận của nhà nghiên cứu” [Dẫn theo 53] Sự phân biệt giữa nguồn tư liệu sơ cấp (tư liệu
gốc) và thứ cấp (tài liệu) là rất cần thiết Về cơ bản, sự khác biệt này cho thấy mức
độ chính xác và tin cậy mà các nhà nghiên cứu sử dụng để nghiên cứu về các sự kiện, hiện tượng thức tế được mô tả, phân tích Nó là minh chứng thông báo cho người đọc kiểm nghiệm xem liệu tác giả có được tiếp xúc với nguồn tư liệu đầu tiên
ghi lại những sự kiện đó hay không, hay là “sao chép” lại những kinh nghiệm và ý
kiến, nhận định của những người khác
Trong bài viết “Về việc sử dụng các tài liệu gốc trong giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông”, Hội thảo Khoa học “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh
làm trung tâm” do Hội giáo dục Lịch sử Việt Nam tổ chức, TS Trần Viết Thụ đưa
ra khái niệm tư liệu gốc “là những văn kiện, tư liệu có liên quan trực tiếp đến sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra các sự kiện như các văn tự cổ, các hiệp ước, điều ước, Tuyên ngôn…”[29;245] Tư liệu gốc có giá trị lịch sử, nhân văn rất lớn và
mang tính nguyên bản (chỉ có một bản duy nhất) truy nguyên về văn bản Về mặt thông tin, nó mang những thông tin đầu tiên chưa có tư liệu nào nói tới Tư liệu lịch
sử gốc cần được hiểu là tư liệu có liên quan trực tiếp đến sự kiện, ra đời vào thời gian xảy ra sự kiện, phản ánh sự kiện lịch sử đó Nó là dấu tích của quá khú để lại
Theo tác giả Nguyễn Văn Ninh trong bài viết “Sử dụng tư liệu gốc khi dạy bài
“Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII” lớp 10 THPT nhằm nâng cao hiệu quả bài học” đã khẳng định: “Tư liệu lịch sử gốc là tư liệu lịch sử mang những thông tin đầu tiên về sự kiện lịch sử được phản ánh lại, ra đời cùng thời gian và không gian của sự kiện lịch sử đó, là bằng chứng gần gũi, xác thực nhất của lịch sử Tư liệu lịch sử gốc mang giá trị đặc biệt mà không một loại tài liệu nào có được” [46;109]
Trên cơ sở tham khảo ý kiến từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, theo
chúng tôi: tư liệu gốc là những tư liệu đem lại thông tin đầu tiên về sự kiện mà chưa
có tư liệu nào nói tới Nó thườn ra đời cùng với sự kiện ở không gian, thời gian hoặc gần với địa điểm diễn ra sự kiện, có thể do những người trong cuộc viết lại hoặc để lại
Trang 2316
Một vấn đề đặt ra khi sử dụng TLG đó là người nghiên cứu và học tập do một số hạn chế từ phía tư liệu hay bản thân nhà nghiên cứu hoặc địa phương nghiên cứu… Nhà nghiên cứu, người học không thể tiếp cận tận tay với ban gốc của tư liệu, mà chỉ có thể tiếp cận thông qua bản dịch, bản ghi lại, chụp lại… ( tiếp cận tư liệu gốc gián tiếp)
Ví dụ khi dạy bài 31 SGK lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn): Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII, GV chỉ có thể sử dụng bản dịch, hay bản chụp, tranh ảnh được chụp lại để dạy học sinh về Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Hay những tư liệu là những hiện vật, tranh ảnh tính về mặt số lượng chỉ có 1, nhà nghiên cứu có thể trực tiếp tiếp cận hiện vật, tranh, ảnh ấy, nhưng để truyền tải trong công trình nghiên cứu của mình, để người khác có thể hiểu thì không thể bê nguyên hiện vật thật mà chỉ có thể sử dụng cách chụp lại… Ở đây, điều chúng ta cần quan tâm đến đó là mặt nội dung của tư liệu, những tư liệu chụp, dịch… nếu truy nguyên đúng văn bản, hình ảnh từ tư liệu gốc (nguyên bản) thì cũng được xem là tư liệu gốc
1.1.1.2 Các loại tư liệu gốc
Khoa học lịch sử tồn tại trên cơ sở các sự kiện lịch sử, mà do đặc điểm của các
sự kiện lịch sử mang tính không lặp lại, được phản ánh qua các nguồn tư liệu lịch
sử, tư liệu lịch sử vốn hết sức phong phú, đa dạng, nó vừa phản ánh ghi nhận thời đại, đồng thời cũng là sản phẩm của thời đại Do đó trong quá trình nghiên cứu, học tập và giảng dạy để tiếp cận với hiện thực lịch sử nhà sử học phải thông qua nguồn
tư liệu gốc Trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau tư liệu gốc được để lại theo những cách khác nhau từ đó tạo ra các nguồn tư liệu khác nhau Hiện nay, các nhà sử học thường chia tư liệu lịch sử thành 7 nhóm: Tư liệu thành văn, tư liệu vật chất, tư liệu truyền miệng dân gian, tư liệu ngôn ngữ, tư liệu dân tộc học, tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và tư liệu băng ghi âm Trong các loại đó tư liệu chiếm vị trí chủ yếu và số lượng lớn là tư liệu thành văn
Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi xin dựa vào nội dung phản ánh và tính chất của tư liệu để chia tư liệu gốc thành các loại sau đây:
Trang 2417
Một là, tư liệu vật chất (hay còn gọi là tư liệu vật thật) Đây là nguồn tư liệu
duy nhất để nghiên cứu về các thời cổ đại khi chữ viết chưa xuất hiện Nguồn tư liệu này mang ý nghĩa rất quan trọng Đó là những dụng cụ lao động, đồ dung sinh hoạt, vũ khí của người xưa, các thành quách nhà cửa… được các nhà khảo cổ học tìm thấy tại các di chỉ khảo cổ Đây là nguồn tư liệu phản ánh một cách khá trung thực và khách quan một mặt nào đấy của cuộc sống Khi đã có các tư liệu thành văn thì nguồn tư liệu vật chất cố thể bổ sung hoặc kiểm tra độ chính xác của các tư liệu thành văn Đến thời điểm hiện tại, số lượng tư liệu vật chất ngày càng phong phú cùng với sự tăng lên không ngừng của khối vật chất của xã hội Nhưng đó là những
tư liệu “câm”, bản thân nó không nói lên được nếu các nhà nghiên cứu không có những phương pháp đặc biệt để “khái thác” chúng Tư liệu là hiện vật thật nên rất khó trong việc di chuyển và quan sát trực tiếp…
Hai là tư liệu thành văn: Nếu như trước khi chữ viết ra đời, muốn tìm hiểu
lịch sử quá khứ của dân tộc, của thế giới người ta phải tìm về các dấu tích khảo cổ, các tư liệu vật thật để tìm hiểu lịch sử, thì từ khi chữ viết xuất hiện, mọi biến cố, sự kiện, hiện tượng lịch sử đều được ghi chép lại Tùy từng thời kì, tùy từng nơi mà có các cách ghi chép khác nhau Nguồn tư liệu chữ viết là nguồn tư liệu quý, giúp nhà nghiên cứu lịch sử tiếp cận và khai thác một cách dễ dàng hơn Ngày nay chúng ta
có thể dễ dàng thu thập chúng dưới nhiều hình thức khác nhau Quan trọng là phải
có phương pháp nghiên cứu và xử lý tư liệu Vì lịch sử mang tính giai cấp, nên tư liệu lịch sử mang tính chủ quan của tác giả (ảnh hưởng của tính giai cấp) Khi tìm hiểu về tư liệu lịch sử chữ viết, cần có sự đối chiếu và xem xét chúng với các tư liệu truyền miệng dân gian để có cái nhìn toàn diện và chân thực nhất về lịch sử Ngoài
ra, tư liệu chữ viết còn bao gồm cả những bảng số liệu được thống kê lại từ những ngành liên quan như quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục Thông qua những bảng thống kê đó, lịch sử được cụ thể hóa
Nguồn tư liệu thành văn rất phong phú và đa dạng, nên để nghiên cứu nguồn
sử liệu này một cách dễ dàng hơn, người ta thường phân chia theo ngành, theo đặc điểm, nguồn gốc…
Trang 2518
Ba là tư liệu truyền miệng dân gian: Nguồn tư liệu này gồm những thông tin
lịch sử chưa được tập hợp, còn lưu truyền tự nhiên trong dân gian và có nhiều dị bản khác nhau Sự tồn tại của các truyền thuyết, các câu chuyện dân gian trải qua nhieeufthowif kì lịch sử được bao phủ lên một màu sắc kì bí, tất cả đều có cốt lõi lịch sử của nó Các nhà sử học nên biết tận dụng nguồn tư liệu này để nghiên cứu lịch sử Tuy nhiên, do có thể có nhiều dị bản khác nhau nên khi nghiên cứu, học tập
và giảng dạy các nhà nghiên cứu cần phải biết bóc tách những giá trị lịch sử trong
đó để phục vụ cho công tác của khoa học lịch sử Nguồn tư liệu này có vai trò hết sức quan trọng, bởi vì trong một thời kì dài chưa có chữ viết hầu hết con người đều
sử dụng phương thức truyền miệng đúc kết thành các bài trường ca, ca dao, truyền thuyết… để ghi lại lịch sử, kinh nghiệm trong cuộc sống hàng bao thế kỉ của họ và truyền từ đời này sang đời khác Cho nên, loại tư liệu này được xem là TLG nếu chúng ta biết được nơi khởi nguồn của nó để nó trở thành nguyên bản
Bốn là tư liệu hình ảnh: Đây là loại tư liệu có tính chất đặc biệt, ta có thể chi
giác được hình ảnh lịch sử Nó giúp ta miêu tả lịch sử một cách sinh động, cụ thể hơn Hình ảnh lịch sử có hai trường hợp: một là tranh, ảnh được chụp, vẽ tại thời điểm xảy ra sự kiện lịch sử Đây là tư liệu lịch sử gốc; hai là hình ảnh được dựng lại
để chụp… Vì vậy, khi sử dụng chúng ta cần có sự đánh giá, phân biệt rõ
Năm là tư liệu băng ghi âm, ghi hình: Đây là loại tư liệu mới xuất hiện cùng
với xã hội hiện đại Loại tư liệu này giúp chúng ta “nghe”, “nhìn” hiện thực lịch sử
Nó ghi lại một cách chân thực và tái hiện gần như đầy đủ các sự kiện, hiện tượng xảy ra Tuy nhiên, biện nay, nguồn tư liệu này rất dễ được xử lý bằng các kĩ thuật công nghệ hiện đại Do đó, khi sử dụng loại tư liệu này, chúng ta cần lưu ý về tính trung thực, nguyên bản của nó
1.1.1.3 Đặc điểm của tư liệu gốc
Tư liệu gốc đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác nghiên cứu và học tập lịch sử, bởi nó có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, TLG mang tính khách quan, chân thực: TLG là những mảnh vỡ,
bằng chứng của quá khứ, được ra đời trong thời điểm xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch
Trang 2619
sử đó Đó là những kí tự mang tính nguyên gốc mà chưa thông qua một lăng kính chủ quan nào So với những tài liệu lịch sử được viết sau này, lịch sử luôn bị chi phối bởi những quan điểm cá nhân, giai cấp, những bình luận, phê phán của tác giả đối với sự kiện, hiện tượng Như vậy, chỉ có TLG mới có đủ tính khách quan, chân thực nhất so với các tư liệu, tài liệu lịch sử khác
Thứ hai, TLG đáng tin cậy và thông tin chính xác hơn các loại tư liệu, tài liệu
khác TLG ra đời đồng thời, gần nhất với sự kiện lịch sử diễn ra vì thế sẽ được ghi lại rõ ràng, chi tiết và sống động nhất Đó không phải là những tài liệu viết theo trí nhớ, trí tưởng tượng hình dung theo các lời kể lại, vì thế bản thân các tài liệu này mang tính tin cậy và có độ chính xác cao
Thứ ba, TLG cho ta những nhận thức, những thông tin trực tiếp về các sự
kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử như nhận thức về không gian, thời gian sự kiện, hiện tượng, những số liệu hay những bảng thống kê chi tiết, những câu nhận xét, miêu tả về nhân vật lịch sử của người đương thời Đó là những thông tin mà khi nghiên cứu, học tập và giảng dạy người nghiên cứu cần phải làm việc, xử lý trực tiếp để thu thập thông tin cần thiết
Thứ tư, TLG không phải là một tư liệu tổng hợp tất cả các khía cạnh của đời
sống xã hội, mà nó chỉ phản ánh một khía cạnh, một chi tiết nào đó của biến cố ịch
sử Vì vậy, cần sử dụng nhiều loại TLG khác nhau để có cái nhìn toàn diện và đầy
đủ về vấn đề lịch sử cần tìm hiểu
Thứ năm, TLG ra đời cùng với thời điểm và địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử, do
đó có những hạn chế nhất định về mặt ngôn ngữ, văn bản, số lượng Đây là tư liệu khó khai thác, nội dung đơn lẻ nên khi HS làm việc với tư liệu này sẽ vấp phải nhiều khó khăn, GV cần chú ý lựa chọn các tư liệu lịch sử gốc phù hợp với nội dung
Trang 2720
TLG này là các tư liệu đã được kiểm nghiệm chính xác, khoa học lịch sử khẳng định Mục đích khi cho HS tiếp cận với nguồn tư liệu này là để các em có được cái nhìn khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ ai, bất cứ luận điểm nào trong các tài liệu viết về vấn đề lịch sử đó Các em có thể đưa ra quan điểm riêng của cá nhân về vấn đề lịch sử đang bàn luận hoặc tìm hiểu trên cơ sở nghiên cứu TLG Đồng thời còn nhằm hình thành cho các em cách tiếp cận tri thức khoa học Mặt khác, thông qua quá trình hướng dẫn và điều khiển HS sử dụng TLG sẽ giải quyết được các nhiệm vụ học tập, định hình và rèn luyện cho HS kĩ năng học tập cần thiết để tự mình chiếm lĩnh tri thức, chứ không thụ động tiếp nhận kiến thức một chiều như trước đây
Thứ hai, sử dụng TLG trong DHLS cần phải đáp ứng mục tiêu bài học: Mục
đích dạy học là cái đích bộ môn cần đạt hay nói cách khác mục tiêu dạy học chính
là đích khi tiến hành hoạt động dạy học mà thầy trò cần đạt đến Tư liệu lịch sử nói chung là phương tiện hữu hiệu giúp giáo viên thực hiện những mục tiêu dạy học cụ thể đã đề ra đối với bài học lịch sử
Do vậy, để dáp ứng mục tiêu bài học, khi sử dụng TLG trong DHLS ở trường THPT, GV cần phải xem xét kĩ nội dung của bài học để tiến hành thẩm định, chọn lọc tư liệu trước khi sử dụng trên lớp Có như vậy khi đưa vào sử dụng mới có tính chính xác, đem lại hiệu quả và đáp ứng mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng và phát triển của bài Đồng thời, phải xác định được mục đích sử dụng tư liệu, xem xét các biện pháp sử dụng có ý nghĩa như thế nào đối với HS về kiến thức, kỹ năng, thái độ…
Có như vậy khi sử dụng mới có tính chính xác, đem lại hiệu quả cao
Thứ ba, sử dụng TLG phải làm nổi bật nội dung cơ bản của bài, đảm bảo tính khoa học trong nội dung: Trong DHLS, chúng ta không thể cung cấp hết cho HS
mọi kiến thức của khoa học lịch sử mà chỉ có thể làm cho các em nắm vững những kiến thức cơ bản của bài, là những kiến thức tối ưu cần thiết cho việc hiểu biết của
HS về lịch sử Để xác định kiến thức trọng tâm, nội dung cơ bản của bài, GV cần căn cứ vào sơ đồ Đai-ri chọn tư liệu lịch sử gốc phù hợp Nhằm làm rõ kiến thức cơ
Trang 28HS
- Khi đưa TLG, tránh đưa những tư liệu bằng tiếng nước ngoài, những tư liệu khó hiểu phải mất thời gian giải thích và làm cho việc lĩnh hội kiến thức của HS gặp khó khăn
- Trình bày nội dung TLG ngắn gọn, cụ thể, dễ hiểu không rườm rà quá nhiều tên riêng, tên nước ngoài
- GV không nên trích dẫn quá nhiều tư liệu lịch sử, phải biết chọn lọc, phân loại chúng, đưa những tư liệu lịch sử có nội dung lien quan đến nội dung cơ bản của bài học Tránh việc trích dẫn quá nhiều làm “loãng” nội dung kiến thức cơ bản, phân tán sự chú ý của học sinh làm bài học thêm nặng nề hơn
Thứ năm, sử dụng TLG phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp dạy học khác: Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng không có bất kì
một phương pháp nào là vạn năng Bởi vậy, khi dạy học lịch sử cần phải biết kết hợp nhiều phương pháp, nhiều biện pháp khác nhau để đạt hiệu quả cao nhất Nội dung lịch sử rất phong phú, nhiều loại kiến thức, mỗi loại kiến thức cần có một phương pháp dạy học phù hợp để đạt kết quả tốt nhất TLG là một nguồn kiến thức quan trọng bên cạnh nguồn kiến thức từ SGK Vì vậy, khai thác và sử dụng TLG
Trang 291.1.2 Việc phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.2.1 Khái niệm về “năng lực”
Khái niệm “năng lực” có nguồn gốc Latinh: “Competentia” có nghĩa là “gặp gỡ” Hiện nay, khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hàn vi – behavioural approach), năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kĩ năng cụ thể Trong thập kỉ gần đây, năng lực được nhìn nhận theo cách tiếp cận khác:
Theo Ph.N.Gônôbôlin: “ Trong khoa học tâm lí, người ta coi năng lực là những thuộc tính riêng lẻ của cá nhân, nhờ những thuộc tính ấy mà con người hoàn toàn tốt đẹp một hoạt động nào đó và mặc dù bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao”.[40;61]
Theo OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã thức hiện một nghiên cứu bài bản về các năng lực cần đạt của học sinh phổ thông trong thời kì
kinh tế tri thức Họ đã đưa ra khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”[5;7]
Theo Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hopwjvowis những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”[44;11]
Trang 3023
Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề này Dù đứng trên quan điểm nào thì cũng phải xét đến bản chất của năng lực, đó là ba dấu hiệu chủ yếu của nó:
1) Là sự khác biệt các thuộc tính tâm lý cá nhân, làm cho người này khác người kia
2) Chỉ sự khác biệt có lien quan đến hiệu quả của việc thực hiện một hoạt động nào
đó
3) Được hình thành và phát triển trong hoạt động cá nhân
Trên cơ sở tiếp thu các quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho
rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả hành động, giải quyết các nhiệm vụ vấn đề trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết,
kĩ năng, kĩ xảo và kình nghiệm cũng như sự sẵn sang hành động Theo đó, năng lực cần đạt của HS THPT: Là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động học tập trong bối cảnh nhất định
Giữa năng lực với kĩ năng, kĩ xảo có mối quan hệ bền chặt Mức độ phát triển của năng lực phụ thuộc vào mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Trong đó, năng lực bao gồm ba thành tố là : Kiến thức, kĩ năng, thái độ Kĩ năng là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành Kĩ xảo là những hành động
đã trở nên tự động hóa nhờ luyện tập
Năng lực của cá nhânđược biểu hiện trong quá trình tiếp thu kĩ năng, kĩ xảo, góp phần làm cho việc tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với lĩnh vực đó được dễ dàng và nhanh chóng hơn (năng lực sẽ là khác nhau nếu trong cùng điều kiện như nhau, nhưng mỗi người tiếp thu kĩ năng, kĩ xảo ở mức độ khác nhau) Điều này cho thấy, một người có năng lực trong lĩnh vực nào đó cũng tức là người đó đã có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định của lĩnh vực tương ứng
1.1.2.2 Các năng lực chung cần hình thành cho học sinh
- Năng lực tự học
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực sáng tạo
Trang 31Để đáp ứng điều đó, mọi giải pháp được đặt ra và thể nghiệm nhằm giải quyết vấn đề làm thế nào để giúp học sinh có khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự chiếm lĩnh tri thức, có khả năng phát hiện, phân tích, giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập Các nhà giáo dục nước ta đã thống nhất ở một điểm là các biện pháp được đặt ra phải chú ý đến vai trò của người học, coi HS là chủ thể của quá trình dạy học, là nhân vật trung tâm của quá trình nhận thức
Bộ môn lịch sử và các bộ môn khác trong trường THPT đều nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung của giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện” Mục tiêu của bộ môn lịch sử ở trường THPT được xác định là:
“Cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về sự phát triển hợp qua luật của dân tộc
và của xã hội loài người, rèn luyện kĩ năng tư duy, thức hành qua học tập bọ môn Trên cơ sở đó, giáo dục thái độ, tính cảm đúng với các sự kiện, nhân vật lịch sử, bồi dưỡng long yêu nước, long tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và chử nghĩa xã hội Thức hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển, việc học lịch sử ở trường THPT góp phần nâng cao sự hiểu biết mà HS đã
Trang 32*Năng lực tư duy lịch sử: Là một trong những năng lực cần thiết , cần hình
thành cho HS trong tất cả các bộ môn Bộ môn Lịch sử, cho tới hiện nay vẫn còn một số quan điểm sai lầm cho rằng không giúp cho việc phát triển tư duy Điều đó
đã làm cho bộ môn lịch sử bị hạ thấp ở trong trường THPT và ngoài xã hội
Ở đây, chúng ta cần khẳng định lại một điều rằng môn lịch sử có phát triển tư duy và tư duy được hình thành trong quá trình học tập lịch sử, đó là tư duy lịch sử
Tư duy lịch sử được thể hiện ở hoạt động trí tuệ của HS để nhận thức đúng quá trình phát triển biện chứng của bản thân hiện thức lịch sử, từ quá khứ đến hiện tại và tiếp tục phát triển hợp lí quy luật ở tương lai
Phát triển năng lực tư duy trong DHLS là nhằm phát triển tư duy lịch sử cho
HS Điều này được biểu hiện: Biết miêu tả, khôi phục những sự kiện lịch sử quá khứ với một số tài liệu tham khảo cơ bản được lựa chọn; Nêu được những nguyên nhân xuất hiện, phát sinh, phát triển, diệt vong của mợt kiện lịch sử Phải biết lịch
sử là một quá trình, đó là một quá trình phát triển liên tuc, biện chứng Khi xem xét, đánh giá một sự kiện, hiện tượng phải có quan điểm lịch sử cụ thể, chỉ có trên cơ sở
đó mới đánh giá đúng sự kiện, hoàn chỉnh những mối liên hệ các sự kiện lịch sử; Nhận biết tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của sự kiện nhất là sự kiện lớn quan trọng Làm sáng tỏ những hiểu biết đa dạng của các quy luật lịch sử Biết xác định động cơ xã hội của hoạt động của những tầng lớp giai cấp hay cá nhân trong lịch sử; Biết đối chiếu, so sánh liên hệ những sự kiện lịch sử lịch sử với đời sống hiện tại và rút ra bài học kinh nghiệm
Căn cứ vào những đặc trưng trên của bộ môn, phát triển tư duy lịch sử bao gồm các nội dung: Nắm vững quan điểm lịch sử; Vận dụng nguyên lí “chân lí bao giờ cũng cụ thể”; Nhận thức sự phát triển của mọi vật, hiện tượng đều diễn ra thông qua sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật lịch sử); Tìm mối liên
Trang 3326
hệ nhân quả, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự kiện lịch sử; Vận dụng kiến thức đã học một cách thông minh, tích cực và sáng tạo vào việc tiếp nhận kiến thức mới vào cuộc sống…
Qua đó, chúng ta có thể hiểu năng lực tư duy độc lập trong nhận thức lịch sử
là tự bản thân HS thông qua sự hướng dẫn có tổ chức của thầy, chiếm lĩnh tri thức lịch sử ngay trên lớp cũng như trong quá trình học tập ở nhà Việc phát triển năng lực tư duy độc lập của HS trong học tập Lịch sử sẽ giúp các em nắm vững, hiểu sâu, nhớ kiến thức lịch sử
Năng lực tư duy bao gồm nhiều năng lực bộ phận thể hiện các cấp độ khác
nhau của quá trình tư duy: Nhận biết, phân tích, tổng hợp, so sánh… đánh giá
Trong đó, năng lực đánh giá theo cá nhân chúng tôi cho rằng là cấp độ cao nhất trong quá trình phát triển năng lực tư duy
Áp dụng PPDH tích cực, vai trò của người học có sự thay đổi Người học được tham gia vào thảo luận, nghiên cứu, xây dựng nội dung bài học, sử dụng các phương tiện học tập, trình bày ý kiến của cá nhân, được tham gia đánh giá các bạn cũng như đánh giá chính bản thân mình
Có thể nói, “người học giữ vai trò chủ động khi tiếp thu kiến thức mới, học những gì mình cần, mình hứng thú, không phải thụ động chịu áp đặt của GV Không những thế mà HS còn được tự do phát triển tính năng động cải tiến, phát huy tư duy độc lập sáng tạo, óc phê phán và tính độc đáo của nhân cách Nội dung, môi trường học tập quyết định trong ứng xử, hoạt động… đều được kiểm soát bởi chính người học Người học được thừa nhận, tôn trọng, hiểu và đồng cảm Điều này thể hiện tính nhân văn cao của giáo dục mà phương pháp tích cực mang lại” [24,19]
Để phát triển bản thân chính người học, cần khai thác động lực học tập trong chính cá nhân của họ Khi có một động lực học tập đúng đắn, họ sẽ chủ động lao vào học tập không biết mệt mỏi Sự áp dụng những phương pháp tích cực trong dạy học có ý nghĩa to lớn trong công việc chuẩn bị cho người học khả năng hành động độc lập, sáng tạo năng lực phân công hợp tác trong tập thể, tự học tập, tự đánh giá, chủ động, có ý thức về tự giáo dục bản thân mình Phát triển năng lực đánh giá sẽ
Trang 3427
góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn và đáp ứng trước sự đòi hỏi khắc nghiệt của xã hội để họ có thể trở thành những con người mới năng động, sáng tạo phục vụ thời đại mới
*Năng lực thực hành lịch sử: là năng lực cần hình thành gắn chặt với
nguyên lí giáo dục là “học đi đôi với hành”, “lí luận gắn với thực tiễn” Thực hành trong học tập lịch sử được hiểu là sự vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống, “hành động cách mạng”, “hành động cho sự phát triển hợp quy luật của xã hội”… gắn liền với những hành động, hoạt động của con người được thể hiện bằng các thao tác cụ thể, tác động đến đối tượng lao động nào đó nhằm biến đổi chúng theo những mục đích đã định Thực hành là biểu hiện của việc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Đây là hành động đòi hỏi phải có sự tham gia của những hoạt động trí tuệ Hoạt động trong thực hành mang tính mục đích rõ rệt
Căn cứ vào những lí luận của việc phát triển năng lực thực hành của bộ môn Lịch sử bao gồm:
Thực hành bộ môn: Đó là tất cả những công việc cần thiết của HS phải làm
để hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào tiếp thu kiến thức mới Đó là những phương thức, biện pháp cụ thể hóa tri thức như biết “đọc”, biết vẽ, biết sử dụng bản
đồ, xây dựng các đồng dùng trực quan quy ước như: Bản đồ, biểu đồ, đồ thị, làm các mô hình, sa bàn, phục chế đơn giản, chính xác, khoa học và làm các loại bài tập (bài tập nhận thức, bài tập thực hành)
Tiếp nữa là còn sử dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống được thể hiện: Vận dụng những hiểu biết và lịch sử quá khứ để hiểu và giải thích hiện tại; Tập dượt các công việc nghiên cứu lịch sử, tham gia sưu tầm tài liệu để biên soạn và học tập lịch sử địa phương; Tham gia vào những hoạt động mang tính công ích xã hội như xây dự phòng, nhà truyền thống địa phương, hành quân theo bước chân anh hùng, đi tìm “địa chỉ đỏ”, gìn giữ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ…
Thông qua các hoạt động xã hội, thực hành bộ môn mà bồi dưỡng kĩ năng, rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp, những hành động yêu nước cho thế hệ trẻ
Trang 3528
*Năng lực tự học lịch sử: là một trong những năng lực hướng vào phát huy
tính tích cực, độc lập của HS trong học tập nói chung và trong DHLS riêng Đó là việc khả năng HS tự nắm vững kiến thức lịch sử một cách sâu sắc và có thể vận dụng một cách thành thạo Năng lực tự học cần được hình thành và phát triển với sự say mê và ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động cần cù HS không chỉ nắm vững, hiểu sâu kiến thức mà còn có tư cách phẩm chất của người lao động – kiên nhẫn, tự tin, sáng tạo Chúng ta có thể hiểu rằng năng lực tự học của HS là việc các em độc lập hoàn thành những nhiệm vụ được giao, với sự hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra của
GV Tự học lịch sử bao gồm cả việc tập dượt nghiên cứu lịch sử của HS
Các hình thức tự học lịch sử của HS khá phong phú đa dạng: Hoạt động nhận thức trên lớp khi nghe GV giảng bài; Đọc ghi tóm tắt các vấn đề cơ bản của bài viết trong SGK, tài liệu tham khảo; Ghi, tìm hiểu những nội dung khó hiểu, đặc biệt là các thuật ngữ, khái niệm lịch sử; Hoàn thành câu hỏi trong SGK, bài tập nhận thức; Biết làm việc với bản đồ, tranh ảnh trong SGK, tìm hiểu nội dung lịch sử theo bản đồ, tranh, ảnh; Tự ôn tập dưới sự hướng dẫn của GV…
1.1.3 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Mục tiêu giáo dục là cái “đích” phải nhằm tới để đạt những kết quả trong
sự hình thành và phát triển nhân cách HS, bao gồm các mặt trí - đức - thể - mĩ
Nó phải được xây dựng trên cơ sở lí luận và thực tiễn, tuân thủ những nguyên tắc: Đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các bậc, cấp giáo dục, kế thừa di sản giáo dục của dân tộc và nhân loại; định hướng xây dựng kế hoạch dạy học, xây dựng chương trình, SGK… theo quy định về giáo dục
Trên cơ sở đó, mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là nhằm giúp HS có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phần hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục HS lòng yêu quê hương,
Trang 3629
đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng; bồi dưỡng năng lực tư duy hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội
Lịch sử là những sự việc cụ thể diễn ra trong quá khứ Đó là kết quả hoạt động của con người trong không gian và thời gian xác định, trong những điều kiện
cụ thể Do đó, khác với tri thức của nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức lịch sử mang tính quá khứ; tính không lặp lại; tính cụ thể; tính hệ thống (tính logic lịch sử); tính thống nhất giữa “sử” và “luận”
Từ những đặc điểm cơ bản trên của tri thức lịch sử nó có ảnh hưởng và quyết định đến việc dạy – học lịch sử Vì tri thức lịch sử mang tính quá khứ và không lặp lại cho nên trong quá trình học tập, học sinh không thể trực tiếp quan sát (trực quan sinh động) đối tượng như các môn khoa học tự nhiên, không thể tiến hành trong phòng thí nghiệm dựng lại hiện thực lịch sử quá khứ Nhận thức của HS trong học tập lịch sử cũng tuân theo quy luật chung của quá trình nhận thức bắt đầu tự nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính Tuy nhiên, trong quá trình học tập lịch sử học sinh nhận thức lịch sử thông qua các nguồn tư liệu lịch sử Tư liệu gốc được coi là một nguồn tư liệu quan trọng có giá trị khách quan cao, nó phản ánh chân thực cuộc sống hiện thực, những biến động trong đời sống xã hội của con người trên tất cả các mặt một cách trung thực nhất hầu như chưa bị biến đổi qua lăng kính chủ quan của bất kì ai Vì vậy, tư liệu gốc chứa đựng những tri thức, phản ánh lại một mặt, một khía cạnh, lĩnh vực của lịch sử đã diễn ra trong một giai đoạn nhất định, đồng thời
là sự ghi chép, phản ánh chính xác nhất về những sự kiện, hiện tượng hay biến cố lịch sử trong giai đoạn lịch sử đó Chính vì vậy, tư liệu gốc là công cụ cần thiết để giúp cho quá trình nhận thức của các em được cụ thể, sinh động, khách quan và chính xác nhất
- Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của
Trang 3730
giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”;
“Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [2;80-81] Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường
trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học từ tiếp cận nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học được coi là yếu tố quan trọng
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú trọng tính tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực học sinh gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội cho HS
Trước yêu cầu đổi mới trên, trong DHLS đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS tức là ngoài việc giúp HS nắm được những tri thức khoa học cơ bản của bộ môn còn rèn luyện cho các em các kĩ năng học tập cơ bản, giáo dục phẩm chất đạo đức đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cuộc sống và chuẩn đầu ra của cấp học Vì vậy, sử dụng TLG trong dạy học lịch sử để phát triển năng lực cho HS là một trong những phương pháp đáp ứng được yêu cầu đổi mới trên
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Trong nghiên cứu và giảng dạy bộ môn lịch sử, tư liệu gốc mang giá trị lịch
sử rất cao, nó được xem là minh chứng quan trọng nhất mà lịch sử để lại Việc sử dụng tư liệu gốc theo hướng phát triển năng lực học sinh trong DHLS ở trường
Trang 3831
THPT là một biện pháp nhằm nâng cao bài học lịch sử ở trường phổ thông Biện pháp này có vai trò quan trọng đối với cả GV và HS
Đối với GV: Việc sử dụng TLG trong DHLS giúp GV làm cho bài giảng của
mình phong phú và hấp dẫn hơn, những kiến thức lịch sử vốn khô khan với các mốc thời gian, sự kiện sẽ được HS tiếp thu theo một cách mới nhanh hơn, nhớ lâu hơn
GV có thể sử dụng TLG với các dụng ý sư phạm khác nhau như xây dựng các bài tập nhận thức mà GV đã mã hóa trong đó những đơn vị kiến thức bài học HS cần nắm vững; làm một kênh thông tin để hướng dẫn HS khai thác Điều đó sẽ kích thích được sự chủ động, tích cực của HS trong việc khám phá, phát hiện tri thức và biến tri thức đó thành tri thức của mình, tạo hứng thú cho HS trong dạy học bộ môn
Đối với HS: TLG sẽ góp phần giúp các em có được những minh chứng cụ thể
nhất về lịch sử, về quá khứ, là những luận cứ khoa học đã được chứng minh, làm rõ
sự kiện, nhân vật, hiện tượng lịch sử Đó là cơ sở để HS tự nhận thức, tự đánh giá, nhận xét theo quan điểm của bản thân, tập dượt nghiên cứu, tự đánh gía một vấn đề lịch sử Việc khai thác và sử dụng TLG trong DHLS tạo xúc cảm lịch sử, là cơ sở
để giáo dục tình cảm đạo đức cho HS Ngoài ra, nó còn rèn luyện cho các em tính chuyên cần, hăng say, sáng tạo trong lao động và học tập, khắc phục được thói quen
ỷ lại, trông chờ, thụ động của mình TLG là phương tiện cần thiết sẽ góp phần tạo hứng thú học tập cho HS, nâng cao hiệu quả bài học, phát triển các năng lực nhận
thức độc lập cho HS Như tác giả Nguyễn Quốc Vương khẳng định: “Trong các tài liệu (tư liệu) mà GV đưa ra, việc đưa ra các tư liệu gốc dưới dạng tư liệu thành văn đóng vai trò rất quan trọng Thông qua quá trình học tập như trên, HS sẽ có được những “trải nghiệm làm nhà nghiên cứu”, tái khám phá chân lý mà nhà sử học đã tìm ra và cảm nhận được niềm vui trong học tập môn Lịch sử” [49;205-206]
Biện pháp cũng có ý nghĩa to lớn trên cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Cụ thể:
Về mặt giáo dưỡng: Tư liệu lịch sử gốc là một phương tiện quan trọng để cụ
thể hóa kiến thức lịch sử, nhằm tạo cho HS biểu tượng rõ ràng, cụ thể, có hình ảnh, tăng thêm tính chất sinh động, gợi cảm của bài giảng và gây hứng thú cho việc học
Trang 39Về mặt giáo dục: Việc sử dụng tư liệu lịch sử gốc trong DHLS sẽ gợi xúc
cảm lịch sử, là cơ sở để giáo dục tình cảm đạo đức cho HS Đồng thời qua việc tìm hiểu những tư liệu lịch sử sẽ rèn cho các em đức tính chân trọng đối với các tư liệu, chính bản thân các em đưa ra phán đoán đối với những nhân vật, sự kiện lịch sử trong quá khứ theo quan điểm của các em, giúp các em phát huy khả năng suy nghĩ độc lập, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử để đi đánh giá, phân tích, bình luận về nó
Với cách hướng dẫn đúng hướng của GV khi cho HS tìm hiểu tư liệu, các em
sẽ tự nhận thức được những điểm đúng, điểm sai của quá khứ, hình thành những cảm xúc, tình cảm, thái độ trân trọng, yêu ghét rõ ràng Chính từ đó, còn rèn luyện cho các em tinh thần chuyên cần, hăng say và sáng tạo trong lao động học tập Bằng cách đó, HS khắc phục được thói quen ỷ lại, trông chờ, thụ động của mình mà còn rèn luyện thói quen chủ động làm việc trong bất cứ hoàn cảnh nào Đồng thời, giáo dục cho các em đạo đức, lí tưởng, niềm tin yêu cuộc sống, hiểu rõ truyền thống dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, biết trân trọng, giữ gìn, biết ơn đối với những
gì mà thế hệ ông cha đi trước đã dầy công vun đắp
Về mặt phát triển: Sử dụng tư liệu gốc nhằm phát triển năng lực cho HS
trong DHLS chính là làm cho năng lực nhận thức của HS được bộc lộ một cách toàn
Trang 4033
diện Khi các em tham gia tích cực vào hoạt động nhận thức, các em không những ghi nhớ các sự kiện nhanh hơn, lâu hơn mà thông qua hoạt động thực hành góp phần phát triển ở các em khả năng đối chiếu, phân tích, tìm mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện lịch sử Tư duy lịch sử tư duy lô-gic, tư duy phê phán… Khi làm việc với các tư liệu lịch sử “kĩ năng đọc tư liệu” của các em sẽ được rèn luyện thuần thục Qua hoạt động học tập với các tư liệu lịch sử gốc các em sẽ hình thành
kĩ năng đánh giá, nhận xét và phát triển ngôn ngữ, trí nhớ và tư duy của mình Chính hoạt động học tập tích cực đó sẽ giúp các em trở nên năng động hơn, tự tin linh hoạt hơn trước tập thể và từ đó đi đến làm chủ được kiến thức của mình Các
em đủ kiến thức để bảo vệ lập trường và quan điểm của mình trước những câu hỏi đặt ra ở ngoài xã hội về các vấn đề lịch sử
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Thực tiễn việc dạy học lịch sử ở trường THPT
Theo điều tra tình hình thực tế những năm gần đây, bộ môn Lịch sử ở trường THPT đã có những bước tiến đáng kể về nhận thức, nội dung và phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, phát triển năng lực của học sinh Các cấp lãnh đạo và xã hội cũng rất quan tâm tới môn học, bằng chứng là đã tổ chức những kỳ thi học sinh giỏi các cấp Các nhà giáo dục lịch sử, GV ở các trường THPT cũng đang cố gắng tìm cách đổi mới nội dung chương trình, SGK nhằm nâng cao chất lượng dạy – học bộ môn Nhiều các hội nghị bồi dưỡng, tập huấn giáo viên lịch sử đã được thường xuyên diễn ra…
Song một thực tế đáng buồn lại đang diễn ra là nhiều thế hệ trẻ biết, hiểu rất mơ
hồ về lịch sử, không chỉ lịch sử thế giới mà cả lịch sử dân tộc Điều này được phản ánh phần nào trong kết quả các kỳ thi vào tốt nghiệp THPT, thi Đại học Gần đây, dư luận
đã phải xôn xao trong kỳ thi Đại học năm 2012 vừa qua với “hàng ngàn điểm 0 môn lịch sử” [Dẫn theo 54] và trên 80% các bài thi điểm dưới trung bình, thậm chí, năm
2014 chỉ có duy nhất 1 học sinh lựa chọn môn Lịch sử là môn thi tốt nghiệp Và một
sự việc gây đau lòng cho bao thầy, cô giáo dạy lịch sử khi một clip được đưa lên
mạng từ chiều ngày sáng 30/3/2013 có nội dung cho là “ghi lại cảnh HS của một