1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lich su triet hoc mac le nin

18 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 32,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy nó đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại mới. Triết học Mác – Lênin đã kế thừa những tinh hoa xuyên suốt lịch sử triết học từ triết học thời kỳ cổ đai, trung cổ, triết học cổ điển Đức… Đồng thời, triết học Mác – Lênin còn là sự thấm nhuần những giá trị từ các tiền đề tư tưởng, khoa học kỹ thuật; dưới sự tác động của hoàn cảnh xã hội thời kỳ đó để cho ra đời một học thuyết bao gồm những hệ tư tưởng mang tính Cách mạng sâu sắc, hướng con người tới một xã hội tốt đẹp hơn. Chính vì vậy, những giá trị của triết học Mác Lênin vẫn như những chân lý sáng mãi cho tới tận thời đại hôm nay. Triết học Mác – Lênin chính là triết học duy vật biện chứng triệt để. Nó đã khắc phục được những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước đó. Đồng thời, trong cả một hệ thống triết học Mác – Lênin, các quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên và xã hội, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau thành một hệ thống lý luận thống nhất. Có thể nói, phép biện chứng duy vật đã trở thành phương pháp tư duy chủ đạo, chi phối toàn bộ hệ thống triết học Mác – Lênin. . Những giá trị mà triết học Mác – Lênin để lại cho tới tận ngày hôm nay không thể thiếu phương pháp biện chứng. Đồng thời, phép biện chứng đã làm nên tính khoa học, cách mạng sâu sắc của triết học Mác – Lênin. Xây dựng nên phép biện chứng duy vật là quá trình lâu dài, bằng sự khởi nguồn của C.Mác và Ph.Ăngghen, sau đó được V.I.Lênin kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Sự hoàn thiện của quan điểm duy vật biện chứng được thể hiện rõ nét qua tác phẩm “Bút kí triết học” của V.I.Lênin.

Trang 1

Lời mở đầu

Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy nó đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại mới Triết học Mác – Lênin đã kế thừa những tinh hoa xuyên suốt lịch sử triết học từ triết học thời kỳ cổ đai, trung cổ, triết học cổ điển Đức… Đồng thời, triết học Mác – Lênin còn là sự thấm nhuần những giá trị từ các tiền đề tư tưởng, khoa học kỹ thuật; dưới sự tác động của hoàn cảnh xã hội thời kỳ đó để cho ra đời một học thuyết bao gồm những hệ tư tưởng mang tính Cách mạng sâu sắc, hướng con người tới một xã hội tốt đẹp hơn Chính vì vậy, những giá trị của triết học Mác - Lênin vẫn như những chân lý sáng mãi cho tới tận thời đại hôm nay

Triết học Mác – Lênin chính là triết học duy vật biện chứng triệt để Nó

đã khắc phục được những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước đó Đồng thời, trong cả một hệ thống triết học Mác – Lênin, các quan điểm duy vật biện chứng

về tự nhiên và xã hội, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau thành một hệ thống lý luận thống nhất Có thể nói, phép biện chứng duy vật đã trở thành phương pháp tư duy chủ đạo, chi phối toàn bộ hệ thống triết học Mác – Lênin Những giá trị mà triết học Mác – Lênin để lại cho tới tận ngày hôm nay không thể thiếu phương pháp biện chứng Đồng thời, phép biện chứng đã làm nên tính khoa học, cách mạng sâu sắc của triết học Mác – Lênin

Xây dựng nên phép biện chứng duy vật là quá trình lâu dài, bằng sự khởi nguồn của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, sau đó được V.I.Lênin kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới Sự hoàn thiện của quan điểm duy vật biện

chứng được thể hiện rõ nét qua tác phẩm “Bút kí triết học” của V.I.Lênin.

Trang 2

Phần nội dung

Chương 1: Sơ lược về phép biện chứng duy vật

1.1 Phép biện chứng duy vật là gì?

Phép bi n ch ng duy v t do Mác và Ăng-ghen xây d ng, ện chứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ựng, Lênin phát tri n phép bi n ch ng mà ngày nay chúng ta h c, đó là đ nh ển phép biện chứng mà ngày nay chúng ta học, đó là đỉnh ện chứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ọc, đó là đỉnh ỉnh cao, là phương pháp tư duy cao nhất trong lịch sử nhận thức nhân loại ng pháp t duy cao nh t trong l ch s nh n th c nhân lo i ư ất trong lịch sử nhận thức nhân loại ịch sử nhận thức nhân loại ử nhận thức nhân loại ật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ại Khái ni m v “Bi n ch ng”: là dùng đ ch đ c tính v n có c a th ện chứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ề “Biện chứng”: là dùng để chỉ đặc tính vốn có của thề ện chứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ển phép biện chứng mà ngày nay chúng ta học, đó là đỉnh ỉnh ặc tính vốn có của thề ốn có của thề ủa thề ề “Biện chứng”: là dùng để chỉ đặc tính vốn có của thề

gi i,đó là m i liên h tốn có của thề ện chứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ương pháp tư duy cao nhất trong lịch sử nhận thức nhân loại ng tác,chuy n hóa, s v n đ ng, phát tri n ển phép biện chứng mà ngày nay chúng ta học, đó là đỉnh ựng, ật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ộng, phát triển ển phép biện chứng mà ngày nay chúng ta học, đó là đỉnh theo quy lu t c a s v n, hi n tật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ủa thề ựng, ật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ện chứng duy vật do Mác và Ăng-ghen xây dựng, ượng, trong tự nhiên, xã hội tư duy.ng, trong t nhiên, xã h i t duy.ựng, ộng, phát triển ư

Phép biện chứng ra đời cùng với sự ra đời của triết học và được

coi là “khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi sự vận

động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người” Phép biện

chứng có ba hình thức cơ bản đó là phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật, trong đó phép biện chứng duy vật là đỉnh cao nhất của sự phát triển phép biện chứng voi phương pháp tư duy khoa học và tiến bộ được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng hiện thực đã đưa phép biện chứng duy vật trở thành khoa học, như lời

Ph.Ăng-ghen đã từng kết luận trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”: “Phép

biện chứng chẳng qua chỉ là bộ môn khoa học nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người

và của tư duy”

Khi nhấn mạnh về vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăng-ghen còn đưa ra một ý nghĩa khác về phép biện chứng duy vật:

Trang 3

“phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa

từ triết học của Hêghen V.I.Lênin cho rằng: trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dươí hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện,học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con ngươì, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng

1.2 Sự ra đời của phép biện chứng duy vật

1.2.1 Phép biện chứng tự phát ngây thơ thời cổ đại

Thời cổ đại, với trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa

phát triển, nên các nhà triết học chủ yeu dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan, cảm tính để khái quát thế giới Chính vì thế phép biện chứng thời cổ đại nó mang tính ngây thơ, chất phác mà đỉnh cao là phép biện chứng cổ đại Hy Lạp

Phép biện chứng thơì cổ đại được Ăng-ghen viết: khi chúng ta dùng tư duy để xem xét giơí tự nhiên, lịch sử loài ngươì hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trước nhất, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những tác động qua lại trong đó không

có cái gì là đứng nguyên, không thay đổi, mà tất cả đều vận động, biến đổi, phát triển và mất đi Cái thê giới quan ban đầu, ngây thơ nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giơí quan của các nhà triết học hy lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclit trình bày một cách rõ ràng: Hêraclit đã nhấn mạnh nhiều đến tính biến đổi của vạn vật, Hêraclit coi sự biến đổi của thề giới như một dòng chảy: “tất cả đều trôi chảy,không có gì đứng im”, “mặt trời mỗi

Trang 4

ngày mỗi mới” “bạn không thể lội hai lần dưới một dòng sông,vì luôn có những dong nước khác luôn chảy về phía bạn” Hêraclit còn cho rằng bất cứ

sự vật hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa các mặt đối lập: “trong mỗi người chúng ta có cả sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già” Tuy nhiên, trong

tư tưởng của Hêraclit vẫn chưa nhắc tới thuật ngữ “biện chứng”

Xem xét biện chứng thời cổ đại, Hê-ghen – nhà triết học duy tâm lớn nhất thời kì trước Mác cũng cho rằng nhà triết học Dê-nông ở trường

phái Ê-lê là “người khởi xướng phép biện chứng” và “ở Dê-nông, chúng ta

tìm thấy một phép biện chứng thật sự khách quan” Đó là nhà triết học đã

phân tích những mâu thuẫn nảy sinh khi thử suy nghĩ về những khái niệm vận động và số nhiều

Bên cạnh đó,nhà triết học A-ri-xtốt đã phân biệt phép “biện chứng” với “phân tích”, coi phép biện chứng là khoa học về những ý kiến có tính chất xác suất khác với khoa học về chứng minh A-ri-xtốt còn đồng nhất phép biện chứng với lôgic học Ăng-ghen đã viết trong “Chống Đuy-rinh”

rằng: “Những nhà triết học Hy Lạp thời cổ, đều là những nhà biện chứng

bẩm sinh, tự phát, và người có bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học

ấy là A-rit-xtốt đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng”.

Đồng thời, Pla-tôn cho rằng tồn tại bao hàm những mâu thuẫn, nó là duy nhất và nhiều, vĩnh viễn và tạm thời, bất biến và khả biến, đứng im và vận động Mâu thuẫn là điều kiện cẩn thiết để kích thích linh hồn suy tư Nghệ thuật đó, theo Pla-tôn, chính là nghệ thuật biện chứng

Như vậy, phép biện chứng từ thời cổ đại đã được phát triển dựa trên

tư tưởng của nhiều nhà triết học thuộc các trường phái khác nhau, những tư tưởng đó rất đa dạng và phong phú Đánh giá mặt tích cực và sự hạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại, Ph.Ăng-ghen cho rằng, trong

Trang 5

quan điểm đó người ta thấy được sự liên hệ, sự vận động và phát triển, nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển

1.2.2 Phép biện chứng trong thời kỳ Trung cổ,Phục hưng và Khai sáng

Đến thời kỳ triết học trong xã hội phong kiến – chủ nghĩa kinh viện, người ta bắt đầu coi logic hình thức, một bộ phận đối lập với tu từ học, là phép biện chứng

Trong thời kỳ Phục hưng, Ni-cô-lai Cu-da và Bru-nô đã nêu lên những tư tưởng biện chứng về “sự trùng hợp của những mặt đối lập”

Trong thời cận đại, bất chấp sự thống trị của siêu hình học, Đềcáctơ

và Xpi-nô-da đã đem lại những hình mẫu về tư duy biện chứng

Vào thế kỷ XVIII ở Pháp, Rút-xô và Đi-đơ-rô nổi bật lên nhờ những

tư tưởng biện chứng phong phú Rút-xô khảo cứu những mâu thuẫn, coi đó

là điều kiện của sự phát triển lịch sử Đi-đơ-rô ngoài ra còn nghiên cứu những mâu thuẫn trong ý thức xã hội đương thời

Thời kỳ này, việc phát triển phép biện chứng không có nhiều bước đột phá Tuy nhiên, thông qua tư tưởng của các nhà triết học đã có những mầm mống để phát triển phép biện chứng trong giai đoạn tiếp theo được hình thành

1.2.3 Phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức

Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang việc nghiên cứu các quá trình trong sự liên hệ, trong sự vận động và phát triển của chúng Những thành quả do nó mang lại đã chứng minh rằng

Trang 6

bản thân thế giới tồn tại một cách biện chứng Quan điểm siêu hình bị chính khoa học tự nhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó Những việc phủ định quan điểm siêu hình lúc này lại dẫn tới việc xác lập vị trí ưu trội của phép biện chứng duy tâm khách quan

Kan-tơ là ngươì sáng lập ra trường phái triết học cổ điển Đức Kan-tơ

là người đầu tiên đã kịch liệt đả kích siêu hình học Ông đã chỉ ra ý nghĩa của những lực lượng đối lập trong các quá trình vật ký và tinh nguyên, ông cũng là người đầu tiên sau Đềcáctơ đã đưa tư tưởng phát triển và sự nhận thức tự nhiên Trong lý luận nhận thức, Can-tơ phát triển những tư tưởng biện chứng trong học thuyết “an-ti-nô-mi” Tuy nhiên, phép biện chứng của

lý tình, theo Can-tơ, là một loạt ảo tưởng và nó bị loại trừ ngay khi tư tưởng quay trở lại những giới hạn của nó, những giới hạn bị hạn chế bởi việc chỉ nhận thức các hiện tượng

Theo sau Can-tơ, Sê-linh phát triển quan niệm biện chứng về những quá trình của tự nhiên

Triết học biện chứng duy tâm xuất hiện nhiều trong triết học Can-tơ

và hoàn thiện trong triết học Hê-ghen, một đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX Phép biện chứng của ông là một tiền đề quan trọng của triết học Mácxit, với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản, Hê-ghen đã là người đầu tiên xây dựng và hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm Đồng thời, phép biện chứng duy tâm của ông chính là đỉnh cao trong sự phát triển phép biện chứng trước Mác Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hê-ghen thể hiện ở chỗ ông coi “ý niệm tuyệt đối” có trước và trong quá trình vận động phát triển, “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về với

chính mình trong tinh thần Bên cạnh đó, Hê-ghen “lần đầu tiên đã quan

niệm toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần dưới hình thức một quá

Trang 7

trình, tức là trong sự vận động không ngừng, biến đổi và phát triển, và đã

cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của sự vận động và phát triển đó”

(C.Mác và Ph.Ăng-ghen, tiếng Nga, t.20, t.23) Kết quả của phép biện chứng của Hê-ghen đã vượt xa cái ý nghĩa mà chính ông đã dành cho nó Học thuyết của Hê-ghen về việc mọi cái đều tất yếu dẫn đến sự phủ định bản thân mình, bao hàm cả nhân tố cách mạng hóa cuộc sống và tư tưởng, do đó, các nhà tư tưởng tiên tiến đã coi phép biện chứng của Hê-ghen là “đại số học của cách mạng” (Ghéc-xten)

Có thể nói, trước Mác, chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức là một giai đoạn quan trọng nhất trong sự phát triển phép biện chứng, khác với chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủ nghĩa duy tâm ấy không chỉ coi hiện thực là đối tượng của nhận thức mà còn coi hiện thực là đối tượng của hoạt động Đồng thời, việc không hiểu rõ cơ sở chân chính, vật chất của nhận thức và của hoạt động của chủ thể đã làm cho những tư tưởng của các nhà duy tâm Đức bị hạn chế và sai lầm

1.2.4 Ra đời phép biện chứng duy vật

Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước đó,

mà trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hê-ghen và quan điểm duy vật của Phoi-ơ-bách, dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học thời ấy và thực tiễn lịch sử xã hội vào giữa thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, về sau được V.I.Lê-nin phát triển

C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã kế thừa và chọn lọc những yếu tố biện chứng trong triết học của Hêghen để rồi xây dựng phép biện chứng trên cơ

sở quan niệm duy vật chủ nghĩa về quá trình hiện thực đang xảy ra trong xã

Trang 8

hội và tư duy Thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau trong phép biện chứng ấy Phép biện chứng duy vật đã được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên

lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng hiện thực

Phép biện chứng duy vật đã khắc phục được những hạn chế của phép biện chứng chất phác thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại, từ đó đã khái quát đúng đắn những duy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới Phép biện chứng duy vật, vì thế, đã trở thành một khoa học

Kết luận:

Qua đó, có thể nhận thấy rất rõ phép biện chứng có một quá trình hình thành và phát triển thông qua các tư tưởng triết học từ thời cổ đại cho đến giai đoạn Mác - Lênin Đó là một quá trình liên tục mà ở đó, sự kế thừa và phát triển tư tưởng biện chứng từ tư tưởng của các nhà triết học từ thời kỳ này sang thời kỳ khác và đạt đến giai đoạn hoàn thiện ở giai đoạn Mác - Lênin

Chương 2: Tư tưởng của V.I.Lênin về phép biện chứng qua tác phẩm “ Bút kí triết học”.

2.1 Tác phẩm : “ Bút kí triết học ”

Tác phẩm : “ bút kí triết học” bao gồm những cuốn sách ghi chép những nhận xét, nhưng tư tưởng riêng biệt khi nghiên cứu các công trình triết học khác nhau.Tác phẩm được ra đời sớm nhất vào từ năm 1895, nhưng phần tập chung nhất viết vào những năm 1914-1916 Trong tác phẩm Lênin

Trang 9

nghiên cứu nội dung nổi bật nhất phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học

“Bút kí triết học” của V.I.Lênin là sự tổng hợp những đoạn trích, những tóm tắt nội dung các cuốn sách Lênin đã đọc, cả những nhận xét phê phán, những kết luận và những khái quát của Lênin Trong những ghi chép

đó, đoạn viết "Về vấn đề phép biện chứng" có tính chất một bài văn hoàn chỉnh, trong đó Lênin trình bày sâu sắc, dưới hình thức thu gọn, về bản chất của phép biện chứng duy vật

Khi tóm tắt "Gia đình thần thánh" của C.Mác và Ăng-ghen, nghiên cứu về thế giới quan của hai ông, Lênin nêu rõ chủ nghĩa cộng sản là kết luận lôgic rút ra từ toàn bộ sự phát triển lịch sử của triết học duy vật

Khi đọc "Những bài giảng về bản chất của tôn giáo" của Phoiơbắc(L A Feuerbach), Lênin nêu bật lên khác nhau giữa chủ nghĩa duy vật trực quan của Phoiơbăc và chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác Cùng với sự phê phán phép biện chứng duy tâm của Hêghen, khi đọc những tác phẩm của Hêghen như "Khoa học lôgic", "Những bài giảng về lịch sử triết học", Lênin tỏ ra rất trân trọng và nhấn mạnh đến tất cả những gì

có giá trị trong triết học Hêghen, đồng thời đặt ra nhiệm vụ phải giải thích chúng theo quan điểm duy vật, phải cải tạo chúng như C.Mác đã làm

Trong "Bút kí triết học" những tư tưởng của Lênin về phép biện chứng chiếm một vị trí quan trọng Lênin đã đưa ra một định nghĩa sâu sắc

về phép biện chứng, nêu rõ bản chất của nó, những yếu tố của nó và nhấn mạnh đến học thuyết về mâu thuẫn, hạt nhân của phép biện chứng Một luận điểm quan trọng của Lênin, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của triết học Macxit đã được trình bày sáng tỏ trong "Bút kí triết học" đó là luận điểm

về sự đồng nhất, sự thống nhất, sự phù hợp của phép biện chứng, lôgic học

và lí luận nhận thức Những tư tưởng của Lênin về sự trùng hợp trong lôgic

Trang 10

học giữa lịch sử tư tưởng với những quy luật của tư duy, về sự cần thiết phải khái quát - theo quan điểm triết học - lịch sử của kĩ thuật, của khoa học tự nhiên, của sự phát triển trí lực của trẻ em, của loài vật là đặc biệt quan trọng để xây dựng một lí luận nhận thức đúng đắn

2.2 Một số vấn đề về phép biện chứng duy vật trong tác phẩm

“Bút kí triết học”

2.2.1 Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng

Trong “Bút ký triết học”, từ những thành tựu mà C.Mác và Ăng-ghen

đã xây dựng lên, đặc biệt trong xây dựng ba quy luật cơ bản của phép biện chứng, Lênin đã tiếp thu, phát triển và hoàn thiện ba quy luật cơ bản đó: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định Ba quy luật này có mối liên hệ mật thiết với nhau

a Quy luật mâu thuẫn

Lênin coi quy luật mâu thuẫn là hạt nhân và thực chất của phép biện chứng duy vật Lênin cho quy luật mâu thuẫn đã giải thích được căn nguyên

của sự vận động Trong tác phẩm “ Bút ký triết học”, Lênin quan tâm và giải

thích một cách sâu sắc về căn nguyên của sự vận động đó là mâu thuẫn của sự vật và hiện tượng, là sự đấu tranh của các mặt đối lập Lênin trích dẫn một

đoạn của Hêghen nói về mối quan hệ giữa vận động và mâu thuẫn: Mâu

thuẫn, "nó là cái phủ định trong sự quy định bản chất của nó, là nguyên tắc của mọi sự tự vận động, mà sự tự vận động này không phải là cái gì khác mà

Ngày đăng: 24/04/2020, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w